1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Nghiên cứu xây dựng mô hình ước tính sinh khối bề mặt rừng lá rộng rụng lá sử dụng ảnh Landsat 8 tại tỉnh Đắk Lắk

8 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 419,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Nghiên cứu xây dựng mô hình ước tính sinh khối bề mặt rừng lá rộng rụng lá sử dụng ảnh Landsat 8 tại tỉnh Đắk Lắk trình bày việc xây dựng mô hình ước tính sinh khối rừng (AGB) lá rộng rụng lá (rừng Khộp) trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.

Trang 1

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH ƯỚC TÍNH SINH KHỐI

BỀ MẶT RỪNG LÁ RỘNG RỤNG LÁ SỬ DỤNG ẢNH LANDSAT 8

TẠI TỈNH ĐẮK LẮK

Dương Đăng Khôi

Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội

Tóm tắt

Ước tính sinh khối rừng là cơ sở cho ước tính lượng cacbon lưu giữ bởi rừng, đóng góp thực thi chi trả dịch vụ lưu giữ cacbon rừng, nhằm giảm thiểu biến đổi khí hậu toàn cầu Mục đích của nghiên cứu này là xây dựng mô hình ước tính sinh khối rừng (AGB) lá rộng rụng lá (rừng Khộp) trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk Phương pháp phân tích hồi quy đa biến được tích hợp trong phần mềm IPM SPSS 20, được áp dụng để xây dựng mô hình ước tính sinh khối rừng lá rộng rụng lá từ ảnh Landsat 8 và số liệu điều tra AGB rừng Kết quả nghiên cứu cho biết, AGB rừng lá rộng rụng lá tương quan với kênh 2, 4 và 5 ảnh Landsat 8; các chỉ số thực vật NDVI, CIgreen Dựa trên mối tương quan này, nghiên cứu đã xây dựng được 04 mô hình ước tính AGB rừng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk Các mô hình hồi quy tuyến tính đều đảm bảo ý nghĩa thống kê với hệ số xác định điều chỉnh cao (Adjusted R 2 = 0,643 - 0,704) và sai số (RMSE) phù hợp Chúng tôi khuyến nghị áp dụng 02 mô hình cho lập bản đồ sinh khối rừng lá rộng rụng lá trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, bao gồm: AGB B134 = 513,725 + 0,027*B1 - 0,024*B3 - 0,06*B4 và AGB B13CIgreen = 211,19*CI_green + 0,042*B1 - 0,036*B3 - 146,844.

Từ khóa: Sinh khối bề mặt (AGB); Rừng lá rộng rụng lá; Landsat 8; Đắk Lắk.

Abstract

Development of Aboveground biomass estimation model of deciduous broadleaf forest using

Landsat 8 in Dak Lak province

Estimation of aboveground biomass (AGB) is the basis for calculating the amount of carbon stored by forests, contributing to the payment of forest carbon storage to mitigate global climate change The purpose of the study is to develop data based models for estimating the AGB of the deciduous broadleaf (dipterocarp) forest in Dak Lak province Multivariate regression analysis method integrated in the IPM SPSS 20 sofware was employed to fit the models using the Landsat 8 imagery and the AGB measurements The analysis results show that the AGB are highly correlated with the bands 2, 4 and 5 of the Landsat 8 imagery; NDVI, CIgreen vegetation indices Therefore, the study has produced empirically fitted four models from the field based AGB data and the Landsat 8 imagery in the region The adjusted R 2 of the models varies between 0.643 and 0.704 and the RMSE level is suitable Among the four models, the optimum models AGB B134 = 513,725 + 0,027*B1 - 0,024*B3 - 0,06*B4 and the model AGB B13CIgreen = 211,19*CI_green + 0,042*B1 - 0,036*B3 - 146,844 can be applied for mapping the AGB of the deciduous broadleaf forest in Dak Lak province

Keywords: Aboveground biomass (AGB); Deciduous broadleaf forest; Landsat 8; DakLak.

1 Đặt vấn đề

Một trong những vai trò quan trọng của hệ sinh thái rừng là hấp thụ và lưu giữ cacbon, góp phần giảm thiểu lượng khí CO2 gia tăng trên khí quyển, gây hiệu ứng nhà kính Đánh giá trữ lượng sinh khối rừng cũng như sự tích lũy Cacbon nhằm cung cấp cơ sở cho thực thi chính sách chi trả dịch vụ hấp thụ cacbon rừng và quản lý rừng bền vững Theo Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực

Trang 2

của Liên Hợp Quốc (FAO), tổng diện tích rừng thế giới năm 2020 là 4,09 tỉ ha, chiếm 31 % tổng diện tích bề mặt đất liền Trái Đất Rừng thế giới đạt trữ lượng sinh khối bề mặt (AGB) khoảng 606

tỉ tấn và 59 tỉ tấn sinh khối dạng gỗ chết, thảm mục (FAO, 2020) Yude Pan và cs (2011) ước tính lượng cacbon thuần tích lũy trong hệ sinh thái rừng thế giới là khoảng 1,1 ± 0,8 tỉ tấn cacbon/năm Như vậy, rừng thế giới đóng vai trò rất lớn trong hấp thụ và lưu giữ khí CO2, đóng góp quan trọng giảm thiểu biến đổi khí hậu toàn cầu

Việc giám sát đánh giá trữ lượng sinh khối và cacbon rừng là thách thức lớn vì lượng sinh khối biến động theo phân bố trạng thái rừng (Basuki và cs, 2011) Đánh giá trữ lượng cacbon rừng thường được thực hiện thông qua điều tra thực địa Đây là phương pháp tiêu chuẩn và đảm bảo độ chính xác nhưng chi phí điều tra rất lớn, thời gian điều tra kéo dài và cần nguồn nhân lực lớn Dữ liệu ảnh vệ tinh viễn thám là nguồn dữ liệu rất hữu ích, vì vậy, nó là công cụ thay thế hiệu quả để giám sát biến động sinh khối rừng theo không gian lãnh thổ (Powell, 2010) Ảnh viễn thám không

đo trực tiếp lượng sinh khối rừng, tuy nhiên, dữ liệu ảnh viễn thám thể hiện mối quan hệ với các tham số quan trắc rừng, nhất là sinh khối rừng Vì vậy, dữ liệu ảnh viễn thám được nghiên cứu ứng dụng để ước tính sinh khối rừng dựa theo mối quan hệ này (Zhang và cs, 2014; Clerici và cs, 2016)

Ở nước ta, việc nghiên cứu ứng dụng ảnh viễn thám quang học nói chung và ảnh viễn thám Landsat nói riêng để đánh giá sinh khối rừng đã bước đầu được các nhà khoa học chú ý nghiên cứu trong những năm gần đây Tuy nhiên, các nghiên cứu mới đạt được một số kết quả ban đầu Phần lớn các nghiên cứu tập trung vào áp dụng thuật toán phân lớp có kiểm định để lập bản đồ sinh khối rừng dựa vào ảnh viễn thám, các nghiên cứu xây dựng các mô hình dự báo sinh khối rừng cho từng loại rừng khác nhau chưa được chú ý nghiên cứu nhiều Vì vậy, nghiên cứu này nhằm mục đích xây dựng mô hình dự báo sinh khối rừng tại tỉnh Đắk Lắk để ước tính trữ lượng sinh khối rừng cũng như cacbon rừng làm cơ sở cho thực thi chi trả dịch vụ lưu giữ cacbon rừng tại địa phương Trong nghiên cứu này chúng tôi giới hạn đối tượng nghiên cứu là rừng lá rộng rụng lá (rừng Khộp) trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào đối tượng là rừng lá rộng rụng lá (LRRL), thường gọi là rừng Khộp tại huyện Buôn Đôn, huyện Ea Súp, huyện Ea H’leo Đây là địa bàn phân bố chủ yếu rừng LRRL tại tỉnh Đắk Lắk Đặc điểm khu vực nghiên cứu chủ yếu là dạng địa hình kiểu bình nguyên, bán bình nguyên, với các loại địa hình địa hình đồi núi thấp, địa hình cao nguyên, địa hình dốc tụ, độ cao biến động khoảng 170 m - 250 m so với mực nước biển Rừng LRRL có đặc điểm đặc trưng là mật độ cây gỗ rất thưa, rụng lá vào mùa khô hàng năm từ tháng 12 đến tháng 04 năm sau Thành phần loài thực vật chiếm ưu thế của rừng LRRL tại địa bàn nghiên cứu là các loài thuộc họ Thầu

Dầu (Dipterocarpaceae) Theo kết quả kiểm kê rừng năm 2020, diện tích rừng LRRL ước tính

khoảng 183.303,64 ha trên toàn tỉnh, tập trung nhiều nhất tại huyện Buôn Đôn (Sở Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn, 2020) Trong đó, trạng thái rừng LRRL nghèo, nghèo kiệt và trung bình chiếm phần lớn diện tích rừng LRRL, trạng thái rừng LRRL giàu chiếm tỷ lệ diện tích nhỏ

2.2 Tiền xử lý ảnh Landsat 8

Ảnh Landsat 8 được thu ngày 27 tháng 01 năm 2020 được sử dụng để tính toán các chỉ số thực vật Phân tích tiền xử lý được tiến hành nhằm hiệu chỉnh sai lệch vị trí và ảnh hưởng của khí quyển Trong nghiên cứu này, ảnh Landsat 8 được thu thập ở mức xử lý mức 1 (level 1), nghĩa là

dữ liệu Landsat 8 khu vực nghiên cứu đã được hiệu chỉnh trực ảnh Tuy nhiên, để bảo đảm độ chính

Trang 3

xác, ảnh được nắn chỉnh lại theo bản đồ địa hình tỷ lệ 1/100.000 do Sở Tài nguyên và Môi trường cung cấp Để giảm thiểu ảnh hưởng của khí quyển, các kênh ảnh Landsat 8 đã được hiệu chỉnh theo phương pháp trừ đối tượng tối (DOS), sử dụng mô đun SCP (Semi-Automatic Classification Plugin) tích hợp trong phần mềm QGIS mã nguồn mở

2.3 Ước tính sinh khối rừng ô điều tra

Số liệu đo sinh khối bề mặt rừng được kế thừa từ số liệu điều tra rừng tỉnh Đắk Lắk, kết hợp điều tra thực địa Tổng số ô điều tra (điểm điều tra) là 285 được phân bố trên địa bàn huyện Buôn Đôn, huyện Ea Súp và huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk Các ô điều tra có diện tích 1000 m2, chu vi tất cả các cây với đường kính > 6 cm, được đo để ước tính sinh khối cây theo phương trình sinh trắc lựa chọn Từ số liệu đo chu vi cây tại từng ô điều tra thực địa, tiến hành tính sinh khối cây (AGB) theo từng ô điều tra sử dụng phương trình sinh trắc rừng lá rộng rụng lá của tác giả Bảo Huy và cộng sự, (2016) Phương trình có dạng:

AGB (kg/cây) = 0,04742*DBH 2,66663

Trong đó: AGB là sinh khối cây (kg/cây), DBH là đường kính ngang ngực (cm) Vì số liệu đo tại hiện trường là chu vi cây, do vậy, đường kính ngang ngực (DBH) được ước lượng theo biểu thức:

DBH = C/3,14

Trong đó: C là chu vi cây (cm)

Hình 1: Điểm đo sinh khối rừng lá rộng rụng lá 2.4 Tính toán các chỉ số thực vật

Nhiều nghiên cứu ứng dụng ảnh viễn thám ước tính sinh khối rừng đã khẳng định rằng, chỉ

số thực vật tương quan với sinh khối rừng (Basuki và cs, 2011; Powell và cs, 2010; Zhang và cs, 2014; Ploton và cs, 2017) Vì vậy, những chỉ số thực vật đã được lựa chọn là những biến độc lập quan trọng trong xây dựng mô hình ước tính AGB Hiện nay, nhiều chỉ số phổ thực vật đã được áp

Trang 4

dụng ước lượng AGB tại nhiều nơi trên thế giới Trong nghiên cứu này, những chỉ số đã được áp dụng phổ biến cho ước tính AGB rừng lựa chọn bao gồm: chỉ số RVI, chỉ số DVI, chỉ số NDVI, chỉ số MNDVI, chỉ số GNDVI, chỉ số SAVI, chỉ số OSAVI, chỉ số CVI, chỉ số CI_green, chỉ số VARIgreen (Bảng 1)

Bảng 1 Công thức tính chỉ số thực vật từ ảnh Landsat 8

3 NDVI = NIR - Red/NIR + Red [3] Kriegler và cs, (1969); Rouse và cs, (1974)

4 MNDVI = (NIR - Red)/NIR + Red + 2*Blue) [4] Main và cs, (2011)

5 GNDVI = (NIR - Green)/(NIR + Green) [5] Gitelson, Kaufman, and Merzlyak, (1996)

SAVI=

7 OSAVI= (1,16*NIR - Red)/(NIR + Red + 0,16) [7] Rondeaux, Steven và Baret, (1996)

8 CVI = NIR*Red/Green 2 [8] Vincini và cs, (2008); Hunt và cs, (2011)

9 CI_Green = NIR/BLUE - 1 [9] Gitelson và cs, (2003); Raymon Hunt và cs, (2011)

10 CI_Green = NIR/BLUE - 1 [10] Gitelson và cs, (2002)

Ngoài ra, các kênh phổ gồm: kênh 2, 3, 4, 5, 7 được chiết xuất giá trị tại các điểm đo AGB theo tọa độ ghi tại hiện trường Bộ dữ liệu tọa độ XY điểm điều tra thực địa được ghi lại bằng GPS, được sử dụng để chiết xuất giá trị chỉ số thưc vật, kênh phổ tại các điểm đo AGB tương ứng, được thực hiện trong phần mềm ArcGIS 10.3 Tập số liệu chiết xuất được biên tập trong Excel để thực hiện phân tích hồi quy trong phần mềm thống kê IBM SPSS 20

2.5 Xây dựng mô hình tính toán AGB

Trước khi xây dựng mô hình, phân tích tương quan được tiến hành để đánh giá mối quan hệ giữa biến số dự báo AGB và các biến số độc lập (chỉ số thực vật, kênh phổ của ảnh Landsat 8) Trên

cơ sở phân tích tương quan, các biến số độc lập có quan hệ cao với AGB (r > 0,3) thì được lựa chọn

để phân tích hồi quy Quá trình phân tích hồi quy xây dựng mô hình dự báo được thực hiện trong phầm mềm IBM SPSS 20 Phương trình hồi quy tuyến tính tổng quát có dạng:

AGB = β 0 + Σβ j X ij + ε

Trong đó: AGB là sinh khối bề mặt rừng, β0 là hệ số (Intercept), βj là hệ số mô hình, Xij là các biến độc lập (kênh phổ ảnh Landsat 8, chỉ số thực vật) Các phương pháp được áp dụng cho chọn biến số độc lập của mô hình, thực hiện trong phần mềm IBM SPSS 20 là phương pháp Forward

và phương pháp Stepwise Phương pháp Forward là phương pháp chọn biến số độc lập có ý nghĩa nhất và được đưa vào đầu tiên, tiếp tục thêm biến số độc lập có ý nghĩa nhất trong tập biến số còn lại và tiếp tục tương tự cho đến khi không còn biến nào có ý nghĩa thì quá trình thêm biến dừng lại Phương pháp Stepwise thêm hoặc bớt từng biến độc lập theo từng bước để đảm bảo các biến số được chọn trong mô hình đều có ý nghĩa thống kê (Sig <0,05) Các tiêu chí để chọn biến và đánh giá mô hình dự báo AGB gồm:

- Hệ số xác định điều chỉnh của mô hình (Adjusted R2), biến động của biến phụ thuộc (AGB) được giải thích bởi các biến số độc lập (các biến số chỉ số thực vật hay kênh phổ), hệ số > 0,5 thì

mô hình đảm bảo ý nghĩa Nghĩa là, hệ số xác định R2 giải thích sự biến động của AGB bởi biến

số độc lập (kênh phổ, chỉ số thực vật)

Trang 5

- Mức ý nghĩa thống kê của biến số độc lập đưa vào mô hình (Sig <0,05) Nghĩa là, biến số độc lập (các chỉ số thực vật, kênh phổ) có tác động/ảnh hưởng đến biến phụ thuộc dự báo AGB Nếu các biến số độc lập có mức ý nghĩa (Sig >0,05), thì biến số độc lập không có tác động hay ảnh hưởng đến biến phụ thuộc, vì vậy, nó sẽ bị loại ra khỏi mô hình

- Hiện tượng đa cộng tuyến, VIF (hệ số phóng đại phương sai), hệ số VIF < 10 đảm bảo không có hiện tượng đa cộng tuyến, nghĩa là các biến độc lập không có tương quan với nhau

- Sai số (RMSE), chênh lệch giữa giá trị ước tính và giá trị quan sát, là nhỏ nhất

3 Kết quả nghiên cứu

3.1 Tương quan giữa AGB với chỉ số thực vật, kênh ảnh Landsat 8

Phân tích tương quan là bước quan trọng xác định mức độ tương quan giữa AGB với các biến

số chỉ số thực vật, kênh ảnh Landsat 8, đồng thời cũng nhằm đánh giá hiện tượng đa cộng tuyến khi

mà các biến số độc lập tự tương quan với nhau Trên cơ sở đó, các biến số độc lập được cân nhắc lựa chọn hay loại bỏ trong quá trình xây dựng mô hình tối ưu Kết quả tính toán hệ số tương quan cho biết các biến số độc lập có mức độ tương quan cao (> 0,5) với AGB bao gồm biến số kênh 2, kênh 4, kênh 5, các chỉ số thực vật NDVI, OSAVI, CI_green Các hệ số tương quan này được kiểm định với mức ý nghĩa đều đảm bảo (Sig.< 0,05) Các kênh 1, 3, 6,7 có tương quan nghịch với AGB với hệ số tương quan trong khoảng giá trị từ - 0,3 đến - 0,35

Như vậy, tương quan giữa AGB với các biến độc lập là mối tương quan thuận hoặc nghịch Biến số kênh 2, 4, 5 có hệ số tương quan cao với AGB hơn các biến số kênh phổ còn lại của ảnh Landsat 8 Trong đó, kênh 5 có tương quan thuận, còn kênh 2, 4 có tương quan nghịch với AGB Các kênh 1, 3, 6, 7 có hệ số tương quan thấp hơn kênh 2, 4 và 5, chủ yếu tương quan nghịch với AGB Như vậy, kênh 2, 4, 5 là những kênh phổ có mức độ tương quan ý nghĩa hơn các kênh phổ còn lại trong việc kết hợp với biến số chỉ số thực vật trong xây dựng mô hình dự báo AGB

Về tương quan giữa các biến số độc lập, bản thân các biến số độc lập cũng có tương quan với nhau Chỉ số phổ NDVI tương quan chặt chẽ với MNDVI, GNDVI; OSAVI tương quan chặt với RVI, SAVI CI_green tương quan chặt với GNDVI, RVI, SAVI Vì vậy, một số biến số chỉ số thực vật cần được loại trừ khi xây dựng mô hình để tránh hiện tượng đa cộng tuyến Qua phân tích, chỉ

số thưc vật NDVI, OSAVI, CI_green được lựa chọn để xây dựng mô hình dự báo AGB cùng với các biến số kênh phổ

3.2 Các mô hình ước tính sinh khối rừng lá rộng rụng lá

Kết quả đánh giá thử nghiệm lựa chọn các biến số độc lập đã xác định được các mô hình hồi quy 3 biến số là tối ưu nhất, dựa trên tập số liệu mẫu phân tích (285 mẫu) Kết quả phân tích cho biết

hệ số xác định điều chỉnh các mô hình khá tốt (Adjusted R2 > 0,5), mức ý nghĩa thống kê với các mô hình cũng như hệ số của các mô hình đều bảo đảm mức ý nghĩa thống kê (Sig < 0,05) và hệ số phóng đại phương sai hợp lý (< 10), nghĩa là các biến số độc lập bảo đảm độc lập với nhau (Bảng 2)

Bảng 2 Đánh giá mô hình ước tính sinh khối rừng lá rộng rụng lá

Mô hình Miền giá trị AGB (tấn/ha) Hệ số xác định R 2 Hệ số xác định điều chỉnh R 2 Hệ số VIF biến số (RMSE) Sai số

4 AGBB13, CIgreen 4,66 - 315,80 0,703 0,700 1,198 - 4,217 33,72

Trang 6

Như vậy, qua chạy thăm dò, chúng tôi đã xác định và lựa chọn được 04 mô hình hồi quy đảm bảo độ tin cậy và mức ý nghĩa thống kê phù hợp Trong đó, mô hình số 2 và 4 là những mô hình tối ưu nhất vì nó là mô hình có hệ số xác định điều chỉnh cao nhất, các hệ số mô hình được kiểm định F có ý nghĩa thống kê (Sig.< 0,05) và hệ số mô hình được kiểm định t đều có mức ý nghĩa (Sig.< 0,05) và hệ số phóng đại phương sai nằm trong ngưỡng an toàn (VIF < 10) Sai số của

mô hình 2 và 4 thấp hơn so với cá mô hình còn lại

Bảng 3 Các mô hình ước tính sinh khối rừng lá rộng rụng lá

Mô hình Mô hình ước tính AGB rừng lá rộng rụng lá

1 AGBB123 AGBB123 = 1148,406 + 0,049*B1 - 0,14*B2 - 0,035*B3

2 AGBB134 AGBB134 = 513,725 + 0,027*B1 - 0,024*B3 - 0,06*B4

3 AGBB135 AGBB135 = 0,029*B1 + 0,03*B5 + 0,029*B1 - 323,669

4 AGBB13CIgreen AGBB13CIgreen = 211,19*CI_green + 0,042*B1 - 0,036*B3 - 146,844

3.3 Thảo luận

Hiện nay, nhiều nghiên cứu ước tính AGB rừng tại nhiều vùng khác nhau trên thế giới đã ứng dụng dữ liệu viễn thám cùng với tập số liệu điều tra rừng để ước lượng mô hình hồi quy tính toán AGB, và sau đó, sử dụng mô hình hồi quy cho ước tính AGB tại vùng lãnh thổ cụ thể Các nghiên cứu khẳng định không thể xây dựng mô hình hồi quy phổ dụng ước tính AGB cho mọi vùng lãnh thổ trên thế giới vì mỗi vùng có các điều kiện về thổ nhưỡng, khí hậu đặc trưng, ảnh hưởng đến biến động AGB rất đặc trưng (Powell và cs, 2010; Zhang và cs, 2014; Ploton và cs, 2017)

Để đánh giá các mô hình hồi quy ước tính AGB rừng, nhiều tiêu chí khác nhau có thể sử dụng

để đánh giá độ chính xác của mô hình Hầu hết các tác giả đều sử dụng sai số (RMSE) mô hình như

là tiêu chí chính để lựa chọn mô hình tối ưu, phù hợp với tập số liệu mẫu (Basuki và cs, 2011; Powell

và cs, 2010; Zhang và cs, 2014; Ploton và cs, 2017) RMSE thấp cho biết giá trị dự báo (AGB) theo

mô hình hồi quy trên nền tập dữ liệu mẫu có giá trị gần với giá trị quan sát AGB thực tế và ngược lại Kết quả nghiên cứu cho biết hệ số R2 điều chỉnh, sai số (RMSE) của mô hình dự báo AGB phù hợp với miền giá trị hệ số R2 điều chỉnh khá cao và giá trị sai số mô hình (RMSE) thấp hơn một số công trình nghiên cứu đã được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế Basuki và cs (2011) đã áp dụng ảnh Landsat ước lượng AGB rừng lá rộng rụng lá tại Indonesia Kết quả nghiên cứu cho biết các mô hình hồi quy tuyến tính dựa trên các kênh phổ riêng lẻ và chỉ số thực vật có

hệ số xác định khá cao R2 = 0,306 - 0,635 Sai số của các mô hình (RMSE) biến động trong miền 130,4 - 155,5 tấn/ha (dựa trên tập số liệu đo AGB của 50 ô điều tra với AGB nhỏ nhất là 102,62; lớn nhất là 839,32 tấn/ha; độ lệch chuẩn 156,61) Powell và cs (2010) đã ước tính AGB rừng sử dụng dữ liệu ảnh viễn thám Landsat tại Minnesota và Arizona, Hoa Kỳ Kết quả cho biết sai số ước tính AGB (RMSE) là 32,19 tấn/ha và 44,43 tấn/ha Zhang và cs (2014) đã ước lượng AGB tại Bắc Trung Quốc sử dụng dữ liệu ảnh viễn thám và cho biết hệ số xác định điều chỉnh đạt 0,86 và sai số (RMSE) là 26,76 tấn/ha Li Siqi (2019) áp dụng dữ liệu viễn thám Landsat và dữ liệu Lidar

để xây dựng mô hình hồi quy đa biến ước tính AGB rừng, kết quả nghiên cứu cho thấy, hệ số R2

điều chỉnh đạt 0,57 và sai số mô hình (RMSE) là 55,19 tấn/ha Clerici và cs (2016) đã ứng dụng

ảnh viễn thám quang học ước tính AGB, với R2 = 0,58; RMSE = 34,5 tấn/ha Ploton và cs (2017)

sử dụng ảnh viễn thám quang học ước tính AGB rừng với R2 = 0,47 và RMSE = 98 tấn/ha

4 Kết luận

Qua nghiên cứu ứng dụng dữ liệu ảnh Landsat 8 cùng với số liệu đo AGB để xây dựng mô hình ước tính AGB rừng lá rộng rụng lá trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk cho thấy dữ liệu ảnh Landsat 8 là rất hữu

Trang 7

ích cho đánh giá AGB rừng lá rộng rụng lá Kết quả phân tích cho biết, dữ liệu đo AGB tương quan thuận hay nghịch với các biến số kênh ảnh Landsat 8, đặc biệt là kênh 2, 4 và 5 và các chỉ số thực vật, đặc biệt là chỉ số NDVI, CIgreen Các mô hình ước tính AGB xây dựng trong nghiên cứu này đều đảm bảo ý nghĩa thống kê, với hệ số xác định điều chỉnh khá cao (Adjusted R2 = 0,643 - 0,704), nghĩa

là sự biến động của AGB rừng lá rộng rụng lá được giải thích khá rõ với các biến số chỉ số thực vật

và kênh ảnh Landsat 8 Vì vậy, nghiên cứu đã xác định được 04 mô hình ước tính AGB rừng lá rộng rụng lá trên địa bàn, trong đó, 02 mô hình được khuyến nghị áp dụng cho lập bản đồ sinh khối rừng

lá rộng rụng lá trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk là: AGB B134 = 513,725 + 0,027*B1 - 0,024*B3 - 0,06*B4

và AGB B13CIgreen = 211,19*CI_green + 0,042*B1 - 0,036*B3 - 146,844

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Lắk (2020) Bản đồ hiện trạng rừng năm 2020.

[2] Basuki T M; Skidmore, A K; van Laake, P E; van Duren, I; Hussin., Y A., (2011) The potential

of spectral mixture analysis to improve the estimation accuracy of tropical forest biomass Geocarto

International, https://doi.org/10.1080/10106049.2011.634928.

[3] Clerici, N; Rubiano, K; Abd-Elrahman, A; Hoestettler, J M P; Escobedo, F J., (2016) Estimating

aboveground biomass and carbon stocks in periurban Andean secondary forests using very high resolution imagery Forests 2016, 7, 138.

[4] FAO., (2020) Global Forest Resources Assessment 2020 Food and Agriculture Organization of the

United Nations, Rome: https://doi.org/10.4060/ca8753en.

[5] Gitelson, A; Kaufman, Y J; Merzlyak, M N., (1996) Use of a green channel in remote sensing of

global vegetation from EOS-MODIS Remote Sensing of Environment 58(3), 289 - 298 Doi:10.1016/

s0034-4257(96)00072-7.

[6] Gitelson, A; Merzlyak, M N; Chivkunova, O B., (2002) Optical properties and nondestructive

estimation of anthocyanin content in plant leaves Photochemistry and Photobiology, 74,38 - 45

Doi:10.1562/0031 8655(2001)074<0038:opaneo>2.0.co;2.

[7] Gitelson, A A; Gritz, Y; Merzlyak, M N., (2003) Relationships between leaf chlorophyll content

and spectral reflectance and algorithms for non-destructive chlorophyll assessment in higher plant leaves

Journal of Plant Physiology 160 (3), 271 - 282 Doi:10.1078/0176-1617-00887.

[8] Hunt, E R; Daughtry, C S T; Eitel, J U H; Long, D S., (2011) Remote sensing leaf chlorophyll

content using a visible Band index Agronomy Journal 103, 1090 - 1099 doi:10.2134/agronj2010.0395.

[9] Huete, A R., (1988) A Soil-adjusted vegetation index (SAVI) Remote Sens Environ., 25, 295 - 309 [10] Jordan C F., (1969) Derivation of leaf-area index from quality of light on the forest floor Ecology,

Vol 50, No 4, pp 663 - 666.

[11] Kaufman Y J; Tanre, D., (1992) Atmospherically resistant vegetation index (ARVI) for EOS-MODIS IEEE Transactions on Geoscience and Remote Sensing, vol 30, No 2, pp 261 - 270.

[12] Kriegler F J; Malila W A; Nalepka R F; Richardson, W., (1969) Preprocessing transformations and

their efect on multispectral recognition Remote Sens Environ VI, 97 - 132.

[13] Li, Siqi., (2019) Forest aboveground biomass estimation using multi-source remote sensing data in

temperate forests Dissertations and Theses 76 SUNY College of Environmental Science and Forestry.

[14] Main, R; Cho, M A; Mathieu, R; O’kennedy, M M; Ramoelo, A; Koch, S., (2011) An investigation

into robust spectral indices for leaf chlorophyll estimation ISPRS Journal of Photogrammetry and Remote

Sensing 66, 751 - 761 Doi: 10.1016/j.isprsjprs.2011.08.001.

Trang 8

[15] Richardson A J; Weigand C., (1977) Distinguishing vegetation from soil background information

Photogrammetric Engineering and Remote Sensing, p 43.

[16] Rouse J W; Haas Jr, R; Schell, J; Deering, D., (1974) Monitoring vegetation systems in the great

plains with erts NASA Special Publication 351, 309.

[17] Rondeaux, G; Steven, M; Baret, F., (1996) Optimization of soil-adjusted vegetation indices Remote

Sensing of Environment 55, 95 - 107 Doi: 10.1016/0034-4257(95)00186-7.

[18] Raymond Hunt, E; Daughtry, C S T; Eitel, J U H; Long, D S., (2011) Remote sensing leaf

chlorophyll content using a visible band index Agron J, 103, 1090 - 1099 Doi: 10.2134/agronj2010.0395.

[19] Powell, S L; Cohen, W B; Healey, S P; Kennedy, R E; Moisen, G G; Pierce, K B; Ohmann, J L., (2010) Quantification of live aboveground forest biomass dynamics with Landsat time-series and field inventory data: A comparison of empirical modeling approaches Remote Sens Environ., 114, 1053 - 1068 [20] Ploton, P; Barbier, N; Couteron, P; Antin, C M; Ayyappan, N; Balachandran, N; Barathan, N; Bastin,

J F; Chuyong, G; Dauby, G; et al., (2017) Toward a general tropical forest biomass prediction model from

very high resolution optical satellite images Remote Sens Environ., 200, 140 - 153.

[21] Vincini, M; Frazzi, E; Alessio P D., (2008) A broad-band leaf chlorophyll index at the canopy scale

Precis Agric 9:303 - 319 Doi: 10.1007/s11119-008-9075-z.

[22] Yude Pan; Richard A Birdsey; Jingyun Fang; Richard Houghton; Pekka E Kauppi; Werner A Kurz; Oliver L Phillips; Anatoly Shvidenko; Simon L Lewis; Josep G Canadell; Philippe Ciais; Robert B Jackson; Stephen W Pacala; A David McGuire; Shilong Piao; Aapo Rautiainen; Stephen Sitch; Daniel

Hayes., (2011) A large and persistent carbon sink in the world’s forests Science, vol 333, p.p 988 - 993.

[23] Zhang, Y; Liang, S; Sun, G., (2014) Forest biomass mapping of northeastern China using GLAS and MODIS data IEEE J Sel Top Appl Earth Obs Remote Sens, 7, 140 - 152.

Ngày chấp nhận đăng: 10/11/2021 Người phản biện: TS Phạm Thị Thanh Thủy

Ngày đăng: 30/10/2022, 17:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w