1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Một số điểm cần sửa đổi, bổ sung trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động " pdf

5 421 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 139,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp lệnh này quy định thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động tại toà án nhằm giải quyết khách quan, kịp thời, đúng pháp luật các tranh chấp lao động, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, qu

Trang 1

Ths §ç ng©n b×nh * háp lệnh thủ tục giải quyết các tranh

chấp lao động được Uỷ ban thường vụ

Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông

qua ngày 11/4/1996 và có hiệu lực thi hành

từ ngày 1/7/1996 Pháp lệnh này quy định

thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động tại

toà án nhằm giải quyết khách quan, kịp thời,

đúng pháp luật các tranh chấp lao động, bảo

vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích

hợp pháp của người lao động (NLĐ), tập thể

lao động và của người sử dụng lao động

(NSDLĐ), góp phần xây dựng mối quan hệ

lao động hài hoà, ổn định, thúc đẩy sự phát

triển kinh tế-xã hội trong thời gian qua

Cùng với một số văn bản dưới luật khác như:

Nghị định số 51/CP ngày 29/8/1996 của

Chính phủ về việc giải quyết yêu cầu của tập

thể lao động tại doanh nghiệp không được

đình công, Nghị định số 58/CP ngày

31/5/1997 của Chính phủ về việc trả lương

và giải quyết các quyền lợi khác cho NLĐ

tham gia đình công trong thời gian đình

công, Thông tư số 02/LĐTBXH-TT ngày

8/1/1997 của Bộ lao động- thương binh và

xã hội về việc thành lập hội đồng trọng tài

lao động cấp tỉnh Pháp lệnh thủ tục giải

quyết các tranh chấp lao động (TTGQTCLĐ)

đã từng bước hình thành và hoàn thiện cơ sở

cho việc giải quyết tranh chấp lao động, đảm

bảo tôn trọng nguyên tắc tự nguyện thoả

thuận giữa các bên Cho đến nay ở nhiều

doanh nghiệp đã thành lập hội đồng hoà giải

cơ sở, hầu hết các tỉnh đã thành lập hội đồng trọng tài lao động, toà án nhân dân và toà lao động các cấp đã thụ lí và giải quyết hàng nghìn vụ tranh chấp lao động cá nhân Đặc biệt, vai trò của công đoàn ngày càng được nâng cao trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động cũng như trong việc phổ biến, tuyên truyền pháp luật lao động nói chung, pháp luật giải quyết tranh chấp lao động nói riêng Bên cạnh những kết quả nêu trên, vẫn còn một số khó khăn, tồn tại trong việc giải quyết các tranh chấp lao động mà chủ yếu là

do những bất cập của các quy định có liên quan đến giải quyết tranh chấp lao động Một số điều khoản trong Bộ luật lao động, Pháp lệnh TTGQTCLĐ và những văn bản hướng dẫn thi hành chưa phù hợp với thực

tế, chưa đồng bộ, chưa đầy đủ, nhiều điều khoản không thống nhất, còn chồng chéo, thậm chí mâu thuẫn với nhau, nhiều quy định không rõ ràng, cụ thể nên gây khó khăn cho các bên và các cơ quan có thẩm quyền khi giải quyết tranh chấp lao động Pháp lệnh TTGQTCLĐ đã quy định tương đối đầy

đủ những trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tại toà án cũng như thủ tục giải quyết các cuộc đình công Tuy nhiên,

P

* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

nhiều điều khoản còn bất hợp lí và không

phù hợp với tình hình hiện nay, đặc biệt sau

khi Quốc hội khoá X, kì họp thứ 11 thông

qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của

Bộ luật lao động (ngày 2/4/2002), Luật tổ

chức toà án nhân dân (sửa đổi), Luật tổ chức

viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi) về các vấn

đề như trình tự, thủ tục, thẩm quyền xét xử,

thời hiệu xét xử, thời gian thụ lí các vụ án

lao động, quyền và nghĩa vụ của các bên

trong việc giải quyết tranh chấp lao động,

việc giải quyết tranh chấp lao động tập thể

và đình công

Xuất phát từ những điểm còn bất cập nêu

trên về kĩ thuật lập pháp, từ tầm quan trọng

của việc giải quyết tranh chấp lao động và

đình công trong việc đảm bảo mối quan hệ

lao động hài hoà, ổn định, thêm vào đó chúng

ta còn ít kinh nghiệm trong lĩnh vực này do

đó việc xem xét, đánh giá lại Pháp lệnh

TTGQTCLĐ là cần thiết Trong phạm vi bài

viết này, chúng tôi bước đầu đề xuất một số

kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm từng bước

hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp

lao động và đình công ở nước ta hiện nay

1 Cần nhanh chóng bổ sung một số

khái niệm cơ bản như tranh chấp lao

động tập thể, đình công

Theo quy định của Bộ luật lao động

(BLLĐ) và Pháp lệnh TTGQTCLĐ, tranh

chấp lao động được chia thành tranh chấp

lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập

thể với hai trình tự giải quyết khác nhau

đồng thời cuộc đình công chỉ được coi là

hợp pháp khi phát sinh từ tranh chấp lao

động tập thể nhưng tại khoản 2 Điều 157

BLLĐ chỉ ghi như sau: “Tranh chấp lao

động gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa

NLĐ với NSDLĐ và tranh chấp tập thể giữa tập thể lao động với NSDLĐ”; còn tại Pháp lệnh TTGQTCLĐ thì không đưa ra khái niệm về tranh chấp lao động tập thể và đình công Điều này đã gây khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền như hội đồng trọng tài lao động (HĐTTLĐ) cấp tỉnh, toà lao động khi thụ lí giải quyết các vụ tranh chấp lao động Nhiều vụ việc khi gửi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp lên HĐTTLĐ cấp tỉnh thì không được thụ lí vì cho rằng đó không phải tranh chấp tập thể nhưng khi gửi đơn khởi kiện ra toà án thì toà lại nhận định đây là tranh chấp lao động tập thể và không thụ lí

vì chưa qua giải quyết tại HĐTTLĐ tỉnh Vướng mắc chính khi phân biệt hai loại tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể là ở chỗ cần xác định thế nào là “tập thể lao động” Để được coi là tranh chấp giữa tập thể lao động và NSDLĐ cần có ít nhất bao nhiêu người trong doanh nghiệp tham gia tranh chấp, ngoài yếu tố có

sự thống nhất giữa những người tham gia tranh chấp về mục đích và sự liên kết, có nhất thiết phải cần sự tham gia của tổ chức công đoàn với tư cách là người đại diện và lãnh đạo tập thể lao động không Chính những cách hiểu không nhất quán về vấn đề này đã gây tranh cãi giữa các cơ quan có thẩm quyền về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp lao động trong nhiều trường hợp cụ thể Cho đến nay, toà lao động các địa phương chưa thụ lí giải quyết vụ đình công nào nhưng thực tế không thể phủ nhận là đình công vẫn xảy ra khắp nơi và có chiều hướng gia tăng Điều đó cho thấy sự cần thiết phải

Trang 3

đưa ra khái niệm về đình công để làm cơ sở

pháp lí phân biệt đình công với các hiện

tượng khác như lãn công, phản ứng tập thể

nhằm xác định chính xác giới hạn quyền đình

công của tập thể lao động, cũng như thẩm

quyền của toà án trong giải quyết đình công

Luật sửa đổi, bổ sung BLLĐ đã được

thông qua nhưng chưa đưa ra được hai khái

niệm cơ bản này, vì vậy, trong quá trình sửa

đổi Pháp lệnh TTGQTCLĐ cần thiết phải

xem xét, bổ sung kịp thời

2 Về vấn đề thời hiệu khởi kiện

Hiện nay có sự quy định không thống

nhất giữa BLLĐ và Pháp lệnh TTGQTCLĐ

về cách tính thời hiệu yêu cầu giải quyết

tranh chấp lao động cá nhân Điều 167

BLLĐ cũ và Luật sửa đổi, bổ sung BLLĐ

đều tính thời hiệu “kể từ ngày mỗi bên tranh

chấp cho rằng quyền và lợi ích bị vi phạm

Khoản 1 Điều 32 Pháp lệnh TTGQTCLĐ lại

tính từ “ngày phát sinh tranh chấp” Sự mâu

thuẫn, không rõ ràng giữa những quy định

này gây bất cập cho toà án khi xác định thời

hiệu để thụ lí giải quyết các tranh chấp cá

nhân không bắt buộc phải thông qua hội

đồng hoà giải cơ sở Do đó, cần có quy định

rõ ràng về thời điểm bắt đầu tính thời hiệu

khởi kiện Theo chúng tôi nên thống nhất

tính thời hiệu khởi kiện kể từ ngày xảy ra

hành vi mà mỗi bên cho rằng quyền lợi của

mình bị vi phạm. Quy định như vậy sẽ rõ

ràng và dễ xác định hơn trong thực tế, hơn

thế nữa còn tăng cường ý thức trách nhiệm

của mỗi bên trong việc tự bảo vệ mình

Mặt khác, khi xây dựng BLLĐ và Pháp

lệnh TTGQTCLĐ, chúng ta chưa lường hết

tính phức tạp của loại án này nên quy định

thời hiệu khởi kiện rất ngắn: 3 tháng, 6 tháng, 1 năm (Luật sửa đổi, bổ sung BLLĐ

có quy định thêm thời hiệu 3 năm đối với tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa NLĐ

và doanh nghiệp xuất khẩu lao động) Trong điều kiện địa hình phân tán từ Nam ra Bắc, qua nhiều cấp xét xử, việc xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu chưa rõ ràng nên các thời hiệu quy định trên rất khó thực hiện trong thực tiễn Vì vậy, chúng tôi đề nghị tăng thời hiệu khởi kiện kể từ khi có hành vi bất lợi cho đương sự là 1 năm, 2 năm, 3 năm tuỳ theo từng loại việc để đảm bảo quyền lợi cho đương sự

3 Về việc kéo dài các loại thời hạn tố tụng trong giải quyết tranh chấp lao động

Thực tế việc giải quyết các tranh chấp lao động cho thấy quy định của pháp luật về thời hạn giải quyết các tranh chấp lao động chưa phù hợp với điều kiện, trình độ cán bộ của cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan liên quan khác, do đó, thường xảy ra tình trạng vi phạm các quy định về thời hạn khi thực hiện các bước trong quá trình tố tụng Theo chúng tôi, do thời gian làm việc hành chính hiện nay chỉ có 5 ngày/tuần, trong khi các vấn đề liên quan đến tranh chấp lao động lại đòi hỏi phải có nhiều thời gian sưu tầm, tham khảo tài liệu, xác minh, điều tra,

bổ sung chứng cứ mới có đủ căn cứ kết luận, giải quyết tranh chấp một cách toàn diện, chính xác, đúng pháp luật Mặt khác, trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động còn

có nhiều yếu tố khách quan phát sinh khiến việc giải quyết không thể nhanh được Quy định hiện nay về thời gian chuẩn bị xét xử của toà án cấp sơ thẩm là 30 đến

Trang 4

không quá 40 ngày (khoản 2 Điều 36 Pháp

lệnh), toà án cấp phúc thẩm từ 20 đến 30

ngày (khoản 2 Điều 66), cấp giám đốc thẩm

hoặc tái thẩm là 1 tháng (khoản 2 Điều 76),

thời gian giải quyết đơn yêu cầu giải quyết

đình công là 3 ngày (khoản 2 Điều 92), thời

gian giải quyết khiếu nại việc giải quyết đình

công là 5 ngày (khoản 2 Điều 102); thời gian

dành cho viện kiểm sát nhân dân nghiên cứu

hồ sơ vụ án trước khi xét xử cấp sơ thẩm chỉ

có 5 ngày (khoản 2 Điều 36), cấp phúc thẩm

là 5 ngày (khoản 1 Điều 69), cấp giám đốc

thẩm hoặc tái thẩm là 10 ngày Theo chúng

tôi quy định như vậy vừa quá ngắn vừa không

thống nhất về cách tính, do đó, nên kéo dài

thời gian gấp hai lần hiện nay và quy định rõ

cách tính theo ngày làm việc cho thống nhất

4 Về quyền khởi tố vụ án lao động của

viện kiểm sát nhân dân trong Pháp lệnh

thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động

Theo quy định tại Điều 28 Pháp lệnh

TTGQTCLĐ thì: “ Đối với những vi phạm

pháp luật liên quan đến quyền và lợi ích hợp

pháp của NLĐ là người chưa thành niên,

người tàn tật và các vi phạm pháp luật

nghiêm trọng khác, nếu không có ai khởi

kiện thì viện kiểm sát có quyền khởi tố” Về

quy định này hiện có hai quan điểm:

Quan điểm thứ nhất cho rằng theo quy

định này thì phạm vi giới hạn của quyền

khởi tố vụ án lao động rất hạn hẹp Về chủ

thể: Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất có

quyền khởi tố vụ án lao động; về khách thể:

Quyền và lợi ích của NLĐ là người chưa

thành niên, người tàn tật và các vi phạm

pháp luật nghiêm trọng khác nhưng với điều

kiện không có ai khởi kiện (các trường hợp

người giám hộ, người đại diện, người bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp của những chủ thể nêu trên hoặc không có hoặc đã từ chối hoặc

bị pháp luật tước bỏ quyền) Vì vậy, trên thực tế, những trường hợp cần viện kiểm sát khởi tố rất hãn hữu Nhưng sự tồn tại của quy định này vẫn rất cần thiết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của NLĐ và lợi ích của Nhà nước khi không có người khởi kiện Quan điểm thứ hai lại cho rằng quyền khởi kiện vụ án lao động là quyền tự định đoạt của các bên tham gia vụ án lao động, do

đó, không nên quy định viện kiểm sát có quyền khởi tố Chúng tôi tán thành quan điểm này vì phù hợp với bản chất của quan

hệ lao động là tự do, tự nguyện thoả thuận

5 Về vấn đề đình công và giải quyết đình công

Theo thống kê chưa đầy đủ, 6 năm qua cả nước xảy ra 468 cuộc đình công song chưa vụ nào được đưa ra xét xử theo thủ tục luật định Luật sửa đổi, bổ sung BLLĐ trong phần quy định về giải quyết tranh chấp lao động tập thể và đình công vẫn giữ nguyên Nhưng trước tình hình đình công đang diễn ra ngày càng phức tạp đòi hỏi chúng ta cần có giải pháp hữu ích để khắc phục tình trạng này

Có ý kiến cho rằng đình công là vấn đề hết sức nhạy cảm, không nên khơi dậy nếu

nó đã ổn định, luật pháp quy định chặt chẽ như vậy về đình công sẽ góp phần kiềm chế hiện tượng này Song có ý kiến lại cho rằng

do thủ tục đình công quy định quá chặt chẽ nên 100% các cuộc đình công đều diễn ra không đúng quy trình luật định, do đó, toà án không thể thụ lí giải quyết khi có đơn yêu cầu Khi xảy ra đình công, thường thì công đoàn cấp trên cùng với chính quyền, cơ quan lao động cơ sở đến dàn xếp, hoà giải, thương

Trang 5

lượng rồi tự dàn xếp, giải tán cuộc đình

công Đây là giải pháp tình thế, tạm thời,

không giải quyết được tận gốc của tranh

chấp Nên chăng, cần xem xét, sửa đổi các

quy định về đình công và giải quyết đình

công cho phù hợp với thực tế, làm cho các

quy định của pháp luật có tính khả thi hơn

Căn cứ vào các quy định tại Điều 173, Điều

174 BLLĐ, Điều 80 Pháp lệnh TTGQTCLĐ

về các điều kiện để cuộc đình công được coi

là hợp pháp; đánh giá các quy định tại Điều

168, Điều 171, 172 BLLĐ, Điều 82, 83, 84

Pháp lệnh TTGQTCLĐ về thời gian và cơ

quan có thẩm quyền giải quyết đình công; đối

chiếu với thực tiễn đình công hơn 6 năm qua

chúng tôi có một số nhận định sau:

+ Trong khi yêu cầu của tập thể lao động

là hết sức cấp bách, nóng bỏng và cần giải

quyết ngay do họ bị xúc phạm nghiêm trọng

về vật chất, tinh thần, danh dự, nhân phẩm

thì trình tự, thủ tục đình công lại quy định

rườm rà, phức tạp Điều đó không những

làm giảm ý chí đấu tranh của người lao động,

khiến cho hiện tượng vi phạm pháp luật của

NSDLĐ càng nghiêm trọng, mặt khác dễ

làm bùng nổ nguy cơ đình công tự phát hoặc

những biểu hiện quá khích của NLĐ

+ Có sự mâu thuẫn giữa tính tự nguyện và

tính gò bó ngay trong các quy định về đình

công Khi xây dựng BLLĐ và Pháp lệnh

TTGQTCLĐ, các nhà lập pháp đều cho rằng

đình công là yêu cầu khách quan, ai muốn

đình công đều do ý chí tự nguyện; cấm gò ép,

vận động, lôi kéo đình công; song lại quy định

phải có quá nửa tập thể lao động tán thành

đình công bằng cách kí tên hoặc bỏ phiếu kín

thì cuộc đình công mới được coi là hợp pháp

(khoản 1 Điều 81 Pháp lệnh TTGQTCLĐ)

Thực tiễn cho thấy ở nơi có vài chục đến dưới

100 công nhân thì quy định trên còn có thể thực thi, còn ở những doanh nghiệp có hàng trăm thậm chí hàng nghìn công nhân thì không đơn giản chút nào

+ Pháp luật lao động chưa quy định những điều kiện vật chất cần thiết để đảm bảo cho người đại diện lãnh đạo cuộc đình công (là các cán bộ công đoàn) thực thi nhiệm vụ Ở các nước phát triển, cán bộ công đoàn sống bằng kinh phí do đoàn viên đóng góp, công đoàn có quỹ để trả lương cho công nhân trong những ngày họ tham gia đình công Còn ở nước ta, công đoàn cấp cơ

sở hoạt động phụ thuộc vào kinh phí do NSDLĐ cung cấp hoặc đóng góp, bản thân các cán bộ công đoàn ở cấp cơ sở trước hết cũng là người lao động, tiền luơng, phương tiện làm việc đều trông chờ vào NSDLĐ

Do hoạt động theo cơ chế như vậy nên công đoàn, đặc biệt là công đoàn cơ sở không thể

có đủ điều kiện để đại diện cho NLĐ giải quyết các mâu thuẫn trong đình công Chưa

kể đến các thủ đoạn trù dập, trả thù của NSDLĐ đối với cán bộ công đoàn nếu những người này có quan điểm trái với chính kiến của họ trong quá trình lao động, đặc biệt là các vấn đề như sa thải, cắt thưởng, tăng thời giờ làm việc Để công đoàn thực sự là chỗ dựa tin cậy của NLĐ, cần có cơ chế phù hợp

để đảm bảo tính chủ động của công đoàn trong hoạt động, đặc biệt là khả năng tài chính của công đoàn

Trên đây là một số ý kiến đóng góp nhằm bước đầu hoàn thiện Pháp lệnh TTGQTCLĐ,

để Pháp lệnh này thực sự đi vào cuộc sống và góp phần tích cực giải quyết các tranh chấp lao động trong thực tiễn./

Ngày đăng: 17/03/2014, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w