Trong đó, “hợp nhất doanh nghiệp” được định nghĩa tại Điều 29.3 Luật cạnh tranh 2018 như sau: "Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền,
Trang 1ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG KINH DOANH KHOA NGÂN HÀNG
TIỂU LUẬN
BỘ MÔN NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ
ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG M&A
TẠI VIỆT NAM
TP Hồ Chí Minh, ngày 5 tháng 6 năm 2022
Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thanh Phong
Trang 2I TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP (M&A) DOANH
NGHIỆP TẠI VIỆT NAM 1
1 Khái niệm về hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) tại Việt Nam 1
2 Cơ sở pháp lý cho hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) doanh nghiệp tại Việt Nam 2
2.1 M&A theo quy định của Luật Doanh nghiệp 3
2.2 M&A doanh nghiệp theo quy định của Luật Cạnh tranh 3
2.3 M&A doanh nghiệp theo quy định của Luật Đầu tư 4
3 Các hình thức mua bán và sáp nhập (M&A) phổ biến 4
II CẤU TRÚC VÀ TRÌNH TỰ CỦA GIAO DỊCH MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP (M&A) TẠI VIỆT NAM 5
1 Cấu trúc của giao dịch mua bán và sáp nhập (M&A) tại Việt Nam 5
2 Những yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc giao dịch mua bán và sáp nhập (M&A) .6 2.1 Mong muốn thương mại 6
2.2 Quy định của pháp luật 6
2.3 Tính toán liên quan đến thuế 9
3 Trình tự của giao dịch mua bán và sáp nhập (M&A) tại Việt Nam 10
3.1 Giai đoạn trước khi giao kết hợp đồng 10
3.2 Giai đoạn giao kết hợp đồng 11
3.3 Giai đoạn thực hiện giao dịch 14
3.4 Giai đoạn hoàn tất giao dịch 15
3.5 Giai đoạn sau hoàn tất giao dịch 15
3.6 Một số thương vụ M&A tiêu biểu tại Việt Nam 16
III THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP (M&A) DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM 17
1 Các giai đoạn phát triển của hoạt động M&A tại Việt Nam 17
2 Những rào cản trong hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) doanh nghiệp tại Việt Nam 22
2.1 Khung pháp lý chưa rõ ràng, hoàn thiện 22
2.2 Hiểu biết về hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp còn hạn chế 23
2.3 Sự thiếu minh bạch trong công bố thông tin của doanh nghiệp 23
2.4 Vấn đề liên quan đến thủ tục đăng ký doanh nghiệp, đầu tư 24
Trang 32.5 Vấn đề về thuế 25
IV GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP (M&A) DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM 25
1 Hoàn thiện hệ thống pháp lý cho hoạt động M&A 25
2 Xây dựng hệ thống công khai thông tin toàn diện 26
3 Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính 26
4 Xây dựng chế cơ chế ưu đãi thuế liên quan đến sáp nhập và mua lại 27
KẾT LUẬN 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Tuy còn là khái niệm khá mới mới mẻ ở Việt Nam, mua bán và sáp nhập doanhnghiệp (M&A) đã được thực hiện thành công qua nhiều thương vụ trong thời gian vừaqua Các doanh nghiệp sẽ có được nguồn tài tính bổ sung, củng cố và thiết lập mốiquan hệ đối tác chiến lược Từ đó, M&A giúp cho doanh nghiệp tăng thêm giá trị quanăng lực quản lý, công nghệ và các kênh phân phối, tạo được lợi thế cạnh tranh rất lớncho doanh nghiệp trên thị trường
Có thể thấy, nền kinh tế Việt Nam hội tụ đầy đủ các yếu tố thuận lợi cho hoạtđộng M&A bao gồm tốc độ tăng trưởng nhanh chóng, ổn định, nhu cầu tiêu dùngtrong nước lớn, môi trường pháp lý đang dần hoàn thiện Vì thế, được xem là điểmnóng cho hoạt động đầu tư trong và ngoài nước, thị trường M&A đang dần phát triển.Tuy nhiên, vẫn còn nhiều mặt hạn chế về hoạt động M&A vẫn còn tồn đọng Đó là sựthiếu hiểu biết về quy định pháp luật, nhiều trở ngại về việc tái tổ chức doanh nghiệpmới trong quá trình diễn ra hoạt động M&A Vì thế, đề tài “Thực trạng hoạt độngM&A tại Việt Nam” sẽ cho thấy góc nhìn tổng quan và đồng thời đề xuất những giảipháp để thúc đẩy và tối ưu hóa hoạt động M&A tại Việt Nam
Trang 5I TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP (M&A) DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
1 Khái niệm về hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) tại Việt Nam
Khi nhắc đến vấn đề sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp, người ta hay đề cập đếnhoạt động M&A Đây là từ viết tắt của “Merge and Acquisition nghĩa là “mua bán vàsáp nhập” hay “thâu tóm hợp nhất” doanh nghiệp”, đây là một thuật ngữ chuyênngành trong lĩnh vực tài chính kinh doanh và quản trị chiến lược, để chỉ hoạt độngkinh doanh và quản trị rất phổ biến ở các nền kinh tế phát triển Xuất phát từ Luậtcông ty năm 1990, lần đầu tiên các thuật ngữ như “sáp nhập”, “chuyển nhượng phầnvốn góp", "chuyển nhượng cổ phiếu” được nhắc đến một cách chính thức tại một vănbản luật của Việt Nam Mặc dù vậy, phải đến khoảng thời gian trước khi Việt Nam gianhập WTO vào năm 2007, hoạt động sáp nhập và mua lại mới thực sự có được bộkhung pháp lý đầy đủ để phát triển thông qua việc Việt Nam ban hành các văn bảnluật chính yếu liên quan đến hoạt động sáp nhập và mua lại như Luật doanh nghiệp
2005, Luật đầu tư 2005, Luật cạnh tranh 2004 và Luật chứng khoán 2006
Cho đến hiện nay, các văn bản luật chính yếu trên đã được sửa đổi, bổ sungnhiều lần với các phiên bản,gần nhất là Luật doanh nghiệp 2020, Luật đầu tư 2020,Luật cạnh tranh 2018 và Luật chứng khoán 2019 cùng một số lượng lớn các văn bảndưới luật phục vụ cho mục đích quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các văn bảnluật trên Một điểm cần lưu ý là Việt Nam hiện không có một văn bản luật dành riêngcho hoạt động sáp nhập và mua lại, mà tất cả các quy định chính đều được dàn trải ởcác văn bản luật chính yếu như đã đề cập ở trên
Trong đó, “hợp nhất doanh nghiệp” được định nghĩa tại Điều 29.3 Luật cạnh
tranh 2018 như sau: "Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp
chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc sự tấn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất” “Sáp nhập doanh nghiệp” thì được định nghĩa ở Điều
29.2 Luật cạnh tranh 2018: “Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh
nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đẳng thời chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập” Luật doanh nghiệp 2020 sử dụng thuật ngữ có khác biệt
một chút là “hợp nhất công ty” và “sáp nhập công ty”, có nội hàm hẹp hơn Luật cạnhtranh 2018
Trang 6Cần phải làm rõ rằng, hình thức mua lại doanh nghiệp mả có liên quan đến cổphần, phần vốn góp như đề cập trên đây là chỉ để cập đến việc bên mua thực hiện mualại cổ phần, phần vốn góp có sẵn từ phía cổ đông, thành viên hiện hữu của công ty,chứ không phải là thực hiện góp vốn vào công ty Việc mua lại doanh nghiệp theohình thức này sẽ không làm tăng vốn điều lệ của công ty, trong khi việc góp vốn đểtrở thành thành viên, cổ đông mới của công ty sẽ khiến cho vốn điều lệ của công ty
tăng lên Trong trường hợp công ty cổ phần sẽ được gọi là phát hành cổ phần cho cổ
đông mới nhằm mục tiêu tăng vốn điều lệ
Mặt khác, hình thức mua lại doanh nghiệp nói trên cũng không làm cho bất kỳbên nào bị “biến mất”, chấm dứt sự tồn tại Kể cả trong trường hợp bên mua thực hiệnmua lại toàn bộ 100% phần vốn góp/cổ phần trong công ty mục tiêu, công ty mục tiêu
và bên mua vẫn tiếp tục tồn tại hoàn toàn độc lập với nhau
Tương tự với quan niệm chung trên thế giới, pháp luật Việt Nam cũng cho
rằng, để được xem là “mua lại doanh nghiệp” thì việc mua lại đó phải là “việc một
doanh nghiệp trực tiếp hoặc gián tiếp mua toàn bộ hoặc một phần vốn góp, tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối doanh nghiệp hoặc một ngành, nghề của doanh nghiệp bị mua lại”.
Như vậy có thể thấy, về mặt quan niệm liên quan đến sáp nhập và mua lại,Việt Nam hiện có góc nhìn pháp lý khá tương đồng với quan niệm chung trên thế giới
2 Cơ sở pháp lý cho hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) doanh nghiệp tại Việt Nam
Pháp luật trong hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) là sự tổng hợp các quyphạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau, điều chỉnh các quan hệ xãhội phát sinh trong quá trình mua bán và sáp nhập giữa các bên Theo đó, pháp luật vềM&A doanh nghiệp được quy định cụ thể tại một số văn bản quy phạm pháp luật sau:
2.1 M&A theo quy định của Luật Doanh nghiệp
Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2020, hoạt động M&A được định nghĩagián tiếp thông qua hoạt động góp vốn, mua phần vốn góp, chuyển nhượng phần vốnvốn trong nhiều loại hình công ty như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần
Trang 7Đối với loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, Điều 17 ở Chương 2, Điều 51,Điều 52 ở Chương 3, Luật Doanh nghiệp 2020 quy định cụ thể về quyền thành lập,góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp và quản lý doanh nghiệp
Đối với loại hình công ty cổ phần, hoạt động M&A được thể hiện ở Điều 126,Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định về việc Bán cổ phần và Chuyển nhượng
cổ phần về số lượng, thời điểm, phương thức, loại cổ phần được chào bán và giá cổphần được chào bán
2.2 M&A doanh nghiệp theo quy định của Luật Cạnh tranh
Luật Cạnh tranh 2019 định nghĩa về M&A thông qua những hình thức cụ thểnhư sau:
Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộtài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác,đồng thời chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc sự tồn tại của doanh nghiệp bị sápnhập
Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tàisản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệpmới; đồng thời, chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc sự tồn tại của các doanh nghiệpbị hợp nhất
Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp trực tiếp hoặc gián tiếp mua lạimột phần hoặc toàn bộ vốn góp, tài sản của doanh nghiệp khác đủ để chi phối, kiểmsoát doanh nghiệp hoặc một ngành, nghề của doanh nghiệp bị mua lại
Liên doanh giữa các doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp cùngnhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hìnhthành một doanh nghiệp mới
Có thể thấy, so với Luật Doanh nghiệp 2020, Luật Cạnh tranh 2019 trước đó đã
có những định nghĩa và chỉ ra những đặc điểm cụ thể cho từng hình thức khác nhaucủa M&A
Trang 82.3 M&A doanh nghiệp theo quy định của Luật Đầu tư
Luật Đầu tư được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa
XIV, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2020 Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2021
Luật Đầu tư năm 2020 đã có những thừa nhận chính thức về 2 hình thức M&A:sáp nhập và mua lại doanh nghiệp Theo đó, hoạt động M&A doanh nghiệp được diễn
ra thông qua việc mua lại một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp hoặc chi nhánh bằngvốn góp, mua cổ phần Vì thế, M&A cũng có thể được xem là hình thức đầu tư trựctiếp
3 Các hình thức mua bán và sáp nhập (M&A) phổ biến
M&A theo chiều ngang (Horizontal): là hình thức mua bán, sáp nhập giữa các
doanh nghiệp cùng lĩnh vực kinh doanh, cung cấp các dòng sản phẩm và dịch vụgiống nhau hoặc tương tự cho người tiêu dùng cuối cùng Các doanh nghiệp trongtrường hợp này thường là đối thủ cạnh tranh trực tiếp với nhau
Ví dụ, nếu một công ty sản xuất nước giặt kết hợp với một công ty khác trongngành sản xuất nước giặt, trong trường này sẽ được gọi là sáp nhập theo chiều ngang.Lợi ích của loại hình sáp nhập này là giúp loại bỏ sự cạnh tranh, giúp tăng thị phần,doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp Hơn nữa là việc này sẽ giúp cho các doanhnghiệp giảm chi phí cố định, mở rộng thị trường và loại bỏ cạnh tranh
M&A theo chiều dọc (Vertical): là hình thức mua bán, sáp nhập giữa các doanh
doanh nghiệp có cùng chuỗi giá trị sản xuất, nhưng khác biệt duy nhất là giai đoạn sảnxuất mà họ đang hoạt động
Ví dụ, một cửa hàng điện thoại, laptop sáp nhập với một nhà phân phối linhkiện điện tử, trường hợp này được gọi là sáp nhập theo chiều dọc, vì có cùng ngànhhàng là công nghệ, nhưng khác nhau về giai đoạn sản Loại sáp nhập này nhằm đảmbảo cung cấp các mặt hàng thiết yếu và giúp cho doanh nghiệp không bị gián đoạntrong nguồn cung cấp Nó cũng được thực hiện để hạn chế cung cấp cho các đối thủcạnh tranh, nhờ vậy giúp giảm các chi phí trung gian, nâng cao doanh thu và lợinhuận
M&A kết hợp (Conglomerate): là hình thức mua bán và sáp nhập để hình thành
nên một tập đoàn, phục vụ cho một nhóm ngành nghề cụ thể, nhưng họ không cung
Trang 9cấp các dòng sản phẩm và dịch vụ giống nhau Sản phẩm của họ có thể đi kèm theo và
bổ trợ cho nhau, thường được mua cùng nhau Việc này sẽ tạo nên sự thuận tiện chongười mua, đồng thời giúp các sản phẩm có tính liên kết kiếm được nguồn tiêu thụ.Đặc biệt, việc tập đoàn hoá các công ty nhỏ lẽ sẽ giúp tạo thế mạnh vững chắc cho têntuổi của doanh nghiệp, từ đó giúp cho khả năng cạnh tranh tăng cao
Ví dụ, một công ty sản xuất giường sáp nhập với một công ty sản xuất nệm,trường hợp này được gọi là sáp nhập tập đoàn Vì đây là những sản phẩm bổ sung chonhau, thường được mua cùng nhau Chúng thường được thực hiện để tạo thuận lợi chongười tiêu dùng, vì sẽ dễ dàng hơn khi bán những sản phẩm này
II CẤU TRÚC VÀ TRÌNH TỰ CỦA GIAO DỊCH MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP (M&A) TẠI VIỆT NAM
1 Cấu trúc của giao dịch mua bán và sáp nhập (M&A) tại Việt Nam
Cấu trúc giao dịch (deal structuring) là một thuật ngữ chỉ cơ cấu, thành phầncủa một giao dịch sáp nhập và mua lại thông thường được luật sư của các bên nghiêncứu để lập ra cho các bên, phù hợp với mong muốn của các bên Cấu trúc của mộtgiao dịch bao gồm các nội dung:
Loại giao dịch: bao gồm giao dịch mua lại cổ phần/phần vốn góp từ cổđông/thành viên hiện hữu; mua tài sản của công ty mục tiêu; hợp nhất hoặc sápnhập công ty (thông thường khi công ty mục tiêu là công ty đại chúng);
Các bên tham gia giao dịch: các bên tham gia giao dịch cũng là một nội dungcủa cấu trúc giao dịch Thông thường, các bên có thể tự mình đứng ra tham giagiao dịch nhưng cũng có thể sử dụng cá nhân/pháp nhân khác, có quốc tịchViệt Nam hoặc nước ngoài, và nếu là nước ngoài thì là nước nào Việc quyếtđịnh nội dung này tùy thuộc vào mục tiêu thương mại của các bên trong giaodịch
Nội dung của giao dịch chính: đa dạng và phong phú, có thể bao gồm loại cổphần số lượng cổ phần được mua, tiến độ thực hiện thanh toán, loại tài sảnthanh toán,
Công việc và giao dịch phụ phải thực hiện trước và sau khi có giao dịch chính
để đảm bảo giao dịch chính được thực hiện tốt
Như vậy có thể thấy, cấu trúc của giao dịch sẽ được luật sư của các bên thiết
kế tùy thuộc vào mong muốn và lợi ích thương mại của các bên, cũng như dựa trên
Trang 10các điều kiện và quy định của pháp luật có liên quan.
2 Những yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc giao dịch mua bán và sáp nhập (M&A)
Cấu trúc giao dịch M&A sẽ được các bên lựa chọn và thiết kế, tùy thuộc vàonhững yếu tổ chính sau đây:
Mong muốn thương mại;
Quy định của pháp luật;
Tính toán liên quan đến thuế
2.1 Mong muốn thương mại
Mong muốn thương mại của các bên là những gì mà các bên mong muốn đượcthực hiện thông qua giao dịch, để đạt được mục đích sau cùng khi tham gia giao dịch Chẳng hạn như việc các bên mong muốn giao dịch phải được hoàn tất trướcmột thời điểm cụ thể nào đó cũng được xem là mong muốn thương mại Hoặc Bên bánmong muốn Bên mua phải là bên chịu trách nhiệm thực hiện các thủ tục hành chính cóliên quan tại các cơ quan nhà nước, cũng là một mong muốn thương mại
Tuy nhiên, mong muốn thương mại mà có ảnh hưởng đến cấu trúc giao dịch,chẳng hạn như việc Bên bán có thể cân nhắc bán cổ phần cho Bên mua bằng cách bán
cổ phần hiện có mà mình nắm giữ (nhằm phục vụ mục đích “nghỉ hưu”), hoặc khiếncho Công ty phát hành cổ phần mới để Bên mua mua số lượng cổ phần mới đó, trởthành cổ đông mới cùng với Bên bán (nhằm phục vụ mục đích huy động vốn pháttriển công ty) Mong muốn thương mại như vậy đã làm ảnh hưởng một cách trực tiếpđến cấu trúc giao dịch M&A
2.2 Quy định của pháp luật
Quy định của pháp luật là yếu tố ảnh hưởng rất mạnh đến cấu trúc của mộtgiao dịch Ngoài việc quy định pháp luật tạo ra khung pháp lý do để các bên thực hiệngiao dịch, mà chủ yếu là đến từ 4 văn bản luật chính yếu như đã trình bày ở trên, thìcác hạn chế, điều kiện theo quy định của pháp luật cũng ảnh hưởng lớn đến quyết địnhlựa chọn hoặc thiết kế một giao dịch
Hạn chế liên quan đến quyền mua bán tài sản:
Trang 11Pháp luật về đất đai quy định rằng, tổ chức hay cá nhân nước ngoài khôngđược trực tiếp nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ tổ chức, cá nhân Việt Nam.Mặc dù vậy, pháp luật về doanh nghiệp, đầu tư lại không có hạn chế tổ chức, cá nhânnước ngoài trong việc mua cổ phần, phần vốn góp của công ty có sở hữu mảnh đất đó Như vậy, rõ ràng lựa chọn cấu trúc giao dịch là mua cổ phần, phần vốn gópcủa công ty đó sẽ có lợi và là lựa chọn khả dĩ cho Bên mua là tổ chức hoặc cá nhânnước ngoài Mặc dù việc mua cổ phần, phần vốn góp không làm cho mảnh đất đóđược sang tên trực tiếp sang cho Bên mua mà mảnh đất đó vẫn đứng tên bởi công ty,tuy nhiên việc Bên mua đã có quyền kiểm soát đối với công ty thì qua đó cũng đã giántiếp có quyền đối với mảnh đất thuộc sở hữu của công ty đó.
Hạn chế liên quan đến tỷ lệ sở hữu vốn trong công ty mục tiêu:
Như đã trình bày tại các mục bên trên liên quan đến khung pháp lý chính yếuđiều chỉnh hoạt động M&A tại Việt Nam, quy định về tỷ lệ sở hữu vốn là một trongcác điều kiện, hạn chế áp đặt lên nhà đầu tư nước ngoài được quy định trong các điềuước, cam kết quốc tế của Việt Nam, chẳng hạn như Biểu cam kết WTO, cũng nhưđược quy định trong các văn bản luật nội địa như pháp luật về chứng khoán cũng nhưpháp luật chuyên ngành khác
Những hạn chế liên quan đến tỷ lệ sở hữu vốn có nhiều mốc, chẳng hạn nhưmốc 49%, 50%, 51%, hoặc thậm chí dưới 100% (tối đa 99,9 %, phần còn lại có thểbị buộc phải liên doanh với một bên Việt Nam khác) tùy từng ngành, nghề dịch vụ màcông ty mục tiêu cung cấp
Điều này có nghĩa là cấu trúc giao dịch sẽ trở nên hết sức đa dạng Chẳng hạnnhư để “đối phó” với hạn chế về tỷ lệ vốn 49%, Bên mua là nhà đầu tư nước ngoài cóthể cơ cấu để họ nắm giữ tối đa 49%, phía liên doanh Việt Nam nắm giữ 50%, 1%,còn lại được giao cho một công ty trung gian khác nắm giữ Thông thưởng công tytrung gian này là một công ty đầu tư, tài chính hoặc thậm chí là một công ty SPV(Special Purpose Vehicle - công ty được lập ra để phục vụ mục đích đặc biệt) đo mộtcông ty luật lập ra để phục vụ cho mục đích “trung gian” này Việc cơ cấu như thế nào
là nhằm đảm bảo tuân thủ hạn chế vẽ tỷ lệ vốn góp nước ngoài tối đa là 49%, nhưngcũng đồng thời đảm bảo được công ty mục tiêu không bị kiểm soát bởi phía liêndoanh Việt Nam, do bởi 50% của phía Việt Nam là mốc không thể quyết định đượccác vấn để của công ty
Trang 12Hạn chế liên quan đến giấy phép và hoạt động kinh doanh:
Giấy phép con và các hạn chế về hoạt động kinh doanh là một trong những ràocản lớn đối với nhà đầu tư nước ngoài Thông thường theo quy định của pháp luật, cáchạn chế về giấy phép con và hoạt động kinh doanh sẽ được áp dụng mạnh mẽ hơn chonhà đầu tư nước ngoài so với các nhà đầu tư trong nước Chẳng hạn, theo quy địnhpháp luật, nếu kinh doanh dịch vụ phân phối bán lẻ thì đối với nhà đầu tư nước ngoài
sẽ phải tiến hành xin cấp giấy phép kinh doanh phân phối bán lẻ Giả sử trong trườnghợp công ty này có 50 cửa hàng như vậy, thì sẽ buộc phải xin đến 50 cái giấy phéptương ứng
Để khắc phục hạn chế này, Bên mua khi thực hiện giao dịch mua lại có thể yêucầu cấu trúc giao dịch như sau: Cô đông của công ty mục tiêu sử dụng cổ phần củachính mình trong công ty mục tiêu để góp vốn thành lập một công ty mới Công tymới sẽ trở thành chủ sở hữu duy nhất (công ty mẹ) của công ty mục tiêu, và Bên mua
sẽ thực hiện mua lại/mua phần vốn góp tăng thêm trong công ty mới thành lập để qua
đó gián tiếp sở hữu công ty mục tiêu, mà không sợ rằng công ty mục tiêu sẽ trở thànhcông ty có vốn đầu tư nước ngoài đề phải chịu các hạn chế liên quan đến giấy phépcon và điều kiện hoạt động kinh doanh
Hạn chế liên quan đến thủ tục hành chính:
Thủ tục hành chính là một phần rất quan trọng của quy định pháp luật mà cóthể có ảnh hưởng lớn đến cấu trúc của một giao dịch M&A tại Việt Nam Thủ tụchành chính thay đổi có thể khiến cho một phần hoặc toàn bộ phương án/cấu trúc giaodịch M&A trở nên khó khăn để thực hiện hoặc thậm chí là không thể thực hiện được Chẳng hạn như trường hợp khi Luật doanh nghiệp 2020 và Luật đầu tư 2020mới được ban hành và có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2021, các quy định mới
về đăng ký doanh nghiệp, đăng ký đầu tư liên quan đến việc chuyển nhượng, góp vốn,mua cổ phần, phần vốn góp, sẽ được điều chỉnh về mặt nội dung tại các văn bản luậtnày
Tuy nhiên, các thông tư hướng dẫn cho các văn bản luật này liên quan đến cácthủ tục hành chính nói trên lại chưa được ban hành Cụ thể, Thông tư 01/2021/TT-BKHĐT hướng dẫn về biểu mẫu đăng ký doanh nghiệp được ban hành ngày 16 tháng
Trang 133 năm 2021 và có hiệu lực từ 01 tháng 5 năm 2021, còn Thông tư BKHĐT hướng dẫn về biểu mẫu đăng ký đầu tư được ban hành và có hiệu lực từ ngày
03/2021/TT-09 tháng 4 năm 2021
Như vậy, trong khoảng thời gian 4 tháng như vậy, chắc chắn các giao dịchM&A mà cần thực hiện các thủ tục hành chính vào thời điểm này sẽ bị ảnh hưởng đếntiến độ, do mặc dù trong khoảng thời gian này Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng các Sở tạiđịa phương đều cố gắng có các công văn hướng dẫn thực hiện thủ tục trong thời gianchờ đợi nghị định, thông tư mới, nhưng chắc chắn sẽ gặp sự cập rập và bắt nhất trongquá trình triển khai thực hiện
Thủ tục hành chính nặng nề ở Việt Nam được coi là lý do để nhà đầu tư thànhlập một công ty holdings (công ty chỉ nhằm mục đích nắm vốn) hoặc công ty vỏ sò(shell company) ở nước ngoài (offshore), chỉ nhằm mục đích đầu tư và nắm vốn cáccông ty tại Việt Nam? Trong trường hợp cần bán công ty cho một bên khác thì Bênbán và Bên mua sẽ thực hiện giao dịch M&A trên công ty holdings hoặc công ty vỏ sởtại nước ngoài, để không phải “đụng chạm” vào công ty tại Việt Nam vốn sẽ gây phứctạp và tốn thời gian về mặt thủ tục
2.3 Tính toán liên quan đến thuế
Ở bước này thì tương đối dễ hình dung, khi quy định về thuế liên quan đếnM&A tại Việt Nam chủ yếu đến từ việc thuế suất chuyển nhượng phần vốn góp cócách tính khác với thuế suất chuyển nhượng cổ phần, Cụ thể, thuế suất tính cho việcchuyển nhượng phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn là 20%, trong khithuế suất tính cho việc chuyển nhượng cổ phần là 0,1%, Ngoài ra, thuế suất tính choviệc mua cổ phần/phần vốn góp cùng khác với thuế suất khi mua tài sản, cũng nhưgiữa cá nhân và tổ chức cũng thường khác nhau
Cụ thể, tùy thuộc vào việc Bên bán là cá nhân hay tổ chức, các loại thuế sau sẽđược áp dụng:
Thuế thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng vốn Thuế này là một dạng thuếthu nhập phải trả trên khoản góp vốn thực tế của nhà đầu tư ban đầu hoặc chí phí của
họ để mua phần vốn đó, Các công ty nước ngoài cũng như các công ty Việt Nam làBên bán phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp là 20% như trên đã đề cập Tuy nhiên,nếu tài sản chuyển nhượng là cô phần thì Bên bán phải chịu thuế thu nhập doanhnghiệp 0.1% trên giá chuyển nhượng như trên đã đề cập
Trang 14Thuế thu nhập cá nhân Nếu người bán là cá nhân cư trú, sẽ bị đánh thuế thunhập cá nhân với thuế suất 20% trên lợi nhuận thu được và 0,1% trên giá bán nếu tàisản chuyển nhượng là cổ phần Cá nhân cư trú chịu thuế được định nghĩa là người:
Ở tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong một năm dương lịch;
Ở tại Việt Nam trong thời gian 12 tháng liên tục kể từ khi đến Việt Nam;
Có hộ khẩu thường trú tại Việt Nam; hoặc
Cho thuê nhà tại Việt Nam theo hợp đồng thuê nhà có thời hạn từ 90 ngày trởlên trong năm tính thuế
Nếu người bản là cá nhân không cư trú thì phải chịu thuế thu nhập cá nhân(0,1% trên giá chuyển nhượng gộp, bắt kẻ có lãi vốn hay không
Nhìn chung, các bên thường sẽ cùng ngồi với nhau để tính toán ra tổng số thuế
mà các bên phải đóng cho mỗi cơ cấu giao dịch là bao nhiêu, để từ đó lựa chọn cơ cấugiao dịch phù hợp nhất (hay nói cách khác là đóng càng ít tiền thuế càng tốt)
3 Trình tự của giao dịch mua bán và sáp nhập (M&A) tại Việt Nam
Một trình tự cơ bản của một giao dịch sáp nhập và mua lại tại Việt Nam, thôngthường sẽ bao gồm các giai đoạn sau:
Giai đoạn trước khi giao kết hợp đồng (hợp đồng mua bán/chuyển nhượng)
Giai đoạn giao kết hợp đồng
Giai đoạn trước khi giao dịch hoàn tất
Giai đoạn hoàn tất giao dịch
Giai đoạn sau khi giao dịch hoàn tất
Tương ứng với mỗi giai đoạn sẽ có các công việc mà các bên cần phải thựchiện, cụ thể như sau:
3.1 Giai đoạn trước khi giao kết hợp đồng
Ở giai đoạn này, Bên mua sẽ hình thành ý tưởng mua cũng như Bên bán sẽhình thành ý tưởng bán Động lực và lý do để hình thành ý tưởng sắp nhập và mua lạicông ty thì rất đa dạng Tuy nhiên theo tác giả Luận văn thì có lẽ cũng không nằmngoài các động lực được nêu trong các lý thuyết hành vi doanh nghiệp đã được trìnhbảy ở phần mở đầu của Luận văn nảy Bên bán chuẩn bị các tài liệu chào bán cũngnhư thực hiện các bước tái cơ cấu trong nội bộ công ty sao cho thuận tiện cho giaodịch M&A dự kiến
Trang 15Trong khi đó, Bên mua thực hiện việc tìm hiểu sơ bộ về công ty mục tiêu trên
cơ sở các thông tin được công bố công khai, đồng thời bày tỏ ý định mua Cuối cùng,các bên đi đến ký kết một số thỏa thuận sơ bộ làm nền tảng cho giai đoạn giao kết hợpđồng Các thỏa thuận sơ bộ có thẻ bao gồm:
Thỏa thuận bảo mật (“confidentiality agreement” hoặc còn gọi là disclosure agreement" - NDA) có nội dung chủ yếu quy định nghĩa vụ của bên tiếpnhận thông tin (nhất là Bên mua) phải giữ bí mật đổi với các thông tin liên quan đếngiao dịch mà bên tiết lộ thông tin (Bên bán) cung cấp
"non-Thư bày tỏ ý định (Letter of Intent - Lol) hoặc biên bản ghi nhớ (Memorandum
of Understanding - MoU) hoặc bản điều khoản chính (Term sheet) Các văn bản nàynhằm mục đích để các bên trong giao dịch xác lập các ý định chung nhất và ban đầuliên quan đến một số vấn đề cơ bản của giao dịch (thông thường, các văn bản này chủyếu thể hiện các điều khoản thương mại như ai tham gia giao dịch, giá bán ra sao, tiến
độ, quy trình như thế nào )
Đây là giai đoạn tìm hiểu, do vậy các công việc ở giai đoạn này chưa bao gồmcác thủ tục hành chính tại các cơ quan nhà nước, đo vậy không có nhiều quy định cóthể áp dụng cho giai đoạn này, ngoại trừ các nguyên tắc cơ bản nhất của pháp luật dânsự
Một điểm lưu ý là không phải mọi giao dịch mà ở giai đoạn nảy các bên kếtthúc bằng một thỏa thuận sơ bộ như đã liệt kê ở trên Trong nhiều trường hợp các bênthậm chí bỏ qua việc đàm phán và ký kết thỏa thuận sơ bộ, do việc đàm phán và kýkết thỏa thuận sơ bộ, đặc biệt là Thư bày tỏ ý định hoặc các thỏa thuận tương đương
có thể gây tốn kém chi phí và thời gian, công sức của các bên, mặc dù đây mới chỉ làcác thỏa thuận sơ bộ ban đầu
3.2 Giai đoạn giao kết hợp đồng
Sau khi các bên hoàn thành giai đoạn tìm hiểu và ký kết thỏa thuận sơ bộ, cácbên sẽ bước vào giai đoạn đàm phán giao kết hợp đồng Hợp đồng ở đây thông thường
sẽ là hợp đồng mua bán cổ phần/phần vốn góp (share purchase agreement - SPA theocách gọi phổ biến của quốc tế) hoặc một cái tên khác nhưng có bản chất tương tự(chẳng hạn như “hợp đồng chuyển nhượng cổ phần/phần vốn góp” theo như cách gọicủa Luật doanh nghiệp Việt Nam)
Trang 16Ở giai đoạn này, Bên bán sẽ tham gia phục vụ quá trình thẩm định pháp lý củaBên mua (Legal Due Diligence) thông qua việc cung cấp các thông tin, tài liệu cầnthiết theo yêu cầu và câu hỏi của Bên mua Đồng thời, Bên bán cũng tham gia kiểmtra, rà soát (review) và đàm phán hợp đồng mua bán cổ phần/phần vốn góp.
Ở chiều ngược lại, Bên mua là bên chủ động tiến hành thẩm định pháp lý công
ty mục tiêu qua việc yêu cầu cung cấp tài liệu và đặt các câu hỏi cần thiết cho Bênbán Thông thường, việc soạn ra bản dự thảo hợp đồng mua bán cổ phần/phần vốn góp
sẽ do Bên mua/luật sư của Bên mua thực hiện để gửi cho Bên bản/luật sư của Bên bánkiểm tra, rà soát lại
Thẩm định pháp lý tương tự như việc kiểm tra tình trạng một chiếc xe hơi cũtrước khi đưa ra quyết định mua nó (đã từng bị ngập nước chưa, đã từng hỏng hóc vàsửa chữa những chỗ nào ), hoặc cũng giống như việc người ta đi khám bệnh để tìm rabệnh một người đang mắc phải Thẩm định pháp lý sẽ giúp cho Bên mua tìm ranhững khiếm khuyết của công ty mục tiêu, giúp cho Bên mua lường trước được nhữnghậu quả mà Bên mua có thể phải gánh chịu nếu thực hiện việc mua lại công ty đó Lưu ý là việc thẩm định pháp lý chỉ là một trong số nhiều dạng thẩm địnhtrong quá trình đàm phán giao kết hợp đồng Việc thẩm định pháp lý ở Việt Namthông thường sẽ do các công ty luật (law firm) thực hiện Bên cạnh đó còn có các quátrình thẩm định tài chính (Financial Due Diligence) hoặc thẩm định thương mại(Commercial Due Diligence) sẽ do các công ty kiểm toán, ngân hàng đầu tư thực hiện Báo cáo thẩm định pháp lý của luật sư Bên mua thường bao gồm các vấn đểsau:
· Thông tin pháp lý của công ty mục tiêu và các công ty con, công tyliên kết và các công ty khác tạo thành một phần của công ty mục tiêu
· Nợ phải trả dự phòng (từ các vụ kiện tụng trong quá khứ hoặc đangchờ xử lý)
· Vấn đề lao động
· Các thỏa thuận, hợp đồng chính của công ty mục tiêu
· Các phê duyệt, chấp thuận và giấy phép theo luật định liên quan đếncác hoạt động kinh doanh của mục tiêu
Trang 17· Bảo hiểm, thuế, sở hữu trí tuệ, các khoản nợ và các vấn đề liên quanđến đất đai.
· Chống độc quyền, tham nhũng và các vấn đề pháp lý khác
Kết quả của việc thẩm định pháp lý là báo cáo thẩm định pháp lý (Legal DueDiligence Report Bản báo cáo này thể hiện các vấn đề mà Bên mua/luật sư của Bênmua tìm ra được trong quá trình thẩm định pháp lý Những khiếm khuyết, vấn đề haygặp trong quá trình thẩm định pháp lý rất đa dạng, nhưng thông thường bao gồm:
· Cổ đông/thành viên công ty mục tiêu chưa góp đủ vốn;
· Dự án đầu tư của công ty mục tiêu có khả năng bị thu hồi do chậmtriển khai dự án/bồi thường giải phóng mặt bằng hoặc vì một vi phạmpháp luật nào khác;
· Công ty mục tiêu hiện đang có các tranh chấp với một số đối tác, hoặcvới người lao động của công ty;
· Công ty mục tiêu chưa có các chấp thuận nội bộ cần thiết để thôngqua một số hợp đồng/giao dịch với người có liên quan;
· Công ty mục tiêu chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtđối với khu đất chính yếu;
· Các công trình trên đất được xây trái với giấy phép xây dựng hoặckhông có giấy phép xây dựng; v.v
Trong tất cả các trường hợp, các phát hiện được nêu trong báo cáo thẩm địnhpháp lý có ý nghĩa quan trọng cho Bên mua trong việc trả lời 3 câu hỏi sau đây:
· Liệu có nên mua công ty mục tiêu?
· Nếu mua thì nên mua với các điều kiện nào?
· Nếu mua thì nên mua với giá bao nhiêu?
Để giúp trả lời các câu hỏi trên, luật sư của Bên mua sẽ nêu ý kiến đề xuấttrong bản báo cáo thẩm định pháp lý Nội dung, phạm vi đề xuất là rất linh hoạt và