Phan Thị Hương Thủy * iện nay, trước yêu cầu chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, việc hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việ
Trang 1Phan Thị Hương Thủy *
iện nay, trước yêu cầu chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế, việc hoàn thiện cơ chế
giải quyết tranh chấp kinh tế của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
đ) trở thành một trong những yêu cầu bức xúc
bởi vì các lí do chủ yếu sau:
- Cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế hiện
nay ở Việt Nam, tuy vẫn được coi là công cụ
góp phần tạo trật tự ổn định cho hoạt động của
các chủ thể kinh tế, trong đó có các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài - bộ phận
quan trọng của nền kinh tế quốc dân nhưng
vẫn còn nhiều hạn chế nên chưa thực sự đáp
ứng yêu cầu của tình hình mới Vì vậy, vấn đề
đặt ra là cần phải quan tâm đến những nét đặc
thù của cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế
của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam sao cho vừa phù hợp với cơ
chế giải quyết tranh chấp kinh tế nói chung,
vừa thể hiện được những nét riêng có của các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam nhằm tạo ra sự hấp dẫn hơn đối với
các nhà đầu tư nước ngoài, đảm bảo khả năng
sinh lợi và an toàn vốn đầu tư; tạo niềm tin về
môi trường pháp lí ổn định, rõ ràng, đồng bộ,
bảo đảm cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài phát triển lâu dài và ổn định tại
Việt Nam
- Hiệp định thương mại Việt - Mĩ đ) có
hiệu lực và Việt Nam đang chuẩn bị gia nhập
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cũng là
những nhân tố quan trọng để việc xây dựng và
hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp kinh
tế của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trở thành yêu cầu có tính cấp bách
Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin
đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong điều kiện hiện nay
1 Hoàn thiện pháp luật về đầu tư nước ngoài
1.1 Tiếp tục hoàn thiện Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Việc tiếp tục hoàn thiện Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện bằng các biện pháp cụ thể sau:
Một là, bổ sung vào Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam các định nghĩa như:
- "Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài": là doanh nghiệp được thành lập theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, có sự góp vốn và tham gia quản lí điều hành của nhà đầu tư nước ngoài để tiến hành hoạt
động kinh doanh trên l)nh thổ Việt Nam nhằm mục đích thu lợi nhuận
- "Tranh chấp kinh tế của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài" là tranh chấp liên quan đến hoạt động kinh tế (nhằm mục đích thu lợi nhuận) của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và được
H
* Công ti luật Hoàng Long
Trang 2pháp luật quy định là tranh chấp kinh tế
- Giải quyết tranh chấp kinh tế của các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài "bằng
thương lượng" là cách thức tự các bên tranh
chấp bàn bạc tìm ra cách tháo gỡ vướng mắc
mà không có sự can thiệp từ người thứ ba,
trên cơ sở tôn trọng và bảo đảm quyền và lợi
ích hợp pháp của từng bên, có tính đến yếu
tố thoả hiệp vì lợi ích chung Đây là giai
đoạn tiền xét xử
- Giải quyết tranh chấp kinh tế của các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài "bằng
hoà giải" đây là giai đoạn tiền xét xử do các
bên tranh chấp tự giải quyết bằng thương
lượng là chủ yếu nhưng có sự tham gia của
người thứ ba đóng vai trò trung gian để hoà
giải các bên Người thứ ba này có thể là cá
nhân, có thể là tổ chức theo luật định
- "Cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế
của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài" bao gồm các cơ quan: Các loại tổ chức
trọng tài, cơ quan quản lí nhà nước về đầu tư
nước ngoài và toà án Việt Nam - là các cơ
quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh
tế của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
có chức năng, thẩm quyền mà pháp luật quy
định
Ngoài Điều 24 Luật đầu tư nước ngoài hiện
hành, theo chúng tôi, bốn vấn đề nêu trên đây
có thể bổ sung thành chương riêng trong Luật
đầu tư nước ngoài hiện hành, gọi là chương về
giải quyết tranh chấp kinh tế của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
- Quy định rõ loại hình tranh chấp về
kinh tế của các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam và thẩm quyền của
các cơ quan xét xử Về vấn đề này, chúng
tôi thấy rằng cần theo xu hướng mở rộng
thẩm quyền của toà án kinh tế trong giải
quyết tranh chấp kinh tế của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
- Cách xác định thời điểm phát sinh tranh chấp và phát sinh quyền của các bên yêu cầu toà án giải quyết: Cụ thể là 6 tháng nhưng lấy mốc sau khi các bên đ) trải qua hình thức giải quyết bằng thương lượng và hoà giải trên cơ sở văn bản do các bên tranh chấp kí vào hoặc có ý kiến của cơ quan hoà giải
- Quy định về thủ tục hoà giải tại toà án:
Có thể có sự tham gia của các thành phần khác như cơ quan quản lí nhà nước về đầu tư nước ngoài, các cơ quan chuyên môn của ủy ban nhân dân tuỳ theo từng loại tranh chấp
Đây là điểm khác với thủ tục hoà giải các vụ
án kinh tế hiện hành (chỉ có các bên đương sự)
- Thời hạn yêu cầu toà án giải quyết tranh chấp kinh tế (nhất là đối với các tranh chấp phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài): Cần dài hơn quy
định hiện hành, cụ thể là 2 năm như quy định của Luật thương mại Tuy nhiên, song song với quy định này cần có quy định đề cao và khuyến khích các bên giải quyết nhanh chóng vụ tranh chấp bằng thương lượng và hoà giải
- Trình tự và thủ tục giải quyết tranh chấp bằng thương lượng giữa các bên tranh chấp, thẩm quyền của những người tham gia họp và giá trị pháp lí của các thoả thuận đạt
được giữa các bên
- Trình tự và thủ tục giải quyết tranh chấp bằng hoà giải nói chung và tại cơ quan quản lí nhà nước về đầu tư nước ngoài nói riêng: Tư cách pháp lí và thẩm quyền giải quyết tranh chấp của các cơ quan, tổ chức
đứng ra hoà giải giữa các bên; giá trị pháp lí của các kết quả giải quyết tranh chấp của các cơ quan, tổ chức có chức năng hoà giải
- Quy định về thi hành các quyết định của tổ chức trọng tài
Hai là, sửa đổi quy định về tổ chức, hoạt
Trang 3động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài
Cần thiết phải sửa đổi một số quy định liên
quan đến nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động
của doanh nghiệp liên doanh (và cả đối với
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thuộc sở
hữu của nhiều nhà đầu tư nước ngoài), ví dụ:
- Sửa đổi quy định về nguyên tắc xác định
số lượng đại diện của các bên tham gia vào hội
đồng quản trị, có thể không theo tỉ lệ vốn góp
mà theo số lượng cụ thể để tránh những trường
hợp có thể gây khủng hoảng và bế tắc như luật
hiện hành Và việc xác định số lượng có thể
theo nguyên tắc bằng nhau cụ thể các bên có
thể cử người của mình tham gia hội đồng quản
trị với số lượng bằng nhau nhưng nếu khi có số
phiếu ngang nhau thì bên nào có chủ tịch hội
đồng quản trị thì sẽ được thông qua
- Sửa đổi quy định về thẩm quyền của phó
tổng giám đốc thứ nhất (là bên Việt Nam) theo
hướng tăng thẩm quyền để tạo thế đối trọng lại
quyền hạn của tổng giám đốc nhằm tránh gây
thiệt hại cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài do quyết định sai lầm của tổng giám
đốc trước khi có sự can thiệp của hội đồng
quản trị Có thể sử dụng cơ chế đồng giám
đốc trong doanh nghiệp liên doanh để thay
thế cho cơ chế một giám đốc làm đại diện
cho doanh nghiệp
- Sửa đổi quy định pháp luật về chế tài đối
với các bên không có thiện chí đối với bên kia
(triệu tập họp, biểu quyết, thành lập ban thanh lí)
+ Sửa đổi quy định về hoạt động của hội
đồng quản trị doanh nghiệp liên doanh giữa
các nhiệm kì
+ Bổ sung những quy định về trình tự giải
quyết tranh chấp giữa các bên tham gia liên
doanh
Ba là, sửa đổi quy định về vai trò của cơ
quan quản lí nhà nước về đầu tư nước ngoài:
Vai trò của cơ quan quản lí nhà nước thể hiện không những ở khâu xét duyệt thẩm
định hồ sơ mà còn cả ở việc giải quyết tranh chấp phát sinh của các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài Do đó, cần quy định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp, hiệu lực pháp lí của các quyết định giải quyết tranh chấp của cơ quan này Cần quy định mối quan hệ giữa các cơ quan xét xử với cơ quan này, ví dụ, có thể quy định rằng trong quá trình giải quyết từng vụ tranh chấp cụ thể, toà án cũng có thể căn cứ vào các ý kiến, quan điểm của người có thẩm quyền trong Cơ quan quản lí nhà nước về đầu tư nước ngoài - với tư cách là cơ quan chuyên trách
về quản lí hoạt động đầu tư nước ngoài để ra quyết định
1.2 Tiếp tục và khẩn trương ban hành các văn bản dưới luật để hướng dẫn chi tiết thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Cần ban hành thêm các văn bản dưới luật hướng dẫn giải quyết tranh chấp kinh tế của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
cụ thể:
Một là, đối với giải quyết tranh chấp bằng thương lượng trực tiếp
- Đối với phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế bằng thương lượng, cần có văn bản hướng dẫn về các vấn đề:
+ Thành phần họp (là đại diện có thẩm quyền của các bên tranh chấp)
+ Hình thức biên bản họp giải quyết tranh chấp và giá trị của các biên bản
+ Thời gian tối đa tiến hành tự thương lượng để giải quyết tranh chấp
+ Quy định người có thẩm quyền theo dõi thực hiện các kết quả
Hai là, đối với phương thức giải quyết tranh chấp bằng hoà giải:
- Quy định trình tự, thủ tục, thẩm quyền
Trang 4giải quyết bằng hoà giải tại cơ quan quản lí
nhà nước về đầu tư nước ngoài
- Xác định thời hạn phải đưa tranh chấp ra
giải quyết bằng hoà giải
- Giá trị pháp lí về kết luận giải quyết
- Việc thi hành các tranh chấp đ) được
hoà giải
- Quy định chế tài nếu các bên không
tuân thủ trình tự giải quyết như quy định
của pháp luật
Ba là, đối với phương thức giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài:
- Thủ tục tố tụng của trọng tài nhằm tạo ra
cơ sở pháp lí và sự thống nhất của các quy tắc
trọng tài của các tổ chức trọng tài hiện nay ở
Việt Nam và đối với các tổ chức trọng tài nước
ngoài (nếu có trong tương lai)
- Về tổ chức trọng tài ad-hoc: Vì ở nước ta
chưa có điều kiện để phát triển hình thức trọng
tài này cho nên cũng cần phải ban hành văn
bản quy định thẩm quyền của trọng tài đối với
loại hình tranh chấp này
- Về áp dụng pháp luật: Cần bổ sung quy
định về áp dụng pháp luật nước ngoài để xét
xử với điều kiện những quy định pháp luật
nước ngoài không trái với luật Việt Nam
- Quy định về giá trị pháp lí của phán
quyết trọng tài: Cần bổ sung quy định pháp
luật về biện pháp thi hành phán quyết của
trọng tài trong trường hợp bên thua kiện
không tự nguyện thi hành bằng việc yêu cầu
toà án công nhận phán quyết trọng tài theo
hai hướng gồm:
+ Công nhận một cách đương nhiên mà
không cần xem xét lại vụ việc
+ Công nhận phán quyết trọng tài thông
qua trình tự thủ tục xem xét như đối với việc
công nhận phán quyết trọng tài nước ngoài
(nhưng đơn giản hơn)
Đối với cả hai trường hợp cần có quy
định về lệ phí công nhận
- Cần bổ sung quy định pháp luật về vai trò hoà giải của trọng tài viên trong việc giúp các bên tranh chấp tìm được tiếng nói chung, bởi vì thực tế hiện nay có xu hướng, các bên tranh chấp tìm đến trọng tài viên với tư cách
là chuyên gia để làm trung gian hoà giải hơn
là tư cách như là một tổ chức có chức năng
“xét xử” và ra phán quyết đối với tranh chấp Ngoài ra, trước mắt, nhằm tạo điều kiện
để các doanh nghiệp lựa chọn tổ chức trọng tài trong giải quyết tranh chấp kinh tế, các tổ chức trọng tài hiện nay ở Việt Nam cũng phải tham khảo các kinh nghiệm giải quyết
về tranh chấp đầu tư nước ngoài của các nước để bổ sung, sửa đổi quy chế giải quyết của trọng tài cho phù hợp với yêu cầu của thực tế Cần lưu ý các vấn đề:
- Thời hạn giải quyết cần phải nhanh
- Quy định lệ phí trọng tài cho phù hợp (biểu phí hiện nay là khá cao)
Bốn là, đối với phương thức giải quyết tranh chấp bằng toà án:
- Về cơ quan tài phán: Mở rộng thêm hình thức giải quyết bằng toà án thông qua việc quy định các bên tranh chấp có quyền thoả thuận chỉ định toà án nước ngoài hoặc toà án quốc tế giải quyết tranh chấp kinh tế của các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài
2 Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt
động của các cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
2.1 Cơ quan quản lí nhà nước về đầu tư nước ngoài
Hoạt động của đầu tư nước ngoài không
Trang 5thể phát triển hiệu quả mà không có sự quản lí
của Nhà nước thông qua các cơ quan quản lí
nhà nước về đầu tư nước ngoài cụ thể là Bộ kế
hoạch và đầu tư (có sự phối hợp chặt chẽ với
các cơ quan chức năng và cơ quan chuyên môn
khác) Do đó, việc nâng cao năng lực của các
cơ quan quản lí đối với hoạt động của các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là yêu
cầu không thể thiếu được trong phương hướng
xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh
chấp kinh tế của các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài Nâng cao năng lực của cơ quan
này trước hết là nâng cao năng lực pháp luật
của chính các cán bộ được giao nhiệm vụ làm
công tác hoà giải tranh chấp của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
2.2 Toà án
Cùng với việc xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật về giải quyết tranh chấp, cần
thiết phải nâng cao năng lực trình độ của các
cơ quan giải quyết tranh chấp bằng các biện
pháp nâng cao năng lực trình độ của thẩm
phán và cán bộ của toà án:
- Nâng cao hiệu quả hoạt động của toà án
là phải tạo ra đội ngũ thẩm phán có trình độ,
năng lực, ngoại ngữ để có đủ khả năng xét xử
giải quyết các tranh chấp kinh tế, nhất là các
tranh chấp phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài
- Cần cải cách hành chính trong hoạt động
của cơ quan xét xử Ví dụ, đơn giản thủ tục
hành chính tại các khâu nộp đơn, xin cấp trích
sao, cấp bản án
3 Tăng cường công tác giáo dục ý thức
pháp luật của các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam
Việc giáo dục ý thức pháp luật là yếu tố
cần thiết bởi vì khi các bên đ) hiểu biết pháp
luật, hiểu về quyền và nghĩa vụ thì thường là
họ tự nguyện thực hiện cam kết, cho nên sẽ ít phát sinh tranh chấp Hoặc nếu có bất đồng ý kiến thì dễ tìm được tiếng nói trong giải quyết bằng thương lượng Các giải pháp cho vấn đề này bao gồm:
+ Nâng cao năng lực của bên Việt Nam trong doanh nghiệp liên doanh: Lựa chọn người có năng lực để cử vào liên doanh; kịp thời thay thế cán bộ không đủ năng lực, kém phẩm chất, hoạt động không hiệu quả trong doanh nghiệp liên doanh; có kế hoạch bồi dưỡng, bổ sung kiến thức pháp luật nói chung, kiến thức về quản lí nói riêng cho cán
bộ của mình; tổ chức đội ngũ chuyên gia giỏi
về mặt pháp luật, khoa học, công nghệ chuyển giao, kinh tế - tài chính; nhờ sự giúp
đỡ của các cơ quan tư vấn, có trình độ để giúp đào tạo, nâng cao trình độ cho cán bộ của mình
+ Đặt ra những yêu cầu cụ thể đối với các cán bộ của bên Việt Nam được cử vào liên doanh như: Phải am hiểu pháp luật; có ý thức học hỏi và hợp tác với đối tác nước ngoài; có ý thức bảo vệ quyền lợi của bên Việt Nam cùng với quyền lợi của doanh nghiệp liên doanh và quyền lợi của bên nước ngoài
+ Nâng cao ý thức pháp luật của nhà đầu tư nước ngoài bằng các hình thức:
- Tuyên truyền tại chỗ;
- Tuyên truyền bằng cách mở các lớp tập huấn do Bộ kế hoạch và đầu tư chủ trì có sự phối hợp với các bộ ngành có liên quan (Bộ tư pháp, toà án nhân dân, công ti luật) để các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có
điều kiện giao lưu, trao đổi kinh nghiệm học hỏi nhau
- Thông qua các phương tiện thông tin
đại chúng, phát hành sách báo./