Chính vì vậy, việc bảo đảm an toàn cho hoạt động kinh doanh của hệ thống tín dụng ở mọi nền kinh tế là vô cùng quan trọng, trên thực tế nó đY vượt ra ngoài sự tự bảo vệ của các tổ chức k
Trang 1TS Đinh Dũng Sỹ *
1 Các đặc trưng của hoạt động kinh
doanh tín dụng
Kinh doanh tiền tệ, tín dụng là loại hình
kinh doanh đặc thù trong nền kinh tế Tính
đặc thù của loại hình kinh doanh này không
chỉ đơn thuần vì sự đặc biệt của đối tượng
kinh doanh là - tiền tệ - loại hàng hoá khác
hẳn với các loại hàng hoá thông thường của
thị trường nói chung mà còn vì kinh doanh
tín dụng là kinh doanh “trên sự kinh doanh
của người khác”
Nói như vậy không có nghĩa là kinh
doanh tín dụng hoàn toàn phụ thuộc vào
khách quan, vào kết quả kinh doanh của
những người vay vốn của tổ chức tín dụng
(TCTD) nhưng đặc trưng hiển nhiên và là
thuộc tính của kinh doanh tín dụng là phụ
thuộc rất nhiều vào sự trung thực và hiệu quả
kinh doanh của những người vay vốn của
TCTD Những cố gắng mang tính chủ quan
của các tổ chức tín dụng cũng có vai trò quan
trọng trong bảo đảm an toàn tín dụng song rõ
ràng là những nỗ lực của TCTD cũng sẽ trở
nên ít ý nghĩa nếu rủi ro tín dụng ập đến từ
sự không trung thực hay từ sự thua lỗ, thậm
chí phá sản của những người vay vốn Do
vậy, kinh doanh tín dụng là loại hình kinh
doanh có nhiều rủi ro
Đặc trưng khác của hoạt động kinh
doanh tín dụng là kinh doanh chủ yếu bằng
vốn của người khác, tức là bằng tiền huy
động được mà chúng ta vẫn thường nói là đi
vay để cho vay Và đặc trưng nữa của hoạt
động kinh doanh tín dụng là tính liên quan lẫn nhau trong hệ thống tín dụng và mối quan hệ của các hoạt động tín dụng với toàn
bộ nền kinh tế Sự thành công, tính ổn định hay sự thất bại, đổ vỡ của một hay một số TCTD đều có tác động đến sự an toàn của cả
hệ thống TCTD và cũng tương tự, nó tác
động tích cực hay tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế Thực tiễn phát triển kinh tế thế giới hiện đại đY cho chúng ta thấy những cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính thế giới hay khu vực đều ít nhiều có liên quan đến các hoạt động tín dụng, tiền tệ, thậm chí bắt nguồn từ sự đổ vỡ tín dụng ở Việt Nam, chúng ta chưa thể quên được bức tranh kinh
tế đầu những năm 90 của thế kỉ trước với sự
đổ vỡ hàng loạt của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, đY làm rối ren thêm tình trạng khủng hoảng và sa sút của nền kinh tế lúc bấy giờ Chính vì vậy, việc bảo đảm an toàn cho hoạt động kinh doanh của hệ thống tín dụng ở mọi nền kinh tế là vô cùng quan trọng, trên thực tế nó đY vượt ra ngoài sự tự bảo vệ của các tổ chức kinh doanh tín dụng
và trở thành mối quan tâm chung của mọi nhà nước Cũng như vậy, ở Việt Nam, vấn đề
an toàn tín dụng luôn luôn được coi là nhiệm
vụ rất quan trọng trong các hoạt động ngân hàng cả trên góc độ kinh doanh lẫn góc độ quản lí nhà nước và bằng nhiều biện pháp khác nhau vì mục tiêu an toàn tín dụng cũng
* Văn phòng Chính phủ
Trang 2là an toàn của nền kinh tế
2 Các biện pháp bảo đảm an toàn tín
dụng
Để bảo đảm an toàn tín dụng, Nhà nước
cũng như các tổ chức tín dụng phải tìm kiếm
và áp dụng nhiều biện pháp khác nhau,
chúng tôi tạm xếp chúng thành hai nhóm là
các biện pháp pháp lí và các biện pháp tổ
chức Ngoài ra, cũng có thể kể đến loại biện
pháp nữa là các biện pháp nghiệp vụ của các
TCTD
Các biện pháp pháp lí được thể hiện chủ
yếu ở những quy định trong các đạo luật về
ngân hàng và các tổ chức tín dụng, ví dụ như
các quy định về mức vốn pháp định của các
tổ chức tín dụng; về dự trữ bắt buộc; lập dự
phòng rủi ro; quy định về các hạn chế tín
dụng; về giới hạn cho vay, bảo lYnh; giới hạn
góp vốn, mua cổ phần; các biện pháp bảo
đảm tiền vay
Các biện pháp tổ chức như quản lí nhà
nước đối với sự hình thành và hoạt động của
các tổ chức tín dụng; thành lập các tổ chức
bảo hiểm, bảo toàn tiền gửi Trong phạm vi
bài viết này chúng tôi xin được đề cập loại
hình tổ chức - loại hoạt động có liên quan
đến an toàn của hệ thống tín dụng ngân
hàng, đó là bảo hiểm tiền gửi
3 Bảo hiểm tiền gửi nhằm mục đích gì
Bảo hiểm tiền gửi trước hết là vì mục tiêu
bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền Khi có
ngân hàng hay TCTD nào đó bị phá sản, nếu
ngân hàng đó tham gia vào cơ chế bảo hiểm
tiền gửi hoặc được chính phủ tuyên bố chi trả
bảo hiểm tiền gửi thì những người gửi tiền tại
ngân hàng phá sản đó có cơ hội được trả một
phần hay toàn bộ số tiền gửi của mình Tuy
nhiên, điều quan trọng hơn là bảo hiểm tiền
gửi sẽ làm cho tâm lí của người gửi tiền không bị hoang mang, mất lòng tin và người
ta sẽ không nghĩ đến việc phải vội vY rút tiền
từ các ngân hàng khác, điều đó tránh đựơc sự
đổ vỡ mang tính dây chuyền có thể xảy ra
đối với hệ thống ngân hàng, TCTD Do vậy, bảo hiểm tiền gửi không chỉ dừng lại ở mục tiêu bảo vệ quyền lợi trực tiếp của người gửi tiền ở ngân hàng, TCTD bị phá sản mà còn là một trong các công cụ để bảo đảm an toàn tín dụng, hạn chế rủi ro và tránh được sự đổ
vỡ có tính dây chuyền của hệ thống tín dụng Mục tiêu tổng quát của bảo hiểm tiền gửi chính là sự ổn định của cả hệ thống tài chính
4 Mô hình nào cho bảo hiểm tiền gửi Theo quan điểm về tính dễ bị tổn thương của loại hình kinh doanh tín dụng, ngày nay các chính phủ đều nhận thức được rằng sự đổ
vỡ của một ngân hàng nếu được xử lí một cách thiếu kinh nghiệm và không đúng đắn rất có thể kéo theo sự sụp đổ của các ngân hàng khác, thậm chí là cả hệ thống tín dụng
Do vậy, vào những năm 80 và đầu những năm 90 của thế kỉ trước, với các cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ ngày càng gia tăng, nhiều quốc gia trên thế giới đY thành lập các
tổ chức bảo hiểm tiền gửi, đặc biệt là các nền kinh tế đang chuyển đổi ở Đông Âu, họ đY
đặt ra nhiều câu hỏi và muốn được có những
ý kiến tư vấn từ Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) để tìm ra mô hình bảo hiểm tiền gửi phù hợp
Theo tài liệu chuyên khảo được phát hành bởi Quỹ tiền tệ quốc tế với tiêu đề “Bảo hiểm tiền gửi - thực tế và những định chế phù hợp”(1) của tác giả Gillian Garcia, tính đến năm 2000 trên thế giới đY có 72 nước thành lập tổ chức bảo hiểm tiền gửi Tuy nhiên, đây
Trang 3chỉ là con số thống kê về các nước mà chính
phủ đi theo mô hình công khai tuyên bố
thanh toán bảo hiểm tiền gửi Còn có tới 50
nước khác tuy không thành lập tổ chức bảo
hiểm tiền gửi nhưng thực tế chính phủ đều có
trả bảo hiểm tiền gửi cho dân chúng khi có
ngân hàng hay TCTD nào đó bị phá sản
Thực chất, các trường hợp này đY tạo ra “cơ
chế bảo vệ ngầm”
Có thể nói, trên thế giới hiện nay có hai
mô hình bảo hiểm tiền gửi là mô hình công
khai chính thức bằng việc thành lập tổ chức
bảo hiểm tiền gửi và mô hình “bảo vệ ngầm
đối với tiền gửi” như nói ở trên Ngoài ra,
cũng có những nước, chính phủ giữ thái độ
mập mờ trong việc trả bảo hiểm tiền gửi cho
dân chúng; có nước thì thay vì trả bảo hiểm
tiền gửi, nhà nước thực hiện những ưu tiên
pháp lí cho yêu cầu trả tiền của những người
gửi tiền so với những người khác trong quá
trình thanh lí tài sản của ngân hàng phá sản
như ở Hồng Kông; cũng có nước hoàn toàn
từ chối bảo hiểm tiền gửi như New Zealand
Các nước theo mô hình thành lập tổ chức
bảo hiểm tiền gửi thường pháp lí hoá vấn đề
bảo hiểm tiền gửi thông qua các văn bản
pháp luật, trong đó quy định rõ về tổ chức và
cơ chế hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền
gửi; về trường hợp nào thì phải trả bảo hiểm
tiền gửi; về các nghĩa vụ của các TCTD phải
tham gia bảo hiểm tiền gửi và mức phí phải
đóng; về mức tiền bảo hiểm được trả và về
điều kiện của người gửi tiền được trả tiền bảo
hiểm Mô hình này có lợi thế là mọi hoạt
động cũng như cơ chế bảo hiểm được trở nên
rõ ràng hơn, người gửi tiền cũng biết được
khi gặp rủi ro (TCTD bị phá sản) mình sẽ
được trả bảo hiểm, thậm chí còn biết rõ là họ
sẽ được trả bao nhiêu để có thể phân tán rủi
ro tiền gửi Do vậy, mô hình có tổ chức bảo hiểm tiền gửi hiện hữu sẽ tạo được niềm tin cao hơn của dân chúng đối với các ngân hàng
Mô hình bảo vệ ngầm thường không
được xác định trước về mặt pháp lí mà phụ thuộc vào các quyết định của chính phủ trong từng trường hợp cụ thể Tuỳ vào từng tình huống, chính phủ có thể trực tiếp bỏ tiền
ra để trả bảo hiểm cho người gửi tiền nhưng cũng có thể thông qua các giải pháp tổ chức
và tài chính khác như cơ cấu lại ngân hàng
có nguy cơ đóng cửa bằng cách sáp nhập với các ngân hàng mạnh; đầu tư thêm vốn để cơ cấu lại hoặc có thể mua lại các khoản nợ của ngân hàng Nói chung, mô hình bảo lYnh ngầm luôn luôn bị động trước tính thiếu kế hoạch và đặc biệt là sức ép về tài chính, vì nguồn vốn để trả bảo hiểm thường không
được lập kế hoạch trước; hoặc trong khi chính phủ phải gánh vác quá nặng nề thì các ngân hàng lại gần như đứng ngoài sự đóng góp về tài chính Và điều quan trọng hơn là môi trường tài chính, tín dụng không tạo
được lòng tin đối với dân chúng Trên thực
tế, mô hình thành lập tổ chức bảo hiểm tiền gửi với cơ chế trả tiền bảo hiểm rõ ràng vẫn
được sử dụng nhiều hơn
5 Chính phủ hay tư nhân làm bảo hiểm tiền gửi?
Như đY phân tích ở phần trên, bảo đảm
an toàn cho cả hệ thống ngân hàng tín dụng không chỉ là hoạt động của riêng ngành ngân hàng mà còn là sự quan tâm của mọi nhà nước Tuy nhiên, các công ti bảo hiểm tư nhân, chính phủ hay hiệp hội của các nhà kinh doanh ngân hàng làm bảo hiểm tiền gửi
Trang 4thì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trình
độ phát triển, tình hình tài chính của nền
kinh tế đất nước; khả năng tài chính và sự
nhận thức, mức độ quan tâm của chính phủ;
khả năng tự bảo hiểm của các ngân hàng
(thông qua tổ chức hiệp hội) Tuy nhiên, dù
chính phủ hay công ti bảo hiểm tư nhân thực
hiện bảo hiểm tiền gửi thì vấn đề pháp lí gần
như có tính bắt buộc là luật pháp phải quy
định ràng buộc các ngân hàng có nghĩa vụ
phải tham gia bảo hiểm tiền gửi bắt buộc
Trên thực tế, hình thức bảo hiểm tư nhân
hình như ít khả thi hơn vì khả năng tài chính
có hạn của các công ti bảo hiểm tư nhân
Trong khi những rủi ro của ngành ngân hàng
thường là rất lớn, thậm chí là những rủi ro
mang tính hệ thống thì các nhà bảo hiểm tư
nhân thường ít khi chấp nhận hoặc thoái thác
trách nhiệm bảo hiểm của mình khi có những
rủi ro quá lớn xảy ra Do vậy, mô hình chính
phủ làm bảo hiểm tiền gửi là thực tế hơn, với
khả năng tài chính của chính phủ và với uy
tín của tổ chức công quyền, chắc chắn sẽ
đem lại niềm tin lớn hơn đối với các ngân
hàng và cả dân chúng gửi tiền nói chung
Cũng có những nước kết hợp cả hai mô hình,
nhà nước và tư nhân hoặc hiệp hội của các
nhà kinh doanh ngân hàng cùng làm bảo
hiểm tiền gửi
6 Mức chi trả bảo hiểm
Trong các mô hình bảo hiểm tiền gửi nói
trên có những nước cam kết trả bảo hiểm
toàn bộ (100%) đối với tiền gửi nhưng cũng
có nhiều nước chỉ cam kết trả một phần ở
những nước phát triển, nơi có hệ thống ngân
hàng tương đối hùng mạnh, hoạt động bảo
hiểm đY có truyền thống và đi vào ổn định
thì cơ chế bồi thường toàn bộ thường được áp
dụng Chẳng hạn như ở CHLB Đức, Quỹ bảo toàn tiền gửi của Hiệp hội các ngân hàng
Đức có số vốn rất lớn, mức trả bảo hiểm từ quỹ này được thực hiện theo nguyên tắc bồi thường toàn bộ
Việc cam kết trả một phần hay toàn bộ không chỉ đơn thuần phụ thuộc vào khả năng tài chính của ngân hàng hay chính phủ mà
đôi khi cơ chế này có tác động không nhỏ
đến các hệ quả kinh tế, tài chính nhất định
Có những tổ chức bảo hiểm cam kết bồi thường toàn bộ cho người gửi tiền và do vậy người gửi tiền sẽ không còn quan tâm đến việc họ phải lựa chọn ngân hàng lớn, làm ăn
có uy tín để gửi tiền mà họ sẽ tìm đến ngân hàng nào trả lYi suất cao nhất Kết quả là có những ngân hàng thực sự rất yếu kém nhưng thông qua lYi suất tiền gửi cao, rất có thể sẽ thu hút được nhiều tiền gửi Đó chính là lí do
để nhiều nước từ chối bồi thường 100% cho người gửi tiền
Cơ chế trả bảo hiểm một phần thường
được áp dụng ở các nước đang phát triển, hệ thống tín dụng ngân hàng chưa lớn mạnh, hoạt động bảo hiểm cũng chưa thực sự phát triển Cơ chế này một mặt giảm bớt gánh nặng cho các ngân hàng, tổ chức bảo hiểm và cả chính phủ, mặt khác cũng là để san sẻ bớt một phần rủi ro cho cả phía những người gửi tiền Việc trả bảo hiểm một phần còn là phương sách có hiệu quả nhất để người gửi tiền phân tán rủi ro của mình ở những ngân hàng khác nhau và như vậy, độ an toàn và tính bền vững của hệ thống ngân hàng hình như sẽ cao hơn
7 Mô hình và cơ chế bảo hiểm tiền gửi
ở Việt Nam Vào đầu những năm 90, sau sự đổ vỡ của
Trang 5hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, Nhà nước
cũng như ngành ngân hàng đY nghĩ đến việc
thiết lập mô hình bảo hiểm tiền gửi nhằm
bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và bảo
đảm an toàn cho hệ thống ngân hàng và các
TCTD ý tưởng này ban đầu được hình thành
một cách chậm chạp do những hạn chế về
mặt nhận thức nói chung cũng như những
khó khăn về mặt tài chính từ phía Nhà nước
Việc nghiên cứu tìm ra mô hình bảo hiểm
tiền gửi ở Việt Nam chỉ thực sự được nghiên
cứu một cách nghiêm túc từ năm 1997 khi
Ngân hàng nhà nước Việt Nam được giao
nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng đề án về bảo
hiểm tiền gửi Đặc biệt là từ khi Quốc hội
thông qua hai đạo luật quan trọng trong lĩnh
vực ngân hàng vào tháng 12/1997, đó là Luật
ngân hàng nhà nước Việt Nam và Luật các tổ
chức tín dụng
Tại Điều 17 Luật các tổ chức tín dụng đY
quy định trách nhiệm của các tổ chức tín
dụng là phải bảo vệ quyền lợi của người gửi
tiền, thông qua việc tổ chức tín dụng phải
tham gia tổ chức bảo toàn hoặc bảo hiểm tiền
gửi Tuy nhiên, cho đến thời điểm đó chúng
ta vẫn còn chưa xác định được mô hình bảo
hiểm tiền gửi phù hợp cho Việt Nam Nhiều
ý kiến đY được đề xuất, trong đó nổi lên hai
quan điểm chính là: Thành lập tổ chức bảo
hiểm tiền gửi của Nhà nước, quan điểm
khác thì cho rằng nên thông qua Hiệp hội
ngân hàng để thành lập tổ chức bảo toàn
tiền gửi theo mô hình của CHLB Đức Tuy
nhiên, các chuyên gia của Ngân hàng phát
triển châu á (ADB) thì khuyên rằng Việt
Nam nên đi theo mô hình tổ chức bảo hiểm
tiền gửi của Nhà nước
Sau thời gian nghiên cứu, mô hình bảo hiểm tiền gửi đY được hình thành theo Nghị
định số 89/1999/NĐ-CP ngày 1/9/1999, đến ngày 9/11/1999 Thủ tướng Chính phủ đY kí Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg thành lập
tổ chức bảo hiểm tiền gửi với tên gọi “Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam”
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam là tổ chức tài chính của Nhà nước, có tư cách pháp nhân, được ngân sách nhà nước cấp vốn điều
lệ là 1000 tỉ đồng, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, được miễn các khoản thuế nhưng phải bảo đảm an toàn vốn và tự bù đắp chi phí Chúng tôi cho rằng ở Việt Nam hiện nay, việc thành lập mô hình tổ chức bảo hiểm tiền gửi thuộc sở hữu nhà nước là phù hợp Trong điều kiện hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng chưa thực sự lớn mạnh và còn nhiều rủi ro; hoạt động bảo hiểm thương mại trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, ngân hàng gần như còn bỏ ngỏ; vai trò của hiệp hội ngân hàng chưa thực sự đủ mạnh để đứng ra liên kết các ngân hàng trong cơ chế tự bảo vệ; lòng tin của người dân vào hệ thống ngân hàng tín dụng chưa cao thì Nhà nước phải
đứng ra thành lập tổ chức bảo hiểm tiền gửi của Nhà nước để chi trả cho người dân là mô hình hợp lí Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển
ở khu vực Đông Nam á cũng làm như vậy Theo Nghị định số 89 về bảo hiểm tiền gửi nói trên, các tổ chức tín dụng và tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng nhưng
được phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng và có nhận tiền gửi của cá nhân thì bắt buộc phải tham gia bảo hiểm tiền gửi Mức phí bảo hiểm mà các tổ chức này phải đóng
Trang 6cho bảo hiểm tiền gửi Việt Nam là 0,15%/năm
tính trên số dư tiền gửi bình quân của các cá
nhân tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
và được hạch toán khoản phí này vào chi phí
hoạt động Trong quá trình hoạt động, các tổ
chức tín dụng chịu sự kiểm tra, giám sát của
bảo hiểm tiền gửi Việt Nam về việc chấp
hành các quy định về bảo hiểm và về an toàn
hoạt động Đổi lại, tổ chức tín dụng được hỗ
trợ từ phía bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong
các trường hợp gặp khó khăn trong thanh
toán và nếu bị phá sản thì được bảo hiểm tiền
gửi Việt Nam đứng ra trả tiền bảo hiểm cho
người gửi tiền
- Đối tượng được bảo hiểm là tiền gửi
bằng đồng Việt Nam của cá nhân tại tổ chức
tín dụng
Khi TCTD bị phá sản thì bảo hiểm tiền
gửi Việt Nam có trách nhiệm chi trả bảo
hiểm tiền gửi cho người gửi tiền tại TCTD
Về mức chi trả, Điều 4 Nghị định số 89
quy định: Số tiền bảo hiểm được trả cho tất
cả các khoản tiền gửi (gồm cả gốc và lYi) của
mỗi cá nhân tại một tổ chức tín dụng, tối đa
là 30 triệu đồng Việt Nam Như vậy, cơ chế
trả bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam là theo
cơ chế trả một phần mà không phải là toàn
bộ Tuy nhiên, cơ chế trả một phần cũng có
nhiều kiểu, có nước quy định bằng tỉ lệ %
trên tổng số các khoản tiền gửi của mỗi cá
nhân ở một TCTD, điều đó làm cho người
gửi tiền vẫn không yên tâm Cơ chế trả tối đa
bằng số tiền tuyệt đối như ở nước ta là cơ chế
có nhiều ưu việt, vì theo cơ chế này, người
gửi tiền sẽ không bao giờ đem toàn bộ tiền
của mình gửi ở một ngân hàng Nói cụ thể
hơn, hiện tại ở Việt Nam, để chắc ăn nhất thì
người gửi tiền không gửi nhiều hơn 30 triệu
đồng ở một TCTD Như vậy, nếu có rủi ro xảy ra họ luôn được bảo đảm theo cơ chế trả bảo hiểm toàn bộ Xét về mặt vĩ mô, cơ chế này đY tạo ra sự tự phân tán rủi ro các khoản tiền gửi của dân cư cũng như rủi ro của cả hệ thống ngân hàng tín dụng
Sau khi trả bảo hiểm, số tiền gửi vượt quá mức tối đa được chi trả sẽ được trả cho người gửi tiền với tư cách là các chủ nợ theo các quy định của Luật phá sản Còn đối với bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, sau khi đY chi trả bảo hiểm thì trở thành chủ nợ của TCTD
đối với số tiền mà bảo hiểm tiền gửi đY chi trả cho người gửi tiền Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam được quyền tham gia quá trình quản lí và thanh lí tài sản của TCTD bị phá sản để thu hồi nợ theo các quy định của Luật phá sản
Tuy nhiên, trả bảo hiểm tiền gửi khi TCTD bị phá sản chỉ là giải pháp cuối cùng nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền Cần phải nhấn mạnh rằng với sự tham gia bảo hiểm tiền gửi, các tổ chức tín dụng sẽ có lợi thế hơn nhiều trong huy động vốn từ tiền gửi và tính an toàn tín dụng, an toàn hệ thống
được nâng lên rất nhiều, đó thực sự là cái lợi không nhìn rõ được của bảo hiểm tiền gửi
đối với các tổ chức tín dụng Như vậy, mục tiêu của bảo hiểm tiền gửi không chỉ dừng lại
ở việc bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền
mà xa hơn nữa, nó chính là sợi dây bảo hiểm vô hình, bảo đảm an toàn cho cả hệ thống ngân hàng tín dụng./
(1) Gillian Garcia: Bảo hiểm tiền gửi – thực tế và những định chế phù hợp Quỹ tiền tệ Quốc tế, Washington DC 2000