1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Bảo hiểm tiền gửi và vấn đề an toàn tín dụng " ppt

7 404 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 88,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, việc bảo đảm an toàn cho hoạt động kinh doanh của hệ thống tín dụng ở mọi nền kinh tế là vô cùng quan trọng, trên thực tế nó đY vượt ra ngoài sự tự bảo vệ của các tổ chức k

Trang 1

TS Đinh Dũng Sỹ *

1 Các đặc trưng của hoạt động kinh

doanh tín dụng

Kinh doanh tiền tệ, tín dụng là loại hình

kinh doanh đặc thù trong nền kinh tế Tính

đặc thù của loại hình kinh doanh này không

chỉ đơn thuần vì sự đặc biệt của đối tượng

kinh doanh là - tiền tệ - loại hàng hoá khác

hẳn với các loại hàng hoá thông thường của

thị trường nói chung mà còn vì kinh doanh

tín dụng là kinh doanh “trên sự kinh doanh

của người khác”

Nói như vậy không có nghĩa là kinh

doanh tín dụng hoàn toàn phụ thuộc vào

khách quan, vào kết quả kinh doanh của

những người vay vốn của tổ chức tín dụng

(TCTD) nhưng đặc trưng hiển nhiên và là

thuộc tính của kinh doanh tín dụng là phụ

thuộc rất nhiều vào sự trung thực và hiệu quả

kinh doanh của những người vay vốn của

TCTD Những cố gắng mang tính chủ quan

của các tổ chức tín dụng cũng có vai trò quan

trọng trong bảo đảm an toàn tín dụng song rõ

ràng là những nỗ lực của TCTD cũng sẽ trở

nên ít ý nghĩa nếu rủi ro tín dụng ập đến từ

sự không trung thực hay từ sự thua lỗ, thậm

chí phá sản của những người vay vốn Do

vậy, kinh doanh tín dụng là loại hình kinh

doanh có nhiều rủi ro

Đặc trưng khác của hoạt động kinh

doanh tín dụng là kinh doanh chủ yếu bằng

vốn của người khác, tức là bằng tiền huy

động được mà chúng ta vẫn thường nói là đi

vay để cho vay Và đặc trưng nữa của hoạt

động kinh doanh tín dụng là tính liên quan lẫn nhau trong hệ thống tín dụng và mối quan hệ của các hoạt động tín dụng với toàn

bộ nền kinh tế Sự thành công, tính ổn định hay sự thất bại, đổ vỡ của một hay một số TCTD đều có tác động đến sự an toàn của cả

hệ thống TCTD và cũng tương tự, nó tác

động tích cực hay tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế Thực tiễn phát triển kinh tế thế giới hiện đại đY cho chúng ta thấy những cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính thế giới hay khu vực đều ít nhiều có liên quan đến các hoạt động tín dụng, tiền tệ, thậm chí bắt nguồn từ sự đổ vỡ tín dụng ở Việt Nam, chúng ta chưa thể quên được bức tranh kinh

tế đầu những năm 90 của thế kỉ trước với sự

đổ vỡ hàng loạt của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, đY làm rối ren thêm tình trạng khủng hoảng và sa sút của nền kinh tế lúc bấy giờ Chính vì vậy, việc bảo đảm an toàn cho hoạt động kinh doanh của hệ thống tín dụng ở mọi nền kinh tế là vô cùng quan trọng, trên thực tế nó đY vượt ra ngoài sự tự bảo vệ của các tổ chức kinh doanh tín dụng

và trở thành mối quan tâm chung của mọi nhà nước Cũng như vậy, ở Việt Nam, vấn đề

an toàn tín dụng luôn luôn được coi là nhiệm

vụ rất quan trọng trong các hoạt động ngân hàng cả trên góc độ kinh doanh lẫn góc độ quản lí nhà nước và bằng nhiều biện pháp khác nhau vì mục tiêu an toàn tín dụng cũng

* Văn phòng Chính phủ

Trang 2

là an toàn của nền kinh tế

2 Các biện pháp bảo đảm an toàn tín

dụng

Để bảo đảm an toàn tín dụng, Nhà nước

cũng như các tổ chức tín dụng phải tìm kiếm

và áp dụng nhiều biện pháp khác nhau,

chúng tôi tạm xếp chúng thành hai nhóm là

các biện pháp pháp lí và các biện pháp tổ

chức Ngoài ra, cũng có thể kể đến loại biện

pháp nữa là các biện pháp nghiệp vụ của các

TCTD

Các biện pháp pháp lí được thể hiện chủ

yếu ở những quy định trong các đạo luật về

ngân hàng và các tổ chức tín dụng, ví dụ như

các quy định về mức vốn pháp định của các

tổ chức tín dụng; về dự trữ bắt buộc; lập dự

phòng rủi ro; quy định về các hạn chế tín

dụng; về giới hạn cho vay, bảo lYnh; giới hạn

góp vốn, mua cổ phần; các biện pháp bảo

đảm tiền vay

Các biện pháp tổ chức như quản lí nhà

nước đối với sự hình thành và hoạt động của

các tổ chức tín dụng; thành lập các tổ chức

bảo hiểm, bảo toàn tiền gửi Trong phạm vi

bài viết này chúng tôi xin được đề cập loại

hình tổ chức - loại hoạt động có liên quan

đến an toàn của hệ thống tín dụng ngân

hàng, đó là bảo hiểm tiền gửi

3 Bảo hiểm tiền gửi nhằm mục đích gì

Bảo hiểm tiền gửi trước hết là vì mục tiêu

bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền Khi có

ngân hàng hay TCTD nào đó bị phá sản, nếu

ngân hàng đó tham gia vào cơ chế bảo hiểm

tiền gửi hoặc được chính phủ tuyên bố chi trả

bảo hiểm tiền gửi thì những người gửi tiền tại

ngân hàng phá sản đó có cơ hội được trả một

phần hay toàn bộ số tiền gửi của mình Tuy

nhiên, điều quan trọng hơn là bảo hiểm tiền

gửi sẽ làm cho tâm lí của người gửi tiền không bị hoang mang, mất lòng tin và người

ta sẽ không nghĩ đến việc phải vội vY rút tiền

từ các ngân hàng khác, điều đó tránh đựơc sự

đổ vỡ mang tính dây chuyền có thể xảy ra

đối với hệ thống ngân hàng, TCTD Do vậy, bảo hiểm tiền gửi không chỉ dừng lại ở mục tiêu bảo vệ quyền lợi trực tiếp của người gửi tiền ở ngân hàng, TCTD bị phá sản mà còn là một trong các công cụ để bảo đảm an toàn tín dụng, hạn chế rủi ro và tránh được sự đổ

vỡ có tính dây chuyền của hệ thống tín dụng Mục tiêu tổng quát của bảo hiểm tiền gửi chính là sự ổn định của cả hệ thống tài chính

4 Mô hình nào cho bảo hiểm tiền gửi Theo quan điểm về tính dễ bị tổn thương của loại hình kinh doanh tín dụng, ngày nay các chính phủ đều nhận thức được rằng sự đổ

vỡ của một ngân hàng nếu được xử lí một cách thiếu kinh nghiệm và không đúng đắn rất có thể kéo theo sự sụp đổ của các ngân hàng khác, thậm chí là cả hệ thống tín dụng

Do vậy, vào những năm 80 và đầu những năm 90 của thế kỉ trước, với các cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ ngày càng gia tăng, nhiều quốc gia trên thế giới đY thành lập các

tổ chức bảo hiểm tiền gửi, đặc biệt là các nền kinh tế đang chuyển đổi ở Đông Âu, họ đY

đặt ra nhiều câu hỏi và muốn được có những

ý kiến tư vấn từ Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) để tìm ra mô hình bảo hiểm tiền gửi phù hợp

Theo tài liệu chuyên khảo được phát hành bởi Quỹ tiền tệ quốc tế với tiêu đề “Bảo hiểm tiền gửi - thực tế và những định chế phù hợp”(1) của tác giả Gillian Garcia, tính đến năm 2000 trên thế giới đY có 72 nước thành lập tổ chức bảo hiểm tiền gửi Tuy nhiên, đây

Trang 3

chỉ là con số thống kê về các nước mà chính

phủ đi theo mô hình công khai tuyên bố

thanh toán bảo hiểm tiền gửi Còn có tới 50

nước khác tuy không thành lập tổ chức bảo

hiểm tiền gửi nhưng thực tế chính phủ đều có

trả bảo hiểm tiền gửi cho dân chúng khi có

ngân hàng hay TCTD nào đó bị phá sản

Thực chất, các trường hợp này đY tạo ra “cơ

chế bảo vệ ngầm”

Có thể nói, trên thế giới hiện nay có hai

mô hình bảo hiểm tiền gửi là mô hình công

khai chính thức bằng việc thành lập tổ chức

bảo hiểm tiền gửi và mô hình “bảo vệ ngầm

đối với tiền gửi” như nói ở trên Ngoài ra,

cũng có những nước, chính phủ giữ thái độ

mập mờ trong việc trả bảo hiểm tiền gửi cho

dân chúng; có nước thì thay vì trả bảo hiểm

tiền gửi, nhà nước thực hiện những ưu tiên

pháp lí cho yêu cầu trả tiền của những người

gửi tiền so với những người khác trong quá

trình thanh lí tài sản của ngân hàng phá sản

như ở Hồng Kông; cũng có nước hoàn toàn

từ chối bảo hiểm tiền gửi như New Zealand

Các nước theo mô hình thành lập tổ chức

bảo hiểm tiền gửi thường pháp lí hoá vấn đề

bảo hiểm tiền gửi thông qua các văn bản

pháp luật, trong đó quy định rõ về tổ chức và

cơ chế hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền

gửi; về trường hợp nào thì phải trả bảo hiểm

tiền gửi; về các nghĩa vụ của các TCTD phải

tham gia bảo hiểm tiền gửi và mức phí phải

đóng; về mức tiền bảo hiểm được trả và về

điều kiện của người gửi tiền được trả tiền bảo

hiểm Mô hình này có lợi thế là mọi hoạt

động cũng như cơ chế bảo hiểm được trở nên

rõ ràng hơn, người gửi tiền cũng biết được

khi gặp rủi ro (TCTD bị phá sản) mình sẽ

được trả bảo hiểm, thậm chí còn biết rõ là họ

sẽ được trả bao nhiêu để có thể phân tán rủi

ro tiền gửi Do vậy, mô hình có tổ chức bảo hiểm tiền gửi hiện hữu sẽ tạo được niềm tin cao hơn của dân chúng đối với các ngân hàng

Mô hình bảo vệ ngầm thường không

được xác định trước về mặt pháp lí mà phụ thuộc vào các quyết định của chính phủ trong từng trường hợp cụ thể Tuỳ vào từng tình huống, chính phủ có thể trực tiếp bỏ tiền

ra để trả bảo hiểm cho người gửi tiền nhưng cũng có thể thông qua các giải pháp tổ chức

và tài chính khác như cơ cấu lại ngân hàng

có nguy cơ đóng cửa bằng cách sáp nhập với các ngân hàng mạnh; đầu tư thêm vốn để cơ cấu lại hoặc có thể mua lại các khoản nợ của ngân hàng Nói chung, mô hình bảo lYnh ngầm luôn luôn bị động trước tính thiếu kế hoạch và đặc biệt là sức ép về tài chính, vì nguồn vốn để trả bảo hiểm thường không

được lập kế hoạch trước; hoặc trong khi chính phủ phải gánh vác quá nặng nề thì các ngân hàng lại gần như đứng ngoài sự đóng góp về tài chính Và điều quan trọng hơn là môi trường tài chính, tín dụng không tạo

được lòng tin đối với dân chúng Trên thực

tế, mô hình thành lập tổ chức bảo hiểm tiền gửi với cơ chế trả tiền bảo hiểm rõ ràng vẫn

được sử dụng nhiều hơn

5 Chính phủ hay tư nhân làm bảo hiểm tiền gửi?

Như đY phân tích ở phần trên, bảo đảm

an toàn cho cả hệ thống ngân hàng tín dụng không chỉ là hoạt động của riêng ngành ngân hàng mà còn là sự quan tâm của mọi nhà nước Tuy nhiên, các công ti bảo hiểm tư nhân, chính phủ hay hiệp hội của các nhà kinh doanh ngân hàng làm bảo hiểm tiền gửi

Trang 4

thì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trình

độ phát triển, tình hình tài chính của nền

kinh tế đất nước; khả năng tài chính và sự

nhận thức, mức độ quan tâm của chính phủ;

khả năng tự bảo hiểm của các ngân hàng

(thông qua tổ chức hiệp hội) Tuy nhiên, dù

chính phủ hay công ti bảo hiểm tư nhân thực

hiện bảo hiểm tiền gửi thì vấn đề pháp lí gần

như có tính bắt buộc là luật pháp phải quy

định ràng buộc các ngân hàng có nghĩa vụ

phải tham gia bảo hiểm tiền gửi bắt buộc

Trên thực tế, hình thức bảo hiểm tư nhân

hình như ít khả thi hơn vì khả năng tài chính

có hạn của các công ti bảo hiểm tư nhân

Trong khi những rủi ro của ngành ngân hàng

thường là rất lớn, thậm chí là những rủi ro

mang tính hệ thống thì các nhà bảo hiểm tư

nhân thường ít khi chấp nhận hoặc thoái thác

trách nhiệm bảo hiểm của mình khi có những

rủi ro quá lớn xảy ra Do vậy, mô hình chính

phủ làm bảo hiểm tiền gửi là thực tế hơn, với

khả năng tài chính của chính phủ và với uy

tín của tổ chức công quyền, chắc chắn sẽ

đem lại niềm tin lớn hơn đối với các ngân

hàng và cả dân chúng gửi tiền nói chung

Cũng có những nước kết hợp cả hai mô hình,

nhà nước và tư nhân hoặc hiệp hội của các

nhà kinh doanh ngân hàng cùng làm bảo

hiểm tiền gửi

6 Mức chi trả bảo hiểm

Trong các mô hình bảo hiểm tiền gửi nói

trên có những nước cam kết trả bảo hiểm

toàn bộ (100%) đối với tiền gửi nhưng cũng

có nhiều nước chỉ cam kết trả một phần ở

những nước phát triển, nơi có hệ thống ngân

hàng tương đối hùng mạnh, hoạt động bảo

hiểm đY có truyền thống và đi vào ổn định

thì cơ chế bồi thường toàn bộ thường được áp

dụng Chẳng hạn như ở CHLB Đức, Quỹ bảo toàn tiền gửi của Hiệp hội các ngân hàng

Đức có số vốn rất lớn, mức trả bảo hiểm từ quỹ này được thực hiện theo nguyên tắc bồi thường toàn bộ

Việc cam kết trả một phần hay toàn bộ không chỉ đơn thuần phụ thuộc vào khả năng tài chính của ngân hàng hay chính phủ mà

đôi khi cơ chế này có tác động không nhỏ

đến các hệ quả kinh tế, tài chính nhất định

Có những tổ chức bảo hiểm cam kết bồi thường toàn bộ cho người gửi tiền và do vậy người gửi tiền sẽ không còn quan tâm đến việc họ phải lựa chọn ngân hàng lớn, làm ăn

có uy tín để gửi tiền mà họ sẽ tìm đến ngân hàng nào trả lYi suất cao nhất Kết quả là có những ngân hàng thực sự rất yếu kém nhưng thông qua lYi suất tiền gửi cao, rất có thể sẽ thu hút được nhiều tiền gửi Đó chính là lí do

để nhiều nước từ chối bồi thường 100% cho người gửi tiền

Cơ chế trả bảo hiểm một phần thường

được áp dụng ở các nước đang phát triển, hệ thống tín dụng ngân hàng chưa lớn mạnh, hoạt động bảo hiểm cũng chưa thực sự phát triển Cơ chế này một mặt giảm bớt gánh nặng cho các ngân hàng, tổ chức bảo hiểm và cả chính phủ, mặt khác cũng là để san sẻ bớt một phần rủi ro cho cả phía những người gửi tiền Việc trả bảo hiểm một phần còn là phương sách có hiệu quả nhất để người gửi tiền phân tán rủi ro của mình ở những ngân hàng khác nhau và như vậy, độ an toàn và tính bền vững của hệ thống ngân hàng hình như sẽ cao hơn

7 Mô hình và cơ chế bảo hiểm tiền gửi

ở Việt Nam Vào đầu những năm 90, sau sự đổ vỡ của

Trang 5

hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, Nhà nước

cũng như ngành ngân hàng đY nghĩ đến việc

thiết lập mô hình bảo hiểm tiền gửi nhằm

bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và bảo

đảm an toàn cho hệ thống ngân hàng và các

TCTD ý tưởng này ban đầu được hình thành

một cách chậm chạp do những hạn chế về

mặt nhận thức nói chung cũng như những

khó khăn về mặt tài chính từ phía Nhà nước

Việc nghiên cứu tìm ra mô hình bảo hiểm

tiền gửi ở Việt Nam chỉ thực sự được nghiên

cứu một cách nghiêm túc từ năm 1997 khi

Ngân hàng nhà nước Việt Nam được giao

nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng đề án về bảo

hiểm tiền gửi Đặc biệt là từ khi Quốc hội

thông qua hai đạo luật quan trọng trong lĩnh

vực ngân hàng vào tháng 12/1997, đó là Luật

ngân hàng nhà nước Việt Nam và Luật các tổ

chức tín dụng

Tại Điều 17 Luật các tổ chức tín dụng đY

quy định trách nhiệm của các tổ chức tín

dụng là phải bảo vệ quyền lợi của người gửi

tiền, thông qua việc tổ chức tín dụng phải

tham gia tổ chức bảo toàn hoặc bảo hiểm tiền

gửi Tuy nhiên, cho đến thời điểm đó chúng

ta vẫn còn chưa xác định được mô hình bảo

hiểm tiền gửi phù hợp cho Việt Nam Nhiều

ý kiến đY được đề xuất, trong đó nổi lên hai

quan điểm chính là: Thành lập tổ chức bảo

hiểm tiền gửi của Nhà nước, quan điểm

khác thì cho rằng nên thông qua Hiệp hội

ngân hàng để thành lập tổ chức bảo toàn

tiền gửi theo mô hình của CHLB Đức Tuy

nhiên, các chuyên gia của Ngân hàng phát

triển châu á (ADB) thì khuyên rằng Việt

Nam nên đi theo mô hình tổ chức bảo hiểm

tiền gửi của Nhà nước

Sau thời gian nghiên cứu, mô hình bảo hiểm tiền gửi đY được hình thành theo Nghị

định số 89/1999/NĐ-CP ngày 1/9/1999, đến ngày 9/11/1999 Thủ tướng Chính phủ đY kí Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg thành lập

tổ chức bảo hiểm tiền gửi với tên gọi “Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam”

Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam là tổ chức tài chính của Nhà nước, có tư cách pháp nhân, được ngân sách nhà nước cấp vốn điều

lệ là 1000 tỉ đồng, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, được miễn các khoản thuế nhưng phải bảo đảm an toàn vốn và tự bù đắp chi phí Chúng tôi cho rằng ở Việt Nam hiện nay, việc thành lập mô hình tổ chức bảo hiểm tiền gửi thuộc sở hữu nhà nước là phù hợp Trong điều kiện hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng chưa thực sự lớn mạnh và còn nhiều rủi ro; hoạt động bảo hiểm thương mại trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, ngân hàng gần như còn bỏ ngỏ; vai trò của hiệp hội ngân hàng chưa thực sự đủ mạnh để đứng ra liên kết các ngân hàng trong cơ chế tự bảo vệ; lòng tin của người dân vào hệ thống ngân hàng tín dụng chưa cao thì Nhà nước phải

đứng ra thành lập tổ chức bảo hiểm tiền gửi của Nhà nước để chi trả cho người dân là mô hình hợp lí Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển

ở khu vực Đông Nam á cũng làm như vậy Theo Nghị định số 89 về bảo hiểm tiền gửi nói trên, các tổ chức tín dụng và tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng nhưng

được phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng và có nhận tiền gửi của cá nhân thì bắt buộc phải tham gia bảo hiểm tiền gửi Mức phí bảo hiểm mà các tổ chức này phải đóng

Trang 6

cho bảo hiểm tiền gửi Việt Nam là 0,15%/năm

tính trên số dư tiền gửi bình quân của các cá

nhân tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi

và được hạch toán khoản phí này vào chi phí

hoạt động Trong quá trình hoạt động, các tổ

chức tín dụng chịu sự kiểm tra, giám sát của

bảo hiểm tiền gửi Việt Nam về việc chấp

hành các quy định về bảo hiểm và về an toàn

hoạt động Đổi lại, tổ chức tín dụng được hỗ

trợ từ phía bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong

các trường hợp gặp khó khăn trong thanh

toán và nếu bị phá sản thì được bảo hiểm tiền

gửi Việt Nam đứng ra trả tiền bảo hiểm cho

người gửi tiền

- Đối tượng được bảo hiểm là tiền gửi

bằng đồng Việt Nam của cá nhân tại tổ chức

tín dụng

Khi TCTD bị phá sản thì bảo hiểm tiền

gửi Việt Nam có trách nhiệm chi trả bảo

hiểm tiền gửi cho người gửi tiền tại TCTD

Về mức chi trả, Điều 4 Nghị định số 89

quy định: Số tiền bảo hiểm được trả cho tất

cả các khoản tiền gửi (gồm cả gốc và lYi) của

mỗi cá nhân tại một tổ chức tín dụng, tối đa

là 30 triệu đồng Việt Nam Như vậy, cơ chế

trả bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam là theo

cơ chế trả một phần mà không phải là toàn

bộ Tuy nhiên, cơ chế trả một phần cũng có

nhiều kiểu, có nước quy định bằng tỉ lệ %

trên tổng số các khoản tiền gửi của mỗi cá

nhân ở một TCTD, điều đó làm cho người

gửi tiền vẫn không yên tâm Cơ chế trả tối đa

bằng số tiền tuyệt đối như ở nước ta là cơ chế

có nhiều ưu việt, vì theo cơ chế này, người

gửi tiền sẽ không bao giờ đem toàn bộ tiền

của mình gửi ở một ngân hàng Nói cụ thể

hơn, hiện tại ở Việt Nam, để chắc ăn nhất thì

người gửi tiền không gửi nhiều hơn 30 triệu

đồng ở một TCTD Như vậy, nếu có rủi ro xảy ra họ luôn được bảo đảm theo cơ chế trả bảo hiểm toàn bộ Xét về mặt vĩ mô, cơ chế này đY tạo ra sự tự phân tán rủi ro các khoản tiền gửi của dân cư cũng như rủi ro của cả hệ thống ngân hàng tín dụng

Sau khi trả bảo hiểm, số tiền gửi vượt quá mức tối đa được chi trả sẽ được trả cho người gửi tiền với tư cách là các chủ nợ theo các quy định của Luật phá sản Còn đối với bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, sau khi đY chi trả bảo hiểm thì trở thành chủ nợ của TCTD

đối với số tiền mà bảo hiểm tiền gửi đY chi trả cho người gửi tiền Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam được quyền tham gia quá trình quản lí và thanh lí tài sản của TCTD bị phá sản để thu hồi nợ theo các quy định của Luật phá sản

Tuy nhiên, trả bảo hiểm tiền gửi khi TCTD bị phá sản chỉ là giải pháp cuối cùng nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền Cần phải nhấn mạnh rằng với sự tham gia bảo hiểm tiền gửi, các tổ chức tín dụng sẽ có lợi thế hơn nhiều trong huy động vốn từ tiền gửi và tính an toàn tín dụng, an toàn hệ thống

được nâng lên rất nhiều, đó thực sự là cái lợi không nhìn rõ được của bảo hiểm tiền gửi

đối với các tổ chức tín dụng Như vậy, mục tiêu của bảo hiểm tiền gửi không chỉ dừng lại

ở việc bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền

mà xa hơn nữa, nó chính là sợi dây bảo hiểm vô hình, bảo đảm an toàn cho cả hệ thống ngân hàng tín dụng./

(1) Gillian Garcia: Bảo hiểm tiền gửi – thực tế và những định chế phù hợp Quỹ tiền tệ Quốc tế, Washington DC 2000

Ngày đăng: 17/03/2014, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w