1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong pháp luật phong kiến Việt Nam" pot

6 1,1K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 113,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định trong pháp luật hình sự thời kì phong kiến Việt Nam khá đa dạng phản ánh chủ yếu đặc điểm về nhân thân người phạm tội, những biểu hiện của tội p

Trang 1

ThS Trần Thị Quang Vinh * háp luật hình sự Việt Nam có quá trình

phát triển lâu đời Trong thời kì phong

kiến, luật hình sự chiếm địa vị ưu thế trong

nền pháp luật của nước ta “Tất cả mọi điều

khoản trong cổ luật được chế tài về phương

diện hình sự Chính vì lẽ ấy, các bộ luật cổ

đầu tiên của Việt Nam, đều mệnh danh là bộ

luật hình”.(1) Pháp luật hình sự của các triều

đại phong kiến Việt Nam đ0 từng bước hình

thành và phát triển và mang đậm dấu ấn của

những bước thăng trầm lịch sử Đỉnh cao của

sự phát triển đó là Bộ Quốc triều hình luật

Vì nhiều lí do mà phần lớn các di sản pháp lí

không còn lưu truyền cho đến ngày nay.(2)

Hiện nay, có thể nói Bộ Quốc triều hình luật

thời Lê và Hoàng Việt luật lệ thời Nguyễn

còn được lưu truyền cho đến ngày nay là

những bộ luật đại diện cho pháp luật hình sự

thời kì phong kiến Việt Nam Quốc triều

hình luật (1428 - 1788) là bộ luật xưa nhất

còn lưu giữ đầy đủ Đây là bộ luật quan

trọng nhất và chính thống nhất của triều Lê

Hoàng Việt luật lệ (1813 -1945) đời nhà

Nguyễn cũng là bộ luật được soạn thoạn thảo

theo tinh thần như hoàng đế Gia Long chỉ

định: “Lấy luật lệ của các triều đại nước ta

làm căn bản, tham chiếu luật Hồng Đức và

luật Thanh triều.(3)

Hai bộ luật Quốc triều hình luật và

Hoàng Việt luật lệ tuy khác nhau về thời

gian có hiệu lực nhưng đều có những điểm tương đồng về quy định giảm nhẹ tội Điều này xuất phát từ tính chất của cả hai bộ luật:

Đều là những bộ luật của nhà nước phong kiến Việt Nam và cùng chịu sự ảnh hưởng sâu sắc các bộ luật của phong kiến Trung Quốc Bên cạnh đó, chúng cũng có những

điểm riêng biệt Cả hai bộ luật nói trên đều

có những quy định về vấn đề giảm nhẹ tội và trở thành khuôn mẫu pháp lí cho việc xét xử

và quyết định hình phạt Các bộ luật Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ đều có cấu trúc gồm hai phần: Danh lệ (quy định chung) và bản điều (quy định về tội phạm cụ thể) Các tình tiết giảm tội được quy định rất

ít trong phần danh lệ và chủ yếu được quy

định trực tiếp trong quy định đối với từng tội phạm cụ thể Điều này xuất phát từ thực tế là các điều khoản trong các văn bản pháp luật thời kì này mang nặng tính thực nghiệm, ít

được mô hình hóa ở mức khái quát cao như luật hiện đại Mặt khác, có thể lí giải từ phương pháp quy định chế tài trong pháp luật hình sự phong kiến Việt Nam Chế tài trong các bộ hình luật phong kiến được quy định ở dạng chế tài xác định tuyệt đối, tương ứng với mỗi trường hợp phạm tội, luật quy định

P

* Giảng viên Trường đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 2

mức hình phạt cụ thể Với cách thức quy

định như vậy, buộc nhà lập pháp phải quy

định rất chi tiết các trường hợp tăng nặng,

giảm nhẹ ngay trong quy phạm pháp luật quy

định về tội phạm Do vậy, các tình tiết giảm

nhẹ thường được quy định trực tiếp trong các

tội phạm cụ thể Các tình tiết giảm nhẹ

TNHS được quy định trong pháp luật hình sự

thời kì phong kiến Việt Nam khá đa dạng

phản ánh chủ yếu đặc điểm về nhân thân

người phạm tội, những biểu hiện của tội

phạm được thực hiện Các tình tiết giảm nhẹ

TNHS liên quan đến nhân thân người phạm

tội gồm các tình tiết như người phạm tội

thuộc đối tượng “bát nghị”; người hưởng lệ

ấm của ông bà; người phạm tội là quan chức

hoặc người có quan hệ thân thích với quan

chức; người phạm tội có quan hệ gia đình với

người bị hại; người phạm tội là quan thiên

văn, thợ thủ công, nhạc sĩ; người phạm tội là

con cháu chịu thay tội cho ông bà, cha mẹ;

người phạm tội tự thú; người phạm tội lập

công, chuộc tội; người phạm tội là người già,

trẻ em, phụ nữ; người phạm tội phải ở nhà

nuôi dưỡng cha mẹ già Các tình tiết giảm

nhẹ TNHS liên quan đến tội phạm được thực

hiện gồm các tình tiết như: Hậu quả của tội

phạm chưa xảy ra; chưa gây thiệt hại lớn;

thiệt hại do tội phạm gây ra đ0 được khắc

phục; phạm tội do thực hiện hành vi giùm

người khác; phạm tội với vai trò là tòng

phạm; phạm tội do vượt quá yêu cầu bắt giữ

người phạm pháp; phạm tội do lầm lẫn, vô ý;

người phạm tội có mức độ lỗi nhẹ; phạm tội

do bị kích động; phạm tội trong trường hợp

bị tra tấn, uy hiếp hoặc bị oan sai, khổ thiệt;

phạm tội trong các trường hợp khẩn cấp;

phạm tội trong khi thi hành công vụ; vì bảo

vệ gia đình Như vậy, khi quy định về tình tiết giảm nhẹ TNHS, pháp luật hình sự phong kiến chú ý đặc biệt đến nhân thân người phạm tội, đến các dấu hiệu chủ quan và khách quan của tội phạm được thực hiện Các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định chủ yếu ở phần Bản điều của Bộ hình luật

Do vậy, việc áp dụng tình tiết nào là giảm nhẹ tội tùy thuộc vào từng loại tội phạm Xét

về cơ sở giảm nhẹ TNHS, có thể khái quát theo các nhóm tình tiết sau:

Thứ nhất, các tình tiết giảm nhẹ tội liên quan đến địa vị x0 hội hoặc vị trí trong gia

đình hoặc tính chất đặc biệt về nghề nghiệp của người phạm tội Các tình tiết giảm nhẹ tội được quy định trong pháp luật hình sự phong kiến Việt Nam trên cơ sở quan niệm nho giáo về những quan hệ rường cột trong x0 hội cần được pháp luật bảo vệ Các mối quan hệ vua - tôi, phu - phụ, phụ - tử gọi là

“tam cương” được thể chế hóa trong pháp luật và được bảo vệ bằng pháp luật Quy định

về những tình tiết giảm tội trong pháp luật hình sự phong kiến cũng bị chi phối bởi quan niệm đó, thể hiện ở quy định giảm tội cho những người thuộc bát nghị, cho những người có vị trí trong x0 hội và gia đình Pháp luật thời phong kiến quy định tám loại người thuộc bát nghị được giảm tội nếu có hành vi phạm tội như nghị thân (người bà con gần vua); nghị cố (người cố cựu của hoàng gia); nghị công (người có công trạng lớn dẹp giặc); nghị hiền (người có đức hạnh lớn, quân tử); nghị năng (người có tài trong quân

sự, chính trị); nghị cần (người siêng năng, năng nổ việc quan quân); nghị quý (những quan vào bậc cao quý); nghị tân (đối với khách là người nối sau của triều trước) Giảm

Trang 3

tội được đặt ra cho những người hưởng “lệ

ấm” của ông bà, cha mẹ Điều 12 Quốc triều

hình luật quy định: “Con cháu những bậc

được dự vào nghị công mà có tội thì theo lệ

ấm của ông bà cha mẹ mà nghị giảm” Điều

5 Hoàng Việt luật lệ quy định lệ ấm có phần

rộng hơn so với Bộ Quốc triều hình luật thể

hiện lệ ấm không chỉ được áp dụng với con

cháu của người dự nghị công mà là ông bà

nội, cha mẹ, vợ và con, cháu của người thuộc

Bát nghị mà phạm tội cũng được nghị như

bản thân Những biệt đ0i này không áp dụng

cho tội thập ác Qua chế định “bát nghị” cho

thấy việc giảm tội được đặt ra cho những

người có vị trí cao của x0 hội, có quyền lợi

gắn bó với nhà vua, với chế độ đương thời

thể hiện rất rõ nét tính giai cấp trong quan

niệm về các tình tiết giảm nhẹ tội theo pháp

luật hình sự phong kiến trên cơ sở quan niệm

vua - tôi của nho giáo Theo Điều 4 Quốc

triều hình luật và Điều 4 Hoàng Việt luật lệ

thì những người thuộc bát nghị khi phạm tội

từ lưu trở xuống thì được giảm một bậc về

hình phạt Pháp luật hình sự thời phong kiến

đ0 quy định về giảm tội cho những người có

vị trí nhất định trong gia đình trên cơ sở quan

niệm nho giáo về các mối quan hệ vợ chồng,

thê - thiếp, cha - con Điều 482 Quốc triều

hình luật quy định: “Chồng đánh vợ bị

thương thì xử nhẹ hơn tội đánh bị thương

người thường ba bậc; nếu đánh chết thì xử

nhẹ hơn tội đánh giết người ba bậc Cố ý giết

vợ thì được giảm một bậc; nếu có tội mà

chồng đánh không may đến chết thì sẽ xử

khác Đánh vợ lẽ bị thương, què trở lên thì xử

nhẹ hơn tội đánh vợ hai bậc; nếu vợ cả đánh

bị thương, đánh chết vợ lẽ xử tội như chồng

đánh vợ Nếu ngộ sát thì không phải tội”

Bộ luật Hoàng Việt luật lệ cũng quy định khá chi tiết việc giảm tội khi người phạm tội

có địa vị x0 hội hoặc vị trí trong gia đình cao hơn (các điều luật tại quyển 15 Hoàng Việt luật lệ) Ngoài ra, quan hệ gia đình giữa người phạm tội với người bị hại cũng được pháp luật hình sự phong kiến xem xét và

đánh giá có giá trị giảm nhẹ trong một số trường hợp Ví dụ: Điều 439 Quốc triều hình luật quy định cùng ở chung một nhà mà ăn trộm của nhau thì xử nhẹ hơn tội ăn trộm của người ngoài một bậc Điều 1 quyển 13 Hoàng Việt luật lệ quy định: “Phàm ở chung một nhà (trong thân vợ cưới về) là bà con mà lấy trộm của nhau (cả kẻ dưới và bậc tôn trưởng) về tiền bạc, của cải thì giảm 5 bậc tội nếu là dân thường, bậc đại công thì giảm

4 bậc, bậc tiểu công thì giảm 3 bậc, bậc ty

ma thì giảm 2 bậc Kẻ nào không phải thân thuộc thì được giảm một bậc và miễn xăm chữ vào mặt” Như vậy, nhìn chung nhà làm luật phong kiến cũng lấy một số khía cạnh nhân thân người phạm tội làm tình tiết giảm nhẹ TNHS Đó là những tình tiết nhân thân thuộc bát nghị, quan hệ gia đình trên cơ sở quan niệm nho giáo về trật tự x0 hội phong kiến Theo đó, các tình tiết thuộc nhân thân phản ánh vị trí cao của người phạm tội trong x0 hội, gia đình theo trật tự x0 hội phong kiến là tình tiết giảm nhẹ TNHS Đây là điểm khác biệt với luật hình sự hiện đại Luật hình

sự hiện đại, khi quy định nhân thân người phạm tội với ý nghĩa là căn cứ quyết định hình phạt, có nội dung hoàn toàn khác so với chế định “bát nghị” trong pháp luật thời phong kiến Nếu luật hiện đại xem xét ở khía cạnh nhân thân người phạm tội là nhấn mạnh khả năng cải hóa họ trở thành người lương

Trang 4

thiện, có ý thức tuân thủ pháp luật thì pháp

luật hình sự phong kiến nhấn mạnh sự gắn bó

của những người có quan hệ mật thiết với

quyền lợi của giai cấp thống trị, với tôn ti,

trật tự gia đình trong x0 hội phong kiến như

là cơ sở giảm nhẹ tội Ngoài ra, pháp luật

hình sự phong kiến, xuất phát từ yêu cầu phát

triển của x0 hội đương thời, còn quy định

giảm tội cho người làm một số nghề nghiệp

đặc biệt trong x0 hội như quan thiên văn, thợ

thủ công, nhạc sĩ Đây là ưu đ0i của pháp

luật hình sự thời phong kiến đối với người có

tay nghề rất cần cho x0 hội hoặc lao động có

tính chất đặc biệt

Thứ hai, các tình tiết liên quan đến tội

phạm được thực hiện cũng được quy định là

tình tiết giảm nhẹ TNHS trong pháp luật hình

sự phong kiến Việt Nam Bên cạnh tư tưởng

nho giáo, pháp luật hình sự phong kiến Việt

Nam chịu ảnh hưởng của tư tưởng pháp trị,

theo đó trừng trị và thưởng phạt luôn đi liền

nhau và phải phân minh: “Pháp gia chủ

trương quyền thế vạn năng Họ yêu cầu kẻ

thống trị phải nắm lấy quyền giết hại và khen

thưởng; chỉ có vậy thuật mới được thực thi,

pháp mới được tôn trọng”.(4) Như vậy, theo

pháp gia thì thi hành công lí chính là cái gốc

để giữ gìn trật tự x0 hội Chính vì vậy, pháp

luật hình sự phong kiến ở mức độ nhất định

đ0 thể hiện yếu tố “công bằng” về TNHS trên

cơ sở thừa nhận sự tương xứng về tính nguy

hiểm cho x0 hội của tội phạm được thực hiện

với mức độ TNHS Tuy không chỉ rõ thước

đo mà nhà làm luật phong kiến sử dụng để

quy định hình phạt đối với các tội phạm cụ

thể nhưng qua nghiên cứu về các tình tiết

giảm nhẹ TNHS trong pháp luật hình sự

phong kiến, nhận thấy việc tăng nặng hoặc giảm nhẹ tội được nhà làm luật suy xét trên cơ sở tính tới sự tương xứng giữa mức độ nguy hiểm cho trật tự x0 hội phong kiến của hành vi phạm tội và mức hình phạt cần áp dụng Đây chính là những biểu hiện công bằng về TNHS trong pháp luật hình sự phong kiến Việt Nam Theo đó những tình tiết thuộc

về những biểu hiện khách quan hoặc chủ quan của tội phạm phản ánh mức độ thực hiện tội phạm còn hạn chế, hậu quả tội phạm chưa xảy

ra hoặc thiệt hại không lớn, phạm tội do lầm

lỡ, do bị kích động, động cơ phạm tội vì thi hành công vụ được nhà làm luật cân nhắc và quy định là tình tiết giảm nhẹ tội

Thứ ba, pháp luật hình sự thời phong kiến đ0 quy định một số tình tiết giảm nhẹ tội do đạo lí và khoan hồng dưới ảnh hưởng tư tưởng nho giáo “Luật dưới thời phong kiến dù được xây dựng bởi hệ tư tưởng nào cũng đều mang tính chất tàn khốc, nhưng với tư tưởng nho giáo tính chất đó phần nào

được giảm bớt”.(5) Theo tinh thần đó, pháp luật hình sự phong kiến Việt Nam cũng có một số quy định về giảm tội vì lí do nhân

đạo, khoan hồng Pháp luật hình sự phong kiến quy định tự thú là tình tiết giảm nhẹ đặc biệt và là cơ sở để miễn tội cho người phạm tội Pháp luật hình sự Việt Nam cũng có một thái độ khoan hồng đối với những người phạm tội là trẻ em, người già, người bị bệnh tật nặng như phế tật, ác tật và coi các tình trạng này như một trong những cơ sở giảm nhẹ tội hoặc miễn tội Xuất phát từ đạo đức của người phương Đông về trách nhiệm hiếu thảo của con cháu đối với ông bà, cha mẹ,

Trang 5

pháp luật thời phong kiến cho phép con cháu

chịu tội roi, trượng thay cho ông bà, cha mẹ

Việc chịu tội thay đó được coi là một tình

tiết giảm tội (Điều 38 Quốc triều hình luật)

Hoàng Việt luật lệ không có quy định về vấn

đề này Nhưng Hoàng Việt luật lệ lại có quy

định về ân giảm cho người phạm tội còn phải

ở nhà nuôi dưỡng cha mẹ (Điều 17 quyển 2

Hoàng Việt luật lệ)

Qua nghiên cứu quá trình hình thành và

hoàn thiện chế định các tình tiết giảm

nhẹ TNHS trong pháp luật hình sự phong

kiến Việt Nam, chúng tôi rút ra một số

kết luận sau:

1 Quy định của pháp luật hình sự phong

kiến về các tình tiết giảm nhẹ TNHS là yêu

cầu khách quan Dù là ở các thời đại khác

nhau với phương pháp và trình độ lập pháp

khác nhau thì tất cả đều gặp nhau cùng một

điểm - sử dụng các tình tiết giảm nhẹ như là

căn cứ quyết định hình phạt

2 Chế định các tình tiết giảm nhẹ TNHS

trong pháp luật hình sự phong kiến mang dấu

ấn của giai đoạn lịch sử này Bởi lẽ, việc quy

định một tình tiết nào đó có phải là tình tiết

giảm nhẹ hay không, cách sử dụng nó như

thế nào đều phụ thuộc vào quan niệm của

giai cấp thống trị về trật tự x0 hội cần được

bảo vệ bằng pháp luật hình sự, phương pháp

lập pháp hình sự cũng như trình độ lập pháp

của thời kì đó Do vậy, xem xét về các tình

tiết giảm nhẹ TNHS không thể tách rời hoàn

cảnh lịch sử cụ thể và cần thừa nhận sự vận

động biện chứng của chế định này trong quá

trình vận động của x0 hội Dấu ấn lịch sử của

thời kì này thể hiện ở sự ảnh hưởng của tư

tưởng nho giáo, quan niệm về tôn ti trật tự x0 hội và gia đình của giai cấp phong kiến trong quy định của pháp luật hình sự về các tình tiết giảm nhẹ TNHS

3 Quá trình hình thành và phát triển của chế định các tình tiết giảm nhẹ TNHS là quá trình phát triển có tính kế thừa chọn lọc Thông qua việc nghiên cứu quy định của pháp luật hình sự thời phong kiến, những giá trị văn hóa pháp lí mà dân tộc ta tích lũy qua nhiều thế hệ đ0 được sáng tỏ Những di sản pháp lí của dân tộc mà pháp luật hình sự hiện

đại có thể kế thừa chính là việc thừa nhận sự tương xứng giữa tính chất và mức độ nguy hiểm cho x0 hội của tội phạm được thực hiện với mức độ TNHS mà người phạm tội phải gánh chịu Những di sản pháp lí cần kế thừa cũng là truyền thống nhân đạo, khoan hồng của ông cha trong xử lí tội phạm Biết kế thừa có lựa chọn những kinh nghiệm ông cha cho chúng ta một cách tiếp cận hợp lí trong hoạt động xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật./

(1).Xem: Vũ Văn Mẫu “Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử”, tr.41, Sài Gòn

(2) Xem: TSKH Lê Cảm - “Luật hình sự Việt Nam trước thế kỉ XV”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số 5, tr.22 (3).Xem: Nguyễn Văn Thành - Vũ Trinh - Trần Hựu (Nguyễn Quyết Thắng và Nguyễn Văn Tài dịch và giới thiệu) “Hoàng Việt luật lệ”, tập 1, Nxb Văn hóa

- thông tin, tr.2

(4).Xem: GS Lương Duy Thứ (chủ biên) “Đại cương văn hóa phương Đông”, Nxb Giáo dục, H.1998, tr.48 (5)Xem: Nguyễn Tài Thu “Vai trò đạo Khổng trong

sự hình thành và áp dụng pháp luật ở Việt Nam”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 5/1993, tr.8

Ngày đăng: 17/03/2014, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w