Theo Điều 2 Luật Quốc tịch Việt Nam 1998 thì “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”.. Như vậy, th
Trang 1Tạp chí luật học - 3
Ths Nguyễn Hồng Bắc *
gười Việt Nam định cư ở nước ngoài là
một trong những chủ thể tham gia vào
các quan hệ pháp luật tại Việt Nam Thực tế,
vấn đề người Việt Nam định cư ở nước ngoài
chưa có quan điểm thống nhất giữa các luật
gia ở trong nước và quốc tế Do vậy, bài viết
này chỉ đề cập một số cơ sở pháp lí quy định
về người Việt Nam định cư ở nước ngoài
theo pháp luật Việt Nam
1 Trước đây, thuật ngữ “người Việt Nam
định cư ở nước ngoài” đ8 được nhiều văn bản
pháp quy của Nhà nước ta sử dụng nhưng
chưa có sự thống nhất về mặt thuật ngữ Từ
năm 1982 trở về trước, trong các văn bản
pháp quy của Nhà nước thường sử dụng thuật
ngữ “Việt kiều”, “người Việt Nam ở nước
ngoài”, “người Việt Nam sinh sống ở nước
ngoài” Đến năm 1983, thuật ngữ “người
Việt Nam định cư ở nước ngoài” được sử
dụng trong Quyết định số 84-HĐBT ngày
28/7/1983 của Hội đồng bộ trưởng về chức
năng, quyền hạn, nhiệm vụ của Ban việt kiều
trung ương Theo Quyết định này, Ban việt
kiều trung ương có nhiệm vụ theo dõi, nắm
tình hình và hướng dẫn các tổ chức Việt kiều
yêu nước thực hiện chủ trương và đường lối
vận động của Đảng và Nhà nước đối với
người Việt Nam định cư ở nước ngoài Từ
đó, thuật ngữ này được sử dụng phổ biến
trong các văn bản pháp quy của nước ta như
Chỉ thị số 165/HĐBT ngày 28/10/1988 của
Hội đồng bộ trưởng đối với người Việt Nam
định cư ở các nước XHCN, Quyết định số 567-TTg ngày 18/11/1993 của Thủ tướng Chính phủ về việc mời chuyên gia, trí thức là người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia tư vấn, Quyết định số 59-TTg ngày 01/04/1994 của Thủ tướng Chính phủ về việc giải quyết cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài hồi hương về Việt Nam Các văn bản đó chưa xác định rõ nội dung của thuật ngữ “người Việt Nam định cư ở nước ngoài” mà việc giải thích thuật ngữ này lại
được quy định trong một số văn bản hướng dẫn nhưng lại không thống nhất và thiếu chính xác Do đó, các cơ quan nhà nước và những người có thẩm quyền hiểu về người Việt Nam định cư ở nước ngoài khác nhau, dẫn tới việc áp dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề liên quan đến họ cũng rất khác nhau
Đến năm 1998, khi Nhà nước ta ban hành luật quốc tịch Việt Nam thì thuật ngữ này mới được giải thích rõ ràng, cụ thể Theo
Điều 2 Luật Quốc tịch Việt Nam 1998 thì
“Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài” Và thuật ngữ này được giải thích
N
* Giảng viên chính Khoa luật quốc tế Trường đại học luật Hà Nội
Trang 24 - Tạp chí luật học
thống nhất trong các văn bản pháp luật của Nhà
nước từ đó đến nay Nghị định số
81/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 5/11/2001 về việc người
Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở tại
Việt Nam quy định: “Người Việt Nam định
cư ở nước ngoài theo Nghị định này là công
dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú,
làm ăn sinh sống lâu dài ở nước ngoài đ#
được quy định tại Luật quốc tịch Việt Nam
ngày 01/01/1999”(Điều 2)
Qua các quy định trên, chúng ta nhận
thấy, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
có thể được phân làm hai nhóm:
Thứ nhất, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài là công dân Việt Nam cư trú, làm
ăn sinh sống lâu dài ở nước ngoài
Theo Điều 49 Hiến pháp năm 1992 thì
“Công dân nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
là người có quốc tịch Việt Nam” và theo
Điều 14 Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998
thì “người có quốc tịch Việt Nam bao gồm
người đang có quốc tịch Việt Nam cho đến
ngày Luật này có hiệu lực và người có quốc
tịch Việt Nam theo quy định của Luật này”
Như vậy, theo các quy định trên, trong
trường hợp này họ là công dân Việt Nam cư
trú, làm ăn sinh sống lâu dài ở nước ngoài có
thể xảy ra 2 khả năng:
- Họ là những người làm ăn sinh sống lâu
dài ở nước ngoài và chưa nhập quốc tịch của
bất kì nước nào;
- Họ là những người còn giữ quốc tịch
Việt Nam nhưng đ8 nhập quốc tịch nước
ngoài
Thứ hai, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài là người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn
sinh sống lâu dài ở nước ngoài, trong trường
hợp này họ là những người trước đây đ8 từng
là công dân Việt Nam (có quốc tịch Việt Nam) nhưng hiện nay họ không còn quốc tịch Việt Nam nữa Trường hợp này cũng có thể xảy ra 2 khả năng:
- Họ là người đ8 được thôi quốc tịch Việt Nam nhưng chưa gia nhập quốc tịch nước khác;
- Họ là người đ8 được thôi quốc tịch Việt Nam và đ8 nhập quốc tịch nước khác Hiện nay có khoảng hơn 2 triệu người Việt Nam định cư ở trên 40 quốc gia trên thế giới (theo số liệu của Uỷ ban người Việt Nam định cư ở nước ngoài) Đa số họ là người vẫn giữ quốc tịch Việt Nam nhưng đ8 nhập quốc tịch nước ngoài Khi cư trú, làm
ăn sinh sống ở nước ngoài, địa vị pháp lí của người Việt Nam định cư do pháp luật của nước sở tại quy định Ngoài ra, địa vị pháp lí của họ còn được quy định trong pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết với các nước hữu quan
2 Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước
ta luôn quan tâm đến những người Việt Nam
đang định cư ở nước ngoài Quan điểm này
đ8 được thể hiện trong Điều 75 Hiến pháp năm 1992: “Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài Nhà nước tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ quan hệ với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước” Quy định này
được mở rộng tại Điều 5 Luật quốc tịch Việt Nam 1998: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài” Và khái niệm người Việt Nam ở nước ngoài cũng đ8 được
Trang 3Tạp chí luật học - 5
giải thích tại Điều 2 của Luật này như sau:
“Người Việt Nam ở nước ngoài là công dân
Việt Nam và người gốc Việt Nam đang
thường trú hoặc tạm trú ở nước ngoài ”
Đối với người gốc Việt Nam ở nước
ngoài, Nhà nước ta có chính sách khuyến
khích và tạo điều kiện thuận lợi để họ giữ
được quan hệ gắn bó với gia đình và quê
hương, góp phần xây dựng đất nước Đồng
thời Nhà nước ta có chính sách tạo điều kiện
thuận lợi cho người đ8 bị mất quốc tịch Việt
Nam được trở lại quốc tịch Việt Nam
Trong những năm gần đây, trước sự đổi
mới của đất nước, nhiều người Việt Nam
định cư ở nước ngoài đ8 trở về Việt Nam để
đầu tư, kinh doanh Để thể chế hóa những
quy định trong Hiến pháp và trong các văn
bản luật, Nhà nước ta đ8 ban hành nhiều văn
bản dưới luật quy định về chính sách đối với
người Việt Nam ở nước ngoài và người Việt
Nam định cư ở nước ngoài Những chính
sách này được xây dựng đảm bảo tối đa
nguyên tắc bình đẳng giữa công dân Việt
Nam ở trong nước với người Việt Nam ở
nước ngoài Cụ thể là: Quyết định số
210/1999/QĐ-TTg ngày 27/10/1999 của Thủ
tướng Chính phủ về một số chính sách đối
với người Việt Nam ở nước ngoài, Quyết
định số 114/2001/QĐ-TTg ngày 31/7/2001
của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ
sung một số điều của Quyết định số 210 nói
trên Theo Quyết định số 114/2001/QĐ thì
khi về nước:
- Công dân Việt Nam định cư ở nước
ngoài mang hộ chiếu Việt Nam, người gốc
Việt Nam mang hộ chiếu nước ngoài và thân
nhân của họ cùng đi (gồm vợ hoặc chồng, bố
mẹ vợ hoặc chồng, con riêng của vợ hoặc
chồng, con nuôi hợp pháp) có giấy xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao, l8nh sự Việt Nam ở nước sở tại hoặc của ủy ban về người Việt Nam định cư ở nước ngoài về mối quan
hệ gia đình nói trên thì được hưởng giá các loại dịch vụ, giá vé đi lại trên các phương tiện giao thông vận tải như áp dụng đối với người Việt Nam ở trong nước
- Người gốc Việt Nam mang hộ chiếu nước ngoài có công trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước có giấy xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao, l8nh sự Việt Nam ở nước sở tại hoặc của ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài được miễn lệ phí thị thực khi nhập cảnh, xuất cảnh Việt Nam Các loại phí, lệ phí khác áp dụng
đối với 2 loại trên theo các mức thu như người Việt Nam ở trong nước
Các quy định này đ8 khắc phục được những điểm chưa phù hợp của pháp luật Việt Nam trước đây Khi người Việt Nam định cư ở nước ngoài trở về Việt Nam để thăm các thân nhân, đầu tư kinh doanh chúng ta áp dụng giá các loại dịch vụ, giá vé, các loại phí và lệ phí như người nước ngoài, tức cao hơn rất nhiều so với công dân Việt Nam ở trong nước
3 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia vào các quan hệ x8 hội ở Việt Nam như quan hệ dân sự, quan hệ hôn nhân và gia
đình, quan hệ đầu tư được pháp luật nước
ta điều chỉnh Khoản 3 Điều 15 Bộ luật dân
sự Việt Nam quy định: “Bộ luật dân sự được
áp dụng đối với quan hệ dân sự có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia tại Việt Nam, trừ một số quan hệ dân sự mà pháp luật Việt Nam quy định riêng” Hay theo khoản 4 Điều 100 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 chỉ rõ: “Các quy định
Trang 46 - Tạp chí luật học
của chương này cũng được áp dụng đối với
quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân
Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai
định cư ở nước ngoài”
Trên đây là những cơ sở pháp lí để các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam
áp dụng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ
mà người Việt Nam định cư ở nước ngoài
tham gia tại Việt Nam
Trong thời gian thường trú hoặc tạm trú
tại Việt Nam, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài được phép mua nhà để ở gắn với
quyền sử dụng đất tại Việt Nam Vấn đề này
được quy định tại Nghị định số
81/2001/NĐ-CP ngày 15/11/2001 về việc người Việt Nam
định cư ở nước ngoài mua nhà tại Việt Nam
Thực tế những năm gần đây, các tranh chấp
phát sinh từ việc người Việt Nam định cư ở
nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam dưới
hình thức gửi tiền về nhờ người thân ở trong
nước đứng tên mua hộ xảy ra khá phổ biến,
có trường hợp họ mua nhà để ở với ý định sẽ
xin về định cư nhưng cũng có trường hợp họ
mua nhà để kinh doanh Trước thực tế đó,
Nhà nước ta cho phép họ được mua nhà tại
Việt Nam Theo nghị định số
81/2001/NĐ-CP, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
được mua nhà để ở gắn với quyền sử dụng
đất tại Việt Nam nếu thuộc đối tượng là:
- Người về đầu tư lâu dài tại Việt Nam;
- Người có công đóng góp với đất nước;
- Nhà văn hóa, nhà khoa học có nhu cầu
về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam;
- Người có nhu cầu về sống ổn định tại
Việt Nam
Những đối tượng này chỉ được sở hữu
một nhà để ở (căn hộ, căn nhà, nhà biệt thự)
trong thời gian thường trú hoặc tạm trú tại Việt Nam Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua nhà ở gắn với quyền sử dụng
đất tại Việt Nam khi đủ các điều kiện do pháp luật quy định và sau khi đ8 hoàn tất các thủ tục mua nhà thì được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng
đất ở do ủy ban nhân dân huyện, quận, thị x8, thành phố thuộc tỉnh cấp Họ có các quyền và nghĩa vụ đối với nhà ở được mua tại Việt Nam như công dân Việt Nam Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận dân cư của nước ta sinh sống ở nước ngoài
Từ trước đến nay, vấn đề bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài luôn được ghi nhận trong hiến pháp và các văn bản pháp luật khác của nước
ta Các văn bản pháp luật đó đ8 giải thích rõ thuật ngữ “người Việt Nam định cư ở nước ngoài” và xác định rõ sự bảo hộ của Nhà nước ta với người Việt Nam định cư ở nước ngoài đồng thời, quy định quyền và nghĩa vụ của họ khi tham gia vào các quan hệ pháp luật ở Việt Nam Tuy nhiên, qua các văn bản hiện hành cần sử dụng thống nhất thuật ngữ trong các văn bản luật và dưới luật, chẳng hạn Luật quốc tịch Việt Nam sử dụng thuật ngữ “công dân Việt Nam” để chỉ người có quốc tịch Việt Nam nhưng Quyết định số 114/2001/QĐ-TTg lại sử dụng thuật ngữ
“người Việt Nam ở trong nước” Nếu chúng
ta giải quyết tốt các vấn đề này sẽ là cơ sở pháp lí vững chắc để các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền giải quyết các vấn đề phát sinh khi người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia vào các quan hệ pháp luật tại Việt Nam./