Theo nguyên tắc này, mỗi đương sự, tổ chức xJ hội khởi kiện, viện kiểm sát khởi tố vì lợi ích chung có nghĩa vụ cung cấp cho toà án các chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, khởi
Trang 136 - Tạp chí luật học
ThS Bùi Thị Huyền *
1 Một trong những nguyên tắc đặc
trưng, quan trọng của tố tụng dân sự là
nghĩa vụ cung cấp chứng cứ: “Đương sự có
nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền
lợi của mình Toà án có nhiệm vụ xem xét
mọi tình tiết của vụ án và khi cần thiết có thể
thu thập thêm chứng cứ để bảo đảm cho việc
giải quyết vụ án được chính xác”, nguyên tắc
này được ghi nhận tại Điều 3 Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án dân sự (TTGQCVADS),
Điều 4 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
kinh tế (TTGQCVAKT), Điều 3 Pháp lệnh thủ
tục giải quyết các tranh chấp lao động
(TTGQCTCLĐ)
Theo nguyên tắc này, mỗi đương sự, tổ
chức xJ hội khởi kiện, viện kiểm sát khởi tố
vì lợi ích chung có nghĩa vụ cung cấp cho
toà án các chứng cứ để chứng minh cho yêu
cầu khởi kiện, khởi tố của mình, phía đương
sự đối lập cũng có thể đưa ra chứng cứ để
yêu cầu lại đối với đương sự phía bên kia và
việc phản đối của mình đối với yêu cầu của
đương sự đối lập Tuỳ theo trình độ, năng
lực của mỗi đương sự mà họ có thể tự mình
hoặc nhờ luật sư hay thông qua người đại
diện thu thập chứng cứ để chứng minh trước
toà án Theo quy định tại Điều 34 Pháp lệnh
TTGQCVADS, Điều 31 Pháp lệnh
TTGQCVAKT, Điều 32 Pháp lệnh
TTGQCTCLĐ khi khởi kiện, người khởi kiện
phải làm đơn ghi rõ yêu cầu của mình và
những tài liệu, lí lẽ chứng minh cho yêu cầu
đó Hoạt động cung cấp chứng cứ của các chủ thể có thể được thực hiện bắt đầu từ khi khởi kiện, khởi tố Những tài liệu, lí lẽ ban
đầu là cơ sở để toà án xem xét, quyết định việc có thụ lí vụ việc hay trả lại đơn khởi kiện Sau khi thụ lí, trong suốt quá trình chuẩn bị xét xử, tự các đương sự hoặc theo yêu cầu của toà án, viện kiểm sát, họ cung cấp thêm chứng cứ (khoản 2 Điều 38 Pháp lệnh
TTGQCTCLĐ) Thậm chí tại phiên toà, trước khi xét hỏi chủ tọa phiên toà còn hỏi kiểm sát viên, đại diện tổ chức xJ hội, các đương sự có yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc cung cấp thêm bằng chứng mới hay không (Điều 49 Pháp lệnh TTGQCVADS, Điều 46 Pháp lệnh TTGQCVAKT, Điều 48 Pháp lệnh TTGQCTCLĐ) Sở dĩ, pháp luật tố tụng dân sự quy định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ thuộc về các
đương sự vì họ là chủ thể của quan hệ pháp luật tranh chấp hoặc là người đưa ra yêu cầu, khiếu nại, họ là người biết rõ nguyên nhân,
điều kiện phát sinh tranh chấp, việc giải quyết tranh chấp liên quan đến lợi ích của
họ nên họ có điều kiện cung cấp cho toà án các chứng cứ của vụ việc Mặt khác, việc xác định trách nhiệm cung cấp chứng cứ thuộc về các đương sự nhằm mục đích để các đương sự cân nhắc, tính toán kĩ khi đưa
* Giảng viên khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2Tạp chí luật học - 37
ra các yêu cầu và ràng buộc trách nhiệm
của các bên khi đưa ra yêu cầu của mình, vì
nếu đưa ra yêu cầu mà không đưa ra được
chứng cứ để chứng minh cho các yêu cầu
đó thì toà án sẽ căn cứ vào các chứng cứ có
trong hồ sơ vụ việc để giải quyết và đương
sự còn phải chịu án phí cho phần yêu cầu
không được toà án chấp nhận Nhưng hiện
nay ở nước ta, trình độ dân trí nói chung
chưa cao, hiểu biết pháp luật của nhân dân
còn hạn chế, không phải đương sự nào cũng
có đủ điều kiện (kinh tế, xJ hội) để nhờ luật
sư bảo vệ quyền lợi cho mình Hơn nữa, các
đương sự thường có tâm lí chỉ cung cấp cho
toà án những chứng cứ có lợi cho họ, vì vậy
nhiều trường hợp mặc dù đương sự đJ cung
cấp chứng cứ thông qua đơn kiện và các tài
liệu nhưng toà án vẫn phải kiểm tra, xác
minh, thu thập thêm chứng cứ để lập hồ sơ
vụ việc Các biện pháp mà toà án có thể áp
dụng như lấy lời khai của đương sự, người
làm chứng, xem xét tại chỗ, định giá tài
sản Việc lựa chọn biện pháp nào để thu
thập chứng cứ, lập hồ sơ vụ việc là do toà
án xem xét và quyết định tuỳ thuộc vào tính
chất của quan hệ pháp luật tranh chấp, yêu
cầu của đương sự và khả năng cung cấp
chứng cứ của đương sự
2 Do pháp luật tố tụng dân sự không
quy định thời hạn cung cấp chứng cứ, cho
nên đương sự có quyền cung cấp chứng cứ
để chứng minh cho yêu cầu của mình trong
bất kì giai đoạn nào của quá trình tố tụng
Điều đó dẫn đến nhiều trường hợp khi việc
giải quyết vụ việc bước vào giai đoạn tranh
luận, chuẩn bị tuyên án, đương sự (thường
là bị đơn) mới xuất trình chứng cứ Nếu
việc xem xét đánh giá chứng cứ đó không thể thực hiện ngay tại phiên toà mà cần phải
có thời gian điều tra, xác minh thêm mới có thể giải quyết được vụ án thì hội đồng xét
xử phải tạm ngừng phiên toà trong thời hạn thích hợp Sau khi điều tra, xác minh hội
đồng xét xử tiếp tục mở lại phiên toà để xét
xử vụ việc Pháp luật tố tụng dân sự hiện hành không quy định thời hạn tạm ngừng,
số lần tạm ngừng đối với mỗi vụ việc, trong những trường hợp này thời gian giải quyết nhiều vụ việc vượt quá thời hạn tối đa pháp luật quy định Thậm chí, nếu đương sự kháng cáo và tại phiên toà phúc thẩm họ mới xuất trình chứng cứ và nếu chứng cứ mới được chấp nhận thì bản án, quyết định sơ thẩm có thể bị cải sửa hoặc huỷ Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc cung cấp chứng cứ của đương sự, có lợi thế là bảo đảm cho bản án, quyết định được đúng
đắn khách quan nhưng mặt khác có thể sẽ kéo dài thời gian giải quyết vụ việc nếu
đương sự hay luật sư của đương sự cố tình lợi dụng
3 Pháp lệnh TTGQCVAKT và Pháp lệnh TTGQCTCLĐ đJ mạnh dạn xác định
cụ thể thời hạn bị đơn phải cung cấp chứng cứ: Trong thời hạn 10 ngày (đối với vụ kiện kinh tế) và 7 ngày (đối với vụ kiện lao
động), kể từ ngày nhận được thông báo, bị
đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải gửi cho toà án ý kiến của mình bằng văn bản về đơn kiện và các tài liệu khác có liên quan đến việc giải
Trong quá trình xây dựng dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự, việc có nên quy định cụ
Trang 338 - Tạp chí luật học
thể thời hạn cung cấp chứng cứ của các
đương sự hay dành quyền đó cho thẩm phán
là vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau Có
quan điểm cho rằng pháp luật cần ấn định
thời hạn dành cho các bên đương sự để họ
thu thập chứng cứ, có thể thời hạn đó chấm
dứt trước khi toà cấp sơ thẩm nghị án Quan
điểm khác lại cho rằng không ấn định thời
hạn chung cụ thể cho tất cả các vụ việc dân
sự mà thẩm phán ấn định thời hạn cho từng
vụ việc khi thụ lí, giải quyết
Tham khảo pháp luật tố tụng dân sự
nước ngoài cho thấy một số nước có quy
định thời hạn để đương sự cung cấp chứng
cứ Chẳng hạn:
- Pháp luật tố tụng dân sự Đan Mạch,
Thuỵ Điển quy định: Bị đơn có nghĩa vụ
xuất trình chứng cứ trong thời hạn từ 10
ngày đến 3 tuần kể từ khi nhận được bản
- Pháp luật tố tụng dân sự Thái Lan quy
định: Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày thụ
lí, nguyên đơn có nghĩa vụ chuyển một bản
sao đơn khởi kiện cùng trát đòi trả lời của
toà án cho bị đơn và bị đơn phải trả lời về
những vấn đề trong đơn khởi kiện của
nguyên đơn trong thời hạn 8 ngày kể từ
- Bộ luật tố tụng dân sự Đài Loan quy
định: Nguyên đơn không có quyền thay đổi,
bổ sung đơn khởi kiện sau khi bị đơn đJ
nhận được bản sao đơn khởi kiện hoặc
thông báo về nội dung đơn khởi kiện nếu
- Điều 134 Bộ luật tố tụng dân sự Pháp
quy định: Thẩm phán ấn định thời hạn và
nếu cần thì ấn định cả thể thức trao đổi giấy
tờ, tài liệu, trường hợp vi phạm có thể bị
- Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự - Thương
sự năm 1972 của chính quyền Sài Gòn cũ cũng
ấn định thời hạn bị đơn cung cấp chứng cứ là 8
4 Như vậy, chỉ riêng vấn đề cung cấp chứng cứ có những nước pháp luật tố tụng dân sự ấn định thời hạn cụ thể (thường là từ
8 đến 20 ngày) để bị đơn phải cung cấp chứng cứ, có những nước không ấn định thời hạn cụ thể mà trao quyền đó cho thẩm phán Xem xét vấn đề này, về mặt lí luận cũng như trong thực tiễn xét xử của Việt Nam cho thấy các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động rất đa dạng, phong phú, có vụ án đơn giản, lại có những vụ án phức tạp Mặt khác, nhiều trường hợp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của đương sự lại do đương sự khác, người khác hoặc cơ quan nhà nước có trách nhiệm quản lí đang lưu giữ (đặc biệt là các giấy tờ, tài liệu liên quan đến quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất đai ) Trong những trường này nếu ấn định trước thời hạn cung cấp chứng cứ thì đương sự khó có thể thực hiện được việc chứng minh cho yêu cầu của mình Mặt khác, ngay cả Pháp lệnh TTGQCVAKT, Pháp lệnh TTGQCTCLĐ cũng mới chỉ dừng lại ở việc xác định thời hạn bị đơn cung cấp chứng cứ chứng minh cho sự phản đối của họ về yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện Trong tố tụng dân
sự, người khởi kiện có quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu, do đó khi yêu cầu của người khởi kiện thay đổi sẽ dẫn đến việc cung cấp chứng cứ chứng minh hay phản
Trang 4Tạp chí luật học - 39
đối những yêu cầu đó cũng thay đổi theo
Như vậy, việc cung cấp chứng cứ phụ thuộc
vào chính yêu cầu của các đương sự, điều
đó không có nghĩa đương sự được quyền
cung cấp chứng cứ ở bất kì thời điểm nào,
trong bất kì giai đoạn nào của quá trình tố
tụng mà cần có giới hạn nhất định Giới hạn
đó phải được toà án xác định đối với từng
vụ việc cụ thể
5 Hiện nay, theo quy định tại Điều 3 Pháp
lệnh TTGQCVADS, Điều 4 Pháp lệnh
TTGQCVAKT, Điều 3 Pháp lệnh TTGQCTCLĐ,
nhiệm vụ xác minh, thu thập chứng cứ khi
cần thiết đJ được quy định nhưng mới chỉ
dừng lại ở quy định chung cho toà án Thực
tế trong tố tụng dân sự, khi chánh án (hoặc
chánh toà toà dân sự, kinh tế, lao động) đJ
phân công cho thẩm phán giải quyết vụ việc
nào đó thì dường như thẩm phán phải thực
hiện toàn bộ các khâu trong quá trình xây
dựng hồ sơ, ra các quyết định tố tụng cần
thiết, kể cả quyết định giải quyết vụ việc
bằng việc công nhận thoả thuận giữa các
bên đương sự (hoà giải thành hoặc thuận
tình li hôn) và cuối cùng là xét xử vụ việc
với tư cách là chủ toạ phiên toà Vì vậy,
thẩm phán được giao giải quyết vụ việc cụ
thể thì nhiệm vụ xác minh, thu thập chứng
cứ để lập hồ sơ vụ việc cũng như việc xác
định thời hạn xuất trình chứng cứ của các
đương sự phải thuộc về thẩm phán đó Với
các lập luận trên, theo chúng tôi, pháp luật
chỉ nên quy định thời hạn giải quyết đối với
loại vụ việc như pháp luật hiện hành, còn
thời hạn xuất trình chứng cứ cho từng vụ
việc cụ thể nên để thẩm phán giải quyết vụ
án xác định Trong thời hạn do thẩm phán
ấn định, các bên có quyền tìm kiếm, xuất trình chứng cứ, yêu cầu triệu tập người làm chứng hết thời hạn nêu trên, thẩm phán chỉ chấp nhận những chứng cứ mới trong trường hợp đương sự không thể biết và không buộc phải biết về việc có chứng cứ
đó Quy định theo hướng trên nhằm mục
đích tạo cho thẩm phán có thể chủ động giải quyết vụ việc, nâng cao trách nhiệm của các bên trong việc chứng minh cho các yêu cầu của mình đồng thời đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc được nhanh gọn, dứt
điểm, tránh tình trạng xuất trình chứng cứ một cách tuỳ tiện, làm cho việc giải quyết
vụ kiện bị kéo dài Tuy nhiên, cùng với việc xác định quyền hạn này của thẩm phán cũng cần có biện pháp để nâng cao trách nhiệm của thẩm phán trong việc ấn định thời hạn cung cấp chứng cứ cụ thể, tránh sự tuỳ tiện đồng thời cần có chế tài phù hợp
đối với những hành vi cố tình từ chối cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của thẩm phán./
(1).Xem: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh
tế (1994), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (1998)
(2).Xem: Phạm Hưng “Pháp luật tố tụng dân sự ở
Đan Mạch và Thụy Điển”, Tạp chí TAND, số 1/1998, tr.42
(3).Xem: “Một số vấn đề về cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự,” Đề tài 95
- 98 - 046/ĐT, TANDTC, H.1996.
(4).Xem: Lưu Tiến Dũng “Nội dung cơ bản của Bộ luật tố tụng dân sự Đài Loan”, TANDTC năm1992 (5).Xem: Bộ luật tố tụng dân sự của Cộng hoà Pháp, Nxb Chính trị quốc gia, H.1998.
(6) Xem: Bộ luật tố tụng dân sự - thương sự (1972) của Chính quyền Sài Gòn cũ.