Trong đó có việc thành lậpToà án kinh tế - một Toà chuyên trách trong Hệ thống Toà án nhân dân có chứcnăng giải quyết các tranh chấp kinh tế và giải quyết các yêu cầu tuyên bố phá sảndoa
Trang 1Đề tài
“Thực trạng tình hình giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Toà án và
một số giải pháp, kiến nghị"
Người thực hiện: HO NG TH LAN ANH ÀNG THỊ LAN ANH Ị LAN ANH
Trang 2Mở đầu 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu 5
2 Phạm vi nghiên cứu 6
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Kết cấu của khoá luận 6
Hoàng Thị Lan Anh 7
Chương I 8
Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Toà án ở Việt Nam 8
1 Tranh chấp kinh tế 8
2 Yêu cầu của việc giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Toà án trong nền kinh tế thị trường 10
3 Chức năng và nhiệm vụ của Toà án kinh tế 13
3.1 Chức năng của Toà án kinh tế 13
3.2 Nhiệm vụ của Toà án kinh tế 14
4 Những nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế tại Toà án nhân dân 15
4.1 Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự 16
4.2 Nguyên tắc các đương sự bình đẳng trước pháp luật 17
4.3 Nguyên tắc Toà án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu thập chứng cứ 17 4.4 Nguyên tắc Toà án chỉ thụ lý đơn kiện khi các bên đã tiến hành thương lượng hoà giải 18 4.5 Nguyên tắc Toà án giải quyết vụ án kinh tế nhanh chóng, kịp thời 19
4.6 Nguyên tắc Toà án xét xử công khai 19
5 Thẩm quyền của Toà án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế 20
6 Trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp kinh tế tại Toà án nhân dân 23
6.1 Khởi kiện và thụ lý vụ án kinh tế 23
6.2 Chuẩn bị xét xử 25
Trang 36.3 Phiên toà sơ thẩm 26
6.4 Thủ tục phúc thẩm 27
Phiên toà phúc thẩm 29
6.5 Thủ tục xem xét lại các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật 30
6.5.1 Thủ tục giám đốc thẩm 31
Phiên toà giám đốc thẩm 32
6.5.2 Thủ tục tái thẩm 33
Chương II 35
Thực trạng tình hình giải quyết tranh chấp kinh tế tại Toà án nhân dân từ tháng 07/1994 đến năm 2000 35
1 Tình hình giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Toà án nhân dân từ tháng 07/1994 đến tháng 12/1999 35
2 Tình hình giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Toà án nhân dân năm 2000 39
3 Một số vấn đề về hoạt động của Toà án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế 43
Chương III 49
Một số giải pháp kiến nghị về giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Toà án nhân dân ở Việt Nam 49
1 Các giải pháp 49
1.1 Về phương diện pháp luật 49
1.1.1 Mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế của Toà án nhân dân 49
1.1.2 Sửa đổi, bổ sung về Pháp luật hợp đồng kinh tế 51
1.1.3 Hoàn thiện về pháp luật tố tụng kinh tế 54
1.1.4 Về tổ chức thi hành Bản án, quyết định kinh tế 59
1.2 Về các phương diện khác 59
1.2.1 Công tác đào tạo cán bộ giải quyết tranh chấp kinh tế 59
1.2.2 Nâng cao chất lượng xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân 60
1.2.3 Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật 62
2 Một số kiến nghị 62
Kết luận 64
Trang 4Tài liệu tham khảo 65
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu
Dưới quan điểm của các nhà kinh tế học, nền kinh tế thị trường đã tạo điềukiện cho việc thu hút các ngành đầu tư trong và ngoài nước để thúc đẩy nền sảnxuất hàng hoá nước ta phát triển Song dưới quan điểm của các nhà luật học thìchính nền sản xuất hàng hoá phát triển cao đã làm phát sinh nhiều mối quan hệkinh tế phức tạp giữa các đơn vị sản xuất, kinh doanh với nhau Trong những biểuhiện của nó là các tranh chấp kinh tế khi mà hai bên không thể thoả thuận được.Trong trường hợp đó, việc giải quyết tranh chấp này ở đâu? và được thực hiện bởi
cơ quan nào? để cho các đơn vị sản xuất, kinh doanh đó yên tâm, tin tưởng vàođường lối phát triển kinh tế trong thời kỳ đổi mới mà Đảng, Nhà nước ta đã đặt ra
là vấn đề hết sức cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay ở nước ta
Đáp ứng yêu cầu đó, Nhà nước ta đã thực hiện cuộc cải cách sâu sắc trongviệc tổ chức các cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế Trong đó có việc thành lậpToà án kinh tế - một Toà chuyên trách trong Hệ thống Toà án nhân dân có chứcnăng giải quyết các tranh chấp kinh tế và giải quyết các yêu cầu tuyên bố phá sảndoanh nghiệp theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Toà ánnhân dân được Quốc hội thông qua ngày 28/12/1993 và có hiệu lực ngày01/07/1994 Từ đó đến nay, phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế phổ biếnnhất, quan trọng nhất là Toà án
Sau 7 năm thành lập và hoạt động, các Toà kinh tế thuộc Toà án nhân dân
đã đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp kinh
tế bằng Toà án đang đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu nhằm hoàn thiệnpháp luật về nội dung và pháp luật về tố tụng cũng như về tổ chức các Toà kinh tếthuộc Toà án nhân dân
Xuất phát từ yêu cầu khách quan đổi mới phương thức giải quyết tranhchấp kinh tế ở Toà án nhân dân, tôi lựa chọn nghiên cứu vấn đề “Thực trạng
Trang 6tình hình giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Toà án và một số giải pháp, kiến nghị" làm đề tài khoá luận tốt nghiệp.
2 Phạm vi nghiên cứu
Đây là vấn đề có nội dung mới có thể thuộc nội dung nghiên cứu của nhiềuchuyên ngành khoa học khác nhau Đề tài giới hạn nghiên cứu dưới góc độ phápluật về thực trạng và giải pháp giải quyết tranh chấp kinh tế ở Việt Nam trên cơ sởpháp luật và thực hiện pháp luật từ tháng 07/1994 đến năm 2000
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài này được viết nhằm mục đích:
+ Làm sáng tỏ thực trạng pháp luật cũng như việc áp dụng pháp luật trongviệc giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Toà án, trên cơ sở đó đề xuất một số giảipháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Toà án
+ Việc nghiên cứu phải trên cơ sở số liệu của hệ thống Toà án nhân dân cáccấp trong việc giải quyết các vụ án kinh tế
4 Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu vấn đề này, cơ sở phương pháp luận của chúng tôi là dựavào quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chính sách đổimới của Đảng
Chúng tôi đã sử dụng phương pháp thống kê so sánh, phân tích tư liệu, hồ
sơ, số liệu thu thập được liên quan đến pháp luật và thực hiện pháp luật về giảiquyết tranh chấp kinh tế bằng Toà án ở Việt Nam
5 Kết cấu của khoá luận
Trong phạm vi, giới hạn của khoá luận tốt nghiệp chúng tôi đề cập và giảiquyết một số nội dung cơ bản của đề tài như sau: Ngoài phần mở đầu, kết luận vàdanh mục tài liệu tham khảo, nội dụng của khoá luận này gồm có ba chương:
Chương I: Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Toà án ở Việt Nam
Trang 7Chương II: Thực trạng, tình hình giải quyết tranh chấp kinh tế tại Toà
án nhân dân từ tháng 07/1994 đến năm 2000
Chương III: Một số giải pháp, kiến nghị về giải quyết tranh chấp kinh
tế bằng Toà án nhân dân.
Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện đề tài này em đã nhận được sự giúp
đỡ tận tình thiết thực của thầy giáo Thạc sĩ Trần Đình Khánh và một số cán bộcông tác tại Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội Em xin chân thành bày tỏlòng cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó
Bài viết chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi những khiếm khuyết trong biêntập cũng như trong trình bày Rất mong sự góp ý và phê bình của những ai quantâm đến đề tài này
Người thực hiện
HOÀNG THỊ LAN ANH
Trang 8CHƯƠNG I PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ BẰNG TOÀ
ÁN Ở VIỆT NAM
1 Tranh chấp kinh tế
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá, vận hành theo cơ chế thị trường, với
sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế có chế độ sở hữu khác nhau, các quan
hệ kinh tế ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp Mục đích tìm kiếm lợi nhuậnchẳng những là động lực trực tiếp thúc đẩy quá trình mở rộng các giao lưu kinh tế
mà còn là lý do tồn tại của các chủ thể kinh tế
Cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh tế và dưới sự tác động của quyluật cạnh tranh, tranh chấp kinh tế cũng trở nên phong phú hơn về loại hình, phứctạp hơn về tính chất và quy mô Chính vì vậy, việc áp dụng hình thức và phươngthức giải quyết tranh chấp kinh tế phù hợp, có hiệu quả là một đòi hỏi khách quan
để bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, bảo đảmnguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Thông qua đó góp phần tạo môi trườngpháp lý lành mạnh để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế của đất nước
Tranh chấp kinh tế là tranh chấp biểu hiện những mâu thuẫn hay xung đột
về quyền và nghĩa vụ của các nhà đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặcthực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời Như vậy, tranh chấpkinh tế có thể phát sinh trong cả quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội Tuynhiên, dù tồn tại dưới hình thức nào và có thể bắt nguồn từ nguyên nhân kháchquan và chủ quan khác nhau, nhưng đặc trưng chung của tranh chấp kinh tế làluôn gắn với hoạt động kinh doanh và chủ thể tham gia chủ yếu là các cá nhândoanh nghiệp Về bản chất, mỗi tranh chấp xét cho cùng đều phản ánh nhữngxung đột về lợi ích kinh tế giữa các bên tham gia vào quan hệ kinh tế đó
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung ở nước ta trước đây, các tranh chấpkinh tế chủ yếu tồn tại dưới dạng tranh chấp về hợp đồng kinh tế Ngược lại, trongđiều kiện kinh tế thị trường, sự đa dạng về đối tượng, chủ thể và phương thứckinh doanh cũng như sự xuất hiện các loại thị trường đã làm phát sinh nhiều dạng
Trang 9tranh chấp kinh tế mới Chẳng hạn, khi các công ty ra đời thì đồng thời cũng xuấthiện các khả năng phát sinh tranh chấp giữa các công ty với thành viên, giữa cácthành viên với nhau trong quá trình thành lập, hoạt động và giải thể; cùng với quátrình cổ phần hoá, sự xuất hiện của thị trường tài chính mà đặc trưng nhất là thịtrường chứng khoán dẫn đến các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu,trái phiếu Tương tự như vậy, chỉ trong điều kiện có cạnh tranh thì những loạitranh chấp kinh tế về quảng cáo, phá sản mới chính thức được đề cập đến.Tranh chấp kinh tế là điều khó tránh khỏi Thực tiễn những năm đầu của việcchuyển đổi nền kinh tế ở nước ta cho thấy, số lượng tranh chấp gia tăng và ngàycàng phức tạp hơn các tranh chấp kinh tế trong thời kỳ quản lý kinh tế theo cơ chế
kế hoạch hoá tập trung Khi có các tranh chấp kinh tế xảy ra thì điều đó có nghĩa
là lợi ích kinh tế của một bên nào đó bị vi phạm Sự mâu thuẫn về lợi ích này sẽảnh hưởng ít nhiều về tiến trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy,khi các tranh chấp kinh tế được giải quyết nhanh chóng thì không những quyền,lợi ích các bên bị vi phạm được bảo vệ, được phục hồi mà còn tạo điều kiện chobên bị vi phạm tiếp tục duy trì ổn định, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh.Giải quyết tốt các tranh chấp kinh tế còn là động lực để thúc đẩy kinh tế của đấtnước phát triển Tranh chấp trong kinh doanh thường có giá trị lớn, hiệu quả của
nó ảnh hưởng mạnh mẽ tới quá trình kinh doanh của các nhà doanh nghiệp nóiriêng và của toàn bộ nền kinh tế nói chung Trên thực tế, nhiều tranh chấp có giátrị lớn không được giải quyết kịp thời đã kéo theo những hậu quả xấu như đìnhđốn sản xuất, thậm chí doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản làm mất sự cânbằng và ổn định của nền kinh tế Do đó, việc đổi mới cơ quan giải quyết tranhchấp kinh tế cho phù hợp với cơ chế kinh tế mới vừa là một đòi hỏi bức xúc củaquan hệ kinh tế thị trường vừa là một yêu cầu đảm bảo nguyên tắc pháp chế xãhội chủ nghĩa
Với nội dung khái niệm tranh chấp kinh tế như trên, có thể nhận thấy cáctranh chấp kinh tế hiện nay là rất đa dạng và phức tạp, các chủ thể của nền kinh tếđược mở rộng hơn trước và phạm vi hoạt động cũng đa dạng hơn trước Vì vậy,pháp luật áp dụng cho việc giải quyết các tranh chấp kinh tế phải linh hoạt vàmềm dẻo hơn, các cơ quan tài phán vừa phải nâng cao trình độ nghiệp vụ của
Trang 10mình, vừa phải thay đổi phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế cho phù hợpvới nền kinh tế mở như hiện nay của nước ta.
2 Yêu cầu của việc giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Toà án trong nền kinh tế thị trường
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII khẳng định: “Cơ chế vậnhành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa là
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chínhsách và các công cụ khác”
Chính sách đổi mới kinh tế của Đảng đã được khẳng định và thể chế hoátrong các văn bản pháp luật quan trọng của Nhà nước ta Cơ chế kinh tế thị trường
đã được Hiến pháp 1992 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi nhậnthành một nguyên tắc Hiến định: “Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng
xã hội chủ nghĩa”(Điều 15) và “Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốcdân bằng pháp luật” (Điều 26)
Trên cơ sở các định hướng và nguyên tắc cơ bản đó, công cuộc đổi mớitoàn diện của đất nước ta đã và đang tạo ra những chuyển biến hết sức quan trọngtrong đời sống kinh tế xã hội Đất nước đang bước dần ra khỏi tình trạng khủnghoảng kinh tế- xã hội và đạt được những thành tựu quan trọng tạo tiền đề tiếnhành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Về căn bản, nền kinh tế nước ta được chuyển từ nền kinh tế sản xuất mangtính chất xã hội trực tiếp với hai hình thức sở hữu chủ yếu là quốc doanh và tậpthể sang nền sản xuất hàng hoá với nhiều thành phần sở hữu, quan hệ thị trường là
cơ sở vận động của nền kinh tế mới Tính chất của nền sản xuất mới tất yếu dẫnđến sự phát sinh các quan hệ của nền kinh tế thị trường, mà từng phạm trù củanền kinh tế này gắn liền với những quan hệ pháp lý, định chế pháp lý khác nhau(ví dụ như hợp đồng, tiền lương, tín dụng ) Các quan hệ kinh tế sẽ đa dạng, sựmâu thuẫn về lợi ích liên quan đến nhiều chủ thể và sự liên đới về các trái vụ phátsinh trong các hoạt động kinh doanh càng phức tạp Về mặt không gian, các quan
Trang 11hệ đó vượt ra ngoài ranh giới quốc gia Do đó, phải hội nhập với các định chếquốc tế trong lĩnh vực kinh doanh thương mại.
Cùng với sự phát triển kinh tế thì các thành phần kinh tế, các quan hệ kinh
tế cũng ngày càng phát triển đa dạng và phức tạp hơn Nhiều loại hình doanhnghiệp: Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, các cá nhân tham gia vàocác quan hệ kinh tế tạo nên một đời sống kinh tế hết sức khẩn trương và sôi động
Sự đa dạng của các chủ thể kinh tế và các quan hệ kinh tế mới đã làm cho cáctranh chấp kinh tế trở nên phức tạp, quyết liệt hơn cả về nội dung và tính chất.Nếu như các tranh chấp kinh tế trước đây chỉ đơn thuần là tranh chấp về hợp đồngkinh tế giữa xí nghiệp quốc doanh, các đơn vị kinh tế của Nhà nước nhằm thựchiện chỉ tiêu pháp lệnh, kế hoạch của Nhà nước giao Thì nay các quan hệ kinh tếtrong nền kinh tế thị trường phát triển ngày một đa dạng hơn đã làm phát sinhnhiều tranh chấp kinh tế mới giữa các chủ thể kinh doanh với nhau như giữa cácloại hình doanh nghiệp: Công ty, Hợp tác xã, Doanh nghiệp tư nhân và các cánhân có đăng ký kinh doanh Nội dung của tranh chấp kinh tế không chỉ giới hạn
ở hợp đồng kinh tế mà liên quan đến tranh chấp giữa Công ty với thành viên công
ty, giữa các thành viên công ty với nhau, tranh chấp liên quan đến mua bán cổphiếu, trái phiếu, quảng cáo Vì vậy, các chủ thể kinh doanh đòi hỏi Nhà nướcphải thông qua hệ thống pháp luật bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp khi họkinh doanh đúng pháp luật Do tính chất phức tạp của các tranh chấp trong giaiđoạn hiện nay thì việc phải có một cơ quan mang tính chất quyền lực Nhà nước
để giải quyết các tranh chấp kinh tế là một yêu cầu bức thiết của đời sống kinh
tế-xã hội nước ta
Thời kỳ kinh tế tập trung bao cấp, các tranh chấp kinh tế phát sinh đềuđược giải quyết thông qua trọng tài kinh tế Nhà nước - cơ quan trực thuộc Chínhphủ Chuyển sang nền kinh tế thị trường xuất hiện hàng loạt tranh chấp kinh tếmới: tranh chấp giữa Công ty với các thành viên công ty, giữa các thành viêntrong công ty, tranh chấp về mua bán cổ phiếu, trái phiếu Nhưng những tranhchấp kinh tế này lại vượt quá khả năng, thẩm quyền giải quyết của trọng tài kinh
Trang 12tế Nhà nước Vì vậy, Toà án kinh tế ra đời thay cho trọng tài kinh tế là hoàn toànphù hợp với thực tiễn khách quan của đất nước.
Nhằm hội nhập vào đời sống kinh tế của các nước trong khu vực cũng nhưtrên thế giới, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng một nền kinh tế mở.Theo đó, các quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng được và củng cố và mở rộng, đãthu hút được số lượng lớn về vốn, công nghệ của các nhà đầu tư nước ngoài.Đồng thời thông qua đó, chúng ta nắm bắt được các thành tựu khoa học - kỹ thuậttiên tiến và kinh nghiệm quản lý, kinh doanh của các nước có nền kinh tế thịtrường phát triển
Vấn đề đặt ra ở đây là khi mở rộng các quan hệ kinh tế quốc tế chúng taphải xem xét và chấp nhận những tập quán thương mại Quốc tế và các nguyên tắc
cơ bản của luật pháp quốc tế về các lĩnh vực kinh doanh và thương mại
Các mối quan hệ kinh tế quốc tế được mở rộng đã tác động tích cực vàonền kinh tế nước ta làm cho các hoạt động kinh doanh trở nên sôi động và đadạng hơn Đương nhiên không thể tránh khỏi các tranh chấp kinh tế phát sinhtrong lĩnh vực này Việc giải quyết tranh chấp kinh tế trong kinh doanh có nhân tốnước ngoài là một việc khó và phức tạp Các chủ đầu tư nước ngoài vào Việt Namcũng như các nhà kinh doanh và đầu tư trong nước đều quan tâm đến sự bảo đảm
về mặt pháp lý đối với hoạt động kinh doanh của mình và pháp luật phải bảo vệđược quyền và lợi ích chính đáng cho họ khi xảy ra tranh chấp kinh tế Chính vìvậy, khi tiến hành đầu tư vào Việt Nam, ngoài các yếu tố đảm bảo về mặt pháp lýcho hoạt động và hiệu quả kinh doanh thì các chủ đầu tư cũng đặc biệt quan tâmđến việc giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, giải quyếttranh chấp phải nhanh chóng, thuận lợi và hiệu quả mới bảo vệ được quyền lợichính đáng của họ Chính vì các yêu cầu nêu trên, việc thiết lập một hình thức tàiphán mới, độc lập với các cơ quan Nhà nước khác có khả năng giải quyết nhanhchóng các tranh chấp kinh tế, cũng như các phán quyết của hình thức tài phán này
có tính quyền uy và khả năng thực thi cao, thì không thể có một cơ quan nào khácngoài Toà án Vì vậy, ngày 29/12/1993 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam (khoá 9 kỳ họp thứ 4) đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
Trang 13của Luật tổ chức Toà án nhân dân Luật này được Chủ tịch nước công bố ngày10/01/1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/1994 Trong đó có các điều liênquan đến việc thành lập Toà Kinh tế - Toà chuyên trách thuộc hệ thống Toà ánnhân dân, quy định thẩm quyền của Toà Kinh tế trong việc giải quyết các vụ ánkinh tế và giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Tham khảo kinh nghiệm của một
số nước có nền kinh tế thị trường phát triển như Pháp, Đức đều có hình thức tàiphán kinh tế bằng Toà án và qua sự tồn tại, hoạt động của hình thức tài phán nàycho thấy tính tích cực cũng như tính hiệu quả của nó trên thực tiễn
3 Chức năng và nhiệm vụ của Toà án kinh tế
3.1 Chức năng của Toà án kinh tế
Chức năng của Toà án kinh tế là một mặt hoạt động chủ yếu của Toà ánkinh tế được pháp luật ghi nhận, nó xác định bản chất của Toà án kinh tế là mộttrong những cơ quan xét xử của Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Toà án kinh tế có những chức năng cơ bản sau:
Trang 14xét xử các vụ án kinh tế của mình bằng việc ra Bản án, quyết định Các bản án,quyết định của Toà án kinh tế đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhànước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và mọi công dân tôn trọng.
Hai là: Chức năng tuyên bố phá sản doanh nghiệp
Toà kinh tế ngoài chức năng xét xử như các toà khác trong Toà án nhândân, Toà kinh tế còn có chức năng tuyên bố phá sản doanh nghiệp
Theo Luật phá sản doanh nghiệp được Quốc hội thông qua ngày30/12/1993, Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Toà án tốicao còn có chức năng giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp
Tuyên bố phá sản doanh nghiệp là một hoạt động thuần tuý tư pháp, là mộtthủ tục đòi nợ đặc biệt Thực hiện chức năng này Tòa án kinh tế bảo vệ lợi ích của
cả chủ nợ lẫn lợi ích của doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản và lợi íchcủa xã hội
3.2 Nhiệm vụ của Toà án kinh tế
“Trong phạm vi chức năng của mình, Toà án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế
xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân;bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự
và nhân phẩm của công dân” (Điều 1, Luật tổ chức Toà án nhân dân)
Như vậy có thể nói rằng, pháp luật đã quy định một cách cụ thể và rõ ràngnhiệm vụ chính của Toà án nhân dân nói chung và Toà kinh tế nói riêng trong khithực hiện chức năng của mình
Là một trong những cơ quan tố tụng, Toà án phải đảm bảo cho mọi hoạtđộng tố tụng của mình được tiến hành theo đúng các quy định của pháp luật tốtụng Các cá nhân, tổ chức theo quy định của thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
có quyền khởi kiện vụ án kinh tế để yêu cầu toà án kinh tế bảo vệ các quyền vàlợi ích hợp pháp của mình Và trong quá trình giải quyết vụ án kinh tế, Toà ánphải tiến hành các biện pháp để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giảiquyết vụ án nhằm thoả mãn được lợi ích của các bên có tranh chấp Mặt khác,bằng hoạt động của mình, Toà án góp phần giáo dục các doanh nghiệp chấp hành
Trang 15nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấutranh chống các vi phạm pháp luật.
4 Những nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết các tranh chấp kinh
tế tại Toà án nhân dân
Xuất phát từ yêu cầu quản lý kinh tế bằng pháp luật và yêu cầu lợi ích kinh
tế của chính các nhà doanh nghiệp, việc giải quyết các tranh chấp kinh tế trongđiều kiện nền kinh tế chuyển đổi hiện nay đòi hỏi phải đáp ứng được các yêu cầusau:
- Nhanh chóng và đúng đắn, hạn chế đến mức tối đa sự gián đoạn của quátrình sản xuất, kinh doanh
- Đảm bảo dân chủ, công khai, quyền tự định đoạt của các bên trong quátrình giải quyết tranh chấp
- Đảm bảo yếu tố bí mật trong kinh doanh
- Đảm bảo uy tín cho các bên trong thương trường
- Đạt hiệu quả thi hành cao nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả lợi ích hợppháp của các bên tham gia tranh chấp
Để tạo điều kiện cho Toà án kinh tế tiến hành tố tụng một cách nhanhchóng đồng thời đảm bảo cho các đương sự có điều kiện thực hiện đầy đủ cácquyền và nghĩa vụ, trên cơ sở đó ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật, nhữngbiểu hiện tiêu cực trong quá trình giải quyết vụ án thì hoạt động của Toà án kinh
tế phải dựa trên các nguyên tắc của tố tụng kinh tế
Lý luận Mác - Lê nin về Nhà nước và pháp luật đã chỉ ra rằng nguyên tắccủa pháp luật xã hội chủ nghĩa là những tư tưởng chỉ đạo bao trùm lên toàn bộ cácquy phạm pháp luật, các chế định pháp luật và hệ thống các ngành luật cụ thể.Theo đó nguyên tắc của thủ tục tố tụng kinh tế là những tư tưởng pháp lý chỉ đạochi phối toàn bộ hệ thống chế định pháp luật trong Pháp lệnh thủ tục giải quyếtcác vụ án kinh tế, làm kim chỉ nam định hướng xuyên suốt cho toàn bộ quá trìnhhoạt động giải quyết tranh chấp của Toà án kinh tế
Trang 16Tất cả các hành vi được tiến hành trong quá trình tố tụng như khởi kiện, raquyết định, bản án đều phải thực hiện trên cơ sở quán triệt các nguyên tắc đã đề
ra Bất cứ một hành vi nào vi phạm các nguyên tắc của thủ tục tố tụng kinh tế đềuđược coi là bất hợp pháp và phải bị loại bỏ
Khi đi vào nghiên cứu các nguyên tắc có thể thấy rõ hoạt động của tố tụngkinh tế cũng như các hoạt động tố tụng khác Trong quá trình giải quyết tranhchấp kinh tế Toà kinh tế phải tuân theo các nguyên tắc chung về tố tụng được quyđịnh trong Hiến pháp và Luật tổ chức Toà án nhân dân như: nguyên tắc khi xét xửThẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Toà án xét
xử công khai, xét xử tập thể và quyết định theo đa số, Toà án đảm bảo cho đương
sự được dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trước toà Đây là các nguyêntắc chung về tố tụng nhưng trong tố tụng kinh tế cũng có các nguyên tắc đặc thùriêng Vì vậy giới hạn trong nội dung của phần này chúng tôi chỉ trình bày một sốnguyên tắc cơ bản của tố tụng kinh tế
4.1 Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự
Đây là nguyên tắc cơ bản của tố tụng kinh tế Nguyên tắc này phát sinh từnguyên tắc bảo đảm quyền tự do kinh doanh, Nhà nước không can thiệp vào cáchoạt động kinh doanh đúng pháp luật Khi xảy ra tranh chấp, Toà án chỉ tham giagiải quyết nếu đương sự có đơn yêu cầu Việc yêu cầu Toà án giải quyết tranhchấp là quyền của các chủ thể kinh doanh Các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hộikhông có quyền khởi kiện, khởi tố các tranh chấp kinh tế
Quyền tự định đoạt của đương sự được thể hiện ở những nội dung sau:
- Quyền khởi kiện hoặc không khởi kiện
- Quyền xác định phạm vi yêu cầu
- Quyền được thay đổi, bổ sung nội dung yêu cầu
- Quyền đề xuất bổ sung chứng cứ
- Quyền rút đơn kiện trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình tố tụng.Trong toàn bộ các quyền kể trên thì quyền khởi kiện hoặc không khởi kiện
là quan trọng nhất Bởi vì kinh doanh là một công việc có tính chất riêng tư, các
Trang 17tranh chấp phát sinh trong kinh doanh phải do chính các nhà doanh nghiệp tựquyết định Trong nền kinh tế thị trường các bên tham gia vào quan hệ kinh tế vớimục đích làm sao kiếm được lợi nhuận cao nhất trên cơ sở phát huy mối quan hệkinh doanh tốt đối với các bạn hàng, mở rộng thị trường và tạo uy tín lớn Do đó,khi tranh chấp kinh doanh xảy ra việc đưa ra Toà án giải quyết phải được các bêncân nhắc kỹ lưỡng, đây là biện pháp cuối cùng khi các bên tranh chấp không tìmđược cách giải quyết nào tốt hơn.
4.2 Nguyên tắc các đương sự bình đẳng trước pháp luật
Quyền bình đẳng trước pháp luật là quyền cơ bản của công dân, của cácdoanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và được ghi nhận trong Hiến pháp
Theo nguyên tắc này không một cá nhân, một cơ sở sản xuất kinh doanhnào có đặc quyền đặc lợi trước Toà án Họ đều ở vị trí bình đẳng về tố tụng vàđều phải tuân theo pháp luật Nếu có hành vi vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật
Nguyên tắc bình đẳng trong tố tụng kinh tế đảm bảo cho việc xét xử đượccông bằng, đúng pháp luật Nguyên tắc này khuyến khích các thành phần kinh tếngoài quốc doanh nói riêng và mọi thành phần kinh tế nói chung mạnh dạn đầu tưvào hoạt động sản xuất kinh doanh vì thế nó có ý nghĩa quan trọng trong việc pháttriển và hoàn thiện nền kinh tế thị trường ở nước ta
4.3 Nguyên tắc Toà án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu thập chứng cứ
Trang 18Đây là nguyên tắc mang tính đặc thù của tố tụng kinh tế, theo nguyên tắcnày các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyềnlợi của mình Toà án không tự điều tra, thu thập chứng cứ như trong việc giảiquyết các vụ án dân sự.
Trong tố tụng dân sự, nhiều trường hợp đương sự là người chưa thành niên,người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần tức là những người này bị hạnchế hoặc không có năng lực hành vi Nếu có phát sinh tranh chấp và được giảiquyết bởi Toà án thì trong nhiều trường hợp các đương sự này không thể tự chứngminh cho các yêu cầu của mình nên Toà án phải tiến hành điều tra, thu thập thêmchứng cứ
Còn trong kinh doanh, các nhà kinh doanh phải có đủ một số điều kiện màpháp luật quy định cho họ như: phải từ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi đầy
đủ, có trình độ chuyên môn phù hợp với ngành nghề kinh doanh Vì thế khi xảy
ra tranh chấp các nhà kinh doanh đều có đủ khả năng để tự thu thập tài liệu chứng
cứ chứng minh nhằm bảo vệ quyền lợi của mình Mặt khác, trong vụ án kinh tếyêu cầu Toà án giải quyết là hoàn toàn do đương sự tự định đoạt một cách chủđộng, không có trường hợp nào Viện kiểm sát hoặc tổ chức xã hội can thiệp vàoviệc đưa ra yêu cầu đồng thời làm thay đổi việc cung cấp chứng cứ chứng minh
Việc nâng cao trách nhiệm tự chứng minh của các đương sự là đảm bảo choviệc giải quyết các vụ án kinh tế được nhanh chóng, chính xác và khách quan.Toà án chỉ giải quyết trên cơ sở chứng cứ mà đương sự cung cấp Toà án khôngtiến hành xét hỏi mà nghe các bên trình bày và xác minh chứng cứ Các bên cóquyền và nghĩa vụ trình bày những gì mà họ cho là cần thiết để chứng minh vàbảo vệ quyền lợi của mình Trong trường hợp đương sự cung cấp chứng cứ chưađầy đủ hoặc chứng cứ đó chưa chính xác thì Toà án sẽ yêu cầu đương sự cung cấpthêm chứng cứ hoặc xác minh sự chính xác của chứng cứ
4.4 Nguyên tắc Toà án chỉ thụ lý đơn kiện khi các bên đã tiến hành thương lượng hoà giải
Nguyên tắc hoà giải phải gắn liền với nguyên tắc tự định đoạt của đương
sự Các chủ thể kinh doanh khi tham gia vào các quan hệ kinh tế là dựa trên cơ sở
Trang 19bình đẳng, tự nguyện Do đó khi phát sinh tranh chấp các bên phải chủ động tiếnhành thương lượng, hoà giải với nhau để cùng một biện pháp giải quyết Chỉ khinào có văn bản chứng tỏ việc thương lượng, hoà giải không thành hoặc không thểtiến hành vì sự thiếu thiện chí của một bên lúc đó Toà án mới thụ lý hồ sơ và giảiquyết.
Hoà giải là việc các bên tự thương lượng giải quyết tranh chấp với nhau màkhông cần có phán quyết của Toà án nguyên tắc này xuyên suốt quá trình giảiquyết vụ án kinh tế Khi các đương sự đã yêu cầu Toà án can thiệp hoặc trong quátrình xét xử Toà án cũng luôn tìm các biện pháp để các bên có thể hoà giải vớinhau nhằm giải quyết nhanh chóng, dứt điểm vụ án, làm giảm đi những mâuthuẫn căng thẳng, giảm phí tổn, thời gian trong quá trình tranh tụng, tiết kiệm tiềncủa cho các bên tranh chấp
4.5 Nguyên tắc Toà án giải quyết vụ án kinh tế nhanh chóng, kịp thời
Hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường rất năng động, linh hoạtthời gian đối với các nhà kinh doanh có ý nghĩa sống còn Do đó, khi có tranhchấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, các nhà kinh doanh cần ở các cơ quangiải quyết tranh chấp không những giải quyết đúng pháp luật, thấu tình đạt lý màcòn phải nhanh chóng kịp thời và dứt điểm tránh dây dưa kéo dài gây lãng phíthời gian và tiền của Bởi vậy, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đượcquy định đơn giản hơn Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự cũng chính
là nhằm mục đích giải quyết nhanh chóng các vụ án kinh tế Trong quá trình giảiquyết vụ án, Toà án không cần qua giai đoạn điều tra thu thập, xác minh chứng
cứ, hạn chế thấp nhất việc quay vòng vụ án để xét xử nhiều lần Như vậy, vớinhững quy định như trên thì nguyên tắc Toà án xét xử nhanh chóng, dứt điểm các
vụ án kinh tế là một nguyên tắc tiến bộ Nếu được Toà án quán triệt sâu sắc tronghoạt động xét xử thì nó sẽ góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ quyền lợi của cácnhà kinh doanh, hạn chế những hậu quả không đáng có xảy ra cho họ
4.6 Nguyên tắc Toà án xét xử công khai
Nguyên tắc Toà án tiến hành xét xử công khai là một nguyên tắc Hiến địnhcủa Toà án Nguyên tắc này đảm bảo cho nhân dân giám sát được công việc xét
Trang 20xử của Toà án, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình xét xửđồng thời đề cao trách nhiệm của người làm công tác xét xử Qua việc xét xửcông khai này, Toà án có thể tuyên truyền giải thích pháp luật.
Tại phiên Toà các chứng cứ, tài liệu, mọi vật chứng của vụ án đều phảiđược đọc, xem xét công khai Nếu người tham gia tố tụng vắng mặt phiên Toàvẫn được tiến hành thì phải đọc lời khai của họ trong hồ sơ vụ án
Tuy nhiên khi xét xử các vụ án kinh tế, pháp luật cho phép Toà án đượcquyền xét xử kín trong trường hợp cần giữ bí mật Nhà nước, hoặc giữ bí mật củađương sự theo yêu cầu chính đáng của họ Đây là một nguyên tắc thể hiện tínhmềm dẻo, linh động của tố tụng kinh tế phù hợp với nhu cầu, tâm lý của các bênđương sự Bởi trong nền kinh tế thị trường mục đích hàng đầu của các nhà kinhdoanh là lợi nhuận thì bí mật trong kinh doanh ( bí mật nghề nghiệp, phát minh,sáng chế, giải pháp kỹ thuật ) là những yếu tố đóng vai trò quan trọng trongchiến lược phát triển và cạnh tranh của doanh nghiệp Nhiều khi giá trị tranh chấptrong kinh doanh không thể so sánh được với giá trị của bí mật kinh doanh và hệquả tất yếu là nhiều doanh nghiệp không thể bảo vệ được quyền lợi của mìnhthông qua Toà án và họ sẽ tìm đến phương thức giải quyết tranh chấp kinh tếkhác Như vậy sẽ làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế của Nhà nướcbằng pháp luật
Ở đây Toà án là người có thẩm quyền trong việc quyết định đưa vụ án raxét xử công khai hay xét xử kín
5 Thẩm quyền của Toà án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp
kinh tế
Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Toà án nhân dânđược Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 28/12/1993, Toà kinh tế làmột Toà chuyên trách nằm trong hệ thống Toà án nhân dân được tổ chức ở cấpToà án nhân dân tỉnh và Toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền giải quyết cáctranh chấp kinh tế và bắt đầu hoạt động từ ngày 01/07/1994
Trang 21Nếu căn cứ theo vụ việc thì theo quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh thủ tụcgiải quyết các vụ án kinh tế ngày 16/03/1994 thì Toà kinh tế có thẩm quyền xét
xử các vụ án kinh tế sau đây:
Các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân,giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh
Các tranh chấp giữa Công ty với các thành viên của công ty, giữa cácthành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động vàgiải thể công ty
Các tranh chấp liên qua đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu
Các tranh chấp kinh tế khác theo quy định của pháp luật
Nếu căn cứ theo cấp xét xử (Thẩm quyền theo cấp) thì theo quy định củaLuật sửa đổi, bổ sung của Luật tổ chức Toà án nhân dân và Pháp lệnh giải quyếtcác vụ án kinh tế, thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế của các Toà án đượcquy định như sau:
- Toà án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh.Toà án cấphuyện nơi không có Toà kinh tế với tính cách là một Toà chuyên trách có thẩmquyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp về hợp đồng kinh tế mà giátrị tranh chấp dưới 50 triệu đồng và không có nhân tố nước ngoài
- Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xét xử theo thủtục sơ thẩm các tranh chấp kinh tế nói tại Điều 12 của Pháp lệnh thủ tục giải quyếtcác vụ án kinh tế và theo quy định của Luật phá sản doanh nghiệp tháng 12/1993.Trong trường hợp cần thiết Toà án cấp tỉnh có thể lấy lên để giải quyết theo thủtục sơ thẩm các vụ án kinh tế thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án cấp huyện
Cũng theo sự phân cấp, Toà án cấp tỉnh phúc thẩm những vụ án kinh tế màbản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực của Toà án cấp huyện bị kháng cáo,kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng
Trang 22Đối với những bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân cấp huyện bịkháng nghị thì Uỷ ban thẩm phán của Toà án cấp tỉnh xem xét và giải quyết theotrình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
- Thẩm quyền của Toà án nhân dân tối cao
+ Toà phúc thẩm tiến hành phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định
sơ thẩm của Toà kinh tế thuộc Toà án nhân dân cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị
và giải quyết các khiếu nại đối với các quyết định của Toà án nhân dân tỉnh liênquan đến việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo quy địnhcủa pháp luật trên cơ sở thẩm quyền theo cấp và theo vụ việc đã được quy định
+ Toà kinh tế thuộc Toà án nhân dân tối cao giám đốc thẩm, tái thẩmnhững vụ án mà bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quyđịnh của pháp luật tố tụng Điều đáng phân biệt là Toà kinh tế Toà án nhân dân tốicao không có thẩm quyền xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm như Toà dân sự
và Toà hình sự thuộc Toà án nhân dân tối cao
+ Uỷ ban thẩm phán, Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xem xéttheo trình tự giám đốc thẩm và tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã cóhiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới
Ngoài ra phạm vi thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết các tranhchấp kinh tế còn có thể dựa trên sự lựa chọn của nguyên đơn Cụ thể nguyên đơn
có quyền lựa chọn Toà án để yêu cầu giải quyết vụ án trong các trường hợp sau:
Nếu không biết rõ trụ sở hoặc nơi cư trú của bị đơn thì nguyên đơn cóthể yêu cầu Toà án nơi có tài sản, nơi có trụ sở hoặc nơi cư trú cuối cùng của bịđơn giải quyết vụ án
Nếu vụ án phát sinh từ hoạt động của chi nhánh doanh nghiệp thìnguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi doanh nghiệp có trụ sở hoặc nơi có chinhánh đó giải quyết vụ án
Trang 23 Nếu vụ án phát sinh do vi phạm hợp đồng kinh tế thì nguyên đơn có thểyêu cầu Toà án nơi thực hiện hợp đồng giải quyết vụ án.
Nếu các bị đơn có trụ sở hoặc nơi cư khác nhau thì nguyên đơn có thểyêu cầu Toà án nơi doanh nghiệp có trụ sở hoặc nơi cư trú của một trong các bịđơn giải quyết vụ án
Nếu vụ án liên quan đến bất động sản ở nhiều nơi khác nhau thì nguyênđơn có thể yêu cầu Toà án ở một trong các nơi đó giải quyết vụ án
6 Trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp kinh tế tại Toà án nhân dân
Đây là các giai đoạn trong hoạt động tố tụng của Toà án để giải quyết các
vụ án kinh tế Giới hạn trong phần viết này, chúng tôi chỉ nêu những nội dungđược coi là cơ bản dựa trên cơ sở Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tếđược Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16/03/1994 và có hiệu lực từngày 01/07/1994
6.1 Khởi kiện và thụ lý vụ án kinh tế
Quyền khởi kiện vụ án kinh tế
Theo quy định của Điều 1 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế:
“Các cá nhân, pháp nhân theo thủ tục do pháp luật quy định, có quyền khởi kiện
vụ án kinh tế để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” Khiquyền và lợi ích hợp pháp của người kinh doanh bị tranh chấp hoặc bị xâm phạm,người kinh doanh (cá nhân, pháp nhân) có quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp đó theo một thủ tục do pháp luật quy định Quyền đó được gọi làquyền khởi kiện vụ án kinh tế
Quyền khởi kiện vụ án kinh tế là quyền tố tụng đầu tiên của cá nhân hoặcpháp nhân khi tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng kinh tế
Các cơ quan Nhà nước (như Viện kiểm sát) không có quyền này Có thểnói chủ thể thực hiện quyền khởi kiện trong tố tụng kinh tế hẹp hơn chủ thể thựchiện quyền này trong tố tụng dân sự
Trang 24Thời hạn khởi kiện vụ án kinh tế là 6 tháng kể từ ngày phát sinh tranh chấptrừ những trường hợp pháp luật có quy định khác.
Theo quy định tại Điều 31 - khoản 2 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ ánkinh tế thì nội dung của đơn kiện gồm:
- Ngày, tháng, năm viết đơn
- Toà án được yêu cầu giải quyết vụ án
- Tên nguyên đơn, bị đơn
- Tóm tắt nội dung tranh chấp, trị giá tranh chấp
- Quá trình thương lượng của các bên
- Yêu cầu đề nghị Toà án xem xét giải quyết
Đơn kiện phải có chữ ký của nguyên đơn hoặc người đại diện của nguyênđơn Kèm theo đơn kiện phải có các tài liệu chứng minh cho các yêu cầu củanguyên đơn
Thụ lý vụ án kinh tế
Thụ lý vụ án kinh tế là việc Toà kinh tế Toà án nhân dân chấp nhận đơncủa người khởi kiện và ghi vào sổ thụ lý của Toà án Thụ lý vụ án có ý nghĩa pháp
lý quan trọng vì nó đặt ra cho Toà án trách nhiệm giải quyết vụ án
Điều 33-Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế quy định:
“Nếu Toà án xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền của mình thì thông báo ngaycho nguyên đơn biết Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được thông báonguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật và Toà ánvào sổ thụ lý vụ án vào ngày nguyên đơn xuất trình chứng từ về việc nộp tiền tạmứng án phí”
Toà án sẽ thụ lý vụ án với điều kiện như sau:
- Người khởi kiện có quyền khởi kiện
- Sự việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án
- Đơn kiện được gửi đúng thời hiệu khởi kiện
Trang 25Thời hạn chuẩn bị xét xử là 40 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án Đối với các vụ
án phức tạp, thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 60 ngày (Điều 34 Pháp lệnhthủ tục giải quyết các vụ án kinh tế)
Trong công tác chuẩn bị xét xử, Toà kinh tế phải tiến hành các công việcsau:
Thứ nhất: Toà án phải thông báo cho bị đơn và những người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan biết nội dung đơn kiện trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thụ
lý vụ án Những người được thông báo có nghĩa vụ phải gửi cho Toà án ý kiếncủa mình bằng văn bản về đơn kiện và các tài liệu khác có liên quan đến việc giảiquyết vụ án cho Toà án trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo
Thứ hai: Toà án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ Trong tố tụng kinh
tế mặc dù nghĩa vụ chứng minh thuộc về các đương sự, toà án không có nghĩa vụđiều tra Nhưng để việc giải quyết vụ án được nhanh chóng khách quan, đúngpháp luật thì Toà án có thể thực hiện quyền xác minh và thu thập chứng cứ
Điều 36 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ngày 16/03/1994quy định: “Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nếu xét thấy cần thiết Toà án có thểtiến hành hoặc uỷ thác cho Toà án khác tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ đểlàm sáng tỏ các tình tiết của vụ án”
Trang 26Thứ ba: Toà án tiến hành hoà giải để các đương sự có thể thoả thuận với
nhau về việc giải quyết vụ án Việc hoà giải vụ án tranh chấp kinh tế có thể tiếnhành ở bất cứ giai đoạn nào của quá trình giải quyết tranh chấp kinh tế Hoà giải
là một thủ tục bắt buộc đối với Toà án Toà án tiến hành hoà giải đối với tất cả các
vụ án kinh tế
Để tiến hành hoà giải, Toà án triệu tập tất cả nguyên đơn, bị đơn, người cóquyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến Toà án, những người này phải có mặt khi hoàgiải
Nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, thìToà án lập biên bản hoà giải thành và trên cơ sở đó ra quyết định công nhận sựthoả thuận của đương sự Quyết định này có hiệu lực ngay sau khi tuyên và việcgiải quyết vụ án kinh tế được kết thúc tại đây
Trong trường hợp các bên không thể thoả thuận được với nhau thì Toà ánlập biên bản hoà giải không thành và quyết định đưa vụ án ra xét xử
6.3 Phiên toà sơ thẩm
Theo quy định của pháp luật, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có quyếtđịnh đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý dochính đáng thì thời hạn đó không quá 20 ngày
Phiên toà sơ thẩm được tiến hành dưới sự điều khiển của một Hội đồng xét
xử gồm hai thẩm phán và một hội thẩm Như vậy, trong Hội đồng xét xử sở thẩmcác vụ án kinh tế, số lượng thành viên là thẩm phán chiếm đa số Điều này hoàntoàn khác với Hội đồng xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự (Hội đồng xét xử vụ ándân sự có một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân) - Khoản 2, Điều 17 Pháp lệnhthủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, khoản 1 Điều 16 Pháp lệnh thủ tục giải quyếtcác vụ án dân sự
Phiên toà được tiến hành dưới sự có mặt của các đương sự, người làmchứng, người phiên dịch, người giám định và kiểm sát viên (nếu Viện kiểm sát cóyêu cầu tham gia phiên toà)
Trang 27Phiên toà bị hoãn nếu:
- Đương sự vắng mặt mà cần được lấy lời khai hoặc xác minh lại lời khaitại phiên toà
- Thành viên Hội đồng xét xử, kiểm sát viên, thư ký phiên toà, người giámđịnh, người phiên dịch bị thay đổi mà không có người thay thế
Trong trường hợp đương sự yêu cầu xét xử vắng mặt họ hoặc đương sựkhông phải là nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặtthì việc xét xử vẫn được tiến hành
Thủ tục tiến hành phiên toà sơ thẩm được pháp luật quy định cụ thể nhưsau:
+ Thủ tục bắt đầu phiên toà
+ Thẩm vấn tại phiên toà
+ Tranh luận tại phiên toà
+ Thủ tục nghị án
+ Thủ tục tuyên án
+ Hoàn chỉnh biên bản phiên toà
+ Cấp trích lục bản sao bản án hoặc quyết định của Toà án
6.4 Thủ tục phúc thẩm
Thủ tục phúc thẩm là việc Toà án cấp trên trực tiếp xét lại những bản án,quyết định của Toà án cấp dưới chưa có hiệu lực pháp luật mà bị kháng cáo,kháng nghị theo quy định của pháp luật
Việc tiến hành phúc thẩm các Bản án, quyết định chưa có hiệu lực của Toà
án cấp dưới nhằm mục đích sửa chữa những sai lầm của Toà án trong các bản án,quyết định đó Thủ tục phúc thẩm đảm bảo về mặt tố tụng nhằm bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của các đương sự
Trang 28Thủ tục phúc thẩm còn tạo khả năng thuận lợi cho Toà án cấp trên kiểm trachất lượng xét xử của Toà án cấp dưới cho phù hợp với pháp luật về thực tiễnkhách quan.
Chủ thể và khách thể của quyền kháng cáo, kháng nghị
- Chủ thể của quyền kháng cáo và kháng nghị là đương sự hoặc ngườiđại diện của đương sự có quyền kháng cáo bản án và quyết định của Toà án, cònViện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp hoặc cấp trên có quyền kháng nghịbản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm
Người kháng cáo phải làm đơn kháng cáo và gửi cho Toà án trong thời hạnkháng cáo Viện kiểm sát kháng nghị bằng một quyết định Đơn kháng cáo và nộidung kháng nghị phải nêu rõ lý do kháng cáo, kháng nghị; phần quyết định củaBản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị; yêu cầu củangười kháng cáo, kháng nghị
- Khách thể của quyền kháng cáo, kháng nghị là bản án và quyết địnhchưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp sơ thẩm Tuy nhiên không phải tất cảcác quyết định của Toà án cấp sơ thẩm đều là khách thể của kháng cáo, khángnghị mà có những quyết định không thể bị kháng cáo, kháng nghị (chẳng hạnquyết định đình chỉ vụ án vì lý do người khởi kiện rút đơn)
Trình tự thực hiện quyền kháng cáo, kháng nghị
- Thời hạn thực hiện quyền kháng cáo, kháng nghị
Theo quy định tại Điều 61 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế:+ Thời hạn kháng cáo là 10 ngày kể từ ngày Toà án tuyên án hoặc raquyết định
Trường hợp đương sự vắng mặt thì thời hạn này tính từ ngày bản sao bản
án, quyết định được giao cho họ hoặc được niêm yết tại trụ sở Uỷ ban nhân dân
xã, phường, thị trấn nơi họ có trụ sở hoặc cư trú
Trang 29+ Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 10 ngày, của Việnkiểm sát cấp trên là 20 ngày kể từ ngày Toà tuyên án hoặc ra quyết định NếuKiểm sát viên không tham gia phiên toà thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Việnkiểm sát cùng cấp nhận được bản sao bản án, quyết định.
Thời hạn kháng cáo, kháng nghị quy định như vậy là đủ để đảm bảo thựchiện quyền kháng cáo, kháng nghị Quá thời hạn quy định mà không có khángcáo, kháng nghị thì mặc nhiên bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật và phải đưa rathi hành
- Hậu quả pháp lý của kháng cáo, kháng nghị
Phần bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa có hiệu lực phápluật, phần bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực phápluật (Điều 64 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế)
Hội đồng xét xử gồm ba thẩm phán
Trước khi mở phiên toà, Toà án có thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạmthời theo yêu cầu của đương sự hoặc chủ động ra quyết định khẩn cấp tạm thờinếu xét thấy cần thiết Toà án cũng có thể tiến hành các biện pháp để xác minh,thu thập chứng cứ bảo đảm cho việc giải quyết vụ án đúng đắn, khách quan
Trang 30Phiên toà phúc thẩm được tiến hành với sự có mặt của các thành phần sau:
- Đương sự kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến khángcáo, kháng nghị
- Kiểm sát viên trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị hoặc Việnkiểm sát xét thấy cần thiết tham gia phiên toà phúc thẩm hoặc khi có yêu cầu củaToà án
Nếu đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo,kháng nghị, Kiểm sát viên vắng mặt không có lý do chính đáng thì phiên toà phúcthẩm vẫn tiến hành
Về mặt thủ tục phiên toà phúc thẩm được tiến hành giống như phiên toà sơthẩm Chỉ khác là khi xem xét kháng cáo, kháng nghị một thành viên của Hộiđồng xét xử trình bày nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và nội dungkháng cáo, kháng nghị
Kết thúc phiên toà, Toà án có thể ra một trong các quyết định sau:
- Bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm
- Sửa đổi một phần hay toàn bộ quyết định của bản án, quyết định sơ thẩm
- Huỷ bản án, quyết định sơ thẩm và chuyển vụ án cho cấp sơ thẩm xét xửlại
- Tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc giải quyết vụ án có căn cứ tạm đình chỉ,đình chỉ theo quy định của pháp luật
Bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngaysau khi tuyên bố Bản sao bản án, quyết định phúc thẩm phải được gửi cho đương
sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị trong thờihạn 5 ngày kể từ ngày ra bản án, quyết định
6.5 Thủ tục xem xét lại các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật
Trang 31Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế quy định hai hình thức xét lạicác bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó là thủ tục giám đốc thẩm và thủtục tái thẩm Tuy cùng xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trên
cơ sở có kháng nghị của người có thẩm quyền nhưng giám đốc thẩm và tái thẩm
là hai giai đoạn độc lập của tố tụng kinh tế
6.5.1 Thủ tục giám đốc thẩm
Giám đốc thẩm là một giai đoạn đặc biệt của tố tụng kinh tế Trong đó Toà
án cấp trên kiểm tra tính hợp pháp, tính có căn cứ đối với những bản án, quyếtđịnh đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới trên cơ sở kháng nghị củangười có thẩm quyền
Theo quy định của Luật tổ chức Toà án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểmsát nhân dân và Điều 47 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, nhữngngười sau đây có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm:
- Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhândân tối cao có quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật củaToà án nhân dân địa phương
- Chánh án Toà án cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
có quyền kháng nghị các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà áncấp huyện
Khách thể của kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là những bản án,quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nếu thấy có vi phạm luật Bao gồm:
- Những bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm
- Những bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo,kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật, quyết định công nhận
sự thoả thuận của các đương sự
- Những bản án, quyết định của Toà án giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.Việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm dựa vào những căn cứ sau:
Trang 32- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng như Toà án đã xét xử vụ án saithẩm quyền, thành phần của Hội đồng xét xử không hợp pháp.
- Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiếtkhách quan của vụ án
- Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng luật
Phiên toà giám đốc thẩm
Theo Điều 78 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Uỷ ban thẩmphán Toà án cấp tỉnh giám đốc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã cóhiệu lực của Toà án cấp huyện bị kháng nghị Toà án kinh tế Toà án nhân dân tốicao giám đốc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực của Toà áncấp tỉnh bị kháng nghị Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao giám đốc thẩmnhững vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Toà thuộcToà án nhân dân tối cao bị kháng cáo, kháng nghị
Điều 17 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế qui định Hội đồngxét xử giám đốc thẩm của Toà án các cấp như sau:
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm và tái thẩm của Toà kinh tế - Toà án nhândân tối cao gồm ba thẩm phán Uỷ ban thẩm phán và Hội đồng thẩm phán Toà ánnhân dân tối cao khi xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm phải có ítnhất 2/3 số thành viên tham gia Quyết định của Uỷ ban thẩm phán và Hội đôngthẩm phán Toà án nhân dân tối cao phải được quyết định theo đa số Quyết địnhcủa Uỷ ban thẩm phán cấp tỉnh phải được nửa tổng số thành viên biểu quyết tánthành
Theo Điều 79 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, phiên toàgiám đốc thẩm không phải triệu tập đương sự, những người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến kháng nghị trừ trường hợp Toà xét thấy cần phải nghe ý kiến của
họ trước khi quyết định
Trang 33- Phiên toà giám đốc thẩm phải được tiến hành trong thời hạn 1 tháng kể
từ ngày Toà án nhận được hồ sơ vụ án
Hội đồng xét xử có quyền ra một trong các quyết định sau đây:
- Bác kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực phápluật
- Sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực bị khángnghị
- Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm hoặcphúc thẩm lại trong trường hợp có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
6.5.2 Thủ tục tái thẩm
Thủ tục tái thẩm cũng là một giai đoạn tố tụng kinh tế đặc biệt, trong đóToà án cấp trên kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ đối với những bản án,quyết định đã có hiệu lực của Toà án cấp dưới nếu phát hiện được những tình tiếtmới quan trọng làm thay đổi nội dung vụ án, trên cơ sở có kháng nghị của người
có thẩm quyền
- Những người có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm:
+ Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhândân tối cao có quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật củaToà án các cấp
+ Chánh án Toà án cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh cóquyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấphuyện
Các căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm:
- Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã khôngthể biết được khi giải quyết vụ án
- Bản án, quyết định của Toà án hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước
mà Toà án dựa vào đó để giải quyết đã bị huỷ bỏ