TÓM T ẮT Để hoạt động du lịch phát triển theo hướng bền vững cần phải thực hiện quan trăc,giám sát các tác động của du lịch đến môi trường khu vực.. Vì vậy đề tài “ Quy Mục tiêu của đề t
TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT
Điều kiện tự nhiên
Thành phố Đà Lạt nằm trong cao nguyên Liangbiang, phía Đông – Bắc tỉnh Lâm Đồng Phía Bắc giáp với huyện Lạc Dương, phía Nam giáp huyện Đức Trọng, phía Đông và Đông – Nam giáp với huyện Đơn Dương, phía Tây và Tây – Nam giáp huyện Lâm Hà.
Trung tâm thành phố Đà Lạt cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 300km về phía Tây – Nam, cách Buôn Ma Thuột 190km về phía Bắc, cách Phan Rang 110km về phía Đông, cách Nha Trang 130km về phía Đông – Bắc.Đây là lợi thế để Đà Lạt mở rộng mối giao lưu với vùng Kinh tế Trọng điểm phía Nam, các tỉnh duyên hải Trung bộ và Tây Nguyên.
Nhìn chung, địa hình Đà Lạt thuộc dạng sơn nguyên, có thể phân thành 3 dạng địa hình cục bộ: Núi cao, đồi thấp và thung lũng. Địa hình núi cao: Là các dãy núi bao quanh khu vực trung tâm Đà Lạt, chiếm trên 70% diện tích tự nhiên toàn thành phố, có thể chia làm 2 khu vực:
+ Khu vực nằm ở phía Nam, phía Đông và phía Tây: bao gồm các dãy núi có độ cao thay đổi từ 1,450m – 1,550m, cá biệt có dãy cao trên 1,600m, tạo thành vòng cung bao quanh 3 mặt khu trung tâm Hậu hết diện tích có độ dốc rất lơn, nhiều thác, thực bì chủ yếu là rừng thông nguyên sinh, thích hợp cho phát triển lâm nghiệp kết hợp với du lịch.
+ Khu vực phía bắc: là các dãy núi có độ cao thay đổi từ 1,500m – 1,650m, đặc biệt có núi Liangbiang ( thuộc Lạc Dương ) cao tới 2,165m Địa hình đồi: Là các dải đồi hoặc núi thấp – ít dốc ( phần lớn từ 20 0 Địa hình thung lũng: Gồm các dải đất trũng phân tán ven các suối lớn, chỉ chiếm khoảng 1% tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố, phần lớn diện tích được sử dụng làm hồ chứa nước Tuy chỉ chiếm diện tích nhỏ nhưng dạng địa hình này có trở xuống ) và có độ cao từ 1,500m – 1,600m, phân bố tập trung ở khu vực trung tâm thành phố và Tà Nung, chiếm gần 30% diện tích tự nhiên, là địa bàn trọng điểm phát triển đô thị của thành phố. vai trò quan trọng trong bảo vệ nguồn nước, cải tạo khí hậu và tạo nên những nét đẹp riêng cho cảnh quanh thành phố.
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo nhưng bị chi phối bởi quy luật độ cao và ảnh hưởng của địa hình, trong năm có 2 mùa rõ rệt; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
Nhiệt độ thay đổi rõ rệt giữa các khu vực, càng lên cao nhiệt độ càng giảm Nhiệt độ trung bình năm của tỉnh dao động từ 18 – 25 0
Lượng mưa trung bình 1,750 – 3,150 mm/năm, độ ẩm tương đối trung bình cả năm 85 – 87%, số giờ nắng trung bình cả năm 1,890 – 2,500 giờ.
C, thời tiết ôn hòa và mát mẻ quanh năm, thường ít có những biến động lớn trong chu kỳ năm.
Do những đặc trưng trên, nên khí hậu của Lâm Đồng và đặc biệt là của Đà Lạt có những điểm đặc biệt so với vùng xung quanh: mát lạnh quanh năm, mưa nhiểu, mùa khô ngắn, lượng bốc hơi thấp, không có bão, tạo cho Đà Lạt có những lợi thế nổi trội và 1 số hạn chế trong phát triển kinh tế nói chung và sử dụng quỹ đất nói riêng:
+ Rất thuận lợi cho việc phát triển du lịch và nghỉ dưỡng, lợi thế này được phát huy cao hơn nhiều so với nơi khác nhờ ưu thế về vị trí địa lý.
+ Phát triển tốt các loại cây trồng, vật nuôi có nguồn gốc á nhiệt đới và ôn đới ngay trong vùng có khí hậu nhiệt đới cận xích đạo.
+ Lượng nước tưới cho cây trồng trong mùa khô thấp hơn nhiều so với các vùng khác của Đông Nam Bộ và Tây Nguyên
+ Khả năng tái sinh của rừng khá cao, thời gian bảo quản của các loại nông sản và nhất là rau – hoa – quả khá dài.
+ Nắng ít, tổng tích ôn thấp nên hệ số quay vòng trong sử dụng đất nông nghiệp không cao, cần lưu ý đến các loại cây có chất lượng tốt và giá trị kinh tế cao.
+ Cường độ mưa lớn, là một trong những yếu tố gây rửa trôi xói mòn đất, mưa nhiều trong mùa nghỉ hè đã hạn chế sức hấp dẫn về du lịch, mây mù nhiều ảnh hưởng đáng kể đến vận tải đường không.
2.1.4.1 Nước mặt Đà Lạt nằm ở vị trí đầu nguồn hệ thống sông Đồng Nai, thuộc lưu vực của 4 nhánh sông – suối lơn: Đa Nhim, Đa Tam, Cam Ly, Suối Vàng.
+ Sông Đa Nhim: Sông Đa Nhim nằm ở phía Đông thành phố Đà Lạt là 1 trong
2 nhánh chính của hệ thống sông Đồng Nai thuộc địa phận Lâm Đồng; phần lưu vực nằm trong địa phận Đà Lạt có diện tích khoảng 116km 2
+ Suối Prenn: Nằm ở phía Nam, có 2 nhánh chính là Đatanla và Prenn, diện tích lưu vực nằm trên thành phố Đà Lạt khoảng 121km
+ Suối Cam Ly: Suối Cam Ly bắt nguồn từ các dãy núi phía Đông – Bắc của thành phố, chảy qua khu vực trung tâm, sau đó đổ về sông Đa Dâng qua địa phận
Tà Nung và khu vực Nam Ban thuộc huyện Lâm Hà Diện tích lưu vực trong địa phận Đà Lạt khoảng 150km
, hiện có 2 thác nổi tiếng ( Đatanla, Prenn ) và hồ Tuyền Lâm, có vai trò quan trọng trong phát triển du lịch và cung cấp nước tưới cho khu vực phía Bắc huyện Đức Trọng.
+ Suối Vàng: Suối Vàng là một nhánh của sông Đa Dâng, bắt nguồn từ khu vực phía Tây dãy Liangbiang, lưu vực chủ yếu nằm trên địa phận huyệ n Lạc Dương, hiện có 2 hồ lớn nằm ở phía Tây – Bắc thành phố là hồ Suối Vàng và hồ Đankia, là nguồn cung cấp nước sinh hoạt chủ yếu cho thành phố, có vai trò quan trọng trong phát triển du lịch và đô thị mới của thành phố.
, là nguồn cung cấp nước chính và là trục tiêu chính cho khu vực trung tâm Hiện nay trên lưu vực này đã xây nhiều hồ nước có vai trò quan trọng trongphats triển kinh tế - xã hội của thành phố như: Xuân Hương, Đa Thiện, Chiến Thắng, Than Thở, Thái Phiên…
Điều kiện kinh tế - xã hội
Tổng diện tích gieo trồng trồng đạt 15,785ha, cây hàng năm 10,881ha Trong đó cây cây rau đậu các loại 8 ,520ha sản lượng ươc đạt 211,330 tấn, hoa các loại 1903ha, cây lương thực 243.2ha và các loại cây khác 215ha ) Diện tích cây lâu năm là 4,904ha ( trong đó cây cà phê là 3,415ha, cây chè đạt 500ha và cây ăn quả 968ha, các loại cây lâu năm khác 21ha ).
Chăn nuôi, tổng đàn trâu bò đạt 3,700 con, tron đó đàn bò sữa 120 con, đàn heo
11,000 con, đàn dê 270 con Công tác giết mổ gia súc, gia cầm đã hoạt động ổn định, tập trung tại lò giết mổ của thành phố.
Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao: đã triển khai ở hầu hết các phường xã trên địa bàn thành phố Hiện có trên 900ha nhà kính sản xuất chất lượng cao; 80% diện tích trồng hoa sử dụng giống mới, chuyển đổi 9,000 m 2 hoa hồng, 900m 2 hoa Lys, 1,000m 2
2.2.1.2 Giao thông vận tải hoa đồng tiền.
Giao thông: Đường bộ: Hiện nay hệ thống đường bộ của Đà Lạt tương đối dày và phân bố đều khắp trong tỉnh, cho phép các phương tiện giao thông có thể đến được hầu hết các xã đáp ứng được nhu cầu đi lại của người dân Nếu chỉ tính riêng các tuyến quốc lộ, đường tỉnh và đường huyện, đến nay mạng lưới đường bộ ở lâm Đồng có tổng chiều dài 1,744km, trong đó chiều dài:
+ Hệ thống quốc lộ ( 20,27,28 ) là 412.15km.
+ Hệ thống đường tỉnh là 346.25km.
+ Hệ thống đường huyện là 986.69km.
Các tuyến quốc lộ 20, 27, 28, 55 nối liền Lâm Đồng với vùng Đông Nam Bộ, tạo cho Lâm Đồng có mối kinh tế - xã hội bền chặt với các vùng, các tỉnh trong khu vực. Đường hàng không: Cảng hàng không Liên Khương nằm cách trung tâm thành phố Đà Lạt 30km, có tổng diện tích 160ha đang được nâng cấp thành sân bay quốc tế với tổng chiều dài 3,250m có thể tiếp nhận các loại máy bay tầm trung như A320,
A321 hoặc tương đương. Đường sắt: Tuyến đường sắt Tháp Chàm – Đà Lạt dài 84km, được đưa vào khai thác từ năm 1932 Năm 1976, bộ giao thông vận tải đã tháo dỡ 21km đường ray trên tuyến đường này để khôi phục tuyến đường sắt Thống Nhất, từ đó tuyến đường này không còn hoạt động nữa và dần bị phá bỏ Hiện nay, ngành đường sắt đã khôi phục tuyến đường sắt Đà Lạt – Trại Mát dài 8km nhằm phục vụ quý khách
Vận tải: Các hoạt động về giao thông vận tải được duy trì và không ngừng phát triển, áp dụng thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại Các phương tiện vận tải tăng nhanh vô số lượng, phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại của n gười dân Tính đến nay toàn tỉnh có hơn 4829 phương tiện vận tải hàng hóa với tổng trọng tải trên 22,599 ngàn tấn. Điểm nổi bật trong hoạt động vận tải trong những năm qua là sự đóng góp ngày càng tăng của loại hình vận tải hàng không có khối lượng nhỏ nhưng ngày càng phát triển cùng với công cuộc đổi mới của đất nước Đặc biệt là việc mở rộng sân bay Liên Khương thành sân bay quốc tế và thực hiện các chuyến bay mới từ Đà lạt – Hà Nội và ngược lại mở ra cho Lâm Đồng hướng giao lưu, phát triển kinh tế.
2.2.2 Đặc điểm văn hóa - xã hội
Lâm Đồng là một vùng đất cổ, có cảnh quan địa mạo đa dạng, cấu tạo địa chất phức tạp với nhiều dân tộc anh em thuộc ngữ hệ Môn – Khơ Me và ngữ hệ Malayô – Pôlynêxia lần lượt đến sinh sống trên mảnh đất Nam Tây Nguyên này Trong nhiều năm qua, nhiều di tích lịch sử được quan tâm tiếp cận nghiên cứu, nổi tiếng nhất là khu di tích Cát Tiên.
Văn học dân gian khá phong phú nhưng văn học viết của Lâm Đồng còn hết sức non trẻ.
Nghệ thuật ở Lâm Đồng được hình thành trên nền văn hoá Việt, văn hoá các dân tộc thiểu số bản địa và một phần của văn hoá các tộc người thiểu số phía Bắc Sự phối hợp giữa các yếu tố văn hoá này với nhau tạo thành nét riêng cho văn hoá Lâm Đồng nói chung và nghệ thuật nói riêng.
Dân số thành phố Đà Lạt năm 2008 là 201,300 người, trong đó dân số nông thôn
20100 người, chiếm 9.98% Mật độ khoảng 512 người/km 2
Lâm Đồng là miền đất hội tụ nhiều dân tộc anh, em trong cả nước với trên 40 dân tộc khác nhau cư trú và sinh sống, trong đó đông nhất n gười Kinh chiếm khoảng 77%, đến nguời K’Ho chiếm 12%, Mạ chiếm 2,5%, Nùng chiếm gần 2%,
Tày chiếm 2%, Hoa chiếm 1,5%, Chu-ru 1,5% , còn lại các dân tộc khác có tỷ lệ dưới 1% sống thưa thớt ở các vùng xa, vùng sâu trong tỉnh
Lễ hội,rượu cần và dệt thổ cẩm là nét đặc trưng cho văn hóa dân tộc thiểu số tại Lâm Đồng.
Hình 2.1 Bản đồ hành chính thành phố Đà Lạt
TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH SINH THÁI
S ự hình thành và phát triển
Thuật ngữ “Du lịch sinh thái” mới chỉ được sử dụng và đề cập đến nhiều trong khoảng những năm đầu thập niên 90 của thế kỉ 20 Về nguồn gốc, Du lịch sinh thái bắt nguồn từ du lịch thiên nhiên và du lịch ngoài trời Ban đầu các hình thức du lịch này không gắn liền với mục tiêu bảo tồn.
Thế kỉ 20 đã chứng kiến sự thay đổi đầy kịch tính và liên tục của du lịch lữ hành ngoài thiên nhiên Châu Phi là một ví dụ điển hình nhất: những người thợ săn quý tộc đến châu Phi với tham vọng ngông cuồng săn bắn thú lớn để lấy sừng và bộ da Cho đến giữa thế kỉ 20 mọi việc đã thay đổi, vì thay bằng những khẩu súng săn hai nòng là những chiếc máy ảnh hiện đại có thể chụp từ xa và ban đêm.
Cho đến thập niên 70 thì ngày càng nhiều các du khách tham quan nhận thức được hậu quả sinh thái mà họ có thể gây ra cho giá trị thiên nhiên và có thể làm tổn thương sâu sắc đến quyền lợi lâu dài của người dân địa phương Do đó, đã hình thành nên các tour du lịch chuyên môn hóa mà chỉ đơn giản là xem chim, cưỡi lạc đà trên sa mạc, đi bộ ngoài thiên nhiên có người hướng dẫn… đang tăng dần lên. Ngay từ khi ra đời, DLST đã và đang làm cho cả ngành công nghiệp lữ hành trở nên nhạy cảm hơn với môi trường Vì DLST không chỉ là một khuynh hướng bao gồm những người yêu và gắn bó với thiên nhiên, mà còn thực sự là một tổ hợp các mối quan tâm được sinh ra từ các trăn trở về môi trường, kinh tế và các vấn đề xã hội.
Du lịch sinh thái là một hiện tượng phức tạp và đa lĩnh vực, phát triển dựa trên nền tảng của sự giàu có về các khu bảo tồn thiên nhiên Vấn đề giảm thiểu tác động môi trường được coi là một tiêu chuẩn đầu tiên cho sự phát triển ngành DLST Từ đó thuật ngữ “ công nghệ sinh thái “ đã được sử dụng nhiều trong kế hoạch xây dựng các chương trình du lịch sinh thái.
Các định nghĩa liên quan
3.2.1 Định nghĩa chung về du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái (Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới không chỉ ở Việt Nam mà còn ở một số nước khác trên thế giới Có rất nhiều thuật ngữ và định nghĩa mô tả về loại hình du lịch này, nhu du lịch sinh thái (Eco – Tourism), du lịch bền vững (Sustainable Tourism), du lịch có trách nhiệm (Resposible Tourism), du lịch thiên nhiên (Natural Tourism), du lịch dựa vào thiên nhiên (Natural Based Tourism), du lịch môi trường ( Environmental Tourism), du lịch xanh ( Green
Tourism), du lịch văn hóa (Cultural Tourism), du lịch nhạy cảm (Sensitized
Tourism) và du lịch nhà tranh (Cottage Tourism)
Cho đến nay, khái niệm du lịch sinh thái vẫn còn được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, với những tên gọi khác nhau Mặc dù, những tranh luận vẫn còn diễn tiến nhằm tìm ra một định nghĩa chung nhất về du lịch sinh thái, nhưng đa số ý kiến của các chuyên gia hàng đầu về du lịch sinh thái đều cho rằng du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và được nuôi dưỡng, quản lýtheo hướng bền vững về mặt sinh thái Du khách sẽ được tham quan với những diễn giải cần thiết về môi trường để nâng cao hiểu biết, cảm nhận được giá trị về thiên nhiên và văn hóa mà không gây ra những tác động không thể chấp nhận đới với các hệ sinh thái và văn hóa bản địa Một số định nghĩa về du lịch sinh thái đó là:
“Du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên, là công cụ để bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương” (Lindberg và Hawkins, 1993)
“DLST là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi trường tạ i các điểm tự nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên và các đặc điểm văn hóa đã tồn tại trong quá khứ hoặc trong hiện hành, qua đó khuyến khích những hoạt động bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách tham quan gây ra , và tạo ra ích lợi cho những người dân địa phương tham gia tích cực” (Ceballos – Lascurain, 1996)
“DLST là du lịch tại các vùng còn chưa bị con người làm biến đổi Nó phải đóng góp vào bảo tồn thiên nhiên và phúc lợi của dân địa phương” (L.Hens, 1998 )
“DLST là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích cho cộng đòng địa phương”(Hiệp hội DLST Hoa Kỳ, 1998).
“DLST là 1 hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, định hướng về môi trường tự nhiên và nhân văn, được quản lý 1 cách bền vững và có lợi ích cho sinh thái”( Hiệp hội DLST Australia).
Trong hội thảo về “Xây dựng ch iến lược về phát triển DLST ở Việt Nam” từ ngày 7-9/9/1999, đã đưa ra định nghĩa về DLST: “DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng
3.2.3 Những nguyên tắc DLST bền vững
Với mục tiêu đáp ứng nhu cầu của du khách, giảm thiểu các tác động lên môi trường tự nhiên và đem lại phúc lợi( sinh thái, kinh tế, xã hội ) cho cộng đồng địa phương, một số nguyên tắc chính cần tuân thủ trong quá trình hoạt động DLST được đề ra như sau:
- DLST nên khởi đầu với những thông tin cơ bản nhưng đa dạng của cộng đồng và cộng đồng nên duy trì sự kiểm soát sự phát triển của du lịch.
- Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên 1 cách bền vững.
- Chương trình giáo dục và huấn luyện để quản lý, cải thiện di sản và các tài nguyên thiên nhiên nên được thành lập Giảm tiêu thụ, giảm chất thải 1 cách triệt để nhằm nâng cao chất lượng môi trường.
- Duy trì tính đa dạng về tự nhiên, văn hóa …
- Lồng ghép các chiến lược phát triển của địa phương với quốc gia.
- Phải hỗ trợ kinh tế địa phương, tránh gây thiệt hại cho hệ sinh thái ở đây.
- Phải thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương ở đây.
- Phải biết tư vấn các nhóm quyền lợi và công chúng.
- Đào tạo cán bộ, nhân viên phục vụ trong hoạt động du lịch.
Tình hình phát tri ển du lịch sinh thái trên thế giới
Du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng đang có những bước phát triển nổi bật Ngành công nghiệp không khói này đã và đang đóng góp một phần quan trọng vào phát triển kinh tế, nhất là ở các nước đang phát triển.
Các loại hình du lịch sinh thái đang trở thành hoạt động du lịch được yêu thích, và là mộtxu hướng mới trong ngành du lịch Du lịch sinh thái đã mang lại nhiều lợi ích cụ thể trong lĩnh vực bảo tồn và phát triển bền vững tại nhiều nước trên thế giới.
Việc áp dụng mô hình DLST tại các nơi có hệ sinh thái phong phú đang phát triển với một tỷ lệ gia tăng nhanh chóng Điều này đã, đang tạo ra các áp lực đáng kể, gây tổn hại đến môi trường,đe dọa hệ sinh thái nhạy cảm và sự khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên cho bảo vệ và phát triển cộng đồng Tổ chức Bảo tồn
Quốc tế (CI) đã nhận thấy cần có những cách tiếp cận hiệu quả để đảm bảo sự tồn tại lâu dài của những khu vực then chốt Đó là một chiến lược thống nhất giữa phát triển và bảo tồn, kết hợp những công cụ chính sách phù hợp, khoa học logic và dùng khoa học công nghệ đổi mới để đưa vào trong bảo vệ khu vực và giáo dục môi trường.
Du lịch dựa vào vườn quốc gia là hoạt động then chốt mang lại lợi ích kinh tế cho các vùng ở phía Đông và Nam của châu Phi Kenya và Tanzania là những ví dụ cụ thể Bắt đầu chỉ với vài ngàn du khách vào những thập niên 1950, ngành du lịch Tanzania đã tăng đến 350 ,000 lượt khách vào năm 1995 trong khi con số đó ở Kenya đã tăng đến 865 ,300 vào năm 1994 Ở cả 2 quốc gia này có một hệ thống vườn quốc gia vào loại tốt nhất thế giới
Australia, được công nhận là quốc gia có những đổi mới trong lĩnh vực du lịch, đã đưa ra nhiều ví dụ điển hình về hoạt động du l ịch dựa vào thiên nhiên Từ năm
1983 đến năm 1993, số lượng du khách quốc tế đã tăng từ 944,000 đến 3,000,000 Ngành du lịch nói chung và ngành DLST nói riêng hiện nay có thể cải thiện tính cạnh tranh của mình bằng cách sử dụng công nghệ thông tin và những phương pháp quản lý tiên tiến.
Mặc dù DLST đã có những bước phát triển nhanh chóng, nhưng bên cạnh đó vẫn tồn tại những thách thức và khó khăn mà DLST đang phải đối mặt Trong khi triển vọng của ngành DLST đầy hứa hẹn thì sự thành công của một số dự án lại phải đối mặt với một số vấn đề mà nhiều khi vượt xa khỏi tầm kiểm soát của những nhà cung cấp dịch vụ, các đại lý hay người tổ chức Các vấn đề đó là: chính trị, xã hội, môi trường, kinh tế và kỹ thuật.
- Chính trị: mâu thuẫn dân tộc có thể nhanh chóng làm giảm nguồn thu từ du lịch SriLanka, Haiti, Guatemala và Rwanda giảm nhiều lượng khách du lịch vì nội chiến và tình trạng lộn xộn Nạn khủng bố máy bay cũng làm giảm lượng khách du lịch đến 1 số nước.
- Xã hội: Thiếu sự quan tâm về sức khỏe, an toàn cá nhân và không tạo được những ấn tượng về quốc gia nơi đến du lịch Việc thiếu thông tin về quốc gia, điểm đến du lịch có thể làm du khách chọn một nước khác( Ingram và Durst, 1989)
Sự đe dọa về bệnh tật cũng là một hạn chế Du khách không muốn đến châu Phi vì sợ sốt rét, không muốn đến Kenya và Thailand vì sợ AIDS và trong bối cảnh hiện nay dịch cúm A/H1N 1
- Môi trường: Bao gồm mùa du lịch, thảm họa thiên nhiên, sự ô nhiễm Sự phù hợp giữa kỳ nghỉ hè của học sinh và màu du lịch của nơi tổ chức du lịch là quan trọng Bên cạnh đó, các vấn đề về động đất, núi lửa, sóng thần…có thể khiến du khách sợ không dám đến du lịch. đang lan rộng khắp thế giới cũng làm giảm lượng du khách.
- Kinh tế: Tỷ giá chuyển đổi tiền giữa các nước có thể làm lợi cho nước này nhưng nước khác phải chịu thiệt hại Tình trạng suy thoái kinh tế toàn cầu và tỷ giá trao đổi làm ảnh hưởng lớn đến người đi du lịch và việc lựa chọn địa điểm du lịch
Vấn đề kinh tế ảnh hưởng lớn đến việc tổ chức các tour du lịch.
- Kỹ thuật, thông tin và tiếp thị ảnh hưởng đến nguồn thông tin đến được với khách du lịch Các nhà tổ chức tour và khách du lịch thường thích đến những nơi mà họ có thể dễ dàng liên lạc giúp việc tổ chức và thay đổi tour khi cần thiết một cách nhanh chóng Hầu hết những khu DLST đều gặp khó khăn về vấn đề liên lạc, đôi khi không liên lạc được với bên ngoài.
Dẫu vậy, vấn đề khó khăn làm ngăn cản sự phát triển của DLST là thiếu sự thông tin liên lạc và khó tới những điểm du lịch Các vấn đề khác là mâu thuẫn giữa những nhà cung cấp dịch vụ tại địa phương và thiếu người tổ chức các tour du lịch
Tất cả những vấn đề này làm hạn chế việc tổ chức tour du lịch nhưng dường như không ngăn cản được những du khách độc lập.
Tình hình phát tri ển DLST ở Việt Nam
3.4.1.1 Bối cảnh chung của ngành du lịch Việt Nam
Với tiềm năng và tài nguyên du lịch lớn, đa dạng và phong phú, ngành du lịch đã có những bước đi tương đối vững chắc, tạo ra bước phát triển mới Từ 1 ngành kinh tế tổng hợp, giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế - xã hội, đến nay du lịch đã được xác định là 1 trong những ngành kinh tế mũi nhọn trong thời kỳ CNH – HĐH đất nước Đạt được những thành quả của sự phát triển du lịch Việt Nam trong những năm qua có nhiều nguyên nhân, nhung trong đó không thể không nói đến nhân tố có ý nghĩa quyết định: đó là sự ổn định về chính trị của đất nước, sự nghiệp quốc phòng – an ninh được giữ vững Chính điều đó đã tạo nên 1 điểm đến an toàn, thân thiện , thu hút du khách đến với Việt Nam; đồng thời,khẳng định trên thực tế giữa quốc phòng – an ninh và du lịch đã từng bước có sự gắn bó cần thiết, vì lợi ích chung là xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN.
Trong quá trình triển khai thực hiện quy hoạch về chiến lược và các kế h oạch phát triển du lịch, Việt Nam đã khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên du lịch, môi trường sinh thái 1 cách có hiệu quả Đặc biệt chú trọng đến việc phát triển các loại hình DLST ở các khu vực trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo xa bờ nhằm đem lại lợi ích cho nhân dân, tăng thu nhập cho xã hội, tạo công ăn việc làm, nâng cao ý thức bảo vệ, gìn giữ và khai thác hợp lý tài nguyên du lịch của đất nước Với những nỗ lực bảo vệ môi trường và gìn giữ giá trị của nguồn tài nguyên đa dạng sinh học, Việt Nam đã hình thành mạng lưới các chương trình DLST trong tất cả các vườn quốc gia, khu dự trữ sinh quyển và các khu bảo tồn thiên nhiên.
Trong những năm qua, hoạt động du lịch Việt Nam đã có nhiều khởi sắc và đạt được những tiến bộ vững chắc: từ 1991 đến 2001, lượng khách du lịch quốc tế tăng từ 300 ngàn lượt người lên 2.33 triệu lượt người, tăng 7.1 lần Khách du lịch nội địa tăng từ hơn 1.5 triêu lên 11.7 triệu lượt người, tăng 8 lần Thu nhập xã hội từ du lịch tăng nhanh, năm 2001 đạt 20,500 tỷ đồng, so với năm 1991, gấp 9.4 lần Hoạt động du lịch đã tạo việc làm cho khoảng 22,0000 lao động trực tiếp và hàng vạn lao động gián tiếp Trong 8 tháng đầu năm 2003, Việt Nam đón hơn 1.42 triệu du khách quốc tế, và hơn 9 triệu du khách nội địa Lượng du khách quốc tế đang tăng lên, riêng trong tháng 8/2003 đã có hơn 193,390 khách quốc tế, tăng 26% so với tháng 7, chủ yếu đến từ Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc và Mỹ Công suất sử dụng phòng tại các khách sạn lớn tăng đáng kể, đạt mức trên 80% Lượng du khách quốc tế đến
Việt Nam trong 4 tháng cuối năm 2003 đạt khoảng 800,000 người.
Những khó khăn và thách thức hiện nay: trong bối cảnh tình hình chính trị thế giới trở nên phức tạp sau vụ khủng bố 11/09/2001 tại Mỹ đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động du lịch trên thế giới Cạnh tranh về du lịch giữa các nước trong khu vực ngày càng trở nên gay gắt Du lịch Việt Nam còn chưa có những sản phẩm chất lượng cao, hấp dẫn, chất lượng dịch vụ chưa cao Hệ thống quản lý nhà nước về du lịch chưa tương xứng với nhiệm vụ đặt ra cho ngành Trước bối cảnh đó và trước nhu cầu phát triển nhanh trở thành 1 ngành kinh tế mũi nhọn, du lịch Việt
Nam phải có 1 chiến lược phát triển đúng đắn, 1 kế hoạch triển khai thống nhất và đồng bộ.
3.4.1.2 Phân loại du lịch Việt Nam
Các nhóm du lịch chính: Dựa vào thực trạng tài nguyên du lịch ( Tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn ) và xu hướng phát triển để phân loại các loại hình du lịch ở Việt Nam như sau:
Du lịch biển (Vịnh Hạ Long, ven biển Khánh Hòa Nha Trang, biển Phan Rang, Ninh Thuận…); du lịch đảo với gần 3,000 hòn đảo (Côn Đảo, Cát Bà…); du lịch dài ngày trên sông (Đồng bằg sông Cửu Long); du lịch hồ nước nội địa (hồ Núi
Cốc…); du lịch núi đá vôi và hang động (Động Phong Nha…);
Du lịch theo tuyến đường bộ (Đường Hồ Chí Minh);
Du lịch sinh thái với hơn 100 khu du lịch sinh thái đã được phê duyệt theo hệ thống các vườn quốc gia và khu bảo tồn và sinh vật cảnh;
Du lịch văn hóa lịch sử cảu 40,000 di tích lịch sử (Cố đô Huế, phố cổ Hội An…);
Du lịch giải trí tiêu k hiển trong các trung tâm của thành phố ( sở thú TPHCM,vườn cây Lái Thiêu…) và du lịch thể thao (lướt ván thuyền trên biển mũi Né…)
3.4.2 Tiềm năng phát triển DLST ở Việt Nam
Việt Nam trải dài 1,650 km từ Bắc xuống Nam, nơi rộng nhất theo chiều ngang (từ Đông sang Tây) 600km, nơi hẹp nhất 50km 1 đường biển dài hơn 3,000km đã tạo ra cơ hội phát triển ngành DLST với sự đa dạng và hấp dẫn của 1 hệ sinh thái ven biển và trên cạn, cũng như khả năng tiếp cận dễ dàng với các khu vực lân cận
Vị trí và chiều dài của đất nước đã dẫn đến sự đa dạng về khí hậu, từ nhiệt đới đến ôn đới và đồng thời cũng góp phần tạo ra 1 thảm động thực vật phong phú Tiềm năng phát triển DLST chính là dựa trên nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có này với khoảng 275 loài thú, 826 loài chim và 180 loài bò sát khác nhau sống trên lãnh thổ Việt Nam Trong số các động vật hoang dã có voi, tê giác một sừng, sao la, trâu rừng, nhiều loài sinh trưởng đặc hữu và sếu đầu đỏ… 1 điều kì diệu là 3 trong 7 loài thú hoang dã mới được phát hiện trong thế kỷ XX của thế giới đã được tìm thấy ở
Việt Nam như sao la, mang lớn… của vườn quốc gia Vũ Quang Trong rừng còn có hơn 1000 cây thuốc cũng được xác định tại Việt Nam Việt Nam có 350 loài san hô, trong đó có 95 loài ở vùng biển phía Bắc và 255 loài ở vùng biển phía Nam Bên cạnh 60 vạn ha đất cát ven biển, trong đó có 77,000 ha hệ sinh thải cát đỏ tập trung tại Bình Thuận, Ninh Thuận và các tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam có thêm
10 triệu ha đất ngập nước ẩn chứa nhiều hệ sinh thái điển hình có giá trị cao về khoa học và du lịch mà Đồng Tháp Mười là vùng ngập nước tiêu biểu cho khu vực Đông Nam Á
Hệ thống rừng đặc dụng và rừng ngập mặn Việt Nam thuộc loại rừng giàu có về tính đa dạng sinh học với 12,000 loài thực vật ( 1,200 loài đặc hữu ), 15,575 loài động vật ( 172 loài đặc hữu ) Nhưng cũng cần phải nói rõ là hiện nay mức độ bảo tồn cũng còn nhiều khó khăn: 16 loài tinh trưởng, 4 loài có vú lớn và 25 loài chim khác nhau đang bị đe dọa trước nguy cơ bị săn bắn và mất nơi cư trú Trong 30 năm gần đây đã có 5 loài chim nước lớn c ư trú trên châu thổ sông Cửu Long đã bị tuyệt chủng Các vùng đầm lầy trên 2 châu thổ chính của đất nước cũng đang bị đe dọa trước sức ép của dân số và nhu cầu khai thác.
Việt Nam đã trải qua 1 quá trình biến chuyển dân số nhanh chóng Vào năm
2001, dân số Việt Nam ước tính khoảng 78.7 triệu Đến cuối năm 2003 dân số Việt
3.4.3 Các loại hình DLST ở Việt Nam
3.4.3.1 Du lịch dã ngoại, tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng
Loại hình du lịch này phục vụ du khách thuần túy chỉ đơn giản là tìm về với thiên nhiên có không khí trong lành, tươi mát để được hòa mình với thiên nhiên hoang dã, rừng xanh, suối mát, bãi biển mênh mông…Loại hình du lịch này có thể thu hút mọi tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước Địa điểm thường là những khu bảo tồn thiên nhiên, các khu vui chơi giải trí có cảnh quan thơ mộng, có những biệt thự sang trọng để nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng.
3.4.3.2 Du lịch tìm hiểu, nghiên cứu theo chuyên đề sinh thái, lịch sử, khảo cổ, văn hóa
Loại hình du lịch này dành cho các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học, sinh viên, học sinh yêu thích tìm hiểu thiên nhiên, các cán bộ nghiên cứu các đề tài khoahojc, các vấn đề liên quan đến lịch sử, văn hóa, sinh thái, đời sống của các loài động thực vật,… các vùng đất ngập mặn, vùng sinh quyển…Du khách tham gia loại hình du lịch này thường đến các khu bảo tồn thiên nhiên có hệ sinh thái đặc biệt với các loài động thực vật quý hiếm hay các di tích lịch sử, các khu di sản văn hóa thế giới như ở Nam Cát Tiên, Cần Giờ, Côn Đảo…
3.4.3.3 Du lịch hội nghị, hội thảo