Nước trong thiên nhiên được dùng làm các nguồn nước cung cấp cho ăn nước mặt, thường có độ đục, độ màu và hàm lượng vi trùng cao.. Tổng công suất cấp nước của TP.HCM hiện nay vào khoảng
MỞ ĐẦ U
Gi ớ i thi ệ u chung
Trong giai đoạn ngày nay, Việt Nam từng bước đi lên, phát triển thành nước công nghiệp nên nhu cầu dùng nước của con người ngày một tăng dần
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những thành phố lớn và đông dân nhất Việt Nam, đồng thời là trung tâm công nghiệp, thương mại và dịch vụ hàng đầu của cả nước Với vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, TP Hồ Chí Minh đóng góp khoảng 30% ngân sách quốc gia.
Trong những năm gần đây, TP.HCM đã phát triển kinh tế mạnh mẽ và đồng thời phải đối mặt với sự bùng nổ dân số Sự gia tăng nhanh của dân số và quy mô kinh tế đã vượt quá tốc độ phát triển và nâng cấp các cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống cấp nước Hệ thống cấp nước thành phố đang chịu áp lực lớn khi nhu cầu sử dụng tăng lên mà nguồn cung chưa kịp theo, gây ảnh hưởng đến chất lượng sống và hoạt động của doanh nghiệp Để đảm bảo cấp nước an toàn, liên tục cho người dân và thúc đẩy tăng trưởng bền vững, TP.HCM cần đầu tư và cải thiện hạ tầng cấp nước một cách đồng bộ.
Hiện nay, hệ thống cấp nước của TP.HCM chỉ bao phủ nội thành, phần lớn vùng ngoại thành chưa có hệ thống cấp nước sinh hoạt Ngay cả ở nội thành, nguồn nước thỉnh thoảng bị gián đoạn, áp lực nước nhiều nơi rất yếu và nhiều khu vực còn thiếu nước nghiêm trọng Tổng công suất cấp nước của TP.HCM hiện khoảng 1.260.000 m3/ngày, trong khi nhu cầu cấp nước đến năm 2010 được dự báo lên tới 2.400.000 m3/ngày, cho thấy khoảng cách giữa cung cấp và nhu cầu vẫn còn lớn.
Việc xây dựng thêm hệ thống cấp nước bằng nguồn vốn từ các doanh nghiệp là cần thiết để tăng nguồn nước sạch phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của TP.HCM Việc này đồng thời thực hiện chủ trương xã hội hóa dịch vụ cấp nước sạch, mở rộng nguồn vốn đầu tư và nâng cao hiệu quả cung cấp nước cho người dân và doanh nghiệp.
/ngày Một số dự án về cấp nước đang được triển khai nhưng tiến độ thực hiện rất chậm.
M ụ c tiêu c ủa đề tài
Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu, đánh giá và lựa chọn phương án tối ưu để thiết kế và xây dựng nhà máy cấp nước nhằm tăng nguồn nước sạch, đáp ứng nhu cầu dùng nước của TP.HCM đến năm 2010; đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của thành phố và thực hiện chủ trương xã hội hóa dịch vụ cấp nước sạch.
N ội dung và phương pháp thự c hi ệ n lu ận văn
• Phương pháp tổng hợp và xử lý các số liệu liên quan
• Thu thập số liệu về khu vực: địa chất, bản đồ quy hoạch, dân số
• Thu thập số liệu về chất lượng nước tại khu vực khảo sát và vị trí đặt công trình thu nước cho trạm xử lý
• Đề xuất phương án xử lý nước
• Tính toán từng công trình trong trạm xử lý
• Lập dự toán tổng chi phí đầu tư, tính toán giá thành xử lý 1 m 3
• Vẽ chi tiết: mặt bằng, mặt cắt dọc theo nước, các công trình đơn vị nước
TỔ NG QUAN V Ề ĐIỀ U KI Ệ N T Ự NHIÊN, KINH T Ế - XÃ H Ộ I
Điề u ki ệ n t ự nhiên
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, văn hóa và giao thông của khu vực phía Nam, nằm ở ngã ba sông và có hình dạng kéo dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Chiều dài của thành phố từ Tây Bắc xuống Đông Nam là khoảng 102 km, còn chiều rộng từ Đông sang Tây là khoảng 75 km, cho thấy quy mô đô thị lớn và sự đa dạng về cảnh quan, dân cư và hoạt động kinh tế.
- Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở tọa độ 10 o 50’ – 11 o 10’ vĩ đ ộ Bắc; 106 o 22’ –
- Phía Đông Bắc giáp tỉnh Bình Dương và tỉnh Đồng Nai;
- Phía Đông giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
- Phía Nam giáp biển Đông;
- Tây Nam và Tây giáp tỉnh Long An, tỉnh Tiền Giang;
- Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh
Diện tích TP.HCM khoảng 2.095 km 2 , trong đó nội thành 140 km 2
Địa hình TP.HCM phần lớn bằng phẳng, có ít đồi núi ở phía Bắc và Đông Bắc với độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Nam – Tây Nam Phía Tây Bắc là đất đồi, Đông Nam là đồng bằng với hệ thống kênh rạch chằng chịt Địa hình thành phố có thể chia thành các dạng.
Đất gò cao lượn sóng có độ cao dao động từ 4 đến 32 mét, trong đó 4–10 mét chiếm 19% diện tích và trên 10 mét chiếm 11%; phân bố của dạng đất này chủ yếu tại các huyện Củ Chi và Hóc Môn, một phần diện tích còn lại tập trung ở Thủ Đức và Bình Chánh.
Đất bằng thấp, cao độ từ 2 đến 4 m, có điều kiện tiêu thoát nước thuận lợi, phân bố chủ yếu ở nội thành và tại các khu vực Thủ Đức và Hóc Môn nằm dọc theo sông Sài Gòn và Nam Bình Chánh, chiếm khoảng 15% diện tích Đặc điểm này làm cho khu vực dễ dàng đáp ứng nhu cầu phát triển đô thị và hạ tầng, đồng thời cho thấy vai trò của hệ thống sông ngòi và vùng ven sông trong quy hoạch đất đai thành phố.
Vùng đất thấp trũng, đầm lầy phía Tây Nam có cao độ phổ biến từ 1–2 mét, phân bố dọc theo kênh An Hạ, Lê Minh Xuân, Tân Nhựt, Tam Tân và Thái Mỹ Khu vực này kéo dài từ các huyện Bình Chánh đến Củ Chi, và có mặt ở khu vực trung tâm huyện Nhà Bè, Bưng Sáu Xã thuộc Thủ Đức và phía bắc Cần Giờ Ước tính diện tích chiếm khoảng 34% diện tích đất của khu vực, cho thấy đầm lầy Tây Nam ảnh hưởng đáng kể đến cấu hình địa hình và phát triển vùng.
- Dạng trũng thấp mới hình thành ven biển, cao độ phổ biến 0 – 1m, đa số chịu ảnh hưởng của thủy triều hàng ngày, chiếm diện tích 21%
Nhìn chung, toàn khu vực có pH đất ở mức thấp Các vùng đất cao trên 4 m có pH trung bình khoảng 5, trong khi các vùng đất trũng có pH dưới 5 và chịu nhiễm chua mặn nghiêm trọng Phân bố đất ở khu vực này như sau: đất phèn chua mặn chiếm 40%, đất xám phát triển trên phù sa cũ chiếm 19,3%, đất mặn chiếm 12,2%, đất cồn cát bãi biển 3,2%, đất phù sa nước ngọt 2,6%, và đất khác cùng sông rạch chiếm 22,7%.
Thành phố Hồ Chí Minh có hệ thống sông rạch chằng chịt, chiều dài 7.955 km
Diện tích mặt nước chiếm 16% tổng diện tích toàn thành phố, mật độ dòng chảy trung bình 3,8 km/km 2
Hệ thống sông rạch bao gồm sông Đồng Nai và sông Sài Gòn là lớn nhất ở Đông Nam Bộ, chảy qua TP.HCM và gắn với nhiều kênh rạch Thành phố có 15 km bờ biển và chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều quanh năm, nước mặn xâm nhập sâu vào khu vực nội thành Nhà Bè – Thủ Đức Nước ngầm ở độ sâu trên 100 m có pH trung bình khoảng 5,5, chứa ion sắt và có vùng bị nhiễm mặn.
Ngoài phần đồi gò chiếm 10% và đồng bằng cao 35%, phần diện tích còn lại 55% là vùng trũng thấp Vùng trũng thấp gặp nhiều thách thức trong công tác chuẩn bị kỹ thuật đất đai do mực nước ngầm ở mức nông, thoát nước khó khăn, nền địa chất yếu và khối lượng đất đắp lớn đòi hỏi san nền.
Thành phố nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau và mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 Độ ẩm trung bình hàng năm khoảng 77,5%, tạo nên bầu không khí ẩm và dễ chịu Nhiệt độ trung bình hàng năm dao động từ 25–27°C, với mức cao nhất có thể lên tới 39–40°C trong những ngày nóng đỉnh điểm.
Lượng bức xạ dồi dào, trung bình khoảng 140 Kcal/cm
Vào cuối mùa khô, biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng trong năm ở mức thấp Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng và phát triển quanh năm của động thực vật.
TP.HCM nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của hai hướng gió mùa chính: từ biển Đông thổi theo hướng Đông Nam - Tây Bắc, gió mùa này mạnh nhất từ tháng 2 đến tháng 4; và từ Ấn Độ Dương thổi về theo hướng Tây Nam - Đông Bắc, mạnh nhất từ tháng 6 đến tháng 10 Ngoài ra, gió từ phía Bắc cũng xuất hiện và thịnh hành vào các tháng 11, 12 và 1.
/năm; nắng trung bình 6,8 giờ/ngày
Lượng mưa bình quân 1.949 mm, ngày mưa lớn nhất 177 mm Lượng mưa tập trung chủ yếu từtháng 5 đến tháng 11, lớn nhất thường xảy ra vào tháng 9 hoặc tháng
10 Tổng diện tích thảm xanh 36.000 ha và che phủ 17% diện tích tự nhiên
Nhìn chung, đặc điểm khí hậu TP.HCM rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, bởi nhiệt độ ấm áp, độ ẩm cao và lượng mưa phân bố tương đối ổn định, tạo điều kiện cho các vụ mùa quanh năm Điều này đặc biệt thể hiện ở khả năng phát triển của các loại cây trồng đặc sản nhiệt đới có năng suất cao, giúp nông dân tối ưu hóa sản lượng và giá trị nông sản của thành phố.
B ả ng 2.1: Các điề u ki ệ n khí h ậ u ở Thành ph ố H ồ Chí Minh
(Tr ạm khí tượ ng th ủy văn Tân Sơn Nhấ t)
Số giờ có ánh sáng mặt trời
Điề u ki ệ n kinh t ế - xã h ộ i
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm văn hóa và kinh tế phát triển hàng đầu, với hệ thống cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh và nguồn nhân lực dồi dào Đồng thời, đây cũng là trung tâm công nghiệp lớn nhất phía Nam.
Về kinh tế TP.HCM phát triển khá nhanh và liên tục, đặc biệt từcác năm đổi mới
Trong 5 năm (1995 – 1999) GDP tăng bìn h quân 10,5%/năm; từ năm 2000 – 2002 tăng bình quân 9,6% GDP bình quân đ ầu người từ 990 USD (1999) lên 1558 USD vào năm 2002 Phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao đã tạo ra mức đóng góp
Nămố nộỷđồng, chiếm ếm 1/3 tổng kim ngạch của cảnướếm
TP.HCM chiếm tới 20% của cả nước về ngành công nghiệp Trong giai đoạn 1997-2007, ngành công nghiệp TP.HCM có tốc độ tăng trưởng hàng năm bình quân trên 13% Đến năm 2007, TP.HCM có trên 38.000 cơ sở sản xuất công nghiệp, tăng 35,9% so với năm 2000.
Có thể nói thành phố là hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN) và là trung tâm của khu vực Nam Bộ Với vai trò này, thành phố đóng góp 66,1% GDP cho vùng KTTĐPN và chiếm tới 30% tổng GDP của cả khu vực Nam Bộ.
Về thương mại, TP là trung tâm xuất nhập khẩu lớn nhất cả nước và ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn đạt 12,4 tỷ USD, tăng 26,1% so với năm 2004; nếu bỏ qua dầu thô, kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng 17% Trong cơ cấu kinh tế, khu vực trong nước tăng 28,5% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 23,5% Tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 21,1%, và nếu loại bỏ biến động giá thì tăng 11,4% Cơ sở vật chất ngành thương mại được tăng cường với khoảng 400 chợ bán lẻ, 81 siêu thị, 18 trung tâm thương mại và 3 chợ đầu mối Khu vực dịch vụ tăng trưởng vượt kế hoạch, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất - kinh doanh và đời sống dân cư. -**Support Pollinations.AI:**🌸 **Quảng cáo** 🌸 Đừng bỏ lỡ [Pollinations.AI](https://pollinations.ai/redirect/kofi) để tối ưu nội dung SEO và nâng cao chất lượng bài viết của bạn!
Hạ tầng kỹ thuật đô thị có quy mô lớn so với các đô thị khác, nhưng vẫn thiếu và xuống cấp nghiêm trọng do thiếu sửa chữa và duy tu bảo dưỡng định kỳ Các lĩnh vực then chốt như giao thông vận tải, cấp nước, thoát nước và chiếu sáng bị hư hỏng, xuống cấp, thường xuyên quá tải và ùn tắc Việc cấp điện và cấp nước chưa đáp ứng được yêu cầu về cả số lượng lẫn chất lượng Hệ thống cấp nước và xử lý chất thải cũ kỹ, không đồng bộ và quản lý yếu kém dẫn đến hư hỏng và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Dân s ố hi ệ n nay ở TP.HCM
Theo thống kê chính thức năm 2006, dân số của thành phố lớn nhất Việt Nam ước đạt khoảng 6,43 triệu người, tăng so với 6,24 triệu người năm 2005 Tuy nhiên, có khoảng 8 triệu người đăng ký hộ khẩu tại thành phố này và số dân có mặt thường cao hơn do thêm khoảng 2 triệu người ngoại tỉnh đến làm ăn theo mùa vụ.
Tỷ lệtăng dân số tự nhiên có xu hướng giảm từ1,27% năm 2002 còn 1,2% năm
2004 và 1,15% năm 2005 Nhìn chung nhịp độ tăng dân số nội thành cao hơn ngoại thành, dân số khu vực phi nông nghiệp tăng nhanh hơn khu vực nông nghiệp Điều đó cho thấy xu hướng di dân tiếp tục diễn tiến vào nội thành, quá trình đô th ị hóa ở khu vực vùng ven khá nhanh
Mật độ bình quân khoảng 3.067 người/km 2 , trong đó nội thành là 10.905 người/km 2 , ngoại thành: 648 người/km 2 Về nguồn lao động do mức sinh giảm, tỷ lệ số người trong độ tuổi lao động so với tổng dân sốđã có xu hướng tăng
PHÂN TÍCH NHU C Ầ U C ẤP NƯỚ C C Ủ A TP.HCM
Hi ệ n tr ạ ng h ệ th ố ng c ấp nướ c thành ph ố
3.1.1 Hi ệ n tr ạ ng ngu ồ n cung c ấp nướ c:
Hệ thống cấp nước của TP.HCM được xây dựng qua nhiều thời kỳ và phát triển dần theo nhịp độ phát triển của thành phố
Nguồn cấp nước cho TP.HCM hiện nay bao gồm nước ngầm và nước mặt
Nguồn nước mặt chủ yếu vẫn dựa vào nguồn nước sông Đồng Nai, gồm trạm bơm nước thô và Nhà máy nước ThủĐức nằm ởphía Đông Bắc Thành phố
Nguồn nước ngầm được khai thác ở mức độ đủ để đáp ứng một phần nhu cầu cấp nước cho khu vực, giúp giảm áp lực lên các nguồn nước khác Bao gồm Nhà máy nước ngầm Hóc Môn (phía Tây của thành phố), hệ thống này đóng vai trò là nguồn nước dự phòng quan trọng, bổ sung nước cho khu vực phía Tây và góp phần đảm bảo cấp nước ổn định cho người dân và doanh nghiệp.
Nhà máy nước Bình TrịĐông và các hệ thống giếng lẻ trong nội, ngoại thành
Công suất cấp nước hiện tại như sau:
- Nhà máy nước Bình An 100.000 m
- Nhà máy nước ngầm Hóc Môn 50.000 m
- Nhà máy nước Tân Hiệp 300.000 m
- Nhà máy nước ngầm Bình TrịĐông 10.000 m
- Nhà máy nước Gò Vấp 10.000 m
- Các giếng lẻ nội thành 40.000 m
Tổng lượng nước do các công trình cấp nước đang sản xuất hiện nay khoảng 1.260.000 m
Nguồn nước trên địa bàn thành phố hiện nay đã được khai thác từ nguồn nước mặt khoảng 1.000.000 m
Sau khi trừ lượng nước thất thoát và nước cấp cho công nghiệp, kinh doanh, lượng nước còn lại cấp cho các hộ dân là khoảng 85 lít/người/ngày Lượng nước này không đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu dùng nước sinh hoạt của hộ dân, bao gồm ăn uống, nấu nướng, tắm giặt và vệ sinh.
Khối lượng khai thác nước hàng ngày gồm ba nguồn: khoảng 850.000 m3/ngày từ sông Đồng Nai, 200.000 m3/ngày từ sông Sài Gòn, và trên 500.000 m3/ngày từ nguồn nước ngầm, trong đó 300.000 m3/ngày dùng cho sản xuất và 200.000 m3/ngày cho sinh hoạt.
3.1.2 Hi ệ n tr ạ ng m ạng lướ i:
Mạng lưới cấp nước TP.HCM hình thành từ năm 1879 và phát triển theo quá trình đô thị hóa Năm 1966, Nhà máy nước Thủ Đức được đưa vào vận hành với công suất 480.000 m³/ngày, đồng thời lắp đặt đường ống chuyển tải mới có đường kính lớn, tạo nền tảng cho cấp nước ổn định cho thành phố Từ đó đến nay, mạng lưới cấp nước được cải tạo và mở rộng dần để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người dân và sự phát triển của đô thị.
Khối lượng đường ống của Công ty cấp nước thành phố đang quản lý cho ở Ph ụ l ụ c 2 (trích quy hoạch tổng thể cấp nước TP.HCM)
3.1.3 Các d ự án c ấp nước đang thự c hi ệ n:
• Các dự án về nguồn cấp nước
* Dự án cấp nước sông Sài Gòn giai đoạn 2:
Dựán này đang ở bước lập Báo cáo khả thi, dự kiến sẽ nâng công suất của Nhà máy nước sông Sài Gòn lên 600.000 m 3
/ngày Tuy nhiên do nguồn nước sông Sài Gòn bị mặn, đang bị ô nhiễm nên hiện nay dự án này chưa triển khai tiếp
Dự án này được đầu tư theo hình thức BOO bởi một nhóm công ty trong nước, thay thế cho dự án của Công ty SUEZ Lyonnaise Des Eaux, với tổng vốn đầu tư khoảng 100 triệu USD.
- Nội dung của dự án
+ Xây dựng một trạm bơm nước thô tại Hóa An – tỉnh Đồng Nai Công suất 315.000 m 3
+ Xây dựng nhà máy xử lý tại ThủĐức công suất 300.000 m
+ Xây dựng tuyến ống chuyển tải 25,7km, φ900 ÷ φ2000 từ ThủĐức về Nhà Bè
* Dự án Nhà máy nước ngầm Bình Hưng:
- Nội dung dự án: xây dựng một nhà máy nước ngầm công suất 15.000 m 3
• Các dự án về mạng:
Công ty cấp nước Thành phố cung cấp nước cho TP.HCM theo phương thức bán sỉ qua đồng hồ tổng, nhằm phục vụ các dự án BOO Thủ Đức và Nhà máy nước sông Sài Gòn giai đoạn 2 Hiện nay công ty đã và đang xây dựng mạng lưới chuyển tải và phân phối nước trên địa bàn TP.HCM thông qua 16 dự án, nhằm đảm bảo nguồn nước ổn định và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thành phố.
- Dự án xây dựng mạng quận 12 và Gò Vấp
- Dự án xây dựng tuyến ống An Sương – Bà Hom
- Dự án xây dựng mạng Tây Nam Bình Chánh
- Dự án xây dựng mạng cấp 1 Tây Thạnh – Cầu Tre – Tân Hòa Đông.
- Dự án xây dựng mạng cấp 2, 3 phường 9, 10, 17, 19 quận Tân Bình
- Dự án xây dựng mạng phân phối khu vực quận 6
- Dự án xây dựng mạng phân phối khu vực phường 11, 12, 13, 14 quận Tân Bình
- Dự án xây dựng mạng phân phối khu vực phường 15, 16, 18, 20 quận Tân Bình, Tây Bình Chánh
- Dự án xây dựng mạng phân phối khu vực quận 8
- Dự án xây dựng tuyến ống cấp 1 Cách Mạng Tháng Tám – Cộng Hòa
- Dự án xây dựng tuyến ống cấp 1, 2 khu vực quận 2
- Dự án xây dựng tuyến ống cấp 1, 2 khu vực quận 4, 7, 8, Nhà Bè
- Dự án xây dựng tuyến ống cấp 1 Bình Thái – Bình Lợi
- Dự án xây dựng tuyến ống cấp 1, 2 khu vực Bình Thạnh, Gò Vấp, Phú Nhuận, Tân Bình và quận 10
- Dự án xây dựng tuyến ống cấp 1, 2 khu vực quận ThủĐức
- Dự án xây dựng tuyến ống nối 2 nhà máy (Nhà máy ThủĐức và Nhà máy BOO)
Tổng vốn đầu tư của 16 dự án trên vào khoảng 1.740 tỷ đồng, từ nguồn vốn vay kích cầu, vốn vay thương mại.
Nhu c ầu dùng nướ c c ủa TP.HCM đến năm 2010
• Nhu cầu dùng nước sinh hoạt:
- Nhu cầu dùng nước sinh hoạt được tính trên cơ sở tiêu chuẩn dùng nước, phần trăm dân được cấp nước và người dùng nước
- Tiêu chuẩn dùng nước và % dân được cấp nước (theo quy hoạch tổng thể cấp nước TP.HCM đã được phê duyệt) (xem bảng Ph ụ l ụ c 4 )
B ả ng 3.1 : Nhu c ầu dùng nướ c sinh ho ạ t
III Các huy ệ n ngo ạ i thành
• Nhu cầu cấp nước công nghiệp tập trung và các nhu cầu cấp nước khác:
- Nhu cầu cấp nước cho khu công nghiệp tập trung được tính 50 m 3
- Nhu cầu cấp nước cho các cơ sở tiểu thủ công nghiệp: 10 l/người-ngày theo dân số thành phố
- Nước cấp cho dịch vụ công cộng: tính với tiêu chuẩn 20 l/người-ngày theo dân số thành phố
- Nước cấp cho các cơ sở thương mại, kho hàng: tính với tiêu chuẩn 15 l/người- ngày theo dân số thành phố
B ả ng 3.2: Nhu c ầ u c ấp nướ c cho công nghi ệ p và các nhu c ầ u c ấp nướ c khác
Loại nhu cầu dùng nước
2 Tiểu thủ công nghiệp 10 l/ng- ngày 7.880.000ng 78.800 9,5tr-ng 95.000
3 Dịch vụ công cộng 20 l/ng- ngày 7.880.000ng 157.600 9,5tr-ng 190.000
4 Thương mại 15 l/ng- ngày 7.880.000ng 118.200 9,5tr-ng 142.000
• Tổng nhu cầu dùng nước: Theo quy hoạch tổng thể cấp nước được duyệt
B ả ng 3.3: T ổ ng nhu c ầu dùng nướ c trung bình:
B ả ng 3.4: T ổ ng nhu c ầu ngày dùng nướ c nhi ề u nh ấ t
( Không tính lượng nước dùng cho huyện Củ Chi)
Năm Theo quy hoạch được duyệt (m 3 /ngày) Theo quy hoạch điều chỉnh
Nhu cầu dùng nước trên đã tính cả lượng nước thất thoát trên mạng là 26% năm
Để ước tính lượng nước dùng cho mục đích dân dụng, hệ số không điều hòa theo ngày (ký hiệu K ngày) được đặt với giá trị bằng 1,1 Giá trị này dùng để tính lượng nước tiêu thụ cho các mục đích dân dụng và bỏ qua nước dành cho các khu công nghiệp tập trung.
S ự c ầ n thi ế t ph ả i xây d ựng nhà máy nướ c
Phân tích tình hình kinh tế - xã hội và thực trạng hệ thống cấp nước ở TP.HCM cho thấy hệ thống cấp nước hiện tại chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu dùng nước tại thời điểm hiện tại và sẽ khó có thể đáp ứng nhu cầu cho tương lai Vì vậy, xây dựng nhà máy xử lý nước sẽ giảm thiểu tình trạng thiếu nước sạch đang diễn ra nghiêm trọng trên địa bàn, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố và nâng cao sức khỏe của người dân.
Biện pháp này đồng thời làm giảm đáng kể việc khai thác nước ngầm hiện nay, từ đó giảm áp lực lên nguồn nước dưới đất và ngăn ngừa nguy cơ ô nhiễm Việc bảo vệ nguồn nước ngầm giúp duy trì chất lượng nước và đảm bảo nguồn dự trữ chiến lược của thành phố cho tương lai Nhờ đó, nguồn nước ngầm có thể trở thành một nguồn dự trữ chiến lược vững chắc, đáp ứng nhu cầu cấp nước và công tác an ninh nước của thành phố khi cần thiết.
Chính những vấn đề trên, việc xây dựng thêm nhà máy xử lý nước là điều rất cần thiết.
Xác đị nh công su ấ t c ủ a nhà máy
3.4.1 Công su ất phát nướ c:
Lượng nước cấp bổ sung cho TP.HCM
So với nhu cầu nước theo quy hoạch của TP.HCM đến năm 2010, cần bổ sung thêm 1.060.000 m³ (tính từ 2.320.000 trừ đi 1.260.000) Đến năm 2010, nếu các dự án Nhà máy nước sông Sài Gòn giai đoạn II tăng thêm 300.000 m³, nguồn cung sẽ được mở rộng tương ứng để đáp ứng nhu cầu nước của TP.HCM.
Theo quy hoạch cấp nước, công suất phát nước của TP.HCM được tăng lên nhờ bổ sung cho các nhà máy: Nhà máy nước Thủ Đức tăng thêm 300.000 m3/ngày, Nhà máy nước ngầm Hóc Môn tăng 85.000 m3/ngày, và Nhà máy BOO Thủ Đức tăng 300.000 m3/ngày; đồng thời khai thác thêm 150.000 m3/ngày từ hệ thống giếng lẻ của Kênh Đông Tổng công suất phát nước ước đạt 2,35 triệu m3/ngày, đáp ứng nhu cầu dùng nước của thành phố đến năm 2010; theo tính toán, nhu cầu năm 2010 là khoảng 2,32 triệu m3/ngày.
Lượng nước cấp cho khu công nghiệp:
B ả ng 3.5: Nhu c ầu dùng nướ c công nghi ệ p
Nhu cầu (m 3 /ngày) KCN Đức Hòa 3 700 50.000 700 50.000
Quy mô các khu công nghiệp năm 2020 được xác định căn cứ vào quy hoạch tổng thể của huyện Củ Chi, đảm bảo tính nhất quán với định hướng phát triển khu vực Riêng KCN Tân Phú Trung được xác định theo quy hoạch đang điều chỉnh, phản ánh các điều chỉnh về diện tích và cơ sở hạ tầng để đáp ứng yêu cầu hiện tại.
- Quy mô các KCN vào năm 2010 là số liệu tính tạm
- Nhu cầu của KCN Đức Hòa 3 được tạm tính theo tình hình thực tế
B ả ng 3.6: T ổ ng h ợ p nhu c ầu dùng nướ c c ủa nhà máy nướ c:
Cấp cho trung tâm thành phố 150.000 150.000
Nước cho các khu công nghiệp 65.000 77.000
Tổng cộng (công suất phát nước) 215.000 227.000
Dựa trên nhu cầu dùng nước đã tính ở phần trên và do hạn chế khả năng khai thác trên Kênh N46, công suất thiết kế của Nhà máy nước Kênh Đông được xác định nhằm đáp ứng đúng mức nhu cầu nước và tối ưu hóa hiệu quả khai thác nguồn nước, đồng thời bảo đảm vận hành ổn định và bền vững.
3.4.2 Nhu c ầu khai thác nướ c thô:
Kênh N46 dự kiến được khai thác để cấp cho Nhà máy nước Kênh Đông phục vụ cho:
- KCN Tân Phú Trung, KCN Đức Hòa 3 với lưu lượng khoảng 50.000 (m 3
- Nhu cầu dùng nước của TP.HCM với lưu lượng 150.000 (m
- Nhu cầu dùng nước của bản thân nhà máy là khoảng 5%Q = 10.000 (m
- Lượng nước thấm, bay hơi của hồ chứa vào khoảng 10%Q = 20.000 (m
Như vậy, công suất khai thác nước thô là:
PHÂN TÍCH – L Ự A CH Ọ N NGU ỒN NƯỚ C
Đặc trưng và các chỉ tiêu v ề ch ất lượng nướ c
4.1.1 Đặc trưng: Để cung cấp nước sạch, có thể khai thác từ các nguồn nước thiên nhiên là nước mặt, nước ngầm và nước biển
Nước mặt bao gồm các nguồn nước từ hồ chứa, sông và suối Do sự kết hợp của các dòng chảy trên bề mặt và sự tiếp xúc thường xuyên với không khí nên đặc trưng của nước mặt là sự biến động về nhiệt độ theo mùa, lưu lượng và mực nước thay đổi theo thời tiết, độ đục và nồng độ chất hữu cơ có thể dao động, oxy hòa tan phụ thuộc vào vận động nước và mức độ khuếch tán khí, pH ở mức trung tính đến nhẹ kiềm và chứa các chất dinh dưỡng như nitrat và photpho từ đất và các hoạt động của con người, dễ bị ô nhiễm do chất thải và các hợp chất từ nguồn xả thải và dòng chảy bề mặt.
- Chứa khí hòa tan, đặc biệt là oxy;
- Chứa nhiều chất rắn lơ lửng (riêng nước hồ thì chứa ít chất rắn lơ lửng và chủ yếu là dạng keo);
- Có hàm lượng chất hữu cơ cao;
- Có sự hiện diện của nhiều loại tảo
Nước ngầm được khai thác từ các tầng chứa nước dưới đất, và chất lượng phụ thuộc vào cấu trúc địa tầng mà nước thấm qua Do vậy, nước chảy qua các địa tầng chứa cát hoặc granit thường có tính axit và chứa ít chất khoáng Khi chảy qua các địa tầng chứa vôi, nước thường có độ kiềm và bicacbonat khá cao Các đặc trưng chung của nước ngầm liên quan đến thành phần khoáng, độ pH và độ kiềm, ảnh hưởng đến khả năng sử dụng nước cho sinh hoạt và sản xuất.
- Nhiệt độ và thành phần hóa học tương đối ổn định
- Không có oxy, nhưng có thể chứa nhiều khí H 2 S, CO 2
- Chứa nhiều chất khoáng hòa tan, đáng kểđến là sắt, mangan, flo
- Không có sự hiện diện của vi sinh vật
Nước biển có độ mặn cao và nồng độ muối thay đổi tùy theo vị trí địa lý, như khu cửa sông, gần bờ hoặc xa bờ Ngoài ra, nước biển chứa nhiều chất lơ lửng, chủ yếu là phiêu sinh động và thực vật phù du, đóng vai trò quan trọng trong chu trình dinh dưỡng và sự đa dạng sinh học của biển.
4.1.2 Các ch ỉ tiêu v ề ch ất lượng nướ c:
Nhiệt độ của nước là đại lượng phụ thuộc vào điều kiện môi trường và khí hậu
Nhiệt độ của nước có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình xử lý nước Sựthay đổi nhiệt độ của nước phụ thuộc vào từng nguồn nước
Nhiệt độ nước mặt biến đổi rất lớn, từ 4–40°C, phụ thuộc vào thời tiết và độ sâu nguồn nước; nước ngầm có nhiệt độ tương đối ổn định, khoảng 17–27°C Độ màu nước bị ảnh hưởng bởi các chất ô nhiễm và các hợp chất hữu cơ: các hợp chất sắt và mangan không hòa tan làm nước có màu nâu đỏ, chất mùn humic gây màu vàng, tảo và sinh vật thủy sinh tạo màu xanh lá Nước bị nhiễm bẩn bởi nước thải sinh hoạt hay công nghiệp thường có màu xanh hoặc đen Đơn vị đo độ màu phổ biến là Pt-Co, và nước thiên nhiên có độ màu thấp hơn 200 Pt-Co Độ màu hiển thị (độ màu quan sát được) thường do các chất lơ lửng tạo ra và có thể loại bỏ dễ dàng bằng lọc; để loại bỏ màu thực sự do các chất hòa tan cần biện pháp hóa lý kết hợp Độ đục cũng là chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá chất lượng nước.
Nước là môi trường truyền ánh sáng tốt, nhưng khi chứa các chất lơ lửng như chất huyền phù, các hạt cặn đất đá và vi sinh vật, khả năng truyền sáng sẽ giảm đi đáng kể Độ đục của nước càng cao chứng tỏ càng nhiều cặn bẩn và tạp chất; đơn vị đo độ đục gồm mg/L SiO2, NTU và FTU, trong đó NTU và FTU tương đương nhau Nước dùng ăn uống thường có độ đục không vượt quá 5 NTU.
Hàm lượng chất rắn lơ lửng cũng là một đại lượng liên quan đến độđục của nước
Mùi trong nước phần lớn bắt nguồn từ các hợp chất hóa học, đặc biệt là các hợp chất hữu cơ hoặc các sản phẩm từ quá trình phân hủy vật chất Nước tự nhiên có thể mang mùi đất, mùi tanh và mùi thối Sau khi diệt trùng bằng các hợp chất clo, nước có thể xuất hiện mùi clo hoặc chlorophenol do dư lượng clo và phản ứng với các thành phần hữu cơ trong nước.
Vị của nước phụ thuộc vào thành phần và hàm lượng muối khoáng hòa tan, nên nước có thể có vị mặn, ngọt, chát hoặc đắng Độ nhớt là đại lượng biểu thị lực ma sát nội giữa các lớp chất lỏng khi dòng chảy diễn ra và là yếu tố chủ đạo gây tổn thất áp suất, ảnh hưởng lớn đến quá trình xử lý nước Độ nhớt tăng khi nồng độ muối hòa tan trong nước tăng và giảm khi nhiệt độ tăng Độ dẫn điện của nước phản ánh khả năng dẫn điện của dung dịch và phụ thuộc vào sự có mặt của các ion hòa tan, là thông số quan trọng để đánh giá chất lượng nước và thiết kế hệ thống xử lý.
Nước có độ dẫn điện kém Nước tinh khiết ở 20 o
Tính chất này thường được sử dụng để đánh giả tổng hàm lượng chất khoáng hòa tan trong nước
C cú độ dẫn điện là 4,2 àS/m Độ dẫn điện của nước tăng theo hàm lượng các chất khoáng hòa tan trong nư ớc và dao động theo nhiệt độ
Phóng xạ nước là kết quả của sự phân rã các chất phóng xạ có trong nước Nước ngầm thường bị nhiễm các chất phóng xạ tự nhiên, và do thời gian bán rã của những chất này ngắn nên nước thường được xem là vô hại.
Hai thông số tổng hoạt độ phóng xạ α và β thường được dùng để xác định tính phóng xạ của nước Hạt α bao gồm 2 proton và 2 neutron có năng lượng xuyên thấu thấp nhưng có thể xâm nhập vào cơ thể sống qua đường hô hấp hoặc tiêu hóa, gây tác hại do tính ion hóa mạnh Trong khi đó, hạt β có khả năng xuyên thấu vượt trội hơn nhưng dễ bị ngăn cản bởi các lớp nước và cũng gây hại cho cơ thể khi tiếp xúc.
Xác định bằng cách cho bốc hơi 1 thể tích nước đã lọc qua giấy lọc, cặn còn lại sấy ở nhiệt độ 105 – 120 o pH:
Quá trình sấy đến trọng lượng không đổi cho biết cặn sấy khô, biểu thị hàm lượng cặn hòa tan không bay hơi có trong nước Cặn sấy khô được đặc trưng bởi nồng độ ion H+ trong nước, thể hiện qua pH = -log10[H+].
Khi pH = 7, nước có tính trung tính
] ), thường được dùng để biểu thị tính axit và tính kiềm của nước pH < 7, nước có tính axit pH > 7, nước có tính kiềm
Nước nguồn có pH thấp gây khó khăn cho quá trình xử lý nước Độ kiềm (độ kiềm toàn phần) là tổng hàm lượng các ion bicarbonat, hydroxit và anion của các muối của axit yếu khác; do hàm lượng các muối này trong nước rất nhỏ nên có thể bỏ qua Ở một nhiệt độ nhất định, độ kiềm phụ thuộc vào pH và hàm lượng CO2 tự do có trong nước, và nó ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ và hiệu quả xử lý nước Vì thế trong một số trường hợp nước nguồn có độ kiềm thấp, cần thiết phải bổ sung hóa chất để kiềm hóa nước Độ cứng của nước là đại lượng biểu thị hàm lượng các ion canxi và magiê có trong nước, và có thể phân biệt thành ba loại độ cứng.
- Độ cứng tạm thời biểu thị tổng hàm lượng các muối cacbonat và bicacbonat của canxi và magiê có trong nước
- Độ cứng vĩnh cửu biểu thị tổng hàm lượng các muối còn lại của canxi và magiê có trong nước
Độ cứng toàn phần là tổng của hai loại độ cứng được nêu ở trên Độ cứng có thể được đo bằng độ Đức, ký hiệu là o dH (1 o dH = 10 mg CaO/L nước) hoặc có thể đo bằng mgđl/L (1 mgđl/L = 2,8 o dH).
Nước có độ cứng cao gây nhiều bất tiện cho sinh hoạt và sản xuất, như giặt quần áo tốn nhiều xà phòng, nấu thức ăn lâu chín và làm giảm chất lượng sản phẩm Độ oxy hóa là một đại lượng dùng để đánh giá sơ bộ mức độ nhiễm bẩn của nguồn nước, biểu thị lượng oxy cần thiết để oxy hóa hết các hợp chất hữu cơ có trong nước.
Chất oxy hóa thường dùng để xác định chỉ tiêu này là kali permanganat Độ oxy hóa càng cao chứng tỏnước bị nhiễm bẩn và chứa nhiều vi trùng
Trong nước ngầm, sắt tồn tại chủ yếu ở dạng sắt(II) hòa tan, là các muối bicacbonat, sunfat và clorua, hoặc ở dạng keo do axit humic và keo silic tạo thành Khi tiếp xúc với oxy hoặc các chất oxy hóa, sắt(II) bị oxi hóa thành sắt(III) và kết tủa thành bông cặn Fe(OH)3 có màu nâu đỏ.
Nước mặt thường chứa sắt III ở dạng keo hữu cơ hoặc cặn huyền phù, với hàm lượng không cao Để xử lý, cần thực hiện khử sắt và khử đục bằng các công nghệ xử lý nước tiên tiến nhằm loại bỏ sắt và làm giảm độ đục của nước.
Các lo ạ i ngu ồn nướ c trong khu v ự c
Mức độ ô nhiễm của nước mưa chảy tràn phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Tình trạng vệ sinh trong khu vực;
- Khảnăng tiêu thoát nước mưa của hệ thống cống;
- Chất lượng môi trường không khí
Chất lượng nước mưa trong khu vực tương đối dồi dào nhưng chịu ảnh hưởng của khí thải từ các nhà máy, xí nghiệp và các khu công nghiệp tập trung cùng khí thải giao thông, khiến chất lượng nước mưa không được tốt Lượng mưa không đồng đều theo mùa, chỉ có từ tháng 6 đến tháng 11 trong năm, dẫn tới biến động nguồn nước mưa và đòi hỏi các biện pháp quản lý nước mưa thích hợp.
Nước mặt là dòng chảy của nước mưa, nước chảy từ các mạch lộ được tập trung lại tích đọng lại thành dòng
Nước mặt có thể kểđến nước của các dòng mặt sau:
Sông Sài Gòn khởi nguồn từ vùng Hớn Quản, chảy qua Thủ Dầu Một và TP Hồ Chí Minh, với tổng chiều dài khoảng 200 km, trong đó đoạn chảy qua địa bàn thành phố dài khoảng 80 km.
Sông Sài Gòn có độ dốc nhỏ, lòng dẫn hẹp nhưng sâu, ít khu chứa khiến thủy triều có thể xâm nhập sâu và mạnh vào khu vực nội thành; vì vậy chế độ thủy văn và thủy lực của hệ thống kênh rạch trong thành phố chịu ảnh hưởng chủ yếu từ sông Sài Gòn.
Hệ thống các chi lưu của sông Sài Gòn rất nhiều và có lưu lượng trung bình vào khoảng 54 m 3
Lưu vực của sông khoảng 4.500 km
/s Bề rộng của sông Sài Gòn tại thành phố thay đổi từ225m đến 370m và độ sâu tới 20m
Lưu lượng của sông Sài Gòn phụ thuộc rất lớn vào lượng mưa trên lưu vực sông và các công trình thủy lợi vùng thượng nguồn; trong tháng 7, lưu lượng dòng chảy dao động từ 28,31 m³/s đến 58,85 m³/s, cho thấy sự biến động mạnh do điều kiện mưa và vận hành hệ thống thủy lợi.
Với diện tích lưu vực khoảng 45.000 km 2 , lưu lượng của sông là 542 m 3
Đồng Nai là con sông chủ yếu cung cấp nước sinh hoạt cho gần 5 triệu dân của thành phố và cho hơn 8 triệu người ở vùng hạ lưu Mỗi năm, sông Đồng Nai cung cấp khoảng 15 tỷ m³ nước, phục vụ nhu cầu sinh hoạt và cấp nước cho cộng đồng trong khu vực.
Các sông, suối khác đóng vai trò bổ sung nước từ các con sông lớn như sông Nhà Bè, sông Lòng Tàu và sông Soài Rạp, cùng với hệ thống kênh rạch dài 7.880 km có diện tích mặt nước khoảng 33.500 ha, tạo thành mạng lưới thủy văn đa dạng và hỗ trợ cân bằng nguồn nước cho khu vực.
Ngoài trục các sông chính kể trên, thành phố còn có mạng lưới kênh rạch chằng chịt, điển hình như hệ thống sông Sài Gòn với các rạch Láng The, Bàu Nông, Rạch Tra, tạo nên bản đồ thoát nước và cảnh quan thủy văn đặc trưng Mạng lưới kênh rạch này vừa đảm bảo công tác thoát nước và điều hòa nguồn nước, vừa mở ra cơ hội phát triển du lịch sinh thái và giao thương ven sông, góp phần làm nên diện mạo đô thị xanh, bền vững.
TP Hồ Chí Minh có mạng lưới kênh rạch đa dạng, nổi bật với các tuyến như Bến Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm, Kênh Tẻ, Tàu Hũ và Kênh Đôi Phía Nam thành phố thuộc các huyện Nhà Bè và Cần Giờ có mật độ kênh rạch dày đặc, tạo thành hệ thống thoát nước và giao thông thủy phong phú cho khu vực này Bên cạnh đó, hệ thống kênh cấp 3-4 của Kênh Đông - Củ Chi bổ sung mạng lưới kênh rạch, tăng khả năng kết nối và phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực này.
Nước ngầm cũng tham gia một vai trò đáng kể trong việc phát triển kinh tế xã hội ở TP.HCM
Nước ngầm phân bố khá rộng trên phạm vi địa lý, nhưng bị nhiễm mặn nên khả năng khai thác và sử dụng bị hạn chế Nước ngầm ngọt phân bố chủ yếu ở các tầng chứa nước Pleitoxen ở độ sâu nhất định, nơi chất lượng nước phù hợp cho khai thác nếu được quản lý và bảo vệ đúng cách.
Trang 25 sâu 100 - 300m trong đó có nơi 20 - 50 m; phổ biến ở phía Bắc, các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Bắc Bình Chánh, các quận Tân Bình, Gò Vấp trữ lượng khai thác ước tính
Các đơn vị chứa nước dưới đất bao gồm Phức hệ chứa nước Holocen, Tầng chứa nước Pleistocen, Tầng chứa nước Pliocen sớm, Tầng chứa nước Pliocen muộn và nước trong khe nứt của đá gốc Jura muộn Kreta sớm Trong số năm tầng chứa nước này, chỉ có ba tầng có ý nghĩa khai thác lớn là Pleistocen, Pliocen sớm và Pliocen muộn.
Tổng trữ lượng nước dưới đất tính theo phương pháp cân bằng là: 2.510.015 m 3
B ả ng 4.1: Tính tr ữ lượ ng nước dưới đấ t b ằng phương pháp c ân b ằ ng
Các thành phần trong trữ lượng cân bằng
Tầng chứa nước Pleisocen trên (m
Tầng chứa nước Pleisocen dưới (m
2 Cung cấp từ Kênh Đông 156.750
4 Cung cấp từ ranh giới vùng 22.540 181.166 102.983
L ự a ch ọ n ngu ồ n nướ c
4.3.1 Ưu khuyết điể m c ủ a t ừ ng lo ạ i ngu ồn nướ c:
So với nước mặt, nước ngầm có các ưu - khuyết điểm: Ưu điểm:
Nước ngầm là nguồn tài nguyên nước ít chịu tác động của các yếu tố khí hậu, đặc biệt là hạn hán, nhờ cơ chế tích tụ và lưu trữ dưới lòng đất Chất lượng nước ngầm thường ổn định và ít biến động theo mùa so với nước mặt, giúp đảm bảo nguồn cung nước cho sinh hoạt và sản xuất Với tính ổn định và bền vững, nước ngầm đóng vai trò quan trọng trong quản lý nguồn nước dài hạn và bảo vệ an toàn nước uống trước biến đổi khí hậu.
- Việc xây dựng các công trình xử lý tương đối đơn giản và ít tốn kém so với nước mặt.
Khai thác nước ngầm ở nhịp độ quá cao làm tăng hàm lượng muối trong nước, dẫn tới chất lượng nước ngầm suy giảm và chi phí xử lý nước trước khi đưa vào sử dụng tăng lên đáng kể Khi muối và tạp chất tích tụ, các quy trình lọc và khử muối đòi hỏi công suất và chi phí cao hơn, ảnh hưởng đến hiệu quả cấp nước và chi phí vận hành Do đó, quản lý hợp lý nhịp độ khai thác, kết hợp với công nghệ xử lý nước và bảo vệ nguồn nước ngầm, là yếu tố then chốt để duy trì chất lượng nước và tối ưu hóa chi phí cho hệ thống cấp nước.
Khai thác nước ngầm quá mức dẫn đến hạ mực nước ngầm và xâm nhập mặn, đồng thời khiến các lớp nước ngầm bị lún làm nền đất võng xuống, gây hư hại cho các công trình xây dựng trên mặt đất Hiện tượng này không những ảnh hưởng đến an toàn công trình mà còn đe dọa nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất Vì vậy cần quản lý khai thác nước ngầm một cách bền vững và áp dụng các biện pháp bảo vệ nguồn nước để giảm thiểu rủi ro lún đất, xâm nhập mặn và thiệt hại cho cơ sở hạ tầng.
Còn đối với nguồn nước mặt: Ưu điểm:
- Trữ lượng dồi dào do có hệ thống sông ngòi dày đặc
- Dễ dàng khai thác hơn
- Nguồn nước dễ bị nhiễm bẩn do nước chảy tràn trên mặt đất tràn vào hệ thống sông ngòi, do nước thải từ các nhà máy công nghiệp.
- Nếu khai thác quá mức sẽ làm ảnh hưởng đến dòng chảy của sông.
4.3.2 Đánh giá hiệ n tr ạ ng, phân tích, l ự a ch ọ n ngu ồn nướ c:
Trên địa bàn thành phố, nước ngầm đã đư ợc khai thác từ đầu thế kỷ, đến năm
Vào năm 1995, tổng lượng khai thác nước lên tới khoảng 250.000 m³/ngày, nhưng do nước bị nhiễm mặn nên hoạt động khai thác bị hạn chế Sau đó, Nhà máy nước Thủ Đức đã khai thác nước mặt từ sông Đồng Nai nên quy mô khai thác giảm dần Hiện nay, lượng khai thác duy trì khoảng 15.000–20.000 m³/ngày tại khu vực Gò Vấp, Tân Bình và một số nơi ở các quận 3, 5, Phú Nhuận Trong 4 năm gần đây, các hộ gia đình và cơ sở sản xuất nhỏ đã tự khoan khai thác khoảng 100.000 giếng.
Những giếng nước tập trung chủ yếu ở các quận Tân Bình, Gò Vấp và Bình Chánh, cho thấy phân bổ nguồn nước ngầm ở thành phố Hồ Chí Minh không đồng đều Ngoài ra, thành phố còn xây dựng một nhà máy nước ngầm tại Hóc Môn với công suất 50.000 m3/ngày, nhằm tăng cường nguồn cung nước cho người dân và hoạt động kinh doanh.
Khảo sát cho thấy nước ngầm ở khu vực Hóc Môn có mức nhiễm sắt tương đối cao, tiếp đến là huyện Thủ Đức; hiện tượng này gây ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt của người dân, từ việc sử dụng nước sinh hoạt hàng ngày đến các hoạt động vệ sinh và sản xuất nhỏ tại hộ gia đình.
/ngày đêm giải quyết một phần khó khăn vềnước sinh hoạt
Nguồn nước ngầm ở khu vực này đa phần bị nhiễm mặn, khiến công tác xử lý nước gặp nhiều khó khăn và đòi hỏi giải pháp kỹ thuật phù hợp Việc khai thác nước ngầm với quy mô lớn lại tiềm ẩn rủi ro cao cho sự ổn định của nguồn nước và có thể ảnh hưởng đến chất lượng nước khu vực lân cận Do đó, cần áp dụng các biện pháp quản lý nước ngầm kết hợp công nghệ lọc tiên tiến, giám sát chất lượng nguồn nước và cân nhắc hạn chế khai thác ở mức hợp lý để đảm bảo tính bền vững.
Hiện nay, khai thác nước ngầm vẫn diễn ra tùy tiện và thiếu quy hoạch, lâu dài sẽ ảnh hưởng đến nền móng và kết cấu công trình của thành phố Để bảo vệ sự ổn định đô thị và thúc đẩy phát triển bền vững, cần có chiến lược quy hoạch khai thác nước ngầm, đánh giá nguồn cấp nước, kiểm soát mực nước và áp dụng các biện pháp quản lý nước ngầm hiệu quả, đồng thời khuyến khích tiết kiệm nước và công nghệ tái sử dụng nước.
Nguồn nước mặt có thể khai thác bao gồm sông Đồng Nai (từ cầu Đồng Nai trở lên), sông Sài Gòn (từ ngã ba Rạch Tra trở lên) và nước từ hệ thống Kênh Đông.
Củ Chi Còn lại nước có chất lượng xấu nếu có khai thác thì đòi hỏi phải xử lý khá cao
Nguồn nước sông Sài Gòn đang ô nhiễm nghiêm trọng do nước thải từ một số khu công nghiệp trên lưu vực thải ra mà chưa được xử lý, gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nước cấp và an toàn sinh hoạt Tình trạng ô nhiễm này khiến Nhà máy nước Tân Hiệp gặp nhiều khó khăn trong vận hành và đối mặt với nguy cơ đóng cửa nếu không có giải pháp cấp bách để xử lý nước thải và cải thiện nguồn nước.
Qua khảo sát, nguồn nước của hệ thống Kênh Đông có chất lượng khá tốt và trữ lượng tương đối dồi dào (xem chương 5) Vì vậy, việc xây dựng nhà máy xử lý nước được xem là giải pháp quan trọng nhằm đảm bảo nguồn nước sạch và ổn định cho khu vực, tối ưu hóa nguồn lực nước và hỗ trợ các kế hoạch phát triển bền vững của địa phương.
Kênh Đông là rất hợp lý, góp phần cung cấp thêm nước sạch cho người dân, cho phát triển kinh tế - xã hội
Qua những phân tích trên, trong luận văn này em chọn nước Kênh Đông làm nguồn nước cấp cho khu vực TP.HCM.
L ự a ch ọ n v ị trí khai thác nướ c
Do nhu cầu khai thác nước thô khá lớn và địa bàn phục vụ rộng, việc khai thác đồng thời hai kênh N46 và N31A là cần thiết để đáp ứng nhu cầu cấp nước cho khu vực Việc kết hợp khai thác hai kênh này giúp tối ưu nguồn nước, nâng cao năng lực cung cấp nước ổn định cho sinh hoạt và sản xuất, đồng thời tăng cường quản lý nguồn nước ở khu vực được phục vụ.
- Kênh N46 được khai thác để phục vụ cấp nước cho TP.HCM và KCN Tân Phú
Việc xác định vị trí khai thác ở cuối kênh mang lại sự giảm đáng kể chi phí đầu tư Khi khai thác tại khu vực này, chi phí điện năng và chi phí lắp đặt đường ống chuyển tải sẽ giảm đáng kể, giúp tối ưu hóa tổng chi phí vận hành và rút ngắn thời gian hoàn vốn Đây là yếu tố then chốt cho hiệu quả tài chính của dự án khai thác, cải thiện biên lợi nhuận và tính khả thi của hệ thống truyền tải.
Chất lượng nước trên Kênh N46 biến đổi không đáng kể giữa đầu kênh và cuối kênh nhờ kênh được bê tông hóa Mực nước trong kênh cao hơn mặt đất xung quanh nên nước từ đồng ruộng không thể chảy ngược vào kênh Tuy nhiên chi phí bảo vệ kênh sẽ tăng lên, nhưng so với chi phí lắp đặt đường ống chuyển tải thì chi phí này không đáng kể.
- Dựa trên các thông số thiết kế của kênh, để có thể khai thác an toàn lưu lượng
Đề xuất khai thác nước thô từ Kênh N46 trước cống tại vị trí K8+740, với đường ống chuyển tải ngắn nhất nhằm tối ưu chi phí và giảm tổn thất Lưu lượng khai thác dự kiến là 2,43 m³/s (210.000 m³/ngày) Tại vị trí này, lưu lượng thiết kế của kênh đạt 3,43 m³/s, bảo đảm nguồn nước cấp ổn định cho hệ thống.
Nhà máy nước Kênh Đông dự kiến xây dựng chủ yếu tại xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi Đây là khu vực đất nông nghiệp hiện đang bị bỏ hoang do đất ruộng bị nhiễm phèn nặng, khiến năng suất cây trồng thấp và tiềm năng phát triển nông nghiệp của địa phương chưa được khai thác.
Để đáp ứng nhu cầu tăng lưu lượng khai thác khi cần mở rộng công suất nhà máy trong tương lai, cần xây dựng cống điều tiết tại vị trí K8+740 và đấu nối với hệ thống máng nổi hiện có dẫn nước từ Kênh N31A Việc kết nối này sẽ tăng khả năng điều tiết và cấp nước cho khu vực khai thác, đảm bảo vận hành linh hoạt và sẵn sàng cho sự mở rộng công suất khi có yêu cầu.
Vì thế việc xây dựng nhà máy nước ởđây là rất khả thi.
NGUỒN NƯỚC KÊNH ĐÔNG
H ồ D ầ u Ti ế ng
- Hồ Dầu Tiếng bắt đầu hoạt động từ tháng 7/1985, các thông số thiết kế chính của hồ:
+ Mực nước dâng bình thường : 24,4m
+ Dung tích hữu ích : W hi = 1.110 × 10
6 m + Dung tích toàn bộ : W tb = 1.580 × 10
6 m + Diện tích mặt hồứng với MNDBT: 27.000 ha
+ Cao độđáy cống xả vào Kênh Đông: 13m
Từ khi hồ Dầu Tiếng đi vào hoạt động đến năm 2003, mực nước hồ luôn được duy trì ở mức phù hợp để xả nước vào hệ thống Kênh Đông, với lưu lượng xả cao gấp nhiều lần nhu cầu cấp nước cho sinh hoạt và công nghiệp.
- Nhiệm vụ của hồ Dầu Tiếng:
* Đảm bảo cung cấp ổn định cho hạ du 40.140 ha
* Đảm bảo lưu lượng xả xuống sông Sài Gòn về mùa kiệt, giữ nguyên tình hình như chưa có hồ
* Cấp nước cho Nhà máy nước TP.HCM từtháng 1 đến tháng 7 với lưu lượng 7 m 3
* Tạo nguồn để có thể mở ra các dự án mới phía hạ du
Kênh Đông (Kênh Chính Đông)
- Lưu lượng chuyển tải ≥ 73 m 3 /s và lưu lượng tưới cho TP.HCM là 18,5 m 3
- Cao độđáy cống lấy nước đầu kênh: +13,00
- Lưu lượng thiết kế tại cuối kênh : 9,4 m 3
- Cao độ mực nước thiết kế cuối kênh: + 8,92 m
- Kênh Đông hiện nay đã đư ợc kiên cố hóa bằng bêtông toàn bộ trong lòng kênh ( với hệ số mái dốc m = 1,75) từK34 đến K46
Theo dự án hiện đại hóa hệ thống thủy lợi hồ Dầu Tiếng được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt ngày 19/12/2003 Kênh Đông có nhiệm vụ cấp nước phục vụ sinh hoạt và công nghiệp cho khu vực Củ Chi, với lưu lượng 5 m³/giây.
- Chất lượng nước kênh rất tốt Qua kết quả phân tích mẫu ngày 22/10/2005 cho thấy:
/s Dựán này được thực hiện trong giai đoạn 2004 – 2009
+ pH : 6,23 + Chất rắn lơ lửng : 10 (mg/l)
+ Độđục : 13 NTU + Chất hữu cơ : 3 (mgO2/l) + Sắt tổng cộng : 0,3 (mg/l) + SO 4 2-
+ Độ cứng tổng cộng: 10 (mg CaCO 3 /l) + Cl
+ Độ kiềm tổng cộng: 8 (mg CaCO 3 /l) + NO 2
(Mẫu nước được lấy sau khi có mưa lớn nhưng độ đục và hàm lượng chất lơ lửng rất nhỏ)
Kênh N46
Dài khoảng 15 km, được bắt đầu từ điểm cuối của Kênh Đông chảy qua huyện Củ
Chi tới KCN Tân Phú Trung Kênh đã đư ợc kiên cố hóa bằng bêtông trong lòng kênh Kênh N46 được chia thành nhiều đoạn có tiết diện thay đổi
B ả ng 5.1: Các thông s ố ch ủ y ế u c ủ a Kên h N46 sau khi đ ã gia c ố
Hệ số mái dốc (m) Độ dốc đáy kênh (i)
Chất lượng nước của Kênh N46 khá tốt, thể hiện qua các mẫu nước thu được sau mưa lớn Tuy nhiên, so với Kênh Đông, nước ở Kênh N46 có độ đục và cặn không tan cao hơn, nhất là tại vị trí K9 nơi các mẫu nước sau mưa cho thấy mức đục và cặn tăng lên.
+ Các chất kim loại nặng, các chất bảo vệ thực vật đều không phát hiện
+ Các chỉtiêu khác tương tự như nước Kênh Đông.
Hiện nay Kênh N46 đang phục vụtưới khoảng 2.500 ha
Lưu lượng trên Kênh N46 có thể khai thác phục vụ cấp nước khoảng 2,5 – 3 m 3
Việc điều chỉnh quy hoạch khu công nghiệp và dân cư Tân Phú Trung lên 594 ha sẽ làm giảm đáng kể diện tích tưới của Kênh N46 Nguyên nhân là toàn bộ khu công nghiệp này nằm trong lưu vực tưới của Kênh N46, nên sự điều chỉnh quy hoạch ảnh hưởng trực tiếp đến phạm vi cấp nước và khu vực tưới.
Mực nước trong Kênh Đông và Kênh N46 luôn cao hơn mặt đất ruộng tối thiểu 2m, nên nước từđồng ruộng không thể tự chảy vào kênh được
Kênh N31A
Kênh N31A được nối với Kênh Đông tại một điểm cách vị trí cuối kênh khoảng 6,5 km, và điểm cuối Kênh N31A nằm gần ranh giới xã Tân Phú Trung và Tân Thông Hội Toàn tuyến Kênh N31A có chiều dài khoảng 16,6 km Hiện nay, Kênh N31A đang được kiên cố hóa bằng bê tông với tổng kinh phí khoảng 32 tỷ đồng.
B ả ng 5.2: Các thông s ố thi ế t k ế c ủ a Kênh N31A sau khi kiên c ố hóa
Hệ số mái dốc (m) Độ dốc đáy kênh (i)
Mực nước thiết kế của Kênh N31A như sau:
Chất lượng nước Kênh N31A khá tốt, theo kết quả phân tích mẫu ngày 22/10/2005, tại vị trí KCN Tây Bắc Củ Chi (giữa K5 và K6) như sau:
- pH : 6,48 - Độ cứng tổng cộng : 12 (mgCaCO 3 /l)
- Độđục : 15 NTU - Độ kiềm tổng cộng : 10 (mgCaCO 3 /l)
- Màu : 16 (đv Co) - Chất rắn lơ lửng : 12 (mg/l)
- Sắt : 0,4 mg/l - Chất hữu cơ : 3,1 (mg/l)
- Chất bảo vệ thực vật và kim loại nặng đều không phát hiện
Kênh N31A hiện nay chỉ phục vụtưới khoảng 2.000 ha (so với nhiệm vụ thiết kế là 3.526 ha) Theo số liệu điều tra năm 1996, Kênh N31A phục vụ cho 520 ha lúa,
720ha lúa 1 vụ và hoa màu, 800 ha chuyên canh rau, 60 ha cây ăn trái Tổng lượng nước tưới, thấm và bay hơi của Kênh N31A khoảng 2,6 m 3
Trong bối cảnh đô thị hóa ngày càng mạnh, diện tích cây trồng ngày càng thu hẹp khiến lưu lượng dư thừa có thể được khai thác để cấp nước sạch, với mức 5,25m, góp phần đảm bảo nguồn nước cho cộng đồng.
LỰ A CH Ọ N DÂY CHUY Ề N CÔNG NGH Ệ X Ử LÝ
T ổ ng quan v ề công ngh ệ x ử lý n ướ c m ặ t
6.1.1 M ục đích củ a các quá trình x ử lý n ướ c:
Chúng tôi đảm bảo cung cấp nước đầy đủ và an toàn về mặt hóa học và vi sinh để đáp ứng nhu cầu ăn uống, sinh hoạt, dịch vụ, sản xuất công nghiệp và phục vụ sinh hoạt công cộng của mọi đối tượng dùng nước Nước đạt chuẩn giúp bảo đảm sức khỏe cộng đồng, an tâm sử dụng và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Cung cấp nước chất lượng tốt, ngon, không chứa các chất gây vẩn đục, gây ra màu, mùi vị của nước.
Cung cấp nước đủ thành phần khoáng chất cần thiết cho việc bảo vệ sức khỏe của người tiêu dùng.
Nước cấp phải thỏa mãn tiêu chuẩn vệ sinh đối với chất lượng nước cấp cho sinh hoạt và ăn uống.
6.1.2 Các quá trình x ử lý n ướ c m ặ t:
B ả ng 6.1: Các quá trình x ử lý n ướ c:
• Hồ chứa và lắng sơ bộ
• Xử lý tại nguồn bằng hóa chất
• Quá trình khuấy trộn hóa chất
• Quá trình keo tụ và phản ứng tạo bông cặn
- Điều hòa sự dao động lưu lượng giữa nguồn vào và trạm bơm nước thô;
- Loại trừ vật nổi, trôi theo dòng nước.
- Loại trừ rác, các mảnh vỡkích thước nhỏ và một phần rong rêu trôi theo dòng nước.
Việc lắng các hạt cát có tỷ trọng ≥ 2,6 và kích thước ≥0,2 mm giúp bảo vệ máy móc khỏi bào mòn và giảm lượng cặn nặng tích tụ trong các bể tạo bông cặn và bể lắng Quá trình loại bỏ những hạt cát này nâng cao hiệu suất vận hành của hệ thống xử lý nước bằng cách ngăn chặn sự hình thành và tích tụ cặn, từ đó kéo dài tuổi thọ thiết bị và giảm nguy cơ tắc nghẽn.
- Loại trừ khả năng phát triển của vi sinh vật và thực vật gây ra mùi, vị, màu của nước.
- Giảm lượng vi trùng ở các nguồn nước thô bị nhiễm bẩn nặng;
- Oxi hóa sắt và mangan hòa tan ở dạng các phức chất hữu cơ; oxy hóa các chất hữu cơ để khử màu;
- Trung hòa amôniac dư, diệt các vi khuẩn tiết ra chất nhầy trên mặt lớp cát lọc
- Phân tán nhanh và đều phèn và các hóa chất khác vào trong nước cần xử lý
- Tạo điều kiện và thực hiện quá trình dính kết các hạt cặn keo phân tán trong nước thành bông cặn có khả năng lắng
• Hấp thụ và hấp phụ bằng than hoạt tính
• Khử muối và lọc với tốc độ kinh tế cho phép
- Loại trừ ra khỏi nước các hạt cặn và bông cặn có khả năng lắng với tốc độ kinh tế cho phép, giảm lượng vi trùng và vi khuẩn.
- Loại trừ các hạt cặn nhỏ không lắng được trong bể lắng nhưng có khả năng dính kết lên bề mặt hạt lọc.
- Khử mùi vị, màu của nước
- Nâng cao hàm lượng Flo trong nước 0,6 – 0,9 mg/l để bảo vệ men răng cho người dùng nước.
- Tiêu diệt vi khuẩn và vi trùng còn lại trong nước sau lọc.
- Khử tính xâm thực của nước và tạo ra màng cách li không cho nước tiếp xúc trục tiếp với vật liệu làm ống.
- Khử ra khỏi nước ion Ca 2+ và Mg 2+
- Khử ra khỏi nước các cation và anion của các muối hòa tan đến nồng độ yêu cầu. đến nồng độ yêu cầu.
Đề xu ấ t ph ương án xử lý
6.2.1 Ch ất lượng nướ c sau khi x ử lý:
Chất lượng nước sau xử lý phải đạt tiêu chuẩn nước ăn uống và sinh hoạt, đảm bảo nước không màu, không mùi vị, không chứa các chất độc hại, vi trùng và tác nhân gây bệnh, và hàm lượng chất hòa tan không được vượt ngưỡng chuẩn cho phép.
B ả ng 6.2: Tiêu chu ẩ n v ệ sinh nước ăn uố ng, s ố 1329/2002/BYT/QĐ ngày 18/4/2002
STT Chỉ tiêu Đơn vị Giới hạn
Mùi vị Độđục pH Độ cứng
Hàm lượng amoni, tính theo NH 4
Hàm lượng sunfat Độ oxy hóa
TCU NTU mg/l mg/l mg/l mg/l mg/l mg/l mg/l mgO 2 /l
15 Không có mùi vị lạ
6.2.2 Ch ất lượ ng ngu ồn nướ c c ấ p:
Tiêu chuẩn chất lượng nước mặt dùng làm nguồn nước cấp:
Khi khảo sát để chọn nguồn cấp nước, cần căn cứ vào tiêu chuẩn chất lượng nước của nguồn nước dự kiến Ta có thể tham khảo tiêu chuẩn chọn nguồn nước cấp theo bảng dưới đây, trong đó các chỉ tiêu về chất lượng nước được liệt kê chi tiết để so sánh nguồn nước với yêu cầu sử dụng và an toàn cho hệ thống Việc phân tích các yếu tố như vi sinh, hóa học và vật lý cùng với các giới hạn cho phép sẽ giúp xác định nguồn nước phù hợp, bảo đảm nước đầu vào đáp ứng các tiêu chí về sức khỏe, môi trường và vận hành hệ thống Bạn nên tiến hành lấy mẫu, phân tích và đối chiếu với các thông số trong bảng để quyết định nguồn nước cấp phù hợp cho hệ thống của mình.
B ả ng 6.3: Tiêu chu ẩ n ch ọ n ngu ồn nướ c c ấ p
Chỉ tiêu Tiêu chuẩn Độ màu (Pt-Co) Mùi Độđục Độ kiềm Clorua (mg/l) Độ cứng pH Sunfat (mg/l) TDS (mg/l) Coliform Feacal Coliform
Chất lượng nước Kênh Đông:
Theo kết quả xét nghiệm lý hóa nước tại phòng thí nghiệm của Công ty Tư vấn cấp nước số 2, chất lượng nước thô trên Kênh N46 được đánh giá khá tốt, với hàm lượng cặn lơ lửng thấp và độ đục thấp.
Chất lượng nước trên Kênh N46 thay đổi không đáng kể giữa đầu kênh và cuối kênh vì kênh đã được bêtông hóa Do đó, ta có thể sử dụng chất lượng nước tại K3 (xã Phước Hiệp) làm cơ sở tính toán:
- pH = 6,59 - Độ cứng tổng cộng : 10 (mg CaCO 3 /l)
- Độđục : 14 (NTU ) - Độ kiềm tổng cộng : 10 (mg CaCO 3 /l)
- Độ màu : 15 (Co) - Chất hữu cơ KMnO4 : 3,3 (mgO 2 /l)
- Chất rắn tổng cộng : 26 (mg/l) - [Ca 2+ ] = 0,32 mg/l ; [Mg 2+
- Chất rắn lơ ửng : 11 (mg/l) - [HCO 3
- Chất rắn hòa tan : 15 (mg/l) - [CO 3
Nhận xét và kết luận:
Từ số liệu về chất lượng nước tại K3, ta thấy chất lượng nước đạt tiêu chuẩn nước thô cấp cho trạm xử lý
Nhưng so với tiêu chuẩn nước cấp cho ăn uống và sinh hoạt thì mẫu thửtrên có độ đục, hàm lượng chất hữu cơ cao hơn Vì vậy, cần phải xử lý nguồn nước trước khi cấp trực tiếp cho người sử dụng
6 2.3 Đề xu ất phương án xử lý:
Dựa vào chất lượng nguồn nước thô và sau xử lý đã trình bày ở phần trên thì phương án được đưa ra là:
L ự a ch ọn sơ đồ công ngh ệ
- Đây là dây chuyền xử lý đư ợc áp dụng khá phổ biển cho các nhà máy xử lý nước mặt, có thể xử lý nước có độđục cao;
Thiết bị này phù hợp với nước thô có độ đục bất kỳ, có khả năng xử lý hiệu quả và đảm bảo chất lượng nước sau xử lý đạt tiêu chuẩn nước ăn uống và sinh hoạt Với công nghệ lọc tiên tiến, sản phẩm thích ứng mọi mức độ đục của nguồn nước, mang lại nước uống và nước sinh hoạt an toàn, đáp ứng yêu cầu về vệ sinh và sức khỏe cho người dùng.
- Việc quản lý vận hành đơn giản;
Trạm bơm cấp 1 Bể lọc Bể chứa liên tục
Hồ chứa Trạm Bể trộn bơm cấp 1
Bể chứa Bể lọc nhanh
- Thiết bị và công nghệ tương đối đơn giản, do đó việc sửa chữa, thay thế thuận lợi;
- Chi phí nước rửa lọc bằng 50% so với phương án lọc liên tục
- Chi phí đầu tư lớn
- Tốn nhiều diện tích mặt bằng (Tổng diện tích mặt bằng bể lắng + bể lọc khoảng 11.300 m 2
- Tốn thêm nhân công quản lý
- Tốn ít diện tích (tổng diện tích mặt bằng khoảng 1.600 m 2
- Chi phí đầu tư thấp hơn phương án 1;
- Có thể xử lý hàm lượng cặn cao (theo giới thiệu của nhà sản xuất là có thể xử lý
SS lên đến 400 mg/l trong thời gian ngắn);
- Quản lý vận hành đơn giản, có thể tựđộng hóa hoàn toàn việc điều khiển bể lọc, tốn ít nhân công quản lý
- Tổn thất áp lực qua bể lọc nhỏ (chỉ khoảng 1m), do đó giảm chi phí điện cho trạm bơm nước thô
- Phải nhập khẩu thiết bị và công nghệ;
Đây là công nghệ mới chưa được áp dụng ở Việt Nam, nên chưa thể xác định đầy đủ các yếu tố thuận lợi và khó khăn khi vận hành trong điều kiện Việt Nam Tuy nhiên, nhà cung cấp thiết bị cam kết chịu hoàn toàn trách nhiệm trong việc cung cấp thiết bị, giám sát xây dựng và hướng dẫn vận hành để hệ thống hoạt động đáp ứng yêu cầu cấp nước theo quy định.
Nhờ phân tích ưu nhược điểm của từng phương án và nhận thấy chất lượng nước kênh tương đối tốt với hàm lượng cặn lơ lửng nhỏ (4–10 mg/l) và độ đục thấp, ta chọn phương án 2 là phương án xử lý Dây chuyền này có công nghệ hiện đại, đáp ứng đầy đủ yêu cầu xử lý nước và mang lại chi phí đầu tư cũng như quản lý vận hành thấp.
Thuy ế t minh dây chuy ề n công ngh ệ
Nước thô từ Kênh N46 được dẫn về hồ chứa nước thô qua cống lấy nước trước khi vào xử lý Hồ chứa tạo điều kiện thuận lợi cho các quá trình tự làm sạch như lắng bớt cặn lơ lửng, giảm vi trùng do tác động của các điều kiện môi trường, thực hiện các phản ứng oxy hóa do oxy hòa tan trong nước và làm nhiệm vụ điều hòa lưu lượng giữa dòng chảy từ nguồn và lưu lượng tiêu thụ do trạm bơm nước thô cấp cho trạm xử lý.
Nước thô được bơm vào bể trộn cơ khí, nơi nước được hòa trộn chủ yếu bằng vôi để nâng pH và, khi nước thô có độ đục cao, bổ sung phèn để tạo kết tủa Thông thường nước thô có độ đục thấp nên không cần dùng phèn Nhờ bể trộn, hóa chất được phân phối nhanh và đồng đều vào nước.
Chất keo tụđược sử dụng là phèn nhôm
Do hàm lượng cặn nhỏ nên nước sau khi trộn hóa chất ở bể trộn được dẫn tới bể lọc liên tục, nơi quá trình lọc và rửa lọc diễn ra đồng thời Đây là một thiết bị lọc mới được áp dụng tại Việt Nam, mang lại nhiều tiện ích như giữ lại được nhiều chất lơ lửng mà không cần công nghệ xử lý phía trước, tổn thất áp lực thấp và tiêu thụ năng lượng nhỏ, giúp đơn giản hóa dây chuyền công nghệ và loại bỏ bơm rửa lọc.
Sau khi nước được làm sạch và loại bỏ các cặn lắng, nước được đưa vào bể chứa Tại đây Clo được bổ sung để khử trùng nước và tiêu diệt các vi khuẩn còn lại trước khi nước được phân phối đến nơi tiêu thụ Quá trình này giúp nước sinh hoạt an toàn, đạt chuẩn và sẵn sàng phục vụ người dùng.
Nước rửa lọc được dẫn vào hồ lắng để lắng và phơi bùn Thời gian lưu nước trong hồ khoảng 2 ngày Hồ được tháo cạn nước định kỳ để bùn khô tự nhiên với độ ẩm khoảng 25%, sau đó được xúc đổ lên bãi rác Lượng nước tháo ra được dẫn trở về hồ chứa nước thô.
Nước sạch từ bể chứa sẽ được bơm cấp 2 bơm đến bể chứa Nhà máy nước Tân
Hiệp theo đường ống D1200, rồi từ đây nước sạch sẽ được phân phối cho người sử dụng.