HÌNH 6: PHÂN TÍCH TÌNH TRẠNG VÀ TÁC ĐỘNG HÌNH 7: HOẠT ĐỘNG TUÂN THỦ OSHA HÌNH 8: LÝ THUYẾT DOMINO CỦA HEINRICH VỀ NGUYÊN NHÂN TAI NẠN HÌNH 9: SAI SÓT DO CON NGƯỜI VÀ THỂ HIỆN SỰ KHỞI ĐẦU
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁN CÔNG TÔN ĐỨC THẮNG KHOA MÔI TRƯỜNG & BẢO HỘ LAO ĐỘNG
NGÀNH: BẢO HỘ LAO ĐỘNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
TÌM HIỂU TÌNH HÌNH TAI NẠN LAO ĐỘNG Ở VIỆT
NĂM TỪ NĂM 1999 ĐẾN NĂM 2005.
PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN GÂY TAI NẠN LAO ĐỘNG TRÊN CƠ SỞ LÝ THUYẾT CÙNG VỚI MỘT
SỐ KIẾN NGHỊ.
SV : NGUYỄN MINH HÒANG YẾN MSSV : 610303B
LỚP : 06BH 1 N GVHD : Thầy NGUYỄN CHÍ TÀI
TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 1/2007
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁN CÔNG TÔN ĐỨC THẮNG
KHOA BẢO HỘ LAO ĐỘNG VÀ MÔI TRƯỜNG
NGUYÊN NHÂN GÂY TAI NẠN LAO ĐỘNG TRÊN CƠ
SỞ LÝ THUYẾT CÙNG VỚI MỘT SỐ KIẾN NGHỊ.
SVTT: NGUYỄN MINH HÒANG YẾN MSSV: 610303B
LỚP: 06BH1N
Ngày giao nhiệm vụ luận văn:
Ngày hòan thành luận văn:
TPHCM, Ngày tháng 12 năm 2006 Giảng viên hướng dẫn:
Trang 3Với lòng biết ơn sâu sắc, em chân thành biết ơn:
Ban Giám Hiệu trường Đại Học Bán Công Tôn Đức Thắng và Ban Chủ Nhiệm Khoa Môi Trường và Bảo Hộ Lao Động cùng Quý Thầy Cô trong và ngoài khoa đã nhiệt tình chỉ dạy, giúp đỡ em trong suốt thời gian học ở trường
Thầy Nguyễn Chí Tài đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện tốt nhất để giúp em hoàn thành luận văn này
Cuối cùng em xin gởi lời cám ơn tới gia đình cùng bạn
bè, đã động viên, chăm lo, khuyến khích lớn nhất trong quá trình học tập cũng như làm luận văn tốt nghiệp của em
TP HCM, ngày tháng 12 năm 2006
Người thực hiện
Nguyễn Minh Hòang Yến
Trang 4MUÏC LUÏC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1- Số vụ tai nạn lao động
1.2- Phân tích các vụ tai nạn lao động
1.3- Những lĩnh vực xảy ra nhiều tai nạn chết người
1.4- Thiệt hại về vật chất
1.5- Nguyên nhân của các vụ TNLĐ đã xảy ra
1.6- Đánh giá chung về TNLĐ từ năm 1999-2005
1.7- Trước tình hình đó, Bộ LĐTBXH đã đề ra một số giải pháp cần thực hiện trong thời gian tới
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHOA HỌC BẢO HỘ LAO ĐỘNG
2.1- Điều kiện lao động
2.2- Các yếu tố nguy hiểm có hại
2.3- Tai nạn lao động
2.4- Chấn thương
2.5- Bệnh nghề nghiệp
2.6- Một số khái niệm về lao động
2.7- Những nội dung chủ yếu của công tác BHLĐ
CHƯƠNG 3: SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA ĐIỀU LỆ VÀ TRUYỀN THỐNG AN TÒAN TRÊN THẾ GIỚI
3.1- Lịch sử phong trào an tòan
3.2- Lịch sử phát triển của các chương trình an tòan
3.3- An toàn nghề nghiệp và đạo luật sức khỏe
3.4- An tòan nghề nghiệp và hành chính y tế (OSHA)
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY RA TAI NẠN
4.1- Mô hình cấu trúc một tai nạn
4.2- Các chấn thương do tai nạn lao động gây nên
4.3- Các yếu tố gây tai nạn
Trang 54.5- Các nguyên nhân gây tai nạn lao động
4.6- Phân tích nguyên nhân gây TNLĐ dựa trên các thuyết và mô hình
4.7- Nghiên cứu trường hợp ví dụ và chỉ ra phương pháp
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1- Kết luận`
5.2- Kiến nghị
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỂ TAI NẠN LAO ĐỘNG
PHỤ ĐÍNH
Trang 6
MỤC LỤC HÌNH ẢNH
HÌNH 1: CÁC YẾU TỐ HÌNH THÀNH THẾ GIỚI QUAN LAO ĐỘNG
HÌNH 2: SỰ LIÊN QUAN CỦA CÁC NGÀNH KHOA HỌC KĨ THUẬT TRONG KHOA HỌC LAO ĐỘNG
HÌNH 3: MÔ HÌNH CỦA HỆ THỐNG LAO ĐỘNG
HÌNH 4: GIỚI HẠN GIỮA AN TOÀN VÀ RỦI RO
HÌNH 5: PHƯƠNG PHÁP THỂ HIỆN KĨ THUẬT AN TÒAN TRONG HỆ THỐNG LAO ĐỘNG
HÌNH 6: PHÂN TÍCH TÌNH TRẠNG VÀ TÁC ĐỘNG
HÌNH 7: HOẠT ĐỘNG TUÂN THỦ OSHA
HÌNH 8: LÝ THUYẾT DOMINO CỦA HEINRICH VỀ NGUYÊN NHÂN TAI NẠN
HÌNH 9: SAI SÓT DO CON NGƯỜI VÀ THỂ HIỆN SỰ KHỞI ĐẦU CỦA TAI NẠN
HÌNH 10: MÔ HÌNH NGUYÊN NHÂN VÀ SỰ CỐ TAI NẠN PETERSEN HÌNH 11: MÔ HÌNH HỆ THỐNG CỦA NGUYÊN NHÂN TAI NẠN
BẢNG 1: CÁC YẾU TỐ CỦA MÔI TRƯỜNG LAO ĐỘNG
BẢNG 2: 29 PHẦN CFR CỦA CÁC TIÊU CHUẨN OSHA
BẢNG 3: TIÊN ĐỀ AN TÒAN CÔNG NGHIỆP
Trang 7TÀI LIỆU THAM KHẢO
1- Kỹ thuật bảo hộ lao động – NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội
1979
2- Gia công kim loại và an toàn trong công nghiệp – Nhà xuất bản Hà Nội
3- Công tác Bảo Hộ Lao Động – Trường Đại Học Công Nghệ bán công Tôn Đức
Thắng
4- Nguyễn Quang Thu & CTV - Quản trị rủi ro – Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội 5- Trần Đình Long – Lý Thuyết Hệ Thống – Nhà xuất bản Khoa Học và Kỹ Thuật 6- Giáo trình an tòan cơ khí - Thầy Cường khoa Bảo Hộ Lao Động – Trường Đại
Học Công Nghệ bán công Tôn Đức Thắng
7- TS Nguyễn Văn Quán & Hòang Thị Khánh - Giải pháp tổ chức, quản lý thanh
tra, kiểm tra bảo hộ lao động cho tất cả các cơ sở sản xuất ngoài quốc doanh – Nhà
xuất bản lao động 1995
8- Giáo trình về bảo hộ lao động Nội dung và ý nghĩa kinh tế của nó – TS Nguyễn
Văn Quán
9- Giáo trình nguyên lý kỹ thuật an tòan – Thầy Trần Văn Trinh - khoa Bảo Hộ Lao
Động – Trường Đại Học Công Nghệ bán công Tôn Đức Thắng
10- Giáo trình quản lý Bảo Hộ Lao Động tại cơ sở - Thầy Trần Văn Trinh - khoa
Bảo Hộ Lao Động – Trường Đại Học Công Nghệ bán công Tôn Đức Thắng
11- Và một số tài liệu thông tin thu thập trên mạng internet
Trang 13CÁC ĐẠI LƯỢNG ĐẶC TRƯNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG LAO
-Công suất âm (B) -Đại lượng đánh giá sự lan truyền
âm đến máy và trang bị (Nguồn phát âm)
Đơn vị đo là candela/m2 (Cd/m2)
-Cường độ chiếu sáng ngang (M) -Cường độ chiếu sáng đứng (M)
-Cường độ chiếu sáng trụ (M) là giá trụ trung bình của cường độ chiếu sáng đứng với tất cả trang bị trong một phòng
-Cường độ chiếu sáng trung bình (M)
Cường độ chiếu sáng trung bình đo tại nhiều điểm khác nhau
-Cường độ chiếu sáng danh nghĩa (B)
Giá trị trung bình của cường độ sáng trong phòng phụ thuộc vào hoạt động lao động và nhiệm vụ cần nhìn thấy
-Giá trị để đánh giá độ sáng của diện tích cũng như độ lóa và dùng đánh giá chiếu sáng bên ngoài (M) và (B)
Trang 14Thời tiết
Đại lượng của thời tiết
-Sự dẩn nhiệt, sự trao đổi nhiệt và nhiệt độ không khí (0C)
-Tốc độ gió ms-1-Bức xạ nhiệt:
Cường độ bức xạ hiệu dụng W/m2
Ở đây cần đánh giá sự chuyển đổi của con người trong lao động
ta
Va Eelf
Số lượng vi khuẩn cho phép/m3
Đơn vị đo Watt/m2 (W/m2)
Cường độ trường điện từ thay thế (giá trị hiệu dụng) (M) và (B)
Giá trị giới hạn phụ thuộc vào tần số
và giới hạn tồn tại
Cường độ trường điện từ thay thế (giá trị hiệu dụng) (M) và (B)
Mật độ dòng công suất (M) và (B) (giá trị giới hạn phụ thuộc vào phạm
vi và thời gian tồn tại)
E
H
Trang 15PHẦN MỞ ĐẦU:
Con người sinh ra, ai cũng mong muốn có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc Ngày xưa, khi đất nước ta bị giặc ngoại xâm, ông cha ta đã không tiếc hy sinh xương máu, tính mạng của mình để giành được “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” cho con cháu sau này
Ngày nay, được sống trong hòa bình, không còn chiến tranh, đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa, với mục tiêu dân giàu nước mạnh,
xã hội công bằng văn minh để cùng sánh vai với các cường quốc năm châu nhằm đáp ứng được nhu cầu về vật chất và tinh thần của nhân dân Đây là chính sách hòan tòan đúng đắn của Đảng và nhà nước ta Sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước có những bước tiến rất khả quan Tuy vậy, song hành với sự phát triển kinh tế-xã hội của nước ta thì, từng ngày từng giờ tuy không ai muốn nhưng vẫn có nhiều người chết, bị thương tật vĩnh viễn gây nên những mất mát lớn lao cho gia đình và xã hội cùng với sự thiệt hại đáng kể về tài sản và vật chất do tai nạn lao động gây ra Họ là những người lao động, những con người đem cống hiến sức lao động của mình để cùng tham gia xây dựng đất nước, mang lại hạnh phúc ấm no cho bản thân và gia đình góp phần công sức tạo nên xã hội tốt đẹp Thế nhưng không may, khi tai nạn lao động xảy đến với họ, chẳng những không được hưởng những thành quả lao động do chính mình làm ra mà
họ phải bị chết, bị thương gây ảnh hưởng đến người thân, đến xã hội
Môi trường làm việc an tòan là điều mong đợi trong xã hội hiện đại Tuy nhiên, không phải luôn luôn là như vậy với người lao động khi còn có mọi rủi ro trong điều kiện làm việc bất lợi do trong sự phát triển đã thiếu hẳn những bước đi cơ bản về đảm bảo an tòan vệ sinh lao động Chính do nguyên nhân này tại hầu hết các cơ sở sản xuất trong cả nước tuy ở mức độ khác nhau đều vi phạm tiêu chuẩn về an tòan vệ sinh lao động có nơi mức báo động
Bảo hộ lao động, một công tác mang tính nhân văn, là một chính sách kinh tế
xã hội lớn của Đảng và nhà nước ta mang tính trả nghĩa cho đời Quan tâm, chăm lo cải thiện điều kiện lao động và môi trường lao động, phòng ngừa tai nạn lao động, vừa góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước vừa thể hiện quan điểm lớn của Đảng ta “coi mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là con người, do con người,trước hết là người lao động” Trong suốt những năm qua, công tác bảo hộ lao động phát triển góp phần quan trọng vào chiến lược “ổn định và phát triển kinh tế xã hội” Tuy đã có những thành công nhất định nhưng hiện nay vẫn còn tai nạn lao động xảy ra Vì vậy, em chọn đề tài phân tích sơ bộ tình hình tai nạn lao động từ năm 1999 đến năm 2005 cùng với phân tích nguyên nhân gây tai nạn lao động
và tham gia đóng góp một vài ý kiến nhằm bảo vệ sức khỏe cho người lao động và giảm thiểu hơn nữa các tai nạn lao động xảy ra trong nước
Trang 16CHƯƠNG 1 : ĐẶT VẤN ĐỀ
Lao động là nhu cầu không thể thiếu được trong lịch sử phát triển của lòai người Lao động đã sáng tạo ra xã hội loài người.Ăng-ghen viết: “Các nhà chính trị kinh tế học nói rằng lao động là nguồn gốc của mọi của cải.Kỳ thực, lao động cùng với thiên nhiên mới là nguồn gốc của mọi của cải Thiên nhiên cung cấp cho lao động tài nguyên, và lao động biến tài nguyên thành cuả cải Nhưng lao động không chỉ có thế
mà thôi.Nó là điều kiện căn bản đầu tiên của tất cả cuộc sống con người; nó quan trọng đến mức mà chúng ta phải nói rằng: lao động tạo ra con người Trong lịch sử phát triển loài người ở thế giới cổ đại Ăng-ghen nói “từ đời sống của loài vượn trên rừng tiến lên đời sống xã hội lòai người, chắc chắn là phải trải qua mấy chục vạn năm; thời gian đó chẳng qua chỉ là một khỏanh khắc so với lịch sử của trái đất Nhưng cuối cùng xã hội loài người đã xuất hiện Yếu tố đưa đến sự khác nhau chủ yếu giữa bầy vượn sống trong rừng và xã hội loài người chính cũng là do sự lao động vậy” Trong quá trình dựng nước lâu đời, nhân dân Việt Nam đã bám sát và đứng vững trên mảnh đất của mình Ông cha ta đã chiến đấu và chiến thắng thiên nhiên bằng sức lao động kiên nhẫn và cần cù, bằng khối óc thông minh và sáng tạo, vừa biết tận dụng những điều kiện thiên nhiên phong phú, vừa biết khắc phục những trở lực khắc nghiệt để xây dựng đất nước mình ngày một tươi đẹp, đảm bảo cho giống nòi mình ngày một sinh sôi nảy nở
Trong lịch sử phát triển đất nước, trong các thời kỳ xã hội phong kiến, tư bản
… người lao động luôn bị áp bức bóc lột sức lao động đến cạn kiệt, đến bỏ mạng để làm lợi cho giai cấp bóc lột Giai cấp công nhân Việt Nam đã không ngừng hy sinh xương máu, hy sinh bản thân và gia đình đấu tranh để thoát khỏi áp bức bóc lột, để được sống trong xã hội cộng bằng, văn minh
Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam đất nước ta đang trên đà hội nhập với thế giới tiến đến công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước để tiến lên xã hội chủ nghĩa; một xã hội tốt đẹp, con người luôn có cơm ăn áo mặc, cuộc sống đầy đủ ấm no hạnh phúc Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Xã hội có cơm ăn, có
áo mặc, nhà ở là nhờ người lao động Vì vậy lao động là động lực phát triển của xã hội loài người”
Dù ở bất cứ hình thái xã hội nào, sức lao động cũng là vốn quý nhất.Xã hội tồn tại và phát triển nhờ sức lao động của con người Sức khỏe và tính mạng của người lao động được bảo vệ tốt thì công việc sản xuất sẽ được ổn định, được duy trì thường xuyên, liên tục, tạo điều kiện cho việc hòan thành kế hoạch tăng năng suất lao động và người lao động được thỏai mái, tự tin yên tâm trong lao động sản xuất
Chính vì vậy, công tác Bảo Hộ Lao Động được Đảng và nhà nước quan tâm ngay từ khi thành lập nước Trong sắc lệnh đầu tiên 29 SL do Chủ Tịch Hồ Chí Minh
Trang 17ký ban hành tháng 8 năm 1947, đã có nhiều quy định về an tòan và vệ sinh lao động Cùng với quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước, Đảng và nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị định, chỉ thị, văn bản pháp luật về Bảo hộ lao động Công tác an tòan lao động, vệ sinh lao động ở nước ta đã và đang đạt được những kết quả đáng khích lệ Tuy vậy, trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước cũng có những bước tiến rất khả quan Song hành với sự phát triển đó thì tai nạn lao động cũng phát triển tỷ lệ thuận với sự phát triển kinh tế của đất nước gây thiệt hại vài chục tỷ ngân sách nhà nước mỗi năm
Theo số liệu thống kê gần đây, hàng ngày người lao động vẫn còn phải làm việc trong môi trường lao động bị ô nhiễm trầm trọng, nguy cơ gây tai nạn lao động vẫn luôn đe dọa, rình rập người lao động.Ở nước ta hàng năm vẫn xảy ra hàng ngàn vụ tai nạn lao động, hàng trăm người phải mất đi tính mạng quý giá của mình, hàng ngàn người bị thương và mắc bệnh nghề nghiệp để lại biết bao mất mát và thương đau cho gia đình cho xã hội về vật chất và cả tinh thần
Trước những mất mát, thiệt hại như trên có lẽ không ai trong chúng ta sẽ không khỏi băn khoăn trăn trở.Trong chiến tranh chúng ta đã có biết bao mất mát để giành được cuộc sống tự do – hạnh phúc nhưng hàng ngày chúng ta vẫn mất mát vẫn tổn thương thì… hạnh phúc có thật sự đến với mỗi chúng ta hay không? tại sao công tác Bảo Hộ Lao Động của chúng ta luôn được lãnh đạo nhà nước quan tâm và đã có nhiều bước chuyển mình tích cực cùng với sự phát triển của xã hội, trong khi những hậu quả
do tai nạn lao động gây ra ngày càng tăng cao
Do vậy chúng ta hãy nhau cùng tìm hiểu cụ thể tình hình tai nạn lao động của nước ta trong 5 năm gần đây và cùng xét lại những nguyên nhân gây ra tai nạn lao động và nhìn lại những việc chúng ta đã làm được cũng như những thiếu sót về công tác an tòan lao động để cùng nhau đưa ra biện pháp khắc phục và tham gia giải quyết nhằm hạn chế được những hậu quả đáng tiếc đáng lẽ sẽ không xảy ra
TÌNH HÌNH CHUNG VỀ TAI NẠN LAO ĐỘNG TỪ NĂM 1999 ĐẾN 2005:
Với số lượng người tham gia lao động ngày càng động thì với tình trang hiện nay thì TNLĐ sẽ khó tránh khỏi Mặc dù đã có nhiều biện pháp khắc phục nhưng vẫn ngày càng nhiều TNLĐ xảy ra
1.1- SỐ VỤ TAI NẠN LAO ĐỘNG:
Theo số liệu thống kê từ các báo cáo của các tỉnh thành trong cả nước (không đầy đủ số đơn vị), trong thời gian từ năm 1999 – 2005, số vụ tai nạn lao động xảy ra trong cả nước là 27.887 vụ, trong đó số vụ có người chết là 2987
vụ, chiếm 10.71% tổng số vụ tai nạn Trong 2987 vụ chết người có 463 vụ có từ
2 người chết trở lên
Trang 18Số người bị TNLĐ trong những năm này là 29.051 người, trong đó có 2908 người chết, chiếm 10,1% số người bị nạn và 26.143 người bị thương, trong số
đó có trên 5313 người bị thương nặng
Từ năm 1999 đến năm 2005, số vụ và người bị tai nạn lao động tăng qua từng năm Tuy nhiên năm 2003 số vụ tai nạn giảm hơn so với năm 2002 nhưng vẫn chưa đạt bằng mức tai nạn lao động ban đầu thấp nhất của năm 1999.Và theo số liệu thống kê năm 2004 số vụ tai nạn lao động tăng đột biến, tăng 3415
vụ so với năm 1999
Tinh hinh tai nan lao dong tu nam
1999 den nam 2005
0 1000 2000 3000 4000 5000 6000 7000
Trang 19Số vụ và người bị tai nạn lao động trong cả nước trong những năm qua tăng như sau:
Tổng số vụ tai nạn lao động tăng 44%
Số vụ tai nạn lao động có người chết 60%
Số vụ tai nạn lao động có 2 người chết trở lên tăng 51%
Số người bị tai nạn lao động tăng 46%
Số người bị chết tăng 69%
Số người bị thương tăng 75%
1.2 PHÂN TÍCH CÁC VỤ TAI NẠN LAO ĐỘNG:
1.2.1- Các địa phương xảy ra nhiều tai nạn lao động:
Các địa phương xảy ra nhiều tai nạn chết người từ năm 1999 – 2005 vẫn là: Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội (xếp theo thứ tự
từ trên xuống).Nét đặc biệt trong 6 năm vừa qua là số vụ tai nạn ở Đồng Nai tăng cao
và trong năm 2004 tình hình tai nạn lao động ở Đồng Nai đột ngột tăng cao đến 1480
vụ làm 1496 người bị thương và tuy không nằm trong tốp 5 khu vực xảy ra nhiều tai nạn lao động nhất nhưng những năm gần đây số vụ tai nạn lao động xảy ra ở tỉnh Bình Dương cũng tăng cao với 601 vụ làm 601 người bị thương.Số vụ tai nạn lao động và
số người bị nạn ở các địa phương này như sau:
Đồng Nai xảy ra 5482 vụ tai nạn lao động chiếm 19,66 % làm 5582 người bị nạn, trong đó có 107 vụ làm 108 người chết
TpHCM xảy ra 4697 vụ tai nạn lao động chiếm 16,84% làm 4492 người bị nạn, trong đó có 326 vụ làm 386 người chết
Quảng Ninh đã xảy ra 1666 vụ tai nạn lao động chiếm 6% làm 1866 người
1.3- NHỮNG LĨNH VỰC XẢY RA NHIỀU TAI NẠN CHẾT NGƯỜI:
Có 4 lĩnh vực thường xuyên xảy ra nhiều tai nạn lao động chết người là: xây dựng; lắp đặt-sửa chữa và sử dụng các thiết bị điện; khai thác khóang sảnvà sử dụng các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an tòan lao động.Tình hình tai nạn lao động chết người xảy ra ở các lĩnh vực này trong những năm qua như sau:
Trang 201.3.2- Lắp đặt sữa chữa và sử dụng điện:
Xảy ra 702 vụ TNLĐ làm 396 người chết và 775 người bị nạn
Trong đó, tai nạn do bị điện giật cao thế là 89 vụ làm chết 59 người
1.3.3- Khai thác khóang sản:
Xảy ra 654 vụ TNLĐ làm chết 247 người và 196 người bị nạn
Trong đó tai nạn lao động do:
1.3.4- Sập lò:
Có 138 vụ làm chết 82 người và 107 người bị thương
1.3.5- Sử dụng vật liệu nổ:
Có 114 vụ làm chết 71 người và 72 người bị thương
1.3.6- Sử dụng các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ:
Xảy ra vụ 410 vụ TNLĐ làm chết 144 người và 368 người bị thương
Trong đó, tai nạn do:
Trong sử dụng thiết bị nâng:
Theo số liệu thống kê tổng hợp qua 5 năm, tổng số ngày lao động nghỉ vì
TNLĐ là ngày 551.067 ngày
1.5- NGUYÊN NHÂN CỦA CÁC VỤ TNLĐ ĐÃ XẢY RA:
1.5.1- Về phía người sử dụng lao động:
Qua phân tích số liệu, có thể thấy đây là nguyên nhân chủ yếu của các TNLĐ
Số vụ TNLĐ xảy ra vì nguyên nhân này chiếm một phần đáng kể của tổng số vụ TNLĐ xảy ra trong 5 năm qua
Các vụ TNLĐ này xảy ra chủ yếu là do người sử dụng lao động:
- Vi phạm các tiêu chuẩn, quy phạm, quy trình kỹ thuật an tòan lao động, chiếm trung bình 53% tổng số các vụ TNLĐ, chủ yếeu trong các lĩnh vực: xây dựng, sử dụng các thiết bị điện, sử dụng các thiết bị nâng, sử dụng các thiết bị chịu áp lực, khai thác
Trang 21khóang sản,…
- Không đảm bảo điều kiện làm việc và môi trường làm việc an tòan cho người lao động theo quy định chiếm trung bình 13.9% tổng số vụ TNLĐ, cụ thể như nhiều máy móc, thiết bị, công cụ sản xuất không đảm bảo an tòan vẫn được đưa vào sử dụng, người lao động không được trang bị đầy đủ các phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động…
- Vi phạm pháp luật lao động chiếm trung bình 11.3% tổng số vụ TNLĐ, chủ yếu là vi phạm các quy định về tuyển dụng người lao động không được đào tạo nghề, không huấn luyện an tòan lao động…
- Không thực hiện các giải pháp về an toàn, vệ sinh lao động đối với những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm chiếm trung bình 9.1% tổng số vụ TNLĐ
1.5.2- Về phía người lao động:
- Nhiều người lao động tự do không được đào tạo cơ bản về nghề, pháp luật lao động và an tòan và khi tham gia lao động chỉ được hướng dẫn về các thao tác trong công việc, dẫn đến không hiểu biết đầy đủ về mối nguy hiểm cần phải đề phòng trong khi lao động
- Một số người lao động được đào tạo cơ bản về nghề và được huấn luyệnvề an tòan lao động nhưng có ý thức chấp hành kém;
- Một số người lao động được trang bị các phương tiện bảo hộ lao động đầy đủ nhưng không sử dụng
1.5.3- Về phía cơ quan quản lý nhà nước:
- Công tác chỉ đạo chưa thường xuyên
- Thanh tra, kiểm tra an tòan lao động, vệ sinh lao động và việc thực hiện chính sách lao động chưa nghiêm, còn ít về số lần thực hiện Số lượng, chất lượng thanh tra viên chưa đáp ứng được yêu cầu nên không phát hiện kịp thời những vi phạm pháp luật lao động
- Quản lý lao động còn lỏng lẻo ở một số lĩnh vực, như trong nông lâm, ngư nghiệp, các doanh nghiệp tư nhân, các làng nghề…
- Xử lý hành chính theo thẩm quyền của thanh tra lao động đối với các hành vi
vi phạm pháp luật lao động của nhiều địa phương chưa nghiêm, thiếu kiên quyết
- Xử lý hành chính theo thẩm quyền của thanh tra lao động đối với các hành vi
vi phạm pháp luật của nhiều địa phương chưa nghiêm, thiếu kiên quyết
- Xử lý các vụ TNLĐ chết người đề nghị truy tố trước pháp luật không kịp thời, không triệt để,
- Trong một số trường hợp, sự phối hợp các cơ quan chức năng trong điều tra TNLĐ ở một số địa phương chưa tốt, dân đến thời gian điều tra kéo dài;
- Một số biện pháp phòng ngừa tái diễn chưa đúng, do xác định sai nguyên nhân gây TNLĐ
Trang 221.6- ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TNLĐ TỪ NĂM 1999 ĐẾN NĂM 2005:
- Số lượng vụ tai nạn, người bị nạn và tính nghiêm trọng của các vụ tai nạn trong cả nước ngày càng tăng
- Có 5 địa phương xảy ra nhiều TNLĐ, đó là Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội
- Có 4 lĩnh vực xảy ra nhiều TNLĐ chết người nhiều nhất là: xây dựng, lắp đặt sữa chữa và sử dụng điện, khai thác khóang sản và sử dụng thiết bị điện, khai thác khóang sản và sử dụng các thiết bị yêu cầu nghiêm ngặt về an tòan lao động
- Nguyên nhân chủ yếu của TNLĐ thuộc về phía người sử dụng lao động là do không thực hiện nghiêm các tiêu chuẩn về an toàn lao động đối vớii người lao động., các quy định về đào tao nghề và tập huấn an tòan lao động cho ngườii lao động , không đảm bảo điều kiện về vệ sinh và an tòan lao động…
Trước những con số biết nói trên chúng ta sẽ không khỏi băn khoăn trăn trở và thắc mắc tại sao mỗi năm chúng ta đều thống kê số tai nạn lao động đầy đủ kết hợp với phân tích những nguyên nhân gây ra TNLĐ và đưa ra biện pháp giải quyết, khắc phục vậy mà hàng năm số lượng TNLĐ vẫn không giảm mà thậm chí còn tăng lên với mức
độ chóng mặt.Trước những bức xúc đó chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu sâu hơn về những nguyên nhân gây ra TNLĐ và một số khái niệm liên quan đến TNLĐ,những khái niệm rất đơn giản và cũng rất quen thuộc với mỗi chúng ta nhưng hàng năm nó đã gây ra biết bao mất mát, thiệt hại cho biết bao người liên quan;
1.7-TRƯỚC TÌNH HÌNH ĐÓ BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI ĐÃ ĐỀ RA MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẦN THỰC HIỆN TRONG THỜI GIAN TỚI NHƯ SAU:
Căn cứ vào tình hình và nguyên nhân xảy ra tai nạn lao động trong những năm vừa qua, để khắc phục và chủ động phòng ngừa tai nạn lao động trong thời gian tới,
Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đề nghị các Bộ, ngành, địa phương và các doanh nghiệp thực hiện tốt các giải pháp chủ yếu sau đây:
1.7.1- Áp dụng phương thức thanh tra, kiểm tra pháp luật lao động sử dụng phiếu tự kiểm tra pháp luật lao động với doanh nghiệp để nắm bắt đầy đủ tình hình các doanh nghiệp có nguy cơ cao về tai nạn lao động
1.7.2- Tăng cường thanh tra chuyên đề về an toàn lao động, vệ sinh lao động tại các doanh nghiệp có nguy cơ cao về tai nạn lao động qua việc tổng hợp phân tích phiếu tự kiểm tra pháp luật lao động
1.7.3- Chỉ đạo các doanh nghiệp chấn chỉnh công tác an toàn lao động:
- Thực hiện đầy đủ các quy định của Nhà nước về an toàn vệ sinh lao động và các chế độ bảo hộ lao động Tăng cường huấn luyện về an toàn lao động đối với người
sử dụng lao động và người lao động theo quy định tại Thông tư số
37/2005/TT-LĐTBXH ngày 29.12.2005 Đặc biệt chú ý đối với những người lao động làm các
Trang 23công việc nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại hoặc làm các công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động và những người lao động hành nghề tự do
- Tăng cường tự kiểm tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước về an toàn,
vệ sinh lao động ở tất cả các cơ sở thuộc các thành phần kinh tế Cần lưu ý các lĩnh vực: xây dựng; lắp đặt, sửa chữa và sử dụng điện; khai thác khoáng sản và khai thác đá; sử dụng các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động Xử lý nghiêm minh, kịp thời đối với các hành vi vi phạm pháp luật lao động Phổ biến, hướng dẫn, đôn đốc các doanh nghiệp thực hiện việc điều tra, thống kê, báo cáo tai nạn lao động định kỳ, đúng thời hạn theo quy định tại Thông tư liên tịch số 14/2005/TTLT-
BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN ngày 08/3/2005 của Liên tịch Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội – Bộ Y tế – Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Cần thực hiện đúng các quy định về báo cáo nhanh tai nạn lao động nghiêm trọng
- Quản lý chặt chẽ về an toàn lao động đối với các máy, thiết bị, vật tư và các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động theo quy định tại Thông tư số
23/2003/TT-LĐTBXH của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội
- Chấn chỉnh công tác thống kê, báo cáo tai nạn lao động toàn quốc, tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử phạt nghiêm đối với cơ sở không chấp hành nghiêm túc chế
Qua thống kê báo cáo trên về số vụ TNLĐ xảy ra ở Việt Nam, số vụ TNLĐ tăng cao hàng năm Đặc biệt là 5 địa phương xảy ra nhiều TNLĐ, đó là Đồng Nai, TP
Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội và 4 lĩnh vực xảy ra nhiều TNLĐ chết người nhiều nhất là: xây dựng, lắp đặt sữa chữa và sử dụng điện, khai thác khóang sản
và sử dụng thiết bị điện, khai thác khóang sản và sử dụng các thiết bị yêu cầu nghiêm ngặt về an tòan lao động mặc dù đã có nhiều biện pháp khắc phục và chủ động phòng ngừa hàng năm nhưng số TNLĐ vẩn không giảm mà còn tăng cao hàng năm như tình hình tai nạn lao động năm 2004 là 6026 vụ tăng gấp 2.5 lần so với tình hình tai nạn lao động năm 1999 là 2611 vụ TNLĐ Đứng trứơc những con số thống kê hàng năm như vậy, với cương vị là người làm công tác an tòan lao động, một công tác mang tính nhân văn nhằm hạn chế và ngăn ngừa các TNLĐ góp phần mang lại hạnh phúc ấm no cho người lao động em không khỏi băn khoăn trăn trở và đặt câu hỏi “Tại sao vậy?” Tại sao hàng năm được Đảng và Nhà nước quan tâm chúng ta luôn đề ra nhiều biên pháp nhằm ngăn ngừa , đề phòng, hạn chế các vụ TNLĐ xảy ra nhưng kết quả thống
kê báo cáo thì con số TNLĐ hành năm lại tăng cao đến mức độ chóng mặt như vậy
Trang 24
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHOA HỌC BẢO HỘ LAO ĐỘNG:
2.1- ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG:
Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố về tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế, tổ chức,
xã hội, tự nhiên thể hiện qua các yếu tố: quy trình công nghệ, công cụ lao động, đối tượng lao động, môi trường lao động, con người lao động và sự tác động qua lại giữa chúng tạo điều kiện cần thiết cho hoạt động của con người trong quá trình sản xuất
2.2- CÁC YẾU TỐ NGUY HIỂM VÀ CÓ HẠI:
Trong một điều kiện lao động nhất định, bao giờ cũng xuất hiện các yếu tố vật chất có ảnh hưởng xấu, nguy hiểm và có hại đối với người lao động, ta gọi nó là yếu tố nguy hiểm và có hại Cụ thể là:
- Các yếu tố vật lý như nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn, rung động, bức xạ, bụi
- Các yếu tố hóa học như các chất độc, hơi, khí, bụi độc, các chất phóng xạ
- Các yếu tố sinh vật, vi sinh vật như vi khuẩn, vi trùng, siêu vi khuẩn, côn trùng, rắn
- Các yếu tố về nhân trắc học, Ecgonomie
- Các yếu tố về tâm lý
2.3- TAI NẠN LAO ĐỘNG:
Trong một đời người, mỗi người đều gặp những sự kiện không giống nhau, nhưng, ai đó gặp tai nạn lao động cũng chỉ là một trong các sự kiện của cuộc đời con người
Nếu gọi tai nạn lao động là một sự kiện thì nó phải tuân theo quy luật của sự kiện, mà quy luật để có một sự kiện là không bao giờ sự kiện tự mình phát sinh mà nó chỉ phát sinh khi nó hội đầy đủ các yếu tố gây nên.Ví dụ như:để đám cháy xảy ra thì cần có vật chất gây cháy, nhiệt độ, 02 Nếu như không muốn có sự kiện cháy xảy ra thì
ta có thể ngăn ngừa một trong các yếu tố gây cháy như trên Với lý luận tương tự như vậy thì chúng ta phải tìm hiểu kỹ về tai nạn lao động, về những yếu tố phát sinh ra tai nạn lao động để từ đó có những lời giải cho bài toán được và mất đối với người lao động
Tai nạn lao động hiện nay được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau:
Theo luật lao động thì: tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ
bộ phận, chức năng nào trên cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động
Theo ủy ban tổ chức y tế thế giới, tai nạn lao động là một sự kiện không định trước dẫn đến một tổn thương có thể dẫn đến các kết quả không muốn có
Trang 25Theo nghĩa rộng, một tai nạn có thể định nghĩa là một tai nạn xảy ra trong quá trình nghề nghiệp mà nạn nhân đang tiến hành (đang làm việc)
Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra khi đang lao động, gây tổn thương hay rối loạn chức năng các cơ quan trong cơ thể tạm thời hay vĩnh viễn
Theo TCVN 3153-79 ban hành kèm theo QĐ số 858/TC-QĐ 27/12/1979: Tai nạn xảy ra gây tác hại đến cơ thể người lao động do tác động của các yếu tố nguy hiểm và có hại trong sản xuất
Tuy nhiên, nếu tai nạn lao động nếu được định nghĩa như trên thì có những trường hợp nếu áp dụng theo các định nghiã trên thì có lẽ chưa được thõa đáng cho lắm vì nếu xảy ra tình huống khi chúng ta nấu cơm (lao động), do sơ ý bị bỏng thì theo các định nghĩa được nêu ở trên thì có thể được goi là tai nạn lao động
Theo quan điểm của Yoo Byung Seok và MoonHWang Up (chuyên gia Trung tâm Đào tạo và Hướng nghiệp Phòng Thương Mạivà công nghịêp Hàn Quốc biên soạn) và được hiệu đính bởi các giảng viên trưởng Đai học Bách Khoa Hà Nội thì:
Tai nạn là bất cứ sự việc không đặt kế hoạch và không kiểm soát được gây ra
do con người, các nhân tố môi trường hay tình huống, hoặc bất cứ liên kết nào của các nhân tố này mà cản trở tiến trình công việc, có thể hay không thể gây ra thương tật, ốm đau, chết, phá hủy tài sản hay các sự kiện không định trước khác, nhưng có tiềm năng xảy ra
Trong nhiều trường hợp, thuật ngữ sự việc bất ngờ được dùng hầu như thay đổi theo tai nạn, nhưng khả năng thay đổi như vậy thì không đúng về kỹ thuật “Sự việc bất ngờ xảy ra” là một định nghĩa và hành động riêng, loại bỏ các hậu quả tiềm năng, không kiểm soát được và không lập kế hoạch của tai nạn
Theo quan điểm của riêng cá nhân dựa trên các định nghĩa trên thì cho rằng: Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra trong quá trình lao động hoặc có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ lao động, công tác do hậu quả của sự tác động đột ngột của các yếu tố nguy hiểm có hại, làm chết người hoặc làm tổn thương hoặc phá huỷ chức năng hoạt động bình thường của một bộ phận nào đó của cơ thể Khi người lao động bị nhiễm độc đột ngột với sự xâm nhập vào cơ thể một lượng lớn các chất độc, có thể gây chết người ngay tức khắc hoặc huỷ hoại chức năng nào đó của cơ thể thì gọi là nhiễm độc cấp tính và cũng được coi là tai nạn lao động là đầy đủ và hợp lý nhất
Những yếu tố đặc trưng cho tai nạn lao động là:
- Sự cố gây tổn thương và tác động từ bên ngoài
- Sự cố đột ngột
- Sự cố không bình thường
- Hoạt động an tòan
Trang 26Sự liên quan giữa sự cố xảy ra tai nạn và nguyên nhân của nó cũngnhư sự phát hiện điểm chủ yếu của tai nạn dựa trên đặc điểm sau:
- Quá trình diễn biến tai nạn một cách chính xác cũng như địa điểm xảy ra tai nạn
- Loại tai nạn liên quan đến yếu tố gây tác hại và yếu tố chịu tải
- Mức độ an toàn và tuổi bền của các phương tiện lao động và các phương tiện vận hành
- Tuổi, giới tính, năng lực, và nhiệm vụ được giao cuả người lao động bị tai nạn
- Loại chấn thương
Nhiều đặc điểm mang tính tổng hợp, người ta có thể thống kê so sánh các số liệu và tính toán gần đúng tổn thất do tai nạn gây ra:
- Số tai nạn xảy ra (tuyệt đối)
- Số ngày ngừng trệ, số ngày ngừng trệ do một tai nạn lao động
- Hệ số tai nạn tương đối ( cho 1000 người lao động trong một năm)
o Ufq: Hệ số diễn biến tai nạn
TH: Thời gian tổn thất do tai nạn gây ra
TC : Tổng thời gian lao động
Và do vậy: Tai nạn lao động phải bao gồm 4 yếu tố (chấn thương, xảy ra đột ngột, do công việc gây nên, và đối với người lao động) kết hợp lại, và nếu như thiếu một trong 4 yếu tố đó thì nó không được gọi là tai nạn lao động.Và như vậy thì công việc hàng ngày nấu cơm bị bỏng của chúng ta không được xem là tai nạn lao động vì
nó cũng gây chấn thương, đột ngột xảy đến với chúng và do công việc nấu cơm gây nên nhưng nó thiếu một yếu tố để gây nên tai nạn lao động đó là tai nạn này không xảy đến đối với người lao động
Phần lớn mọi người thường hiểu sai việc phòng chống tai nạn lao động đánh đồng giữa khái niệm “tai nạn” với “chấn thương” dẫn tới việc quan niệm rằng sẽ không có tai nạn nghiêm trọng nếu không có chấn thương nhưng chấn thương chỉ là một trong số bốn yếu tố gây nên tai nạn lao động
Đột ngột: là không có sự chuẩn bị trước, không biết trước sự kiện sẽ xảy ra
Trang 27Vd: trường hợp người lao động đâm đầu vào máy tự tử thì sẽ không được gọi là tai nạn lao động vì thiếu yếu tố đột ngột mà có sự chủ định trước của người lao động
Do công việc gây nên: Công việc được hiểu ở đây là những việc cần phải
Vd: khi bị tai nạn lao động gây chấn thương là gãy xương bả vai chẳng hạn Tại nơi làm việc có nhiều “sự cố” hơn là “chấn thương” vì một hành động gây nguy hiểm có thể đã được thực hiện hàng trăm lần trước khi gây ra chấn thương Và việc ngăn ngừa mối hiểm họa này chính là điều mà các nhà quản lý phải cố gắng thực hiện Họ không thể khoanh tay đứng nhìn đến khi có sự thiệt hại về người hoặc vật chất rồi mới hành động
Bệnh nghề nghiệp cũng được xem như một tai nạn lao động vì nó cũng gây tổn thương và tác hại đến người lao động và ảnh hưởng đến năng suất lao động
Như vậy, cả chấn thương và bệnh nghề nghiệp đều hủy hoại sức khỏe con người nhưng khác nhau ở chỗ, chấn thương có tác dụng đột ngột, còn bệnh nghề nghiệp thì làm sức khỏe suy yếu dần dần
Chấn thương, nhiễm độc nghề nghiệp và bệnh nghề nghiệp đều hủy hoại sức khỏe con người, nhưng khác nhau ở chỗ chấn thương có tác dụng đột ngột, còn bệnh nghề nghiệpthì làm sức khỏe suy yếu dần dần
Chấn thương, nhiễm độc nghề nghiệp và bệnh nghề nghiệp không nên xem là những hiện tượng không thể tránh được trong sản xuất
Và nhiễm độc và bệnh nghề nghiệp cũng được xem như một trường hợp đặc biệt của tai nạn lao động
Nhiễm độc nghề nghiệp là sự hủy hoại sức khỏe do kết quả tác dụng của chất độc khi chúng xâm nhập vào cơ thể con người trong các điều kiện sản xuất
Trang 28Sự tác dụng lâu dài của một lượng tương đối nhỏ các chất độc sẽ gây ra nhiễm độc mãn tính.Nhiễm độc đột ngột do một lượng lớn các chất độc xâm nhập vào cơ thể gọi là nhiễm độc cấp tính.Trường hợp nhiễm độc cấp tính cũng được xem là chấn thương
2.6-KHÁI NIỆM LAO ĐỘNG:
Khái niệm lao động đã tồn tại từ rất lâu đời, từ khi con người chúng ta bắt đầu hình thành, bắt đầu sinh sôi, nảy nở Trong quá trình phát triển của loài người có rất nhiều định nghỉa cũng như quan niệm về lao động như sau:
Lao động tạo ra của cải, vật chất, tạo điều kiện cho xã hội tồn tại và phát triển Bất kỳ trong xã hội nào, trong thời nào, lao động của con người là vinh quang, là nhân
tố quyết định nhất
Theo quan điểm Eliasberg-1926, lao động của con người là một sự cố gắng bên trong và bên ngoài thông qua một giá trị nào đó để tạo nên những sản phẩm tinh thần, những động lực và những giá trị vật chất cho cuộc sống của con người
Người lao động: Phải là những người đang bán sức lao động vì theo quan điểm kinh tế học người ta cho rằng sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt – Đã gọi là hàng hóa thì phải có người mua và kẻ bán.Vậy, trong phạm trù lao động thì kẻ mua là người sử dụng lao động và kẻ bán là ngừơi lao động
Trở lại ví dụ trên: nấu cơm hay cuốc vườn thì tại thời điểm đó có lao động nhưng không bán sức lao động thì không được gọi là tai nạn lao động Thế giới lao động là một phạm trù liên quan đến nhiều yếu tố khoa học, kỹ thuật, xã hội, môi trường, thị trường
- Điều kiện chính trị
- Điều kiện pháp luật
- Điều kiện xã hội
- Điều kiện kinh tế
- Quá trình kỹ thuật
- Sự trao đổi kỹ thuật
- Kỹ thuật lao động
- Kỹ thuật an tòan
- Nhu cầu lao động
- Điều kiện thị trường
Trang 29Lao động được thực hiện trong một hệ thống lao động và trong một điều kiện lao động nhất định
2.6.1- Vị trí giữa người lao động và kỹ thuật:
Sự phát triển của kỹ thuật có ý nghĩa đặc biệt đến lao động do nó tác động trực tiếp đến lao động và kết quả là:
+ Chuyển đổi những giá trị trong xã hội
+ Tăng trưởng tính tòan cầu của các cấu trúc hoạt động
+ Những quy định về luật
Chính sự phát triển của lao động kỹ thuật đưa lao động đến gần thị trường người tiêu dùng, thõa mãn ngày một cao yêu cầu sử dụng, đó là những mục đích của khoa học lao động và tính nhân đạo của nó
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật liên quan chặt chẽ với việc cải thiện điều kiện lao động hay nói cách khác là giải phóng người lao động khỏi những điều kiện lao động vất vả, khó khăn
Khoa học lao động là một khoa học tổng hợp liên ngành, nó bao gồm nhiều ngành khoa học, kỹ thuật như các ngành khoa học cơ bản, y học, thông tin kinh tế… cũng như các phương pháp nghiên cứu của nó
HÌNH 2: SỰ LIÊN QUAN CỦA CÁC NGÀNH KHOA HỌC KỸ THUẬT TRONG KHOA HỌC LAO ĐỘNG
Trang 30 Phạm vi thực tiễn của khoa học lao động:
+ Bảo hộ lao động là những biện pháp tránh hay xóa những nguy hiểm cho con người trong quá trình lao động
+ Tổ chức thực hiện lao động là những biện pháp để đảm bảo những lời giải đúng đắn thông qua việc ứng dụng những tri thức về khoa học an tòan cũng như đảm bảo phát huy hiệu quả của hệ thống lao động
+ Kinh tế lao động là nhữung biện pháp để khai thác và đánh giá năng suất về phương diện kinh tế, chuyên môn, con người và thời gian
+ Quản lý lao động là những biện pháp chung của xí nghiệp để phát triển, thực hiện và đánh giá sự liên quan của hệ thống lao động
Khi đưa kĩ thuật vào trong cá hệ thống sản xuất hiện đại sẽ làm thay đổi những động thái của con người chẳng hạn như về mặt tâm lý
+ Phân công trách nhiệm
Sự phát triển của kĩ thuật có ý nghĩa đặc biệt do nó tác động trực tiếp đến lao động và kết quả dẫn đến là:
+ Chuyển đổi những giá trị trong xã hội
+ Tăng trưởng tính tòan cầu của các cấu trúc hoạt động
+ Những quy định về luật
+ Đưa lao động đến gần thị trường người tiêu dung
Tính nhân đạo và sự thể hiện của nó là mục đích chủ yếu của khoa học lao động
Tương quan thay đổi giữa con ngườivà kĩ thuật không bao giờ dừng lại, chính
nó là động lực cho sự phát triển, đặc biệt qua các yếu tố:
+ Sự chuyển đổi các giá trị trong xã hội
+ Sự phát triển dân số
+ Công nghệ mới
+ Cấu trúc sản xuất thay đổi
+ Những bệnh tật mới phát sinh
Khoa học lao động có nhiệm vụ:
+ Trang bị kĩ thuật, thiết bị cho phù hợp (hay tối ưu) với việc sử dụng của người lao động
+ Nghiên cứu sự liên quan giữa con người trong những điều kiện lao động về tổ
Trang 31chức và kĩ thuật
Để giải quyết được những nhiệm vụ có liên quan với nhau này, khoa học lao động có phạm vi rộng bao gồm nhiều ngành khoa học kĩ thuật: các ngành khoa học cơ bản, y học, tâm lý học, tóan học, thông tin kinh tế cũng như các phương pháp nghiên cứu của nó
2.6.2- Hệ thống lao động:
Hệ thống lao động là một mô hình lao động bao gồm con người và các trang bị
kỹ thuật Mục tiêu của hệ thống lao động là để hòan thành những nhiệm vụ lao động nhất định
Hệ thống lao động là một mô hình lao động, nó có thể được thể hiện hay mô tả một cách trừu tượng bằng lời hay bằng hình ảnh
HÌNH 3: MÔ HÌNH CỦA HỆ THỐNG LAO ĐỘNG
2.6.3- Hình thức lao động:
Hình thức lao động được tổ chức theo:
+ Lao động riêng rẽ, lao động theo tổ hay nhóm
+ Lao động bên cạnh nhau, lao động lần lượt tiếp theo, lao động xen kẽ
+ Lao động tại một chỗ hay nhiều chỗ làm vịêc
Hình thức lao động còn được chia ra nhiều kiểu lao động Kiểu lao động như lao động tổn hao nhiều năng lượng hay lao động thông tin; còn loại lao động được chia
ra làm 5 loại:
+ Lao động cơ bắp (như mang, vác)
Con người
Các phương tiện lao động
Đầu vào
Nhiệm vụ của
hệ thống Môi trường
Đầu ra
Trang 32+ Lao động nhạy cảm (sữa chữa, lắp ráp)
+ Lao động tích cực (lái ô tô)
+ Lao động tổng hợp (thiết kế, quyết định)
+ Lao động sáng tạo (phát minh)
+ Lao động tĩnh (các lao động trí óc, nghiên cứu khoa học hay theo dõi quan sát)
2.6.4- Con người có khả năng tạo ra năng suất lao động và có khả năng điều
chỉnh hành động; tuy vậy những hành động sai hay sai trong hành động vẫn tồn tại và
đó cũng là một trong những nguyên nhân gây ra TNLĐ
Hành động sai, sai trong hành động, và độ tin cậy:
Sự an tòan đối với người lao động trong tương quan với công cụ và phương tiện lao động, cũng như môi trường lao động là vấn đề được trao đổi nhiều Nhưng sự bất lực của con người trước những thảm họa hay những sai phạm trong kỹ thuật vẫn còn tồn tại
Về nguyên tắc một quá trình kỹ thuật phải đật yếu tố an tòan đối với con người lên hàng đầu của sự ưu tiên Tuy nhiên trong thực tế người ta chỉ có thể hạn chế đến mức tối thiểu những sự cố xảy ra
Phần lớn các tai nạn lao động dẫn đến là do sự bất lực của con người Phân tích các tai nạn thấy rằng ảnh hưởng của sự xử lý nhầm lẫn hay không phù hợp trong những tình huống trên cơ sở đánh giá những hiện tượng vật lý do sự thiếu hiểu biết, sự chủ quan hay bi sốc (stress) Thường trong các hệ thống kỹ thuật đều có các chỉ dẫn phòng ngừa tai nạn xảy ra đối với con người Bên cạnh đó những xử lý sai của con người gây ra những tổn thương nghiêm trọng đối với người lao động, với cơ sở vật chất và môi trường
Các yếu tố ảnh hưởng đến lao động của con người là: nhiệm vụ được giao, điều kiện lao động và các yếu tố tiền đề tạo năng suất lao động
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những sai phạm của con người chính là chưa chú
ý đầy đủ đến tính chất và khả năng của con người trong hệ thống lao động
Chẳng hạn tai nạn xảy ra ở lò phản ứng tại nhà máy điện nguyên tử ở
Tschernobyl, với hậu quả cho con người và tự nhiên đã được trao đổi nhiều về sự tương quan giữa người và máy: đâu là lỗi do con người và đâu là lỗi do kỹ thuật?
Trang 33+ Đưa vào những phương pháp không cần thiết
+ Sự gặp gỡ ngẫu nhiên giữa các sự kiện hay lỗi khác nhau
- Độ tin cậy:
Tần suất xuất hiện những sai phạm trong lao động được ZIMOLONG và
DORFEL định nghĩa về xác suất sai phạm trong lao động của con người là:
HEP = N/n
Trong đó: N là số sai phạm xảy ra
n là số khả năng sai phạm có thể xảy ra
Độ tin cậy R được xác định như sau:
R = 1 - HEP = 1 - N/n
Độ tin cậy được định nghĩa là bản chất của hệ thống, những yêu cầu của độ tin cậy được hòan thành có liên quan với những yêu cầu cho trước trong một khỏang thời gian nhất định
Có thể nói sai phạm là sự không hòan thành những yêu cầu cho trước thông qua một giá trị đặc trưng Có nghĩa là sai phạm được thể hiện một tình trạng sai lệch không cho phép
Sai phạm của con người trong một hệ thống lao động là không thể loại trừ Mục tiêu của loại hình lao động là để tránh các sai phạm
2.7- Những nội dung chủ yếu của công tác Bảo Hộ Lao Động:
Mục đích của lao động là đạt được thành quả nào đó, nhưng trong thực tế cuộc sống, được và mất là hai mặt luôn tồn tại song song với nhau trong quá trình lao động Khi có lao động thì ắt sẽ phải có những mất mát không ai mong muốn như: mất tính mạng, mất chất xám, mất mồ hôi, mất sức lao động, mất một phần cơ thể….và một trong vô số cái mất đó là tai nạn lao động Tuy vậy chúng ta cần phải tìm ra một giải pháp, một lựa chọn tối ưu là làm cách nào hạn chế những mất mát, giảm thiểu tối những tai nạn lao động không mong muốn trong quá trình lao động của con người
2.7.1- Khoa học vệ sinh lao động:
Môi trường xung quanh ảnh hưởng đến điều kiện lao động và do đó ảnh hưởng đến con người, dụng cụ, máy và trang thiết bị Ảnh hưởng này còn có khả năng lan truyền trong một phạm vi nhất định Sự chịu đựng quá tải (điều kiện dẫn đến nguyên nhân gây bệnh) dẫn đến khả năng sinh ra bệnh nghề nghiệp Để phòng ngừa bệnh nghề
Trang 34nghiệp cũng như tạo ra điều kiện tối ưu cho sức khỏe và tình trạng lành mạnh cho người lao động chính là mục đích của vệ sinh lao động (bảo vệ sức khỏe) Đặc biệt vệ sinh lao đông có để cập đến những biện pháp bảo vệ bằng kỹ thuật theo những yêu cầu nhất định Ở những điều kiện môi trường lao động phù hợp vẫn có thể xảy ra nhiều sự rủi ro về tai nạn và do đó không bảo đảm an toàn Sự giả tạo về thị giác hay âm thanh của thông tin cũng như thông tin sai có thể xảy ra Bởi vậy sự thể hiện các điều kiện của môi trường lao động là một phần quan trọng của sự thể hiện lao động
Các yếu tố tác động xấu đến hệ thống lao động cấn được phát triển và tối ưu hóa Mục đích này không chỉ nhằm đảm bảo sức khỏe và an toàn lao động, mà đặc biệt còn tạo nên những cơ sở cho việc làm giảm sự căng thẳng trong lao động, nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế, điều chỉnh những hoạt động của người lao động một cách thích hợp, không những thế nó còn liên quan đến chức năng về độ tin cậy, an toàn và tối ưu kỹ thuật Với ý nghĩa đó thì điều kiện môi trường lao động là điều kiện xung quanh của hệ thống lao động cũng như là thành phần của hệ thống Thuộc thành phần của hệ thống là những điều kiện về không gian, tổ chức, trao đổi cũng như xã hội
2.7.1.1- Đối tượng và mục tiêu đánh giá cũng như thể hiện các yếu tố của môi trường lao động:
Các yếu tố của môi trường lao động dược đặc trưng bởi các điều kiện xung quanh về vật lí, hóa học, vi sinh vật (như các tia bức xạ, dao động, bụi )
Mục đích chủ yếu của việc đánh giá các điều kiện xung quanh là:
- Bảo đảm sức khỏe và an toàn lao động
- Tránh căng thẳng trong lao động
- Tạo khả năng hoàn thành công việc
- Bảo đảm chức năng các trang thiết bị hoạt động tốt
- Tạo điều kiện sản phẩm tiếp thị tốt
- Tạo hứng thú trong lao động
Cơ sở của việc đánh giá các yếu tố môi trường lao động là:
- Khả năng lan truyền của các yếu tố môi trường lao động từ nguồn
- Sự lan truyền của các yếu tố này thông qua con người ở vị trí lao động
2.7.1.2- Tác động chủ yếu của các yếu tố môi trường lao động đến con người:
Các yếu tố tác động chủ yếu là các yếu tố môi trường lao động về vật lí, hóa học, sinh học, ở đây chỉ xét về mặt các yếu tố này gây ảnh hưởng đến con người; chẳng hạn khi đánh giá về chiếu sáng người ta lấy các thông số đánh giá là các đại lượng ảnh hưởng sinh học
Tình trạng sinh lí của cơ thể cũng chịu tác động và phải được điều chỉnh thích hợp, xét cả hai mặt tâm lí và sinh lí
Trang 35Tác động của năng suất lao động cũng ảnh hưởng trực tiếp về mặt tâm lí đối với ngưòi lao động tất nhiên năng suất lao động còn phụ thuộc rất nhiều yếu tố khác nhau (chẳng hạn về nghề nghiệp, gia đình, xã hội ) Vì vây khi nói đến các yếu tố ảnh hưởng của môi trường lao động, phải xét cả các yếu tố tiêu cực như tổn thương, gây nhiễu và các yếu tố tích cực như yếu tố sử dụng
BẢNG1 :Các yếu tố của môi trường lao động
sự nhận biết tín hiệu âm thanh)
Vượt quá giới hạn cho phép
Phụ thuộc thời gian tác động tổn thương thính giác
Âm thanh dùng làm tín hiệu âm nhạc tác động tốt cho tinh thần
Rung động
Ví dụ: những hành động chính xác
Vượt quá giới hạn cho phép
Phụ thuộc vào thời gian tác động, tổn thương sinh học, ảnh hưởng đến tuần hoàn máu
Ứng dụng trong lĩnh vực y học
Chiếu sáng
- Cường độ sáng
- Mật độ chiếu
Khi không đủ ánh sáng (cường độ thấp) Mật độ chiếu sáng cao làm hoa mắt
Mật độ chiếu sáng thay đổi ảnh hưởng đến phạm
vi nhìn thấy
Giảm thị lực khi cường độ thấp
Mật độ chiếu sáng cao, vượt quá khả năng thích nghi của mắt
Dùng làm tín hiệu cảm nhận
Tăng cường khả năng sinh học
Dùng làm tín hiệu cảm nhận (nhận biết, sự tương phản, hình dạng )
Khí hậu Thời tiết đơn điệu Thời tiết vượt Điều kiện thời tiết
Trang 36dễ chịu
Độ sạch của không khí
Ví dụ:bụi và mùi
vị ảnh hưởng đến con người
Nhiễm độc tố đến mức không cho phép
Trường điện từ Không có cảm
nhận chuyển đổi
Tác động nhiệt hay tác động gián tiếp khi vượt quá giới hạn cho phép
Úng dụng trong lĩnh vực y học
Một điều cần chú ý là sự nhận biết mức độ tác động của các yếu tố khác nhau đối với người lao động để có các biện pháp xử lí thích hợp
2.7.1.3- Đo và đánh giá vệ sinh lao động:
Đầu tiên là phát hiện các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường lao động về mặt số lượng, và chú ý đến những yếu tố ảnh hưởng chủ yếu Từ đó tiến hành đo, đánh giá Ở đây cần xác định rõ ranh giới của phạm vi lao động Tiếp theo là việc lập kế hoạch kiểm tra để phát hiện các yếu tố nguy hiểm (vượt quá giới hạnh cho phép)
2.7.1.4- Cơ sở về các hình thức vệ sinh lao động:
Các hình thức của các yếu tố ảnh hưởng của môi trường lao động là những điều kiện ở chỗ làm việc (trong nhà máy hay văn phòng ), trạng thái lao động (làm việc ca ngày hay ca đêm ), yêu cầu của nhiệm vụ được giao (lắp ráp, sửa chữa, gia công cơ hay thiết kế, lập chương trình); và các phương tiện lao động, vật liệu
Phương thức hành động phải chú ý đến các vấn đề sau:
- Xác định đúng các biện pháp về thiết kế, công nghệ, tổ chức và chống lại sự lan truyền các yếu tố ảnh hưởng của môi trường lao động (biện pháp ưu tiên)
- Biện pháp chống sự xâm nhập ảnh hưởng xấu của môi trường lao đông đến chỗ làm việc, chống lan tỏa (biện pháp thứ hai)
- Hình thức lao động cũng như tổ chức lao động
- Biên pháp tối ưu làm giảm sự căng thẳng trong lao dộng (thông qua tác động đối kháng)
- Các biện pháp cá nhân (bảo vệ đường hô hấp, tai)
Trang 372.7.2- Cơ sở kĩ thuật an toàn
2.7.2.1- Lí thuyết về an toàn và phương pháp an toàn:
Những định nghĩa:
+ An toàn: Xác suất, cho những sự kiện được định nghĩa (sản phẩm, phương
pháp, phương tiện lao động ), trong một khoảng thời gian nhất định không xuất hiện những tổn thương đối với người, môi trường và phương tiện Theo TVCN 3153-79 định nghĩa như sau: Kĩ thuật an toàn là hệ thống các biện pháp và phương tiện, tổ chức
và kĩ thuật nhằm phòng ngừa sự tác động của các yếu tố nguy hiểm gây chấn thương sản xuất đối với người lao động
+ Sự nguy hiểm: là trạng thái hay tình huống, có thể xảy ra tổn thưong thông
qua các yếu tố gây hại hay yếu tố chịu đựng
+ Sự gây hại: khả năng tổn thương đến sức khỏe của người hay xuất hiện bởi
những tổn thương đến sức khỏe của người hay xuất hiện bởi những tổn thương trong một tình huống gây hại
+ Giới hạn rủi ro: là một phạm vi, có thể xuất hiện rủi ro của một quá trình
hay một trạng thái kĩ thuật
Có thể hình dung các khái niệm trên như sơ đồ sau:
HÌNH 4: GIỚI HẠN GIỮA AN TOÀN VÀ RỦI RO
Phương pháp thể hiện kĩ thuật an tòan cũa hệ thống lao động cũng như thành phần của các hệ thống (ví dụ: phương tiện lao động, phương pháp lao động) là một diễn biến logic, nó có thể chia làm 3 bước
An tòan
Nguy hiểm
Rủi ro
Giới hạn rủi ro
Trang 38
HÌNH 5: PHƯƠNG PHÁP THỂ HIỆN KĨ THUẬT AN TÒAN TRONG MỘT HỆ THỐNG LAO ĐỘNG
2.7.2.2- Đánh giá sự gây hại, an tòan và rủi ro:
Sự gây hại sinh ra do tác động qua lại giữa con người và các phần tử khác của hệ thống lao động được gọi là hệ thống Người – Máy – Môi trường
Có nhiều phương pháp đánh giá khác nhau Bên cạnh sự phân chia trong đó phân tích về quá khứ, hiện tại và tương lai, có thể phương pháp được phân biệt thông qua việc ứng dụng các thành phần đã nói đến hệ thống lao động, con người hay phương tiện lao động/Môi trường lao động Khi phân tích về sự gây hại chủ yếu là tìm được nguồn gây hại của hệ thống lao động, phân tích sự an tòan và tình trạng tác hại có thể xảy ra trong hệ thống kỹ thuật nào đó
Phương thức thể hiện kỹ thuật an tòan
(1) Nhận biết
sự nguy hiểm sự nguy hiểm (1) Nhận biết
Phương pháp phân tích Phương pháp đánh giá Dẫn đến mức độ thể hiện
Sự nguy hiểm +
con người Sự gây hại Tổn thương
Phân tích tình trạng
Phân tích tác động
Trang 39tổn thương Phân tích chính xác những khả năng dự phòng trên cơ sở những điều kiện lao động và những giả thiết khác nhau
2.7.3- Khoa học vềcác phương tiện bảo vệ người lao động:
Ngành khoa học này có nhiệm vụ nghiên cứu, thiết kế, chế tạo những phương tiện bảo vệ tập thể hay cá nhân người lao động để sử dụng trong sản xuất nhằm chống lại những ảnh hưởng của các yếu tố nguy hại, khi các biện pháp về mặt kĩ thuật vệ sinh
và kĩ thuật an toàn không thể loại trừ được chúng
2.7.4- Ecgônômi với an tòan sức khỏe người lao động:
Nghiên cứu tổng hợp sự thích ứng giữa các phương tiện kỹ thuật và môi trường lao động với khả năng của con người về giải phẫu, sinh lí, tâm lí nhằm đảm bảo cho lao động có hiệu quả nhất đồng thời bảo vệ sức khỏe, an tòan cho con người
Trang 40dụ, thanh hàng rào bảo vệ đầu tiên được phát minh vào năm 1868 Phong trào đảm bảo nơi làm việc an tòan hơn tiếp theo ngay với phong trào công nhân mạnh mẽ để thành lập nghiệp đòan với những nổ lực hợp pháp đã lập ra Luật bồi thường của công nhân đầu tiên Cùng thời gian đó, ví dụ vào đầu thế kỉ XX, những nghiên cứu có hệ thống đầu tiên về hiệu quả trong sản xuất được Fredrich Taylor, cha đẻ của ngành Quản lý khoa học hướng dẫn Trong khi mối quan tâm của Taylor là hiệu quả, năng suất và lợi nhuận, ông nhấn mạnh vào thời gian tiêu hao đã dẫn đến sự hiểu biết sớm về quan hệ tương hỗ quan trọng giữa an tòan và quản lý mà chúng ta công nhận ngày nay Các chương trình an tòan ngày đang tồn tại được xây dựng từ các nỗ lực tổng hợp đã có trong nguồn gốc lịch sử, nhà phát minh an toàn, nhà lập pháp có liên quan và quản lý
âm thanh
Không có gì phải bàn khi đã có nhiều tiến bộ vững chắc trong việc tạo ra an toàn hơn để làm việc Ví dụ, số liệu gần đây chỉ ra tỉ lệ chết do thương tật ở nơi làm việc là 4,4 trên 100.000 công nhân, vào khoảng một phần ba so với 50 năm trước Tuy nhiên, các chương trình an toàn không thể chỉ được xét đoán dựa vào riêng tỷ lệ chết Một chỉ số có giá trị khác là chi phí cho thương tật Năm 1982, tổng chi phí lợi nhuận cho công nhân tàn tật là 16.1 tỉ đô la, trong khi Hội đồng an toàn Quốc gia ước tính tổng chi phiá thương tật do làm việc, bao gồm thiệt hại sản phẩm và các thiệt hại khác
là 31.4 tỉ đô la Số tiền này tính ra là hơn 200 đô la cho mỗi công nhân trong cả nước Tuy nhiên, chi phí này hầu như không có ý nghĩa gì cả, khi chúng ta xem xét 16.5% dân số là người tàn tật, gần một nửa là hoàn toàn không thể làm việc được
Phần nhiều cái được gọi là lỗi hay chưa có cách tiếp cận về an toàn là nguồn gốc trong lịch sử phong trào an toàn Có nhiều lịnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá có tương quan mật thêít với nhau Nâng cao sự an toàn là điều hướng tới nhiều nhất trong tương lai khi biết kếy hợp mối quan tâm của công nhân với việc quản lý và khi xóa bỏ sự khác biệt về văn hoá được dựa trên việc không phân biệt bất kỳ chủng tộc, giới tính hay nhóm thiểu số nào Tuy nhiên, hãy kiểm tra xem chúng ta đã tiến đến đâu, luật phápnào đã tham dự vào và các chương trình an toàn ngày nay đã phát triển như thế nào? Chỉ sau khi chúng ta có thể bắt đảu hiểu các chương trình an tàn ra đời như thế nào, một vài vấn đề sẽ được xem xét chi tiết trong các chương tiếp theo