1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHÁT THẢI RẮN Y TÉ TẠI QUẬN TÂN BÌNH VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP KIỆM SOÁT ĐẾN NĂM 2015

87 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát, Đánh giá Hiện Trạng Chất Thải Rắn Y Tế Tại Quận Tân Bình Và Đề Xuất Biện Pháp Kiểm Soát Đến Năm 2015
Tác giả Nguyễn Hà Vĩnh Lộc
Người hướng dẫn TS. Trương Thị Tố Oanh
Trường học Trường Đại Học Tôn Đức Thắng
Chuyên ngành Khoa Học Môi Trường
Thể loại Luận Văn Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố TP.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU (12)
    • 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ (12)
    • 1.2 M ỤC TIÊU (12)
    • 1.3 N ỘI DUNG (12)
    • 1.4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU (13)
    • 1.5 Ý NGH ĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN (13)
  • CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ QUẬN TÂN BÌNH (14)
    • 2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN (14)
    • 2.2 DÂN S Ố (16)
    • 2.3 KINH T Ế (16)
    • 2.4 VĂN HÓA X Ã H ỘI (18)
    • 2.5 ĐỜI SỐNG (18)
  • CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP X Ử LÝ (19)
    • 3.1 KHÁI NI ỆM CHẤT THẢI RẮN Y TẾ (19)
    • 3.2 PHÂN LO ẠI (19)
    • 3.3 PHÂN TÍCH NGUY CƠ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT THẢI Y TẾ ĐẾN (23)
      • 3.3.1 Nh ững nguy cơ của chấ t th ải y tế (23)
      • 3.3.2 Ảnh hưởng của chất thải y tế (29)
    • 3.4 THÀNH PH ẦN CHẤT THẢI RẮN BỆNH VIỆN (31)
    • 3.5 CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ (32)
  • CHƯƠNG 4: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH KHÁM CHỮA BỆNH TẠI QUẬN TÂN BÌNH (34)
    • 4.1 TÌNH HÌNH PHÁT TRI ỂN NGÀNH Y TẾ CỦA QUẬN TÂN BÌNH (34)
    • 4.2 THÔNG TIN T ẠI CÁC CƠ SỞ ĐIỀU TRỊ TẠI QUẬN TÂN BÌNH (35)
    • 4.3 CƠ CẤU KHÁM CHỮA BỆNH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TÂN BÌNH (38)
  • CHƯƠNG 5: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ DỰ BÁO DIỄN BIẾN CHẤT THẢI (40)
    • 5.1 HI ỆN TRẠNG QUẢN LÝ CH ẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI VIỆT NAM (40)
      • 5.1.1 Nh ận định chung (40)
      • 5.1.2 Quy trình qu ản lý chất thải rắn y tế (41)
    • 5.2 LƯỢNG RÁC THẢI Y TẾ HIỆN TẠI (41)
    • 5.3 HI ỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI QUẬN TÂN BÌNH (45)
      • 5.3.1 H ệ thống quản lý chất thải rắn y tế trong các b ệnh viện (47)
      • 5.3.2 H ệ thống quản lý chất thải rắn y tế ngoài các b ệnh vi ện (53)
    • 5.4 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI QUẬN TÂN BÌNH (61)
    • 5.5 D Ự BÁO DIỄN BIẾN CHẤT THẢI RẮN Y TẾ QUẬN TÂN BÌNH ĐẾN NĂM (64)
      • 5.5.1 Căn cứ dự báo (64)
      • 5.5.2 D ự báo về dân số và tỉ lệ tăng dân số (64)
      • 5.5.3 D ự báo về lượng CTRYT đến năm 2015 (65)
      • 5.5.4 D ự báo tác động đến môi trường (67)
  • CHƯƠNG 6: ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT TÌNH HÌNH QUẢN LÝ (69)
    • 6.1 GI ẢI PHÁP KỸ THUẬT (69)
    • 6.2 GI ẢI PHÁP QUẢN LÝ (71)
      • 6.2.1 Các c ấp quản lý CTRYT hiện nay (71)
      • 6.2.2 Gi ải pháp cho công tác phân loại CTRYT tại nguồn (73)
      • 6.2.3 Gi ải pháp cho công tác thu gom, vận chuyển tại khoa phòng (75)
      • 6.2.4 Gi ải pháp đối với nhà lưu chứa chất thải y tế (76)
      • 6.2.5 Gi ải pháp cho công tác thu gom, vận chuyển đến nơi xử lý (77)
      • 6.2.6 Gi ải pháp cho công tác xử lý (77)
    • 6.3 CÔNG C Ụ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG (77)
    • 6.4 GI ẢI PHÁP NGUỒN TÀI CHÍNH (78)
    • 6.5 GI ẢI PHÁP NÂNG CAO Ý THỨC CỘNG ĐỒNG (78)
    • 6.6 B ẢO VỆ CÁ NHÂN (78)
  • CHƯƠNG 7: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (80)

Nội dung

 Ch ất thải lâm sàng clinical waste: gồm 5 nhóm • Nhóm A infectious waste là chất thải nhiễm khuẩn, bao gồm: những vật liệu bị thấm máu, thấm dịch, các chất bài tiết của người bệnh như

TỔNG QUAN VỀ QUẬN TÂN BÌNH

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

Hình 2.1 Bản đồ quận Tân Bình

Quận Tân Bình là quận ven nội thành với số dân là 425.797 người (đầu năm 2003), diện tích 30,32 km 2 trong đó sân bay Tân Sơn Nhất 13,98 km 2

Quận Tân Bình có địa hình bằng phẳng, độ cao trung bình khoảng 4-5 m; cao nhất ở khu vực sân bay Tân Sơn Nhất với khoảng 8-9 m Trên địa bàn còn có hệ thống kênh rạch và đất nông nghiệp, cho thấy sự đa dạng về cảnh quan và quy hoạch của khu vực.

Quận là trung tâm dịch vụ thương mại sôi động và là đầu mối giao thông hàng không của phía Nam và cả vùng Đông Nam Á, nhờ sự hiện diện của sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất Địa hình của quận nằm ở hướng Tây Bắc nội thành, góp phần tăng cường liên kết giữa thương mại, logistics và vận tải hàng không với các khu vực lân cận, đồng thời thu hút đầu tư và phát triển hạ tầng giao thông kết nối quốc tế.

• Đông giáp quận Phú Nhuận, quận 3, quận 10.

• Bắc giáp quận 12, quận Gò Vấp.

0 Đến cuối năm 2003, thực hiện Nghị định 130/2003/ NĐ – CP ngày 5 tháng 11 năm

2003 của Chính phủ, quận Tân Bình được điều chỉnh địa giới, tách ra thành lập quận Tân Phú

2, trong đó sân bay Tân Sơn Nhất 8,44 km 2

• Đông giáp quận Phú Nhuận, quận 3, quận 10

• Bắc giáp quận 12, quận Gò Vấp.

• Tây giáp quận Tân Phú.

Có 15 phường trực thuộc Ủy ban nhân dân Quận, từ phường 1 đến phường 15

Quận Tân Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, với hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa nắng từ tháng 11 đến tháng 4 Nhiệt độ tương đối ổn định, tổng lượng nhiệt lớn và lượng mưa thấp, đồng thời gió mạnh và độ bốc hơi cao, đặc biệt từ tháng 4 đến tháng 5.

Mùa mưa có gió Tây – Tây Nam thổi với vận tốc 3,6 m/s Gió Đông – Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 2, vận tốc trung bình 2,4 m/s.

Bảng 2.1 Nhiệt độ trung bình, số giờ nắng, lượng mưa và độ ẩm

(Trạm Tân Sơn Nhất-Tân Bình- Số liệu của Cục thống kê thành phố)

Lượng mưa (mm) 1779,4 1783,6 1742,8 1798,4 2340,2 Độ ẩm 74 75 75 76 76

Nguồn: Phòng thống kê quận Tân Bình, năm 2007

DÂN S Ố

Thể hiện qua dãy số biến động từ năm 2003-2007 như sau :

DÂN S Ố TRUNG BÌNH (ĐVT: Người)

KINH T Ế

Quận là địa phương lớn nhất thành phố về giá trị sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, cho thấy tiềm năng và sức mạnh của nền kinh tế địa phương Đồng thời, quận đứng thứ ba về thu ngân sách và dẫn đầu về số lượng cơ sở sản xuất, kinh doanh đang hoạt động trên địa bàn, thể hiện sự đa dạng và sôi động của các ngành công nghiệp hiện có.

Hình 2.2 Biểu đồ dân số trung bình

GIÁ TRỊ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

KIM NGẠCH XUẤT NHẬP KHẨU

Hình 2.3 Biểu đồ thể hiện giá trị sản xuất công nghiệp

Hình 2.4 Biểu đồ thể hiện giá trị kim ngạch xuất khẩu

Xây dựng cơ sở hạ tầng

Hạ tầng kỹ thuật được đầu tư hàng năm, duy tu và tân tạo nhằm mở thêm hàng chục tuyến đường; nhiều ngõ hẻm đã được bê tông hóa và ở nhiều phường tỷ lệ bê tông hóa gần 100% Các khu chung cư cao tầng và khu dân cư được quy hoạch xây dựng khang trang, đồng bộ và hiện đại để đáp ứng nhu cầu ở và sinh hoạt ngày càng cao Những cải thiện này thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương bằng cách cải thiện kết nối giao thông và tạo điều kiện thu hút đầu tư.

Quận Tân Bình có 2 cửa ngõ giao thông quan trọng của cả nước: Cụm cảng hàng không sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất ( diện tích 7,44 km 2

VĂN HÓA X Ã H ỘI

) và quốc lộ 22 về hướng Tây Ninh, Campuchia

Chương trình xóa đói giảm nghèo được triển khai thường xuyên và xem là nhiệm vụ trọng tâm của các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việc thực hiện chương trình này được tổ chức có hệ thống, phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, ngành và địa phương nhằm đảm bảo sự đồng bộ và hiệu quả trong công tác xóa đói giảm nghèo.

Quận tích cực chăm lo cho các đối tượng chính sách, thực hiện xây dựng nhà tình nghĩa và nhà tình thương, đồng thời giúp đỡ các gia đình neo đơn và người có công với cách mạng Các hoạt động này nhằm nâng cao đời sống, đảm bảo an sinh xã hội và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cộng đồng Do đó, quận có số lượng đối tượng hưởng chế độ chính sách khá lớn, được chăm lo đầy đủ, thường xuyên cập nhật và thực hiện đúng chế độ.

Các di tích lịch sử và cách mạng cấp quốc gia như địa đạo Phú Thọ Hòa, khu lưu niệm cụ Phan Châu Trinh, chùa Giác Lâm và di tích lịch sử kho bom Phú Thọ được duy tu, bảo tồn thường xuyên nhằm phục vụ cư dân địa phương và du khách tham quan, ngưỡng mộ giá trị lịch sử và văn hóa phong phú của vùng đất này.

ĐỜI SỐNG

Chúng ta đang trên đường hòa nhập phát triền công nghiệp hóa hiện đại hóa, đời sống nâng cao rất nhiều.

Thu nhập của người dân cao hơn khoảng 5% so với thu nhập bình quân đầu người của thành phố GDP bình quân đầu người tăng từ 360 USD lên 1.350 USD mỗi năm, tương đương mức tăng 5,4%.

TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP X Ử LÝ

KHÁI NI ỆM CHẤT THẢI RẮN Y TẾ

Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động khám chữa bệnh, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, xét nghiệm và chẩn đoán Nó còn bao gồm chất thải phát sinh từ các hoạt động trong công tác phòng bệnh và các hoạt động nghiên cứu và đào tạo về y sinh học.

Chất thải rắn y tế (rác y tế) là thành phần chất thải y tế ở dạng rắn, không tính chất thải dạng lỏng và khí.

Chất thải rắn y tế bao gồm:

• Bơm tiêm kèm kim tiêm.

• Mô tế bào người hoặc động vật: xương, nội tạng, bào thai hoặc các bộ phận của cơ thể.

• Bình, túi hoặc ống dẫn chứa các chất lỏng từ cơ thể.

PHÂN LO ẠI

Phân loại và xác định chất thải y tế ở hầu hết các nước trên thế giới, kể cả các nước trong khu vực, và theo các hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), được thực hiện một cách nhất quán và nhìn chung bao gồm các loại chính sau: chất thải lây nhiễm từ bệnh phẩm và dịch cơ thể; chất thải sinh học và mẫu vật đã qua xử lý; chất thải sắc nhọn như kim tiêm và dụng cụ có cạnh sắc; chất thải dược phẩm và hóa chất y tế; chất thải phóng xạ và các chất có tính phóng xạ; chất thải tế bào học và mô; và chất thải không nguy hại phát sinh trong quá trình chăm sóc sức khỏe.

 Chất thải lâm sàng (clinical waste): gồm 5 nhóm

Nhóm A (infectious waste) là chất thải nhiễm khuẩn, bao gồm những vật liệu bị thấm máu, thấm dịch và các chất bài tiết của người bệnh như băng, gạc, bông, găng tay, bột bó, đồ vải, các túi hậu môn nhân tạo, dây truyền máu, các ống thông, dây và túi đựng dịch dẫn lưu và các thành phần liên quan khác.

Nhóm B (sharps) là các vật sắc nhọn có khả năng gây vết cắt hoặc chọc thủng da, bao gồm bơm tiêm, kim tiêm, lưỡi và cán dao mổ, đinh mổ, cưa, ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và bất kỳ vật liệu nào khác có thể gây thương tích, dù chúng có thể nhiễm khuẩn hay không.

Chất thải nguy cơ lây nhiễm nhóm C là loại chất thải phát sinh từ các phòng xét nghiệm và quá trình xét nghiệm, nuôi cấy, bao gồm găng tay đã qua sử dụng, lam kính, ống nghiệm, bệnh phẩm sau khi sinh thiết/xét nghiệm/nuôi cấy, và túi đựng máu Do có khả năng lây truyền cao, nhóm này đòi hỏi các biện pháp quản lý chất thải y tế nghiêm ngặt từ phân loại, đóng gói an toàn, vận chuyển bằng container chuẩn hóa cho tới tiêu hủy đúng cách theo quy định an toàn sinh học, nhằm bảo vệ cán bộ y tế và môi trường khỏi nguy cơ nhiễm khuẩn.

Ch ất thải lâm sàng

Ch ất thải gây độc tế bào Nhóm A Nhóm B Nhóm C Nhóm D Nhóm E

Ch ất thải phóng xạ

Ch ất thải hóa học Các lo ại bình chứa có áp

Ch ất thải sinh hoạt

Hình 3.1 Sơ đồ phân loại chất thải y tế

Nhóm D là tập hợp chất thải dược phẩm gồm thuốc quá hạn, thuốc bị nhiễm khuẩn, thuốc bị đổ bỏ và thuốc không còn nhu cầu sử dụng cùng với thuốc gây độc tế bào Những loại thuốc này cần được thu gom riêng và xử lý an toàn để ngăn ngừa ô nhiễm môi trường và bảo vệ sức khỏe cộng đồng Việc nhận diện và quản lý đúng nhóm D giúp đảm bảo tuân thủ các quy định về an toàn dược phẩm và môi trường.

Nhóm E (pathological waste) là rác thải sinh học bệnh lý, gồm các mô và cơ quan của người và động vật, bao gồm cả các bộ phận cơ thể như chân tay, nhau thai và bào thai, dù nhiễm khuẩn hay không nhiễm khuẩn.

 Chất thải gây độc tế bào

Các thuốc gây độc tế bào, hay còn gọi là thuốc hóa trị, là nhóm thuốc được dùng chủ yếu ở chuyên khoa ung bướu để điều trị ung thư Chúng tác động bằng cách tiêu diệt hoặc làm hại tế bào ung thư, đồng thời có thể gây suy giảm miễn dịch ở người bệnh Vì vậy, đây được xem là các thuốc ung thư hoặc thuốc hóa trị liệu ung thư, nhằm kiểm soát sự phát triển của khối u và cải thiện triển vọng điều trị cho bệnh nhân.

Thuốc có khả năng phá hủy hoặc ngừng sự tăng trưởng của tế bào, đóng vai trò then chốt trong điều trị ung thư Tuy nhiên, nhiều loại thuốc này cũng gây suy giảm miễn dịch khi sử dụng cho ghép phủ tạng hoặc điều trị các bệnh liên quan tới hệ miễn dịch Thông thường các thuốc này được sử dụng bằng đường tiêm, đường truyền tĩnh mạch và đôi khi bằng đường uống ở dạng viên nén, viên nang hoặc dung dịch nước uống.

Các chất gây độc cho tế bào bao gồm:

• Các vật liệu bị ô nhiễm trong quá trình chuẩn bị và dùng thuốc cho người bệnh như bơm tiêm, kim tiêm, gạc, các lọ thuốc, hộp đóng gói…

• Các thuốc quá hạn, các dung dịch còn thừa lại, các độc chất tế bào từ các buồng bệnh đưa về.

Tại các bệnh viện chuyên khoa ung thư, các chất thải gây độc tế bào có thể chiếm tới 1% toàn bộ chât thải của bệnh viện.

Chất thải phóng xạ là chất thải có hoạt độ riêng phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, hóa trị liệu và nghiên cứu Chất thải phóng xạ gồm các dạng rắn, lỏng và khí, tùy thuộc vào loại nguồn phóng xạ và quy trình xử lý Quản lý an toàn chất thải phóng xạ đòi hỏi các biện pháp kiểm soát nghiêm ngặt nhằm bảo vệ sức khỏe con người và môi trường khỏi rủi ro phóng xạ.

Chất thải phóng xạ rắn gồm các vật liệu được sử dụng trong các xét nghiệm, chẩn đoán và điều trị, cùng các dụng cụ y tế liên quan chứa phóng xạ như ống tiêm, bơm tiêm, kim tiêm, kính bảo hộ, giấy thấm, gạc sát khuẩn, ống nghiệm và chai lọ đựng chất phóng xạ.

Chất thải phóng xạ lỏng là các dung dịch chứa nhân phóng xạ phát sinh trong quá trình chuẩn đoán và điều trị y tế, bao gồm nước tiểu của người bệnh, các chất bài tiết và nước súc rửa dùng cho dụng cụ có chứa phóng xạ Việc quản lý và xử lý các dung dịch này đòi hỏi thu gom, lưu giữ an toàn theo quy định nhằm giảm thiểu phơi nhiễm và ô nhiễm môi trường Các biện pháp quản lý chất thải phóng xạ lỏng cần được thực hiện bởi đội ngũ được đào tạo, có hệ thống kiểm soát và giám sát chặt chẽ để bảo vệ người làm việc và cộng đồng.

• Chất thải phóng xạ khí bao gồm: các chất khí dùng trong lâm sàng như 133Xe, các khí thoát ra từ các kho chứa chất phóng xạ…

Chất thải y tế phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau trong hoạt động của các cơ sở y tế, nhưng nguồn chính là từ các hoạt động xét nghiệm và khử khuẩn Chất thải hóa học bao gồm các chất ở dạng rắn, lỏng và khí.

Trong quá trình tiêu hủy, các chất hóa học có thể gây ra nhiều nguy hiểm dù dưới dạng đơn chất hay khi kết hợp với các chất khác Vì vậy, việc phân loại chất thải hóa học thành hai nhóm — chất thải hóa học không nguy hại và chất thải hóa học nguy hại — là bước quan trọng để đảm bảo an toàn và bảo vệ môi trường Việc phân loại này giúp xác định biện pháp xử lý phù hợp, giảm thiểu rủi ro cho con người và hệ sinh thái, đồng thời tuân thủ các quy định quản lý chất thải.

Chất thải hóa học được coi là nguy hại khi có ít nhất một trong các đặc tính sau: gây độc cho người và môi trường; ăn mòn mạnh như axit có pH dưới 2 hoặc kiềm có pH trên 12; dễ cháy hoặc có khả năng bắt lửa; hoạt hóa (phản ứng mạnh), có thể gây nổ hoặc phản ứng với nước Việc nhận diện các đặc tính này giúp phân loại và quản lý an toàn chất thải hóa học.

• Chất thải hóa học không nguy hại như đường, acid béo, một số muối vô cơ…

Formaldehyde là chất hoá học nguy hiểm được sử dụng phổ biến trong bệnh viện với mục đích vệ sinh và khử khuẩn dụng cụ y tế, như dụng cụ lọc màng bụng hoặc dụng cụ phẫu thuật; nó cũng được dùng để bảo quản bệnh phẩm và khử khuẩn các chất thải lỏng nhiễm khuẩn Chất này được sử dụng tại nhiều khoa, gồm giải phẫu bệnh, lọc máu, ướp xác và cả ở một số khoa khác để bảo quản các mẫu xét nghiệm.

PHÂN TÍCH NGUY CƠ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT THẢI Y TẾ ĐẾN

CỘNG ĐỒNG VÀ MÔI TRƯỜNG

3.3.1 Những nguy cơ của chất thải y tế

Tiếp xúc với chất thải y tế có thể gây bệnh tật hoặc tổn thương cho sức khỏe Nguy cơ từ chất thải y tế được xác định bởi một hoặc nhiều đặc trưng cơ bản như khả năng gây nhiễm khuẩn, độc tính, tính kích ứng da và đường hô hấp, cũng như mức độ phơi nhiễm Hiểu rõ những đặc trưng này giúp đánh giá mức độ rủi ro và thiết kế biện pháp quản lý an toàn hiệu quả.

• Chất thải y tế chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm

• Là chấtđộc hại có trong rác thải y tế

• Các loại hoá chất và dược phẩm nguy hiểm

• Các chất thải phóng xạ

Những đối tượng có thể tiếp xúc:

• Bác sỹ, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính của bệnh viện

• Bệnh nhân điều trị ngoại trú hoặc nội trú

• Khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân

Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ phục vụ cho cơ sở khám chữa bệnh và điều trị, như giặt ủi, lao công và vận chuyển bệnh nhân, đóng vai trò thiết yếu trong quá trình chăm sóc sức khỏe Họ đảm bảo môi trường sạch sẽ, an toàn và thuận tiện cho bệnh nhân và nhân viên y tế, đồng thời hỗ trợ các quy trình vận hành bệnh viện một cách thông suốt.

• Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải (tại các bãi đổ rác thải, các lò đốt rác) và những người bới rác.

Những mối nguy liên quan đến nguồn chất thải y tế quy mô nhỏ, rải rác và dễ bị bỏ quên cho thấy sự cần thiết của quản lý chất thải y tế ở cấp độ gia đình và cộng đồng Chất thải từ các nguồn này có thể bắt nguồn từ tủ thuốc gia đình hoặc từ việc vứt bỏ chất thải y tế của người tiêm chích ma túy, và nếu không được thu gom, xử lý đúng cách sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường và nguy cơ lây lan bệnh truyền nhiễm cho cộng đồng.

Nguy cơ các vi khuẩn gây bệnh

Mối đe dọa lớn nhất đối với sức khỏe cộng đồng luôn luôn là các vi khuẩn gây bệnh

Bảng 3.1 Một số bệnh truyền nhiễm và ký sinh thường gặp

Bệnh Số ca mới mỗi năm Số tử vong hàng năm

Hô hấp (bao gồm viêm phổi, lao, cúm và ho) 1 tỷ 5 – 7 triệu

Nguồn: Theo trung tâm dữ liệu quốc tế, năm 1999

Tính nh ạy c ảm xã hội

Ch ất thải gây độc gen Ch ất thải hóa ch ất và dược phẩm

Ch ất thải truy ền nhiễm và các v ật s ắc nhọn

Ch ất gây b ệnh từ máu

Vi khu ẩn gây b ệnh

Nguy cơ ch ất thải y t ế

Hình 3.2 Sơ đồ thể hiện nguy cơ chất thải y tế

Trên toàn cầu, các bệnh hô hấp như viêm phổi, lao, cúm và ho là nhóm bệnh có thể gây tử vong cao hơn so với nhiều nhóm bệnh khác Các bệnh truyền nhiễm liên quan đến hệ tiêu hóa, như tiêu chảy, lỵ và tả, do vi khuẩn hoặc vi sinh vật đơn bào gây ra, đứng thứ hai về số ca mắc và số ca tử vong mỗi năm Trong số các bệnh nhiệt đới, sốt rét gây ra bởi ký sinh trùng đơn bào xâm nhập vào tế bào hồng cầu là nguyên nhân tử vong hàng đầu tại các nước có độ ẩm cao, nơi muỗi Anopheles là vector trung gian và phát triển mạnh.

Nguy cơ nghề nghiệp đối với các chất gây bệnh có nguồn gốc từ máu

Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS) do HIV và bệnh viêm gan siêu vi B là những mối nguy lớn đối với những người làm nghề tiếp xúc với máu, các vật phẩm và chất liệu có nguy cơ lây nhiễm tiềm ẩn trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và an toàn xã hội Việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa và an toàn lao động là rất quan trọng để bảo vệ nhân viên y tế và người chăm sóc khỏi nguy cơ lây nhiễm Theo ước tính của OSHA, có tới 5,6 triệu người làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và an toàn xã hội có nguy cơ tiềm ẩn đối với các virus này.

OSHA nhận thấy nhu cầu thiết yếu về một khung quy phạm nhằm bảo vệ y bác sĩ, điều dưỡng và nhân viên phòng thí nghiệm trước các nguy cơ sức khỏe liên quan đến chất gây bệnh có nguồn gốc từ máu Thông qua ban hành rộng rãi các tiêu chuẩn an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, OSHA nhắm tới giảm thiểu rủi ro nghề nghiệp liên quan đến các bệnh có nguồn gốc từ máu và bảo vệ lực lượng y tế trong môi trường chăm sóc sức khỏe.

Những nguy cơ từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn

Các vật thể trong thành phần chất thải y tế có thể chứa đựng một lượng lớn tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm Những tác nhân này có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các đường tiếp xúc phổ biến như qua vết thương trên da, hít phải các hạt hoặc bụi chứa mầm bệnh, tiếp xúc với niêm mạc mắt, mũi và miệng, hoặc qua đường tiêu hóa khi vô tình nuốt phải chất ô nhiễm Vì vậy, quản lý và xử lý chất thải y tế cần được thực hiện nghiêm ngặt nhằm ngăn ngừa nguy cơ lây nhiễm và bảo đảm an toàn cho cộng đồng.

• Qua da (qua một vết thủng, trầy xước hoặc vết cắt trên da).

• Qua các niêm mạc (màng nhầy).

• Qua đường hô hấp (do xông, hít phải).

Có một mối liên quan đặc biệt giữa sự nhiễm khuẩn do virus gây suy giảm miễn dịch người (HIV) và virus viêm gan B, C đó là những bằng chứng của việc lan truyền các bệnh truyền nhiễm qua đường rác thải y tế Những virus này thường lan truyền qua vết tiêm hoặc các tổn thương do kim tiêm có nhiễm máu người bệnh.

Các vật sắc nhọn bị nhiễm các vi sinh vật gây bệnh (đặc biệt là những mũi kim tiêm qua da) hầu như là những mối nguy cơ tiềm ẩn sâu sắc đối với sức khoẻ trong các loại chất thải bệnh viện

Những vật sắc nhọn được xem là loại rác thải cực kỳ nguy hiểm vì gây hai tác hại cùng lúc: tổn thương da và có thể lây truyền các bệnh truyền nhiễm Vì vậy, việc thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sắc nhọn phải được thực hiện đúng quy định và an toàn để giảm thiểu rủi ro cho người tiếp xúc và cho cộng đồng Áp dụng biện pháp phân loại rác thải đúng cách, dùng dụng cụ bảo hộ và các phương tiện chứa an toàn sẽ giúp ngăn ngừa tai nạn và ngăn chặn sự lây lan của bệnh truyền nhiễm.

Bảng 3.2 Nguy cơ mắc bệnh sau khi bị bơm kim tiêm bẩn xuyên qua da

Bảng 3.3 Các loại vi sinh vật và phương tiện lây truyền

Loại nhiễm khuẩn Vi sinh vật gây bệnh Phương tiện lây truyền

Vibrio cholerae; các loại giun sán

Nhiễm khuẩn hô hấp VK lao, vius sở,

Streptococcus pneumoniae Các loại dịch tiết, đờm

Nhiễm khuẩn mắt Vius herpes Dịch tiết của mắt

Nhiễm khuẩn sinh dục Neisseria gonorrhoeae, vius herpes Dịch tiết sinh dục

Nhiễm khuẩn da Streptococcu spp Mủ

Bệnh than Bacillus anthracis Chất tiết của da

Viêm màng não Não mô cầu

(Neisseria meningitidis) Dịch não tủy

AIDS HIV Máu, chất tiết sinh dục

Sốt xuất huyết Các virus: Junin, Lassa,

Tất cả các sản phẩm máu và dịch tiết

Nhiễm khuẩn huyết do tụ cầu Staphylococcus spp Máu

(do các loại vi khuẩn khác nhau )

Nhóm tụ cầu khuẩn (Staphylococcus spp chống đông; Staphylococcus arueus); Enterobacter;

Nấm Candida Candida albican Máu

Viêm gan A Virus viêm gan A Phân

Viêm gan B,C Virus viêm gan B, C Máu, dịch thể

Những mối nguy cơ từ loại chất thải hóa chất và dược phẩm

Trong các cơ sở y tế, nhiều loại hóa chất và dược phẩm được sử dụng có thể trở thành mối đe dọa đến sức khỏe con người, như độc dược, chất gây độc gen, chất ăn mòn, chất dễ cháy, các chất gây phản ứng, gây nổ và sốc phản vệ Những chất này thường chiếm phần nhỏ trong chất thải y tế, nhưng khi quá hạn, dư thừa hoặc hết tác dụng, chúng cần được xử lý đúng quy định và loại bỏ an toàn Sự nhiễm độc do tiếp xúc với những chất này có thể xảy ra ở mức cấp tính hoặc mạn tính và gây tổn thương như bỏng, với cơ chế hấp thụ qua da, qua niêm mạc, qua đường hô hấp hoặc đường tiêu hóa.

Các chất khử trùng là những thành phần đặc biệt quan trọng của nhóm này, thường được sử dụng với số lượng lớn và có đặc tính ăn mòn Cần lưu ý rằng các loại hóa chất gây phản ứng có thể hình thành các hỗn hợp thứ cấp có độc tính cao, vì vậy quản lý, lưu trữ và sử dụng chúng một cách an toàn là rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả và an toàn trong quy trình.

Việc xả thẳng các sản phẩm hoá chất vào hệ thống cống thải có thể làm giảm hiệu quả của hệ thống xử lý nước thải sinh học và gây hại cho hệ sinh thái tự nhiên khi nguồn nước này được tưới tiêu Các vấn đề tương tự cũng có thể phát sinh từ chất thải trong quá trình bào chế dược phẩm, đặc biệt là kháng sinh và các loại thuốc khác Bên cạnh đó, kim loại nặng như thuỷ ngân, phenol và các dẫn xuất, cùng các chất khử trùng và tẩy uế, có thể làm ô nhiễm nước thải và ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và sức khỏe cộng đồng.

Những nguy cơ từ chất thải gây độc gen (genotoxic)

Trong công tác y tế, quá trình tiếp xúc với chất độc gen có thể xảy ra trong hai thời điểm chính: khi chuẩn bị dụng cụ và thuốc hoặc trong quá trình điều trị bằng các loại thuốc đặc biệt hoặc hóa trị liệu Các chất độc gen này có thể gây hại cho sức khỏe của nhân viên y tế và người bệnh nếu không được quản lý và bảo hộ đúng quy định Do vậy, tuân thủ quy trình an toàn, kiểm soát chất độc gen và sử dụng trang bị bảo hộ phù hợp là rất quan trọng nhằm giảm thiểu rủi ro và đảm bảo an toàn trong chăm sóc sức khỏe.

Các phương thức tiếp xúc chính với chất độc bao gồm hít phải bụi hoặc phun sương qua đường hô hấp và hấp thụ qua da Nhiều loại chất có độc tính cao gây kích ứng mạnh và có thể gây hậu quả hủy hoại cục bộ sau khi tiếp xúc trực tiếp với da hoặc mắt Chúng cũng có thể gây chóng mặt, buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da.

THÀNH PH ẦN CHẤT THẢI RẮN BỆNH VIỆN

Bảng 3.5 Thành phần chất thải rắn bệnh viện ở Việt Nam

Chai nhựa PVC, PE, PP 10,1 %

Chai lọ thuỷ tinh, xylanh thuỷ tinh, ống thuốc thuỷ tinh 2,3 %

Các bệnh phẩm sau mổ 0,6 % Đất, cát, sành sứ và các chất rắn khác 20,9 %

Trong đó, tỷ lệ thành phần nguy hại là 22,6 %

Nguồn : Theo báo cáo của Bộ Y Tế, năm 2003

Bảng 3.6 Thành phần chất thải (rác sinh hoạt tại bệnh viện)

STT Thành phần Phần trăm trọng lượng (%)

4 Kim loại, thủy tinh, chất vô cơ 7

5 Các loại hỗn hợp khác 3

Bảng 3.7 Thành phần chất thải nhiễm khuẩn có trong CTRYT

STT Thành phần Phần trăm trọng lượng (%)

CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ

Mô tả Ưu điểm Nhược điểm

Khử trùng bằng hóa chất: clor, hypoclorite…

Không tiêu diệt hết vi khuẩn.

Bản thân hóa chất đã nguy hiểm.

Khử trùng bằng nhiệt ở áp suất cao

Xử lý kim tiêm dễ dàng Đắt tiền, vận hành cao, tạo mùi hôi

Khử trùng bằng siêu cao tầng Khử trùng tốt

Năng suất cao Đòi hỏi kỹ thuật cao, thiết bị đắt tiền

Trơ hóa (cố định và đóng rắn)

Chất thải nguy hại được trộn với phụ gia hoặc bê tôngđể đóng rắn Sử dụng rộng rãi, khả năng phát tán ra môi trường xung quanh thấp.

Tính toán chính xác, phức tạp

Lưu giữ chất thải trong một bãi và có phủ đất lên trên.

Quá trình phân hủy sinh học biến đổi chất thải thành các sản phẩm cuối cùng giàu dinh dưỡng, điển hình như axit hữu cơ, nitơ và các hợp chất ammonium Đồng thời, quá trình này giải phóng các khí CO2 và CH4.

Tốn nhiều diện tích chôn lấp.

Khả năng phát sinh ô nhiễm môi trường lớn(đất, nước mặt, nước ngầm, không khí); phát sinh dịch bệnh… Đốt

Quá trình đốt chất thải được thực hiện một cách toàn diện để phá hủy hoàn toàn các chất độc hại thông qua phá vỡ liên kết hóa học và cấu trúc phân tử Nhờ đó, độc tính được giảm thiểu đáng kể hoặc loại bỏ hoàn toàn, giúp bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.

Xử lý triệt để rác, tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh và các chất ô nhiễm khác.

Diện tích xây dựng nhỏ, có thể xử lý rác có chu kỳ phân hủy dài

Chi phí đầu tư vận hành cao

Duy tu và bảo trì thường xuyên.

Hà Nội có khoảng 40 bệnh viện từ trung ương đến địa phương và hàng trăm trung tâm y tế cấp huyện, xã thải ra khoảng 11–12 tấn chất thải y tế mỗi ngày Theo thống kê của công ty môi trường đô thị Hà Nội (URENCO), chỉ có khoảng 60% lượng chất thải y tế được thu gom hàng ngày, và trong số đó chỉ 5% được xử lý bằng biện pháp thiêu đốt, phần còn lại được đem đi chôn lấp Hiện nay, nhà nước không khuyến khích các bệnh viện sử dụng biện pháp chôn lấp chất thải y tế.

Ở Hà Nội trước đây chỉ có hai lò đốt rác y tế tại Bệnh viện Lao và Phổi và Bệnh viện Việt Đức, nhưng do công nghệ lạc hậu nên vẫn gây ô nhiễm môi trường Từ tháng 7/1996, Hà Nội đã khởi động dự án Xây dựng xưởng đốt chất thải độc hại tập trung cho các Bệnh viện ở Hà Nội nhằm nâng cao hiệu quả xử lý chất thải y tế và giảm thiểu tác động đến sức khỏe người dân và môi trường.

Hà Nội” do Sở Y Tế làm chủ đầu tư Đến 5/1999, lò đốt rác y tế DEL MONEGO-200 của

Do sự đầu tư của Italy, một cơ sở tại Nhà máy chế biến phế thải Cầu Diển, huyện Từ Liêm, đã được đưa vào vận hành Với công suất xử lý 2 tấn/ngày, cơ sở hiện đáp ứng phần lớn lượng phế thải y tế (RYT) của các bệnh viện và trung tâm y tế ở Hà Nội Tuy nhiên, nó vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu xử lý RYT từ các phòng khám chữa bệnh tư nhân ở Hà Nội.

Thành phố Hồ Chí Minh có hơn 100 cơ sở y tế và hơn 4.000 phòng khám tư nhân, nhưng hiện mới chỉ thu gom rác thải y tế của 56 cơ sở y tế khu vực nội thành với lượng khoảng 5,5 tấn/ngày và đưa về đốt tập trung tại Nhà máy xử lý rác y tế Bình Hưng Hòa Tại đây, rác thải y tế được đốt bằng lò đốt rác y tế Hoval GG-24, công suất 7 tấn/ngày, do Bỉ sản xuất.

Hiện nay, Công ty Môi trường đô thị TP.HCM đang đầu tư hệ thống lò đốt rác y tế tại Đông Thạnh, Hóc Môn, với công suất xử lý 21 tấn/ngày Dự án này dự kiến sẽ đi vào hoạt động trong năm để nâng cao năng lực xử lý rác y tế và bảo vệ môi trường TP.HCM.

TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH KHÁM CHỮA BỆNH TẠI QUẬN TÂN BÌNH

TÌNH HÌNH PHÁT TRI ỂN NGÀNH Y TẾ CỦA QUẬN TÂN BÌNH

Quận có 1 trung tâm y tế dự phòng, 8 phòng khám chuyên khoa và 15 trạm y tế thuộc 15 phường; 8 phòng khám từ thiện của Hội Chữ Thập đỏ và 450 phòng khám tư nhân hoạt động trên địa bàn Tổng số bác sĩ đang làm việc trên địa bàn quận là 678, chưa tính các bệnh viện của Trung ương và Thành phố quản lý; mỗi năm số lượt khám và điều trị vượt quá 1 triệu lượt người.

Quận Tân Bình trong thời gian gần đây cho thấy sự vững vàng của hệ thống y tế từ y tế cơ sở đến y tế kỹ thuật cao, đồng thời đẩy mạnh y tế phổ cập và công tác phòng chống dịch Mạng lưới y tế, đặc biệt là y tế cơ sở, ngày càng được củng cố và phát triển, đảm bảo cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe liên tục và thuận lợi cho người dân Các cơ sở khám chữa bệnh được đầu tư nâng cấp hiện đại, qua đó công tác chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng có nhiều tiến bộ rõ rệt.

Chương trình phòng chống dịch bệnh là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành y tế Việc phối hợp chặt chẽ với các ban ngành, đoàn thể của Quận, Ủy ban nhân dân 15 phường và các doanh nghiệp đóng trên địa bàn để triển khai các hoạt động tuyên truyền phòng chống sốt xuất huyết, Rubella và cúm gia cầm đã mang lại kết quả tích cực Nhờ sự phối hợp hiệu quả và triển khai đồng bộ, năm 2006 trên địa bàn quận không ghi nhận bất cứ ổ dịch nguy hiểm nào.

Năm 2006, ngành Y tế quận Tân Bình xác định công tác tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS và ma túy là nhiệm vụ trọng tâm Toàn ngành đã tổ chức 87 cuộc tuyên truyền tại địa bàn dân cư bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng và chuyên sâu cho các đối tượng khác nhau Nhờ sự lãnh đạo trực tiếp, kịp thời của Sở Y Tế, Quận ủy và Ủy ban nhân dân quận, cùng với sự đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị, công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người dân được đẩy mạnh và đạt vượt các chỉ tiêu giao; đồng thời thực hiện tốt các chương trình tiêm chủng mở rộng, chăm sóc sức khỏe ban đầu và phòng chống các bệnh dịch như lao, phong, Rubella và cúm gia cầm.

Thực hiện chương trình đem ánh sáng cho người nghèo mù, đã tiến hành mổ miễn phí

Đã ghi nhận 86 ca bệnh, các hoạt động được triển khai gồm cấp phát thuốc miễn phí cho các bệnh nhân nghèo và người mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục; vận động hiến máu nhân đạo đạt và vượt chỉ tiêu; và tổ chức các lớp tập huấn chuyên môn ngắn ngày theo chỉ đạo của Ủy ban nhân dân thành phố.

Hệ thống y tế đảm bảo phục vụ việc khám chữa bệnh cho các đối tượng trong Quận và các Quận lân cận ( khối nhà nước) gồm có:

• Bệnh viện đa khoa Thống Nhất

• Bệnh viện đa khoa Tân Bình

• Trung tâm y tế dự phòng quận Tân Bình (gồm có khoa Lao, khoa da liễu, khoa tâm thần và các trạm y tế phường 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14,15)

• Ngoài ra còn có các bệnh viện khối tư nhân: bệnh viện đa khoa Hoàn Mỹ 2, bệnh viện Phổ Quang (2B Phổ Quang)….

THÔNG TIN T ẠI CÁC CƠ SỞ ĐIỀU TRỊ TẠI QUẬN TÂN BÌNH

Bảng 4.1 Tình hình hoạt động khám chữa bệnh tại bệnh viện Tân Bình

Nội dung Đơn vị tính Năm 2006 Năm 2007

Trong đó: ca lâm sàng (XQ, SA, XN…) ” 192.035 246.957

Chia ra: Tai nạn giao thông ” 2.271 1.759

Tai nạn sinh hoạt ” 3.618 4.263 Đã thương ” 813 639

Trong đó: ca lâm sàng (XQ, SA,XN…) ” 92.529 104.245

+ khám miễn phí trẻ < 6 tuổi ” 37.196 37.978

Khám phụ khoa ” 37.538 30.868 Điều hòa kinh nguyệt ” 4.497 4.147 Đặt vòng ” 1.911 1.934

Hoạt động phẫu thuật Ca

Trong đó phẫu thuật miễn phí ” 48 54

Phẫu thuật tai mũi họng ” 52 48

Phẫu thuật ngoại khoa khác ” 792 1.526

Hoạt động điều trị nội trú Ca

Nguồn: Bệnh viện Tân Bình

Bảng 4.2 Thông tin về số cơ sở y tế tư nhân - phòng y tế quản lý ĐVT 2003 2004 2005 2006 2007

Phòng khám ĐK&CK Cơ sở 2 3 6 6 6

Phòng khám bác sĩ tư ” 432 382 448 491 496

Cơ sở y học dân tộc ” 81 76 80 91 96

Cấp phép & gia hạn KD ” 357 373 265 374

-tổng số tiền phạt Ngàn 102.800 139.500 Sở y tế Sở y tế -tổng số tiền đã nộp ” 102.800 139.500 Xử lý Xử lý

Nguồn: Phòng y tế- trung tâm hành chính quận Tân Bình

Bảng 4.3 Thông tin về tình hình hoạt động trung tâm y tế dự phòng ĐVT 2003 2004 2005 2006 2007

-Trung tâm y tế dự phòng Cơ sở 0 0 0 0 2

-Khoa lao- da liễu Cơ sở 0 0 0 0 1

-Khoa tâm thần Cơ sở 0 0 0 0 1

-Khoa tham vấn hỗ trợ cộng đồng Cơ sở 0 0 0 0 1

2/ Thầy thuốc a) Ngành y BV + DP

- Hộ sinh Người 28 29 27 10 + 18 17 b) Ngành dược

- Dược sĩ cao cấp Người 2 1 1 1 + 1 0

- Dược sĩ trung cấp Người 9 10 11 8 + 4 5

- Số lượt người khám bệnh 1.161.

- Số lượt nguời điều trị nội trú 8.251 7.814 7.554 7.814 7.554 87.196

5/.Sinh đẻ có kế hoạch

Nguồn: Phòng y tế- trung tâm hành chính quận Tân Bình

CƠ CẤU KHÁM CHỮA BỆNH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TÂN BÌNH

Theo khảo sát tại Bệnh viện đa khoa Thống Nhất, Bệnh viện đa khoa Tân Bình và các bệnh viện khác, cơ cấu tổ chức của các cơ sở này nhìn chung gồm hai trụ cột chính: các khoa lâm sàng và các phòng ban hỗ trợ Các khoa lâm sàng như nội, ngoại, sản, nhi, mắt, tai mũi họng đảm nhận hoạt động khám chữa bệnh và quản lý chuyên môn Bên cạnh đó là các khoa chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm, cấp cứu và hồi sức tích cực, chịu trách nhiệm cung cấp kết quả chẩn đoán và hỗ trợ điều trị Các phòng ban chức năng như quản trị, tài chính, nhân sự, quản lý chất lượng và CNTT đảm bảo vận hành thông suốt, quản trị nguồn lực và cải tiến chất lượng dịch vụ Dịch vụ y tế được củng cố bởi các đơn vị hỗ trợ khác như dược, vật tư y tế, vệ sinh môi trường và quản lý thông tin bệnh án nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc người bệnh và tối ưu hoá quy trình làm việc.

• Khối lâm sàng bao gồm các khoa:

- Khoa Khám - Khoa Phụ Sản

- Khoa Tai Mũi Họng - Khoa Nội Thận

- Khoa Tiêu Hóa - Khoa Tim Mạch- Trung tâm tim mạch

- Khoa Thần Kinh - Khoa Hậu Phẫu

- Khoa Ung Bướu - Khoa Y Học Cổ Truyền

- Khoa Thận Nhân Tạo - Khoa Hồi Sức Nội

• Khối cận lâm sàng bao gồm các khoa:

- Khoa X - quang - Khoa Xét nghiệm

- Khoa Thăm dò chức năng - Khoa Chống nhiễm khuẩn

- Khoa Dược - Khoa Vi Sinh

- Khoa Dinh Dưỡng - Khoa Huyết Học

• Khối hành chính bao gồm các khoa:

- Phòng Tài chính kế toán - Phòng Kế hoạch tổng hợp

- Phòng Tổ chức cán bộ - Phòng điều dưỡng

- Phòng Vật tư - thiết bị y tế - Bảo vệ chính trị nội bộ

- Phòng Hành chính quản trị - Chỉ đạo tuyên truyền

• Các tổ chức đoàn thể:

- Đảng bộ bệnh viện -Tổ chức công đoàn

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ DỰ BÁO DIỄN BIẾN CHẤT THẢI

HI ỆN TRẠNG QUẢN LÝ CH ẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI VIỆT NAM

Việt Nam hiện có hơn 1.000 bệnh viện và hơn 10.000 trạm y tế xã, cùng các viện nghiên cứu y sinh và trung tâm y tế dự phòng, nhưng chỉ khoảng 30% bệnh viện trên toàn quốc có cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại (CTRYT) 50% cơ sở chưa có phương tiện đủ tốt để thiêu đốt CTRYT Khoảng 55% chưa có nhà chứa rác đạt đúng chuẩn, và số lượng túi ny-lon cũng hộp an toàn để thu gom CTRYT và các vật sắc nhọn nhiễm khuẩn vẫn thiếu đáng kể.

Cuộc điều tra được tiến hành vào tháng 3/2006 cho thấy việc phân loại, thu gom, lưu trữ, vận chuyển và tiêu hủy CTRYT tại Tây Nguyên vẫn chưa được thực hiện tốt Phần lớn các cơ sở và quy trình liên quan còn tồn tại nhiều hạn chế, dẫn tới nguy cơ ô nhiễm môi trường và các rủi ro về an toàn sức khỏe cộng đồng.

BV hiện nay tách riêng vật sắc nhọn khỏi rác thải y tế và đựng chúng trong vỏ chai truyền dịch hoặc hộp giấy tái chế Tuy nhiên, một số chất thải rắn nguy hại chứa mầm bệnh như bệnh phẩm, tiêu bản xét nghiệm vẫn chưa được tiệt khuẩn trước khi thu gom và vận chuyển tới khu tập kết rác 94,45% cơ sở y tế thiếu phương tiện vận chuyển rác chuyên dụng và không có đường vận chuyển riêng; rác thường được vận chuyển qua hành lang các khoa, buồng bệnh Rất ít bệnh viện có nhà chứa rác được xây dựng chắc chắn Việc tập kết rác được thực hiện trong hố rác, thường đào không sâu, không đảm bảo vệ sinh và đặt ngay sau góc bệnh viện.

Việc thiêu hủy chất thải y tế (RYT) đang bị gộp chung với rác sinh hoạt, với 72,23% tại các bệnh viện và 100% ở các cơ sở y tế khác đang xử lý theo hình thức cơ bản Hiện nay, chỉ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai có lò đốt hiện đại, còn lại chưa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và vận hành không thường xuyên do thiếu kinh phí Do đó, thiêu hủy và chôn lấp chất thải rắn y tế bằng các hố rác vẫn là phương án chủ yếu Tỉnh Đắk Lắk có 134/214 trạm y tế được trang bị lò đốt, nhưng phần lớn không được sử dụng do lò đốt kém hiệu quả.

Nhận thức của cộng đồng nói chung và nhân viên y tế nói riêng về nguy cơ tiềm ẩn từ rác thải bệnh viện vẫn còn yếu; hiện tượng người dân bới rác tại các hố rác của bệnh viện để thu nhặt ống nhựa, kim tiêm và găng tay phẫu thuật đã được phản ánh trên báo chí và cho thấy sự thiếu quản lý rác thải và chưa có quy trình xử lý rác triệt để Bên cạnh đó, việc một số nhân viên y tế đưa rác ra ngoài để tái chế hoặc tái sử dụng vẫn diễn ra ở một số nơi, làm tăng nguy cơ lây nhiễm và ô nhiễm môi trường Để giảm thiểu nguy cơ, cần tăng cường nhận thức, củng cố quản lý rác thải y tế, xây dựng và thực thi quy trình xử lý rác an toàn, nghiêm ngặt giám sát việc thu gom và vận chuyển rác, cũng như đào tạo nhân viên y tế và người dân về vệ sinh và an toàn.

Một bộ phận cán bộ y tế, bệnh nhân và người nhà vẫn chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của vệ sinh và bảo vệ môi trường bệnh viện Rác thải vẫn bị vứt lung tung trong khuôn viên dù bệnh viện đã bố trí thùng rác công cộng Họ vừa là nạn nhân của ô nhiễm và tình trạng vệ sinh kém ở bệnh viện, lại cũng chính là thủ phạm liên quan đến tình trạng này.

Nhận thấy nhu cầu cấp thiết để hoàn thiện công tác quản lý chất thải y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh của ngành, năm 1998 Bộ Y tế đã thành lập Ban Chỉ đạo Xử lý Chất thải Bệnh viện nhằm hỗ trợ Bộ trưởng trong công tác chỉ đạo, đồng thời xây dựng quy hoạch hệ thống chất thải bệnh viện trên phạm vi toàn quốc.

Ngày 27/8/1999, Bộ trưởng Bộ Y Tế đã ban hành “ Quy chế quản lý chất thải y tế”.

5.1.2 Quy trình quản lý chất thải rắn y tế

Quy trình lập chỉ tiêu kế hoạch thu gom, vận chuyển, xử lý RYT

Quy trình thu gom, vận chuyển RYT

Quy trình xử lý RYT.

LƯỢNG RÁC THẢI Y TẾ HIỆN TẠI

Hiện nay tình hình khám chữa bệnh tại Quận đang ở mức quá tải: ngoài các ca bệnh nội địa, các bệnh viện trên địa bàn tiếp nhận lượng lớn người bệnh từ các Quận và tỉnh khác Điều này đẩy ngành y tế vào nhiều khó khăn, đặc biệt ở công tác quản lý rác thải y tế Khi nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng, lượng rác thải y tế phát sinh tại các cơ sở y tế cũng sẽ tăng theo.

 Khối lượng chất thải phát sinh

Khối lượng CTYT không chỉ thay đổi theo từng khu vực địa lý, mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khách quan khác như:

• Cơ cấu bệnh tật bình thường, dịch bệnh, thảm hoạ đột xuất.

• Loại và qui mô bệnh viện, phạm vi cứu chữa.

• Số lượng bệnh nhân khám, chữa bệnh, tỷ lệ bệnh nhân điều trị nội trú và ngoại trú.

• Điều kiện kinh tế xã hội của khu vực.

• Số lượng người nhà được phép đến thăm bệnh nhân.

Bảng 5.1 Lượng chất thải thay đổi theo các khoa khác nhau

Khoa Chất thải y tế nguy hại

Trung tâm tim mạch và tim mạch 4

Nguồn: kết quả khảo sát tại BVĐK Thống Nhất và BV Tân Bình

Do đặc thù của chuyên khoa hậu phẫu và khoa cấp cứu, lượng chất thải y tế phát sinh tại các khoa này thường cao hơn các khu vực khác, và chủ yếu là chất thải lâm sàng nhóm A như bông, băng, kim tiêm và lam kính Bên cạnh đó, chất thải từ các hoạt động phẫu thuật thuộc nhóm E như nhau thai, bào thai và mô người cũng chiếm một phần đáng kể tổng lượng chất thải y tế tại các khoa này.

Trong các labo xét nghiệm Huyết học, Hóa sinh và Vi sinh, lượng chất thải y tế (CTYT) ước tính khoảng 1-3 kg trên mỗi giường bệnh mỗi ngày Vì vậy, thành phần CTYT trong các labo xét nghiệm chủ yếu là các mẫu bệnh phẩm thải bỏ, lam kính, đĩa Petri và ống nghiệm nuôi cấy vi khuẩn có tính nguy hại cao Việc quản lý và xử lý an toàn CTYT tại các labo là yếu tố quan trọng để bảo vệ người làm việc và môi trường khỏi nguy cơ nhiễm khuẩn và phơi nhiễm.

Bảng 5.2 Lượng rác thải y tế tại các bệnh viện trên địa bàn quận Tân Bình

STT Tên cơ sở Giường bệnh thực hiện CTRYT

Nguồn: Công ty môi trường đô thị TP.HCM và Sở Y Tế , năm 2007

Theo bảng 5.2, bệnh viện đa khoa Thống Nhất có lượng chất thải y tế phát sinh lớn nhất Với quy mô 700 giường bệnh, lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh lên tới 197 kg mỗi ngày.

Mặc dù hai bệnh viện là BV Tân Bình và BV ĐHYD (khoa phụ sản) có cùng số giường bệnh, nhưng khối khám và điều trị cho bệnh nhân khác nhau khiến lượng chất thải y tế nguy hại (CTYT) mỗi ngày cũng khác nhau: BV Tân Bình 166 kg/ngày và BV ĐHYD – khoa phụ sản 151,5 kg/ngày.

Lượng chất thải y tế nguy hại (CTYT) phát sinh tại các phòng khám tâm thần và phòng khám YDHDT tương đối thấp, dao động ở khoảng 0,1–0,14 kg/ngày Tại các trung tâm này, CTYT chủ yếu phát sinh từ hoạt động sinh hoạt hàng ngày và từ quá trình chăm sóc người bệnh nằm điều dưỡng tại bệnh viện, nên quy mô không lớn Phần lớn lượng CTYT là bông băng sau quá trình tiêm thuốc và chai truyền dịch, vì vậy tổng lượng chất thải y tế nguy hại không cao.

HI ỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI QUẬN TÂN BÌNH

Rác phát sinh tại bệnh viện

Chất thải sinh hoạt không có tính lây nhiễm

Thiết bị xử lý khí thải

Bãi chôn lấp tro hợp vệ sinh

Hình 5.1 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế

5.3.1 Hệ thống quản lý chất thải rắn y tế trong các bệnh viện

Nguồn nhân lực và trang thiết bị

Trong cơ cấu của một bệnh viện lớn ở quận, Khoa Chống nhiễm khuẩn (Môi trường) là đơn vị trực tiếp quản lý rác thải bệnh viện, đảm bảo thu gom, phân loại và xử lý rác thải theo quy chuẩn an toàn Bên cạnh đó, hộ lý và y công đóng vai trò trực tiếp tham gia quản lý chất thải tại các khoa, phòng để duy trì môi trường bệnh viện an toàn cho bệnh nhân và nhân viên Tại các phòng khám tư nhân, bác sĩ điều trị chịu trách nhiệm thu gom và phân loại chất thải, đảm bảo chất thải được xử lý đúng quy định và tuyến xử lý phù hợp.

Hiện tại các bệnh viện hiện nay chưa có nhân viên phụ trách chính về công tác quản lý rác thải tại bệnh viện

Trong công tác thu gom rác, số lượng và chủng loại phương tiện sử dụng chủ yếu là xe kéo tay, vốn chưa đảm bảo vệ sinh và an toàn môi trường Những xe này dễ bị rơi vãi rác trong quá trình vận chuyển và mang tính cũ kỹ, lạc hậu so với chuẩn vệ sinh hiện đại Do đó, cần nâng cấp và chuẩn hóa các loại phương tiện thu gom để tăng hiệu quả vận hành, giảm ô nhiễm và đảm bảo môi trường sống sạch sẽ cho cộng đồng.

Những hộ lý y công được trang bị đầy đủ bảo hộ lao động gồm đồng phục, găng tay, ủng, nón và khẩu trang, đảm bảo an toàn cá nhân và môi trường làm việc Hầu hết các hộ lý y công trực thuộc Khoa này đều tuân thủ nghiêm các quy định của Khoa, chú trọng mặc đồng phục đầy đủ, đeo bảng tên và thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc bảo hộ lao động để đảm bảo chất lượng chăm sóc và an toàn cho người bệnh.

Hình 5.2 Xe thu gom rác y tế tại BV Thống Nhất

Phân loại rác tại nguồn

Theo qui định của Bộ Y Tế:

• Phân loại phải được thực hiện ngay tại thời điểm chất thải phát sinh và phải đựng chất thải trong các túi hoặc thùng theo đúng quy định.

Chất thải y tế nguy hại không được để lẫn với chất thải sinh hoạt; nếu vô tình để lẫn chất thải y tế nguy hại vào chất thải sinh hoạt, hỗn hợp này phải được xử lý và tiêu hủy như chất thải y tế nguy hại, dẫn đến tăng chi phí tiêu hủy và yêu cầu các biện pháp quản lý phù hợp.

Vị trí đặt thùng đựng chất thải y tế nguy hại và chất thải sinh hoạt được xác định rõ tại mỗi khoa/phòng Mỗi khoa/phòng cần có khu lưu giữ riêng cho các túi và thùng đựng chất thải, được phân loại theo từng loại để tăng cường an toàn và tuân thủ quy định quản lý chất thải y tế.

Các túi và thùng đựng chất thải nên đặt ở gần nguồn phát sinh chất thải, tại các buồng như buồng thủ thuật, buồng thay băng, buồng tiêm, buồng đỡ đẻ, buồng bệnh, buồng xét nghiệm hoặc trong hành lang, nhằm tăng tính tiện dụng và an toàn cho công tác thu gom và phân loại chất thải y tế Trên các xe tiêm và làm thủ tục cần có hộp đựng vật sắc nhọn để thuận tiện cho việc phân loại và xử lý chất thải nguy hại.

Các túi đựng chất thải phải tuân thủ hệ thống màu quy định, không được thay thế các túi màu vàng và màu đen dùng cho chất thải nguy hại bằng túi màu xanh Qua khảo sát tại các bệnh viện ở quận Tân Bình, việc phân loại rác tại nguồn đã được triển khai và cho thấy các biện pháp quản lý chất thải y tế đang được thực hiện đúng quy định, từ nhận biết loại chất thải đến phân loại và xử lý an toàn, góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.

• Rác thải y tế nguy hại (chất thải lâm sàng): thu gom vào thùng màu vàng, bên ngoài có biểu tượng về nguy hại sinh học

• Rác thải sinh hoạt: phải được thu gom vào thùng màu xanh tập trung nơi qui định và chuyển ra bãi rác của trung tâm.

Hình 5.3 Rác y tế tại khoa Huyết Học- túi nylon màu vàng (BV Thống Nhất)

Hình 5.4 Rác sinh hoạt- túi nylon màu xanh (BV Thống Nhất)

Hiện nay vẫn còn một số bệnh viện, phòng khám tư nhân và trạm y tế chưa thực hiện phân loại rác tại nguồn đúng chuẩn, dẫn tới tình trạng rác thải y tế bị trộn lẫn với rác thải sinh hoạt và bị thải trực tiếp ra môi trường Điều này gây ô nhiễm môi trường và tiềm ẩn rủi ro sức khỏe cho cộng đồng, đồng thời cho thấy sự thiếu hụt trong việc tuân thủ các quy định quản lý chất thải y tế.

Việc phân loại rác không triệt để làm tăng nguy cơ của chất thải y tế đối với sức khỏe và môi trường, đồng thời làm gia tăng khối lượng chất thải y tế cần phải xử lý trên toàn Quận Điều này dẫn đến chi phí xử lý chất thải rắn y tế tăng lên trong tương lai Vì vậy, cải thiện phân loại rác tại nguồn là yếu tố then chốt để giảm thiểu rủi ro, giảm tải cho hệ thống xử lý và tối ưu chi phí liên quan.

TP.HCM cung cấp số lượng bao bì và các loại thùng rác thông qua công ty Môi trường đô thị TP.HCM Các bệnh viện đăng ký với công ty này được trang bị thùng đựng CTYT nguy hại và thùng đựng rác sinh hoạt Mỗi một đơn nguyên trong bệnh viện có hai loại thùng rác: một loại chứa CTYT nguy hại (thùng màu vàng) và một loại chứa CTYT không nguy hại (thùng màu xanh – rác sinh hoạt trong bệnh viện).

Tiêu chuẩn túi đựng chất thải đốt phải dùng túi nhựa PE hoặc PP, tuyệt đối không dùng túi nhựa PVC vì khi đốt sẽ tạo ra nhiều chất gây ô nhiễm Thành túi dày, kích thước phù hợp với lượng chất thải phát sinh và có thể tích tối đa là 1 m³ Bên ngoài túi cần có đường kẻ ngang ở mức 2/3 chiều cao và có dòng chữ nhận diện rõ ràng.

"Không được đựng quá vạch này"

Tiêu chuẩn thùng đựng chất thải yêu cầu thùng làm bằng nhựa Polyetylen có tỷ trọng cao, thành dày và cứng, có nắp đậy; những thùng thu gom có dung tích lớn cần có bánh xe đẩy Thùng màu vàng để thu gom các túi nilon chứa chất thải lâm sàng, thùng màu xanh để thu gom các túi nilon chứa chất thải sinh hoạt Dung tích thùng tùy vào khối lượng chất thải phát sinh, có thể từ 10 đến 250 lít Bên ngoài thùng có vạch báo ở mức 2/3 thùng và ghi dòng chữ "Không được đựng quá vạch này".

Bảng 5.3 Hướng dẫn phân loại thu gom chất thải y tế

STT Loại chất thải Thùng đựng vật sắc nhọn

6 Các vật sắc nhọn khác X

7 Pipét, ống mao dẫn, lam kính X

9 Mọi chất thải thấm máu và các dịch sinh hoạt khác của bệnh nhân X

10 Mọi chất thải sinh hoạt từ khoa thận nhân tạo X

11 Bộ dây truyền máu, truyền plasma (bao gồm cả túi đựng) X

12 Mọi chất thải phát sinh từ các buồng cách ly X

17 Ống hút đờm, ống thông tiểu, ống thông dạ dày X

Lọ, ống thuốc và các vật dụng khác sử dụng trong liệu pháp hoá học, chất thải nhóm E

20 Các bệnh phẩm thừa hoặc chất thải động vật thí nghiệm X

Các vật dụng nuôi cấy và lưu giữ mẫu, các tác nhân lây nhiễm và các thiết bị sử dụng trong nuôi cấy tiêm chủng hoặc các loại môi trường nuôi cấy đóng vai trò then chốt trong quản lý và bảo quản sinh phẩm sinh học Việc lựa chọn đúng dụng cụ, thiết bị và môi trường nuôi cấy phù hợp giúp đảm bảo an toàn sinh học, kiểm soát chất lượng và tăng hiệu quả của quy trình nuôi cấy.

22 Bất kỳ loại nào trong số những loại trên sử dụng trong khoa phóng xạ X

23 Bông băng không thấm máu X

25 Mũ, mạng dùng một lần X

26 Dây truyền dịch, túi truyền dịch không thấm máu X

Bình lọ không dính dịch cơ thế (ví du: vỏ lọ thuốc không phải để sử dụng trong hoá trị liệu) X

28 Đồ vải không thấm dịch cơ thể X

29 Chất thải phát sinh từ nhà ăn, thức uống thừa nói chung X

30 Giấy, bao bì và các chất thải sinh hoạt khác X

Nguồn: Bệnh viện Chợ Rẫy, năm 1996

Thu gom, vận chuyển rác y tế

Quá trình thu gom chất thải y tế do các hộ lý y công trong khoa chống nhiễm khuẩn (Môi trường) đảm nhiệm

Ở mỗi khoa có từ 2–3 hộ lý, y công, nhưng thường chỉ có một người chịu trách nhiệm quản lý chất thải y tế Trong quá trình thu gom, các hộ lý, y công ghi sổ sách về số kilogram chất thải y tế phát sinh tại từng khoa Sau khi thu gom, họ chuyển chất thải tới nhà chứa rác y tế để xử lý và lưu trữ đúng quy định.

Theo kết quả khảo sát tại bệnh viện Thống Nhất và bệnh viện Tân Bình, thời điểm thu gom rác thải y tế hàng ngày như sau:

Bệnh viện Thời gian Số lần

Các BV khác trên địa bàn Quận 10h-17h 2 hoặc 3

Thời gian và số lần thu gom có thể linh động, tùy thuộc vào lượng rác thải ra hàng ngày nhiều hay ít

Khu vực nhà chứa rác y tế

Khu vực tập trung rác tại bệnh viện thường nằm ngay trong khu đất của cơ sở, khiến vệ sinh kém và gia tăng rủi ro từ vật sắc nhọn rơi vãi Việc lẫn lộn rác y tế và rác sinh hoạt cùng với sự xâm nhập của côn trùng làm ô nhiễm môi trường bệnh viện và ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc Nhiều điểm tập trung rác không có mái che, không có rào bảo vệ và đặt gần khu vực đi lại của người bệnh và người nhà Rất ít bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải đạt chuẩn, đảm bảo an toàn vệ sinh môi trường.

Hình 5.5 Nhà rác y tế BV Thống Nhất Hình 5.6 Điểm tập trung rác y tế tại

5.3.2 Hệ thống quản lý chất thải rắn y tế ngoài các bệnh viện

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI QUẬN TÂN BÌNH

Nhiều bệnh viện đã thực hiện tốt công tác phân loại tại nguồn.

Cán bộ y tế có ý thức cao, chấp hành nghiêm chỉnh.

Ở một số cơ sở y tế, hệ thống phân loại CTYT và CTSH vẫn còn yếu và chưa được triển khai đồng bộ; nhân viên chưa ý thức đầy đủ về tầm quan trọng của phân loại chất thải y tế và thường thực hiện việc phân loại một cách qua loa Thêm vào đó, thiếu hệ thống nhận diện nguồn phát sinh và loại chất thải khiến việc quản lý và xử lý CTYT và CTSH gặp nhiều khó khăn, gia tăng rủi ro cho môi trường và sức khỏe người làm việc.

Thu gom đúng quy cách, đúng lộ trình, không để tình trạng rác ứ đọng tại mỗi khoa, phòng Đảm bảo vệ sinh, ít rơi vãi

Chưa có quy định rõ về đường vận chuyển chất thải y tế, nên vẫn còn tình trạng vận chuyển chất thải qua các khu vực chăm sóc người bệnh, khu vực cách ly và các khu vực sạch khác Việc thiếu thiết bị che đậy và việc chở quá tải khiến chất thải dễ bị rơi vãi trong quá trình vận chuyển.

Phương tiện vận chuyển không đồng bộ, không phải là những xe chuyên dụng, xe quá to hoặc quá nhỏ.

Nhà lưu chứa rác y tế

Một số bệnh viện có nhà lưu chứa

RYT an toàn, đạt tiêu chuẩn.

Trong nhà lưu chứa RYT, các thùng được xếp ngay ngắn

Thiếu các khu vực an toàn để lưu giữ chất thải Khu vực lưu giữ CTYT còn mất vệ sinh, để lẫn lộn CTYT và CTSH.

Bao bì tương đối thích hợp và đầy đủ, mẫu mã thống nhất

Sử dụng hệ thống thùng chứa đúng quy định và đồng bộ

Công nhân thực hiện tốt, đúng thao tác, đảm bảo an toàn sức khỏe.

Thu gom đúng ngày giờ quy định.

Thùng chứa và túi đựng rác không đúng quy định, chỉ l à những thùng đựng rác sơ sài giống như thùng đựng CTSH

Nhiều công nhân tuy đã được trang bị bảo hộ lao động đầy đủ, nhưng vẫn không sử dụng

Vận chuyển Vận chuyển đúng lộ trình đã được duyệt, đúng giờ quy định.

Xe chuyên chở RYT được sử dụng đúng mục đích

Trang bị nhiều loại xe để thích hợp với điều kiện đường xá hiện nay.

Một số xe đã hết hạn sử dụng nhưng vẫn còn lưu thông trên đường.

Xe ít khi được làm vệ sinh sạch, gây mùi hôi Đốt rác

Các thông số giám sát tại khí thải lò đốt RYT sau xử lý đều nằm trong giới hạn cho phép của TCVN 6560-

Khu vực lò đốt RYT còn mất vệ sinh, nóng nực, bít bùng.

Công nhân vận hành lò đốt còn chủ quan, ít quan tâm đến sức khỏe.

Thùng chứa tro, xe chở tro sạch sẽ, không có mùi hôi

Bãi chôn tro hợp vệ sinh , đạt tiêu chuẩn.

Vị trí lưu chứa tro mất vệ sinh, ẩm ướt.

(*): TCVN 6560-2005: Tiêu chuẩn Việt Nam Lò đốt chất thải rắn y tế- khí thải lò đốt CTRYT – giới hạn cho phép.

Qua bảng đánh giá những mặt tốt và yếu ở trên, như vậy việc quản lý RYT phụ thuộc vào các yếu tố sau:

• Ban chỉ đạo xử lý chất thải

• Việc lập kế hoạch quản lý và xử lý RYT

• Việc tổ chức thực hiện tại bệnh viện

• Có nguồn tài chính dành riêng cho việc quản lý và xử lý chất thải

• Các cán bộ, công nhân viên phải được đào tạo bài bản, chặt chẽ

• Sự hợp tác lâu dài với các ban, ngành liên quan.

D Ự BÁO DIỄN BIẾN CHẤT THẢI RẮN Y TẾ QUẬN TÂN BÌNH ĐẾN NĂM

Dự báo diễn biến về khối lượng, thành phần CTRYT có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với công tác quản lý CTRYT

Hiện nay, tổng khối lượng rác thải y tế phát sinh trong tương lai của một khu vực được dự báo dựa trên căn cứ sau:

• Số dân và tỷ lệ tăng dân số

Một số cơ sở y tế và bệnh viện sẽ được xây mới hoặc mở rộng quy mô, kéo theo tăng số giường bệnh để đáp ứng nhu cầu điều trị ngày càng cao Các bệnh viện công, bán công và tư nhân được đầu tư xây dựng mới, hình thành mạng lưới bệnh viện rộng và đa dạng hơn trên khắp cả nước Mạng lưới hành nghề y tế tư nhân cũng tăng lên, góp phần mở rộng phạm vi tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng cho người dân và nâng cao năng lực của hệ thống y tế.

5.5.2 Dự báo về dân số và tỉ lệ tăng dân số

Phương pháp toán học được dùng để dự báo dân số là phương pháp Euler Công thức của phương pháp Euler cải tiến được biểu diễn như sau:

: Dân số năm thứ i (người) với dân số hiện tại của Quận Tân Bình là: 397.522 người (tính đến hết 31/12/2007)

N i : Dân số năm thứ i +1 (người) o

1 (người) o r : Tốc độ gia tăng dân số, với r = 1,02% = 0,0102 o ∆t : Độ chênh lệch thời gian giữa các năm

Bảng 5.4 Dân số dự báo của Quận Tân Bình trong giai đoạn 2007-2015

Qua bảng trên ta thấy, dân số năm 2007 là 397.522 người và đến năm 2015 dân số là 431.316 người; gấp 1,08 lần

5.5.3 Dự báo về lượng CTRYT đến năm 2015

Theo các tài liệu tham khảo và kh ảo sát thực tế tại các cơ sở y tế trên địa bàn Quận

Ở Tân Bình, mỗi giường bệnh thải ra lượng chất thải rắn nguy hại (CTRYT) khoảng 0,25 kg mỗi ngày Để dự báo tổng lượng CTRYT phát sinh, ta có thể tính toán dựa trên hệ số phát sinh chất thải rắn nguy hại trên mỗi giường bệnh hàng ngày Việc này giúp ước lượng lượng CTRYT từ số giường và mức độ hoạt động, từ đó hỗ trợ quản lý chất thải và tối ưu công tác xử lý nhằm giảm thiểu tác động môi trường.

Căn cứ vào số liệu rác thải y tế Quận vào năm 2007, toàn Quận có 20 cơ sở y tế và

Hiện tại toàn quận có 2330 giường bệnh Theo định hướng phát triển do Sở Y tế TP.HCM đề ra, đến năm 2015 toàn quận sẽ được tăng thêm và duy trì ở mức 2530 giường bệnh, nhằm nâng cao năng lực chăm sóc sức khỏe, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh và đảm bảo sự ổn định của hệ thống giường bệnh theo quy hoạch y tế của thành phố.

Trong 8 năm, số giường bệnh tăng lên 200 giường Giả sử tăng tuyến tính tức là mỗi năm số giường bệnh tăng đều, nên mỗi năm tăng thêm 25 giường Như vậy, ta có thể tính toán lượng chất thải rắn sinh ra dựa trên bảng dưới đây.

Bảng 5.5 Thông tin dự đoán lượng rác thải y tế tại Quận Tân Bình đến năm 2015

Năm Số giường bệnh thực hiện

Hệ số CTRYT (kg/giường/ngày) CTRYT

Dựa vào bảng dự báo sự biến đổi về khối lượng CTRYT sinh ra trên toàn Quận, ta nhận thấy:

DI ỄN BIẾN GIA TĂNG

CH ẤT THẢI RẮN Y TẾ (ĐVT:Kg/năm)

Nhận xét cho thấy lượng CTRYT này có mức độ nguy hiểm rất cao Nếu không được xử lý đúng cách, nó có thể gây ra nhiều nguy cơ tiềm ẩn ảnh hưởng đến sức khỏe con người, môi trường và cộng đồng xã hội.

5.5.4 Dự báo tác động đến môi trường

Quận Tân Bình đã nỗ lực quản lý chất thải rắn y tế (CTRYT), nhưng vẫn còn tồn tại những bất cập gây ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng và môi trường xung quanh Để hạn chế tối đa các hậu quả đối với môi trường, cần xây dựng và áp dụng các dự báo tác động môi trường dựa trên khối lượng CTRYT được dự báo.

Hình 5.15 Biểu đồ diễn biến gia tăng chất thải rắn y tế

Dân s ố tăng Đời sống được nâng cao

Khoa h ọc kỹ thuật ( y h ọc) phát triển

Lượng người khám và điều trị tăng

M ạng lưới y tế được m ở rộng và nâng c ấp

Xu ất hiện nhiểu lo ại bệnh tật mới

Môi trường xấu (đất, nước, không khí)

S ức ép cho chính phủ v ề quản lý chất thải

V ẻ mỹ quan thành ph ố giảm

Chi phí x ử lý tăng cao

Hình 5.16 Sơ đồ khuynh hướng tác động đến tương lai của rác y tế

ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT TÌNH HÌNH QUẢN LÝ

Ngày đăng: 30/10/2022, 15:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Huy Bá. Môi Tr ường . NXB ĐHQG TP.HCM. 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi Trường
Nhà XB: NXB ĐHQG TP.HCM. 2002
2. Ph ạm Ngọc Đăng. Qu ản lý môi trường đô thị và khu công nghiệp . NXB Xây d ựng, Hà Nội. 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý môi trường đô thị và khu công nghiệp
Nhà XB: NXB Xây dựng
3. Tr ần Hiếu Nhuệ &amp; CTV. Qu ản lý chất thải rắn, tập 1: Chất thải rắn đô thị . NXB Xây d ựng, Hà Nội. 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất thải rắn, tập 1: Chất thải rắn đô thị
Nhà XB: NXB Xây dựng
4. Lâm Minh Tri ết &amp; CTV. Qu ản lý chất thải nguy hại . NXB Xây d ựng, Hà Nội. 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất thải nguy hại
Nhà XB: NXB Xây dựng
5. B ộ Khoa học công nghệ môi trường. “Một số vấn đề quản lý chất thải rắn Việt Nam”, Hà N ội, 9/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề quản lý chất thải rắn Việt Nam
6. B ộ Y Tế. “Quy chế quản lý chất thải y tế”. B ộ trưởng Bộ Y tế ban hành . Ngày 27/08/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế quản lý chất thải y tế”. "Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
7. K ỷ yếu “Tân Bình-30 năm xây dựng và đổi mới”. Trung tâm hành chính qu ận Tân Bình. Năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tân Bình-30 năm xây dựng và đổi mới”. "Trung tâm hành chính quận Tân Bình
8. Niên giám th ống kê quận Tân Bình năm 2007. Phòng Thống kê quận Tân Bình 9. S ở Tài nguyên và Môi trường Tp. Hồ Chí Minh. “Luật Bảo vệ Môi trường vàcác văn bản hướng dẫn thi hành”. Năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Bảo vệ Môi trường và các văn bản hướng dẫn thi hành
10. S ở Y Tế Tp.HCM. Tài liệu tập huấn “Bảo vệ môi trường trong các cơ sở y tế”. Năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ môi trường trong các cơ sở y tế
11. Tr ần Hữu Phúc. “Giải pháp quản lý chất thải rắn y tế ở đồng bằng Sông Cửu Long”. Chi c ục bảo vệ môi trường Tây Nam Bộ , C ần Thơ. Ngày 14/10/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp quản lý chất thải rắn y tế ở đồng bằng Sông Cửu Long”. "Chi cục bảo vệ môi trường Tây Nam Bộ

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w