"Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước qua hệ thống Quỹ Hỗ trợ phát triển
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề
Trong phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia, tín dụng nhà nước nói chung và tín dụng đầu tư phát triển (ĐTPT) nói riêng đóng vai trò rất quan trọng Tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước phụ thuộc trực tiếp vào khả năng thu hút và sử dụng vốn đầu tư toàn xã hội, trong đó có nguồn vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước Bởi vậy, việc huy động, khai thác và sử dụng tối đa các nguồn lực trong và ngoài nước cho ĐTPT (đặc biệt là ở những nước đang phát triển) là điều cần thiết
Chính sách tín dụng ĐTPT của Nhà nước nhằm hỗ trợ cho các dự án ĐTPT của các thành phần kinh tế thuộc các ngành, lĩnh vực quan trọng, chương trình kinh tế lớn của Nhà nước có tác động trực tiếp đến chuyển dịch
cơ cấu kinh tế và các vùng khó khăn cần khuyến khích đầu tư, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững
Quỹ Hỗ trợ phát triển (HTPT) là một tổ chức tài chính nhà nước được Chính phủ thành lập theo Nghị định số 50/1999/NĐ-CP ngày 8-7-1999
để thực hiện nhiệm vụ huy động, tiếp nhận và quản lý các nguồn vốn của Nhà nước dành cho tín dụng ĐTPT, tín dụng hỗ trợ xuất khẩu (HTXK) Kể từ khi thành lập đến nay, vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước thông qua hoạt động của Quỹ HTPT đã có những đóng góp nhất định trong việc tăng cường cơ
sở vật chất kỹ thuật, thúc đẩy sản xuất phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng chiến lược và có lợi thế, đồng thời góp phần đa dạng hóa các hình thức huy động vốn cho ĐTPT cũng như phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Thời gian qua, bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước qua hệ thống Quỹ HTPT cũng đã bộc lộ một số
Trang 2hạn chế Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước qua hệ thống Quỹ HTPT
là điều cần thiết, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, tôi lựa chọn đề tài: "Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước qua hệ thống Quỹ Hỗ trợ phát triển" để làm luận văn thạc sĩ kinh tế, chuyên ngành: Kinh tế các ngành
sản xuất và dịch vụ
2 Mục đích nghiên cứu của luận văn
+ Tập hợp một số vấn đề lý luận về tín dụng của Quỹ HTPT và hiệu quả của nó
+ Phân tích thực trạng hoạt động của Quỹ HTPT, đánh giá những kết quả đạt được, các hạn chế trong hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước qua
hệ thống Quỹ HTPT
+ Xuất phát từ đặc điểm kinh tế xã hội của Việt Nam, định hướng, mục tiêu phát triển kinh tế của Đảng và Chính phủ để đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước qua hệ thống Quỹ HTPT ở nước ta hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu là hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước qua Quỹ HTPT từ khi thành lập đến 31-3-2004
4 Các phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ những nguyên lý chung, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử làm phương pháp luận cho việc nghiên cứu, các phương pháp thống kê, phân tích, hệ thống, so sánh được
sử dụng để nghiên cứu
Trang 3Trong nghiên cứu có sự kết hợp giữa lý luận với thực tiễn và với kinh nghiệm của một số nước trong khu vực và trên thế giới như Trung Quốc, Hàn Quốc nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm đối với nước ta
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và hiệu quả của nó Chương 2: Thực trạng và hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát
triển của Nhà nước qua Quỹ Hỗ trợ phát triển từ năm 2001 đến nay
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín
dụng đầu tư phát triển của Nhà nước qua hệ thống Quỹ Hỗ trợ phát triển
Trang 4Chương 1
TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƯỚC
VÀ HIỆU QUẢ CỦA NÓ
1.1 CHỨC NĂNG VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG
1.1.1 Khái niệm về tín dụng
Tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau giữa người cho vay và người vay có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, hay nói một cách khác tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh quan hệ kinh tế trong đó mỗi
tổ chức, cá nhân nhường quyền sử dụng một khối lượng giá trị hay hiện vật cho một tổ chức hay cá nhân với những điều kiện ràng buộc nhất định: về thời hạn hoàn trả (gốc và lãi); lãi suất; cách thức vay mượn và thu hồi
Quan hệ tín dụng có một quá trình hình thành và phát triển rất lâu dài Trong chế độ công xã nguyên thủy, lực lượng sản xuất ở một trình độ rất thấp kém, công cụ lao động hết sức thô sơ, cuộc sống phải dựa vào tự nhiên, phân công lao động chưa phát triển do lực lượng sản xuất thấp kém như vậy nên chưa thể có sản phẩm dư thừa để dự trữ và do vậy chưa có cơ sở để nảy sinh mầm mống của đầu óc tư hữu và trong xã hội nguyên thủy chưa thể có quan
hệ trao đổi, mua bán và vay mượn Lực lượng sản xuất phát triển, cùng với sự phát triển của phân công lao động xã hội, lúc này con người sản xuất sản phẩm không chỉ đủ cho tiêu dùng mà còn một phần để tích lũy dự trữ, do đó, xuất hiện mầm mống của chế độ tư hữu (cả về tư liệu sản xuất và sản phẩm làm ra, xã hội lúc này đã có sự phân chia kẻ giàu, người nghèo và các giai cấp được hình thành Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất cùng với sự phân công lao động xã hội là cơ sở cho sản xuất hành hóa ra đời, do đó các quan hệ mua, bán trao đổi và vay mượn cũng ra đời và những hình thức vay mượn đầu tiên chính là nguồn gốc sâu xa của quan hệ tín dụng
Như vậy có thể khẳng định, tín dụng là một phạm trù kinh tế của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, ra đời, tồn tại và phát triển cùng với nền sản xuất
Trang 5hàng hóa, trong điều kiện nền kinh tế sản xuất hàng hóa và quan hệ hàng hóa, tiền tệ thì tồn tại tín dụng là một tất yếu khách quan, bởi vì nền sản xuất hàng hóa và mối quan hệ hàng hóa hình thành quan hệ hàng hóa tiền tệ trong xã hội, sự tuần hoàn trong quy trình đó của vốn tiền tệ là tiền đề khách quan phát sinh các quan hệ tín dụng, tính tất yếu khách quan của tín dụng nảy sinh
Do đặc điểm của tính luân chuyển của vốn trong sản xuất kinh doanh,
sự vận động của tiền tệ trong quá trình sản xuất kinh doanh tất yếu làm nảy sinh hiện tượng phổ biến là trong cùng một thời gian có rất nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân phát sinh nhu cầu vốn cần được bổ sung với khối lượng và thời gian cần thiết, đồng thời, trong thời gian đó có nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và dân cư có những lượng tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong một thời gian nhất định, mâu thuẫn đó xảy ra thường xuyên và xen kẽ lẫn nhau trong quá trình tuần hoàn của vốn tiền tệ, mâu thuẫn đi đến phải được giải quyết bằng các phương pháp nhất định sao cho phù hợp với quá trình tuần hoàn
đó, có nghĩa là phải tiến hành tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ trên nguyên tắc có hoàn trả nhằm điều hòa kịp thời giữa cung và cầu vốn tiền tệ trong phạm
vi toàn xã hội đảm bảo cho quá trình tái sản xuất liên tục và tiết kiệm vốn Như vậy, đặc điểm của tuần hoàn vốn tiền tệ trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, các tổ chức đã nảy sinh mâu thuẫn, đòi hỏi phải được giải quyết bằng các quan hệ kinh tế để tập trung và phân phối lại các nguồn tiền
tệ tạm thời nhàn rỗi trên nguyên tắc có hoàn trả, quan hệ này trở thành một yếu
tố quan trọng góp phần thúc đẩy xã hội loài người đi tới văn minh, thịnh vượng trong nền kinh tế thị trường dựa trên nền sản xuất lớn hiện đại đó là quan hệ tín dụng
1.1.2 Bản chất tín dụng
Tín dụng là hệ thống quan hệ kinh tế phát sinh giữa người đi vay và người cho vay, nhờ quan hệ ấy mà vốn tiền tệ được vận động từ chủ thể này sang chủ thể khác để sử dụng cho các nhu cầu khác nhau trong nền kinh tế - xã
Trang 6hội, tín dụng bao giờ cũng có thời hạn và phải được "hoàn trả" Giá trị của tín dụng không những được bảo tồn mà còn được nâng cao nhờ lợi tức tín dụng
1.1.3 Chức năng của tín dụng
Tín dụng được sử dụng như là công cụ khai thác và động viên có hiệu quả nhất những lượng tiền tệ tạm thời nhàn rỗi phù hợp với quá trình vận động của vốn tiền tệ trong xã hội, tín dụng có ba chức năng chính như sau:
+ Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ
Đây là chức năng cơ bản nhất của tín dụng, nhờ chức năng này của tín dụng mà các nguồn vốn tiền tệ trong xã hội được điều hòa từ nơi thừa sang nơi thiếu để sử dụng nhằm phát triển nền kinh tế Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ là hai mặt hợp thành chức năng cốt lõi của tín dụng
Cả hai mặt tập trung và phân phối lại vốn đều được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả vì vậy tín dụng có ưu thế rõ rệt, nó kích thích mặt tập trung vốn đồng thời thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả
+ Chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội
Hoạt động của tín dụng, trước hết tạo điều kiện cho sự ra đời của các công cụ lưu thông tín dụng như thương phiếu, kỳ phiếu ngân hàng, các loại séc, các phương tiện thanh toán hiện đại như thẻ tín dụng, thẻ thanh toán, chuyển khoản hoặc bù trừ cho phép thay thế một số lượng lớn tiền mặt lưu hành, nhờ đó làm giảm bớt các chi phí có liên quan như in tiền, đúc tiền, vận chuyển, bảo quản tiền
+ Chức năng phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế
Đây là chức năng phát sinh, hệ quả của hai chức năng nói trên Sự vận động của vốn tín dụng phần lớn là sự vận động gắn liền với sự vận động của vật tư, hàng hóa, chi phí trong các doanh nghiệp, vì vậy qua đó tín dụng không những là tấm gương phản ánh hoạt động kinh tế của doanh nghiệp mà
Trang 7còn thông qua đó thực hiện việc kiểm soát các hoạt động ấy nhằm ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, lãng phí, vi phạm luật pháp trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
1.1.4 Vai trò của tín dụng
Nói đến vai trò của tín dụng nghĩa là nói đến sự tác động của tín dụng đối với nền kinh tế - xã hội Vai trò của tín dụng bao gồm vai trò hai mặt tích cực, mặt tốt, và mặt tiêu cực, mặt xấu Chẳng hạn, nếu để tín dụng phát triển tràn lan không kiểm soát, thì không những không làm cho nền kinh tế phát triển mà còn làm cho lạm phát có thể gia tăng gây ảnh hưởng đến đời sống kinh tế - xã hội
Nếu xét về mặt tích cực, tín dụng có vai trò to lớn sau đây:
Một là, tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất hàng hóa lưu thông phát
triển: Tín dụng, trước hết là nguồn cung ứng vốn (bao gồm vốn cố định và vốn lưu động) cho các doanh nghiệp các tổ chức kinh tế; tín dụng là một trong những công cụ để tập trung vốn một cách hữu hiệu trong nền kinh tế, là công
cụ thúc đẩy tích tụ vốn cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế
Hai là, tín dụng góp phần ổn định tiền tệ và ổn định giá cả: Trong khi
thực hiện chức năng thứ nhất là tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ, tín dụng góp phần làm giảm khối lượng tiền tệ lưu hành trong nền kinh tế, đặc biệt là tiền mặt trong tay các tầng lớp dân cư, làm giảm lạm phát, nhờ vậy góp phần làm ổn định tiền tệ Mặt khác, do cung ứng vốn cho nền kinh tế, làm cho sản xuất ngày càng phát triển, sản phẩm hàng hóa dịch vụ làm ra ngày càng nhiều, đáp ứng nhu cầu của xã hội, chính nhờ đó mà tín dụng góp phần làm
ổn định thị trường giá cả trong nước
Ba là, tín dụng góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm: Tín
dụng có tác dụng thúc đẩy sản xuất hàng hóa và dịch vụ ngày càng gia tăng có thể thỏa mãn nhu cầu đời sống của người lao động Mặt khác, do vốn tín dụng cung ứng đã tạo ra khả năng trong việc khai thác các tiềm năng sẵn có trong
Trang 8xã hội về tài nguyên thiên nhiên, về lao động, đất, rừng do đó có thể thu hút nhiều lực lượng lao động của xã hội để tạo ra lực lượng sản xuất mới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Cuối cùng, có thể nói, tín dụng có vai trò quan trọng để mở rộng và
phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại và mở rộng giao lưu quốc tế Sự phát triển của tín dụng không những ở đó nó thúc đẩy mở rộng và phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại, nhằm giúp đỡ và giải quyết các nhu cầu lẫn nhau trong quá trình phát triển đi lên của mỗi nước, làm cho các nước có điều kiện xích lại gần nhau hơn và cùng nhau phát triển
1.1.5 Các hình thức tín dụng
* Tín dụng thương mại
Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp, các
tổ chức kinh tế với nhau, được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa cho nhau
Tín dụng thương mại ra đời sớm hơn các hình thức tín dụng khác và giữ vai trò là cơ sở để các hình thức tín dụng khác ra đời
Tín dụng thương mại ra đời dựa trên nền tảng khách quan là quá trình luân chuyển vốn và chu kỳ sản xuất kinh doanh không có sự phù hợp và ăn khớp lẫn nhau không những giữa các doanh nghiệp khác ngành (như công nghiệp, thương mại, xây dựng) mà còn giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành
Sự không ăn khớp này dẫn đến hiện tượng trong một thời điểm, một số doanh nghiệp đã sản xuất ra một lượng hàng hóa đang cần bán, nhưng chưa cần phải thu tiền ngay, trong khi một số doanh nghiệp khác lại cần mua những sản phẩm hàng hóa ấy để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh nhưng lại chưa có tiền
Hiện tượng này có thể giải quyết nếu các doanh nghiệp tiến hành mua bán chịu hàng hóa cho nhau Đó chính là tín dụng thương mại Như vậy tín dụng thương mại đều có lợi đối với cả hai phía, và có lợi đối với tiến trình phát triển của nền kinh tế, bởi vậy tín dụng thương mại đã tồn tại và phát triển
Trang 9rất mạnh trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa phát triển cao như hiện nay
* Tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với các doanh nghiệp và cá nhân được thực hiện dưới hình thức ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay (cấp tín dụng) đối các đối tượng nói trên
Nó là một nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ của ngân hàng được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi
Đặc điểm của tín dụng ngân hàng là cho vay dưới dạng tiền tệ Nguồn vốn tín dụng mà ngân hàng cho vay ra được hình thành từ những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi ngân hàng huy động được Trong quan hệ với các doanh nghiệp và cá nhân, vừa đóng vai trò là "người đi vay", vừa đóng vai trò "người cho vay"
Tín dụng ngân hàng ra đời phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của
hệ thống ngân hàng, khác với tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chuyên nghiệp hoạt động của nó hết sức đa dạng và phong phú
Trang 10Khác với các loại hình tín dụng khác, tín dụng nhà nước không phục
vụ các đối tượng kinh tế đơn thuần, mà là các đối tượng vừa có tính chất kinh
tế vừa có tính chất xã hội, để thực hiện vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định, tín dụng nhà nước không phải là khoản thu của Nhà nước
Cũng giống như mọi loại hình tín dụng khác là thể hiện tính hoàn trả,
có thời hạn và phải trả một khoản tiền về sử dụng vốn vay Trong tín dụng nhà nước, vốn tiền tệ huy động được dưới hình thức công trái (trái phiếu Chính phủ) thuộc quyền sử dụng của Nhà nước, chúng được chuyển thành nguồn tài chính bổ sung của Nhà nước Vốn ngân sách là nguồn để hoàn trả tiền vay và lãi vay Tín dụng nhà nước gắn liền với hoạt động của kiến trúc thượng tầng chính trị và sự vận động của vốn ngân sách, biểu hiện một bộ phận của quan
hệ tài chính Nhà nước
Toàn bộ nguồn vốn huy động được dưới hình thức tín dụng nhà nước chủ yếu để cho vay ưu đãi, ưu tiên cho các dự án và công trình xây dựng hoặc cải tạo cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội hoặc đầu tư các dự án phát triển sản xuất kinh doanh
1.2 TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƯỚC
1.2.1 Khái niệm
Tín dụng ĐTPT của Nhà nước chỉ ra đời khi mục đích của tín dụng nhà nước chuyển từ chi tiêu sang đầu tư dưới dạng cho vay có hoàn trả Tính kinh tế của hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước xuất hiện khi các hoạt động đầu tư được sử dụng từ nguồn vốn này để tạo ra nguồn thu có khả năng hoàn trả khoản vốn đã sử dụng Giống như các hình thức tín dụng khác, cơ chế tín dụng ĐTPT của Nhà nước không chỉ góp phần tập trung được nguồn vốn cần thiết mà còn có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng, bảo toàn và phát triển được nguồn vốn của Nhà nước Qua đó, Nhà nước có thể mở rộng và chủ động trong việc giải quyết các mục tiêu vào ĐTPT
Trang 11Tuy nhiên, tín dụng ĐTPT của Nhà nước lại là một hình thức tín dụng đặc biệt, ở đó tính kinh tế của tín dụng nhà nước không phải là kinh tế đơn thuần Thông thường tính kinh tế của tín dụng ĐTPT của Nhà nước có những đặc tính sau:
- Tính kinh tế vĩ mô: Tín dụng ĐTPT của Nhà nước sẽ tập trung vào
các lĩnh vực then chốt, có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân cả nước, hoặc một ngành, một vùng, hay một khu vực
- Tính xã hội: Tín dụng ĐTPT của nhà nước sẽ tập trung vào các lĩnh
vực mà tín dụng thương mại với mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận có thể không giải quyết được (do hiệu quả trực tiếp của nhà đầu tư không được đảm bảo, hoặc qui mô nguồn vốn quá lớn, hay thời gian thu hồi vốn đầu tư quá dài) để giải quyết các vấn đề xã hội của đất nước: việc làm cho người lao động, xóa đói giảm nghèo, điều chỉnh cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế vùng,
1.2.2 Sự cần thiết của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
Cơ chế kinh tế thị trường luôn có những khuyết tật cố hữu, đó là sự phân hóa giàu nghèo, khai thác tài nguyên, nguồn lực một cách bừa bãi, ảnh hưởng ô nhiễm môi trường và sức khỏe dân cư làm thiệt hại đến lợi ích cộng đồng, tính chu kỳ trong phát triển kinh tế đôi khi dẫn đến sự lầm đường lạc lối như khủng hoảng, độc quyền, lạm phát và thất nghiệp
Để đối phó với những khuyết tật này, nền kinh tế hiện đại là nền kinh
tế hỗn hợp giữa thị trường - bàn tay vô hình và sự quản lý của Nhà nước - bàn tay hữu hình đang ngày càng chiếm ưu thế, ở đây nền kinh tế thị trường gắn liền với vai trò điều tiết kinh tế của Nhà nước
Thực hiện vai trò điều tiết kinh tế, Nhà nước thường sử dụng các công
cụ tài chính vốn có như thuế, phí, chi ngân sách nhà nước (NSNN), Ngoài
ra, Nhà nước còn thành lập các doanh nghiệp nhà nước và thông qua đó thực hiện việc đầu tư theo mục tiêu của Nhà nước để điều tiết nền kinh tế Hoạt động của các doanh nghiệp này thường nằm trong các lĩnh vực trọng yếu, then chốt của nền kinh tế hoặc những lĩnh vực hoạt động có tính chất xã hội
Trang 12Đối với các doanh nghiệp này, tùy theo điều kiện lịch sử, đặc điểm kinh tế từng thời kỳ và yêu cầu phát triển kinh tế đất nước từng giai đoạn mà Nhà nước thường cung cấp vốn dưới dạng cấp phát trực tiếp không hoàn lại hoặc tín dụng Như vậy, tín dụng ĐTPT của Nhà nước là một đòi hỏi khách quan, tất yếu trong đầu tư cơ bản của Chính phủ trong một giai đoạn lịch sử nhất định của quá trình phát triển kinh tế ở mỗi nước
Đối với nền kinh tế chuyển đổi hiện nay, Nhà nước sử dụng công cụ tín dụng để tham gia hoạt động ĐTPT là một vấn đề tất yếu, do đó vai trò điều tiết kinh tế của Nhà nước lúc này cần được tăng cường vì phải xây dựng các nền tảng hạ tầng cơ sở cần thiết cho nền kinh tế và phần nào hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới, nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ giá thành, nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh sản phẩm, Để thực hiện được nhiệm vụ nặng nề này, phạm vi cấp phát không hoàn lại vốn đầu tư từ NSNN cho ĐTPT kinh tế phải thu hẹp, thay thế vào đó là mở rộng diện tín dụng ĐTPT của Nhà nước đối với các hoạt động chi ĐTPT của Nhà nước nhưng có khả năng thu hồi vốn Đấy chính là một trong những nội dung cải cách NSNN ở các nước chuyển đổi nền kinh tế Tín dụng ĐTPT của Nhà nước trong trường hợp này
là một hình thức mang tính quá độ để các doanh nghiệp làm quen dần với cơ chế tự hạch toán, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình Đối với một số doanh nghiệp nhà nước, tín dụng ĐTPT của Nhà nước có thể là những bước hỗ trợ chuyển tiếp để phát triển và sau đó có thể chuyển giao cho khu vực ngoài quốc doanh thông qua cổ phần hóa
Mặt khác, trong xu thế toàn cầu hóa và hợp tác quốc tế, để có thể tham gia vào nền kinh tế thế giới, trong điều kiện các thể chế kinh tế - tài chính của các nước đang phát triển chưa có thời gian tiếp cận khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế Nhà nước của các nước đang phát triển luôn phải thực hiện chức năng trung gian hoặc nhà bảo lãnh cho các hoạt động tài chính đối ngoại Thực tế, Nhà nước đã phải đứng ra thực hiện việc cho vay lại hoặc bảo lãnh đối với các khoản tín dụng nước ngoài
Trang 13Như vậy, có thể khẳng định rằng, việc điều tiết kinh tế là một việc làm thiết yếu của Nhà nước trong nền kinh tế hỗn hợp và tín dụng ĐTPT của Nhà nước là một công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.2.3 Vai trò của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
Xét trên nhiều phương diện, tín dụng ĐTPT của Nhà nước không chỉ
là biện pháp huy động nguồn vốn nhàn rỗi bổ sung cho nguồn vốn tài chính Nhà nước mà còn là công cụ tài chính quan trọng để Nhà nước thực hiện việc điều tiết và kiểm soát vĩ mô Vai trò điều tiết nền kinh tế và kiểm soát
vĩ mô bằng tín dụng ĐTPT của Nhà nước được biểu hiện trên các khía cạnh chủ yếu sau:
- Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là một công cụ sắc bén trong việc lành mạnh hóa nền tài chính - tiền tệ quốc gia
Tín dụng ĐTPT của Nhà nước có tác dụng tích cực trong việc tạo dựng và phân bổ nguồn vốn một cách hiệu quả cho các hoạt động đầu tư Việc tập trung và phân bổ nguồn vốn luôn có tác dụng hỗ trợ, thúc đẩy nhau cùng phát triển Nhà nước có thể tập trung một cách nhanh chóng một khối lượng vốn theo nhu cầu với thời gian dài và chi phí không cao Khả năng này sẽ giúp Nhà nước chủ động trong việc điều tiết vĩ mô thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, kéo theo sự cải thiện tiềm lực tài chính quốc gia
Việc ra đời của cơ chế tín dụng ĐTPT Nhà nước còn là một tác nhân quan trọng trên thị trường tài chính, đó là sự phát triển của thị trường chứng khoán và của khu vực các thể chế tài chính phi ngân hàng
Đối với lĩnh vực tiền tệ, vai trò của tín dụng ĐTPT của Nhà nước cũng hết sức quan trọng Việc xóa bỏ cơ chế tiền tệ hóa thâm hụt ngân sách là nền tảng cho việc lành mạnh hóa khu vực tiền tệ - ngân hàng, góp phần duy trì sự ổn định giá trị đồng nội tệ
Trang 14Cơ chế tín dụng ĐTPT của Nhà nước ra đời là cơ sở để tách các hoạt động tín dụng mang tính kinh tế - xã hội ra khỏi hoạt động có tính thương mại của khu vực trung gian tài chính, chuyển hoạt động của các tổ chức trung gian tài chính sang cơ chế hạch toán kinh doanh hoàn toàn Việc tách bạch tín dụng chính sách và tín dụng ngân hàng có tác dụng tích cực trong việc hạn chế rủi ro về tính thanh khoản của các ngân hàng thương mại
Vấn đề có ý nghĩa sâu rộng hơn là sự phát triển tín dụng ĐTPT của Nhà nước đã tạo ra một thị trường tài chính năng động, thực hiện tốt chức năng chu chuyển, điều hòa các nguồn tài chính trong nền kinh tế - một vấn đề thiết yếu đối với việc duy trì liên tục và mở rộng phát triển nền sản xuất hàng hóa
- Tín dụng ĐTPT của Nhà nước góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế
Cùng với các chính sách kinh tế khác như chính sách thuế, chính sách tiền tệ Tín dụng ĐTPT của Nhà nước là một công cụ đắc lực, hữu hiệu của Nhà nước điều tiết nền kinh tế vĩ mô, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Mục tiêu đặt ra đối với tín dụng ĐTPT là thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế, một mặt phải tập trung vào những lĩnh vực, ngành nghề cần thiết cho phát triển kinh tế bền vững, nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp phát triển các lĩnh vực ngành nghề, điều chỉnh cơ cấu kinh tế Mặt khác, tín dụng ĐTPT của Nhà nước sẽ tập trung vào những ngành nghề, lĩnh vực công nghệ mới, có tác dụng thúc đẩy năng suất lao động, tăng sản phẩm xã hội, nhằm cải thiện đời sống, rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước, bảo đảm không tụt hậu hoặc đi chệch xu hướng phát triển chung của nền kinh tế thế giới, khu vực
- Tín dụng ĐTPTcủa Nhà nước nâng cao hiệu quả đầu tư, xóa bao cấp về đầu tư
Tín dụng ĐTPT của Nhà nước làm giảm sự bao cấp trực tiếp của Nhà nước đối với lĩnh vực đầu tư có khả năng hoàn vốn mà trước đây vẫn được Nhà nước cấp không hoàn lại Từ đó đã giảm đáng kể áp lực về nguồn vốn đối với NSNN Đồng thời, tín dụng ĐTPT của Nhà nước cũng góp phần đa
Trang 15dạng hóa các hình thức huy động vốn đầu tư, thúc đẩy huy động vốn đặc biệt
là huy động vốn dài hạn trong mọi thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư nhằm thực hiện chủ trương phát huy nội lực cho phát triển kinh tế
Bên cạnh đó tín dụng ĐTPT của Nhà nước còn góp phần nâng cao hiệu quả trong đầu tư Các cơ chế, chính sách quản lý tín dụng ĐTPT của Nhà nước được đưa ra chặt chẽ nhằm kiểm tra, giám sát trước và trong quá trình đầu tư một cách nghiêm ngặt Dưới các áp lực này, chủ đầu tư buộc phải tăng cường công tác hạch toán kế toán, phải chứng minh và chịu sự giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý nguồn vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước về khả năng tạo ra nguồn thu nhập cao hơn chi phí đầu tư để không chỉ bù đắp được các khoản chi phí đã bỏ ra mà phải trả lãi cho khoản tín dụng nhà nước Đây cũng
là động lực mạnh mẽ tạo nên tư duy làm ăn có hiệu quả, là yếu tố quan trọng trong việc động viên trí tuệ, sức lực của toàn dân nhằm phát huy nội lực cho công cuộc xây dựng đất nước
- Tín dụng ĐTPT của Nhà nước giúp các doanh nghiệp mở rộng đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển sản xuất kinh doanh
Khi được tiếp nhận nguồn vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước hoặc được bảo lãnh hay hỗ trợ lãi suất sau đầu tư (LSSĐT), các doanh nghiệp thuộc đối tượng sẽ có cơ hội mở rộng sản xuất kinh doanh dưới các hình thức đầu tư mới hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, tăng qui mô phát triển sản xuất kinh doanh
Mặt khác, hoạt động đầu tư của Nhà nước sẽ khuyến khích và lôi kéo các thành phần kinh tế mở rộng sản xuất kinh doanh thông qua việc tạo ra các
cơ sở hạ tầng thiết yếu cho sản xuất hoặc phát triển một số khâu nào đó của quá trình sản xuất Khi một dự án đầu tư đi vào hoạt động với máy móc được trang bị đầy đủ sẽ làm cho năng lực sản xuất tăng lên, hàng hóa được sản xuất
ra nhiều hơn, đa dạng về mẫu mã, phong phú về chủng loại và chất lượng cao, trình độ công nghệ, năng suất lao động của xã hội được nâng lên Từ đó sẽ tiết kiệm được một khoản ngoại tệ lớn do không phải nhập máy móc thiết bị từ
Trang 16nước ngoài vào, tạo điều kiện để người tiêu dùng tiếp cận với sản phẩm mới với chất lượng đảm bảo, giá cả hợp lý và xa hơn thế xuất khẩu ra nước ngoài
để thu ngoại tệ Các dự án về cơ sở hạ tầng như: thông tin liên lạc, các công trình giao thông đường không, bộ, thủy, khu công nghệ cao có một ý nghĩa
vô cùng quan trọng làm tiền đề phát triển cho các ngành kinh tế khác
- Tín dụng ĐTPT của Nhà nước góp phần tạo việc làm cho người lao động, giữ vững an ninh chính trị, ổn định trật tự xã hội
Trong bối cảnh hiện nay, việc giải quyết việc làm là vấn đề hết sức quan trọng được Đảng và Nhà nước rất quan tâm Tín dụng ĐTPT của Nhà nước với mục đích là hỗ trợ các dự án ĐTPT của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực quan trọng, chương trình kinh tế lớn, các lĩnh vực mà không có
sự ưu đãi đầu tư của Nhà nước thì sẽ không phát triển được, hoặc các lĩnh vực sản xuất kinh doanh mà ít có hiệu quả kinh tế trực tiếp, do đó, khi thửùc hieọn ủaàu tử phaựt trieồn saỷn xuaỏt tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn như: các tỉnh miền núi, biên giới hải đảo, vùng sâu, vùng xa hoặc các ngành nghề thuộc diện khuyến khích ưu đãi đầu tư của Nhà nước đối với các thành phần kinh tế, ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế là thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng thu ngân sách, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn góp phần tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, giữ vững an ninh chính trị, ổn định trật tự xã hội, như thông qua chương trình mía đường của Chính phủ, ngoài ý nghĩa kinh tế góp phần không phải nhập khẩu thì đã tạo được việc làm cho trên 470.000 nông dân ở các vùng nông thôn, miền núi trồng mía để cung cấp cho các Nhà máy đường; chương trình đánh cá xa bờ của Chính phủ, ngoài ý nghĩa kinh tế tạo ra hàng hóa xuất khẩu góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu thu ngoại tệ về cho đất nước, còn có ý nghĩa về chính trị, đó là bảo vệ an ninh bờ biển của nước ta, tạo ra công ăn việc làm cho trên 200.000 lao động tại các tỉnh ven biển
1.2.4 Đặc điểm của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
Trang 17- Nguồn vốn để cho vay đầu tư là vốn của ngân sách, hoặc nguồn vốn huy động theo kế hoạch của Nhà nước để phục vụ đầu tư theo chủ trương của Nhà nước
- Tổ chức làm nhiệm vụ quản lý và cho vay tín dụng ĐTPT của Nhà nước là hệ thống những đơn vị, cơ quan chuyên môn của Nhà nước, được thành lập và hoạt động theo nghị định của Chính phủ
- Đối tượng cho vay của tín dụng ĐTPT của Nhà nước là những dự án đầu tư theo các chương trình, mục tiêu, định hướng và chủ trương đầu tư của Nhà nước, theo chính sách kinh tế vĩ mô, nhằm chuyển dịch cớ cấu kinh tế quốc dân theo hướng đã được qui định trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
- Chu kỳ cho vay thường dài, lãi suất cho vay của tín dụng ĐTPT của Nhà nước là lãi suất ưu đãi, thấp hơn lãi suất thị trường, do Chính phủ quy định phù hợp với chủ trương khuyến khích ĐTPT kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ
1.2.5 Phân biệt tín dụng ĐTPT của Nhà nước với các hình thức tín dụng khác
So với các hình thức tín dụng: tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng quốc tế, tín dụng ĐTPT của nhà nước cũng hoạt động với nguyên tắc vay trả Tuy nhiên, tín dụng ĐTPT của Nhà nước với bản chất riêng luôn có những đặc thù so với các loại hình tín dụng khác, cụ thể:
- Tín dụng ĐTPT của Nhà nước gắn với việc điều tiết kinh tế vĩ mô theo chủ trương của Nhà nước
- Đối tượng đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước tập trung vào các lĩnh vực then chốt, có tác động đến tăng trưởng kinh tế, mà các thành phần kinh tế khác không đảm nhận được vì các lý do như mức độ sinh lời thấp, nhu cầu vốn lớn, thời hạn đầu tư dài, nên thường phải gắn với những ưu đãi nhất định Chẳng hạn, lãi suất thường thấp hơn lãi suất thị trường cùng kỳ, qui mô cho vay lớn hơn và các điều kiện đảm bảo nợ vay với giá trị thường thấp hơn khoản vay,
Trang 18- Tín dụng ĐTPT của Nhà nước có tính lịch sử, thường tồn tại và phát triển trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế đất nước Khi nền kinh tế thị trường phát triển, các nhà đầu tư đã quen với hoạt động cạnh tranh, thì vai trò can thiệp, điều tiết kinh tế của Nhà nước giảm, nên phạm vi tín dụng đầu
tư của Nhà nước thu hẹp lại để chuyển dần sang tín dụng thương mại
- Đối tượng cho vay của tín dụng ĐTPT của Nhà nước do Nhà nước xác định và được bố trí thông qua kế hoạch đầu tư của Nhà nước
1.2.6 Các nội dung chính trong quản lý tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
Hiện nay, hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước được điều chỉnh bởi Nghị định số 43/1999/NĐ-CP ngày 29-06-1999 của Chính phủ và Quyết định số 133/2001/QĐ-TTg ngày 10-9-2001 của Thủ tướng Chính phủ
+ Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước được điều chỉnh bởi Nghị định số 43/1999/NĐ-CP ngày 29-06-1999 của Chính phủ
* Mục đích tín dụng ĐTPT của Nhà nước nhằm hỗ trợ các dự án
ĐTPT của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực, chương trình
kinh tế lớn của Nhà nước và các vùng khó khăn cần khuyến khích đầu tư
* Nguyên tắc tín dụng chỉ hỗ trợ cho những dự án đầu tư Nhà nước
cần khuyến khích, có hiệu quả kinh tế - xã hội, đảm bảo hoàn trả được vốn vay
Một dự án có thể được hỗ trợ đồng thời bằng hai hình thức cho vay đầu
tư và bảo lãnh tín dụng đầu tư Việc cho vay vốn đầu tư phải thực hiện đúng theo mục tiêu và tiến độ đầu tư của dự án Dự án đó phải được Quỹ thẩm định phương án trả nợ vốn vay và chấp thuận cho vay trước khi quyết định đầu tư
* Nguồn vốn tín dụng: Bao gồm các nguồn sau: Vốn điều lệ của Quỹ;
vốn NSNN cấp hàng năm; vốn thu hồi nợ hàng năm; vốn từ phát hành trái phiếu Chính phủ; vốn vay nợ, viện trợ nước ngoài của Chính phủ dùng để cho
Trang 19vay lại; vốn huy động như vay lại các Quỹ: Tích lũy nước ngoài; tiết kiệm bưu điện; bảo hiểm xã hội hoặc huy động khác
Nguồn vốn này được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu: Cho vay đầu tư, hỗ trợ LSSĐT, thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh tín dụng đầu tư, trả nợ vốn vay
* Các hình thức tín dụng đầu tư phát triển: Tín dụng ĐTPT của Nhà
nước được thực hiện thông qua các hình thức: Cho vay trung dài hạn để đầu
tư, hỗ trợ LSSĐT, bảo lãnh tín dụng đầu tư
Đối tượng cho vay đầu tư: Là các dự án ĐTPT có khả năng thu hồi vốn trực tiếp (bao gồm cả dự án cho vay thành lập doanh nghiệp mới, cho vay đổi mới thiết bị công nghệ mở rộng sản xuất) của các thành phần kinh tế đầu
tư tại các vùng khó khăn theo quy định hiện hành của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) thuộc các ngành Các dự án có sử dụng vốn HTPT chính thức (ODA) cho vay lại Một số chương trình, dự án đầu tư khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Điều kiện cho vay: Dự án phải thuộc đối tượng quy định, có đầy đủ thủ tục đầu tư và xây dựng theo quy định hiện hành của Nhà nước
Chủ đầu tư là các tổ chức, cá nhân có đủ năng lực hành vi dân sự đầy
đủ, tổ chức và hoạt động theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam, sản xuất kinh doanh có lãi, có phương án trả được nợ vay được Quỹ chấp nhận, thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Nhà nước
Mức vốn cho vay: Mức vốn cho vay đối với các dự án đặc biệt: theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ Mức vốn cho vay đối với các dự án thuộc các chương trình phát triển kinh tế của Nhà nước: 85% - 100% tổng vốn đầu tư của dự án Mức vốn cho vay đối với các dự án khác: 50% - 70% tổng vốn đầu
tư
Thời hạn cho vay: Tối đa 10 năm, trường hợp đặc biệt trên 10 năm
Lãi suất cho vay: Tại thời điểm hiện nay, lãi suất cho vay là 5,4%/ năm Khi lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước tăng, giảm 10%, Thủ tướng Chính phủ sẽ quyết định điều chỉnh Một số dự án thuộc diện được ưu đãi đặc biệt,
Trang 20lãi suất cho vay 3%/ năm và 0%/ năm Lãi suất nợ quá hạn bằng 130% lãi suất cho vay trong hạn ghi trong hợp đồng
Đảm bảo tiền vay: Nếu chủ đầu tư là doanh nghiệp nhà nước được
dùng tài sản hình thành từ vốn vay để đảm bảo tiền vay Nếu chủ đầu tư không phải là doanh nghiệp nhà nước, ngoài việc dùng tài sản hình thành từ vốn vay để đảm bảo tiền vay, phải có tài sản thế chấp trị giá tối thiểu bằng 50% mức vốn vay Những trường hợp đặc biệt do Thủ tướng quyết định
Rủi ro và xử lý rủi ro: Các dự án vay vốn bị rủi ro do các nguyên nhân khách quan:
- Do chính sách nhà nước thay đổi, do biến động của giá cả thị trường trong và ngoài nước ngoài dự kiến đã tính toán trong dự án khả thi mà chủ đầu tư gặp khó khăn trong việc trả nợ vay, thì được xem xét gia hạn nợ, miễn, giảm lãi tiền vay, khoanh nợ
- Do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ làm mất tài sản, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận mà chủ đầu tư không trả được nợ, thì sau khi đã nhận được tiền bồi thường của cơ quan bảo hiểm (nếu có) được xem xét xóa một phần hoặc toàn bộ nợ vay
Các khoản bù đắp rủi ro nói trên được lấy từ quỹ dự phòng rủi ro Quỹ
dự phòng rủi ro được trích 2% từ nguồn thu lãi cho vay hàng năm Trường hợp quỹ dự phòng rủi ro không đủ bù đắp thì Hội đồng quản lý Quỹ báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định
- Thẩm quyền xử lý rủi ro: Quỹ quyết định gia hạn nợ, miễn giảm lãi tiền vay Thủ tướng chính phủ quyết định khoanh nợ, xóa nợ trên cơ sở đề nghị của Quỹ
Hình thức hỗ trợ lãi suất sau đầu tư
Đối tượng hỗ trợ LSSĐT: Là các dự án thuộc diện được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định hiện hành của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) do chủ đầu tư vay vốn của các tổ
Trang 21chức tín dụng hoạt động hợp pháp tại Việt Nam để đầu tư, đã hoàn thành đưa vào sử dụng và đã hoàn trả được vốn vay
Mức hỗ trợ LSSĐT: Mức hỗ trợ LSSĐT hàng năm của dự án được tính bằng nợ gốc trong hạn thực trả trong năm nhân với 50% lãi suất tín dụng ĐTPT của Nhà nước, nhân (x) với thời hạn thực vay đối với nợ gốc được hỗ trợ lãi suất Thời hạn hỗ trợ LSSĐT tối đa bằng thời hạn quy định đối với dự
án vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước
Hình thức bảo lãnh tín dụng đầu tư
Đối tượng được bảo lãnh: Là các chủ đầu tư có dự án đầu tư thuộc
diện được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định hiện hành của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) nhưng không được hỗ trợ LSSĐT, không được vay hoặc mới được vay một phần vốn tín dụng ĐTPT Nhà nước
Mức bảo lãnh: Đối với các dự án đặc biệt thực hiện theo quyết định
của Thủ tướng Chính phủ Đối với các dự án sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu, các dự án nông nghiệp, mức bảo lãnh tối đa đến 100% số vốn vay từ các tổ chức tín dụng Đối với các dự án khác mức bảo lãnh từ 50% đến 80% trị giá khoản vay
Thời hạn bảo lãnh: Phù hợp với thời hạn vay vốn trong hợp đồng tín dụng đã ký giữa chủ đầu tư với tổ chức tín dụng cho vay thực hiện dự án
Điều kiện được bảo lãnh: Đã được tổ chức tín dụng thẩm định cho
vay và có văn bản yêu cầu bảo lãnh Được Quỹ HTPT chấp thuận phương án tài chính, phương án trả nợ vốn vay và phải có tài sản đảm bảo cho bảo lãnh
Phí bảo lãnh: 0,5%/năm tính trên số tiền đang bảo lãnh Đối với các
dự án sản xuất hàng xuất khẩu: 0,3%/ năm tính trên số tiền đang bảo lãnh
Trang 22+ Tín dụng hỗ trợ xuất khẩu theo Quyết định số 133/2001/QĐ-TTg ngày 10-09-2001 của Thủ tướng Chính phủ
Tín dụng ngắn hạn HTXK là ưu đãi của Nhà nước nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và cá nhân phát triển sản xuất hàng xuất khẩu theo chính sách khuyến khích xuất khẩu của Nhà nước
Hình thức tín dụng ngắn hạn được quy định theo các nội dung chủ yếu sau:
Đối tượng được vay vốn ngắn hạn HTXK là các đơn vị thực hiện xuất khẩu hàng hóa, gồm các đơn vị sản xuất, chế biến, kinh doanh các mặt hàng thuộc chương trình ưu tiên khuyến khích xuất khẩu do Thủ tướng Chính phủ quy định hàng năm hoặc trong từng thời kỳ
Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay ngắn hạn bằng 80% lãi suất tín dụng ĐTPT của Nhà nước tại thời điểm ký hợp đồng và được giữ cố định trong suốt thời hạn vay vốn Hiện nay đang áp dụng mức lãi suất 0,36%/ tháng Lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất nợ trong hạn
Thời hạn cho vay: Tùy thuộc nhu cầu sử dụng vốn để thực hiện hợp đồng xuất khẩu nhưng tối đa không quá 12 tháng Trường hợp cho vay xuất khẩu hàng trả chậm đến 720 ngày thực hiện theo danh mục mặt hàng do Thủ
tướng Chính phủ quy định
Hình thức cho vay: Có hai hình thức cho vay: Cho vay trước khi
giao hàng: theo hợp đồng xuất khẩu hoặc theo L/C, hoặc cho vay sau khi giao hàng: cho vay theo bộ chứng từ hợp lệ
Mức vốn cho vay: Tối đa 70% giá trị hợp đồng xuất khẩu, 80% trị giá L/C hoặc 90% giá trị bộ chứng từ hàng xuất
1.2.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
+ Các nhân tố về môi trường chính trị, pháp lý, kinh tế - xã hội
- Môi trường chính trị xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của bất kỳ doanh nghiệp, tổ chức kinh tế - xã hội nào Trong tình hình chính
Trang 23trị không ổn định, thì không chỉ riêng doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh mà bản thân tổ chức cho vay cũng khó có thể tập trung vào đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh và trong điều kiện như vậy việc duy trì sự phát triển như cũ
đã là khó chứ chưa nói đến việc mở rộng Hơn nữa sự bất ổn về chính trị sẽ dẫn đến sự mất lòng tin đầu tư của dân chúng cũng như các chủ doanh nghiệp trong và ngoài nước Khả năng huy động vốn khó khăn, vì vậy nguồn vốn cho ĐTPT cũng sẽ bị hạn chế
- Một môi trường pháp lý đồng bộ, đầy đủ, thống nhất và ổn định sẽ
có tác dụng rất lớn đến chất lượng công tác tín dụng Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, pháp luật đã trở thành bộ phận không thể thiếu
- Một hệ thống pháp luật đầy đủ, chuẩn tắc và đồng bộ trước hết sẽ tạo niềm tin được bảo hộ chính đáng trong quá trình đầu tư, đồng thời giúp cho các doanh nghiệp cũng như tổ chức tín dụng hoạt động được thuận lợi
- Môi trường kinh tế - xã hội là tổng hòa các mối quan hệ về kinh tế -
xã hội tác động lên hoạt động của doanh nghiệp, đó chính là các cơ chế chính sách của Nhà nước đề ra trong từng thời kỳ để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nhằm đạt được những mục tiêu đề ra trong tương lai Môi trường kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện cho lưu thông hàng hóa, thúc đẩy sản xuất phát triển, do đó hoạt động tín dụng sẽ thuận lợi hơn Nền kinh tế ổn định tăng trưởng tốt thì có nghĩa là đầu tư sẽ tăng, đồng thời với nó là hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao và có khả năng hoàn trả được vốn vay
+ Các nhân tố về tổ chức quản lý tín dụng ĐTPT của Nhà nước
- Năng lực thẩm định và giám sát tín dụng: Năng lực thẩm định trước khi cho vay: đây là yếu tố đảm bảo chất lượng của khoản vay và dự án Năng lực thẩm định cao sẽ loại trừ được sai lệch trong cung cấp thông tin của doanh nghiệp, việc dự đoán tương lai hoạt động, khả năng sinh lời và rủi ro càng chính xác, chất lượng tín dụng càng lớn
Trang 24Theo dõi chặt chẽ tiền vay là biện pháp quan trọng để đảm bảo cho việc sử dụng vốn đầu tư đúng mục đích, ngăn ngừa nợ quá hạn, nợ khó đòi Nâng cao năng lực giám sát và xử lý tín dụng cũng chính là biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng
- Tổ chức bộ máy, thủ tục hành chính và qui trình nghiệp vụ: Quy định rõ về quyền hạn và trách nhiệm của từng khâu, từng bộ phận sẽ có tác động lớn trong các mối quan hệ của từng bộ phận trong quá trình quản lý từ khâu thẩm định đến khi thiết lập quan hệ tín dụng và thu hồi hết nợ, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế tình trạng lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức trong tín dụng
Quy trình nghiệp vụ khoa học, quy định rõ ràng trách nhiệm của từng
cá nhân từng bộ phận sẽ có tác dụng nâng cao chất lượng của thông tin tới cấp
ra quyết định cho vay, giảm yếu tố sai lệch thông tin và là cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng tín dụng
+ Các nhân tố về phía tổ chức hưởng hỗ trợ tín dụng ĐTPT của Nhà nước
- Năng lực sản xuất của doanh nghiệp: Năng lực sản xuất của doanh
nghiệp biểu hiện giá trị của công cụ lao động mà chủ yếu là tài sản cố định: Biểu hiện cụ thể là quá trình sản xuất sản phẩm, công nghệ sản xuất, đầu tư trước đây có kết quả như thế nào
- Năng lực tài chính của doanh nghiệp: Năng lực tài chính của doanh
nghiệp thể hiện ở khối lượng vốn tự có và tỷ trọng vốn tự có trong tổng số nguồn vốn sử dụng Năng lực tài chính của doanh nghiệp càng cao, khả năng đáp ứng các điều kiện tín dụng càng lớn thì càng có điều kiện nâng cao chất lượng tín dụng
- Khả năng tổ chức, quản lý của doanh nghiệp: Doanh nghiệp vay vốn phải có bộ máy có năng lực quản lý phù hợp Năng lực quản lý còn thể hiện ở
tổ chức hệ thống hạch toán kế toán và quản lý tài chính phù hợp với các qui định của pháp luật
Trang 25- Sự đáp ứng của dự án với điều kiện tín dụng ĐTPT của Nhà nước:
Dự án đầu tư phải thuộc đối tượng cần được khuyến khích đầu tư theo qui định của Nhà nước Dự án phải chứng minh được sự cần thiết, mục đích, kết quả của đầu tư Sự phù hợp của quá trình đầu tư với qui hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Chủ đầu tư phải có đủ vốn tự có tham gia đầu tư theo
tỷ lệ qui định, có khả năng hoàn trả nợ từ bản thân dự án và từ các khoản thu nhập hợp pháp khác của doanh nghiệp
1.3 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA QUỸ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN
1.3.1 Tổ chức bộ máy và các hoạt động của Quỹ Hỗ trợ phát triển
Quỹ HTPT là một tổ chức tài chính nhà nước, được Chính phủ thành lập theo Nghị định số 50/1999/NĐ-CP ngày 6-7-1999 để thực hiện chính sách
hỗ trợ ĐTPT của Nhà nước thông qua một số hoạt động như cho vay, thu nợ các dự án đầu tư; bảo lãnh vay vốn đối với các chủ đầu tư; tái bảo lãnh và nhận tái bảo lãnh đối với các quỹ đầu tư; hỗ trợ LSSĐT đối với các dự án ưu đãi của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực, chương trình kinh tế lớn của Nhà nước và các vùng khó khăn cần khuyến khích đầu tư Hoạt động của Quỹ không vì mục đích lợi nhuận, nhưng phải bảo đảm hoàn vốn và bù đắp chi phí Quỹ được miễn nộp thuế và các khoản nộp NSNN để giảm lãi suất cho vay và giảm phí bảo lãnh Quỹ HTPT được NSNN cấp bù chênh lệch lãi suất, bố trí vốn hỗ trợ LSSĐT, được bù đắp rủi ro do nguyên nhân khách quan khi thực hiện cho vay đầu tư và bảo lãnh tín dụng đầu tư Đồng thời, với tính chất cho vay ưu đãi, hoạt động cho vay đầu tư của Quỹ luôn có lãi suất thấp hơn lãi suất cho vay thương mại trên thị trường Trong trường hợp lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất huy động, Quỹ được Nhà nước cấp bù chênh lệch lãi suất Đây là điểm hết sức khác biệt so với các tổ chức tín dụng khác Như vậy, hoạt động cơ bản của Quỹ HTPT là hoạt động tín dụng, một trong những nội dung của tín dụng nhà nước
1.3.2 Quan điểm về hiệu quả hoạt động tín dụng của Quỹ Hỗ trợ phát triển
Trang 26Theo Từ điển Tiếng Việt: "Hiệu quả là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại" Đây là khái niệm chung nhất về hiệu quả Vậy, trong trường hợp
cụ thể đối với hoạt động tín dụng của Quỹ thì hiệu quả được hiểu như thế nào?
Hoạt động tín dụng của Quỹ được xem là có hiệu quả khi nó mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho cả Quỹ, các đối tượng khác trong quan hệ tín dụng và cả nền kinh tế quốc dân Nghĩa là, bên cho vay, trong đó có Quỹ thu được nợ gốc và lãi trong khoảng thời gian trong hạn Còn đối với khách hàng vay vốn, nhờ có vốn tín dụng được vay đã góp phần làm cho họ sản xuất kinh doanh có lãi, làm cho họ thực hiện được chức năng vốn có của mình và đối với nền kinh tế quốc dân, khoản tín dụng đó phải có ảnh hưởng tích cực đến
sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của Quỹ HTPT là việc Quỹ HTPT cùng các đối tượng khác trong quan hệ tín dụng và các cơ quan chức năng chủ động tìm ra giải pháp để bên cho vay hạn chế tới mức thấp nhất nợ quá hạn phát sinh; bên đi vay vốn sản xuất kinh doanh sử dụng vốn vay có hiệu quả, có lợi nhuận càng cao càng tốt và hoạt động của Quỹ HTPT sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
1.3.3 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của Quỹ Hỗ trợ phát triển
Muốn tăng trưởng kinh tế thì phải huy động tối đa các nguồn lực cho ĐTPT Tín dụng trung dài hạn nói chung và tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước nói riêng là một trong những nguồn vốn quan trọng cho ĐTPT Quỹ HTPT, với tư cách là đầu mối trung tâm tiếp nhận, huy động, quản lý và thực hiện nguồn vốn này, có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh
tế của đất nước
Thứ nhất: Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, thúc đẩy sản xuất phát triển Thông qua hoạt động, Quỹ hỗ trợ vốn, khuyến khích các doanh nghiệp
Trang 27ĐTPT sản xuất thuộc các ngành, lĩnh vực, chương trình kinh tế lớn của Nhà nước và các vùng khó khăn cần khuyến khích đầu tư
Khi một dự án đầu tư đi vào hoạt động với máy móc được trang bị đầy
đủ sẽ làm cho năng lực sản xuất tăng lên, hàng hóa được sản xuất ra nhiều hơn, đa dạng về mẫu mã, phong phú về chủng loại và chất lượng cao Do đó, nhu cầu tiêu dùng của xã hội sẽ tăng lên Nếu các dự án đầu tư vào sản xuất máy móc, thiết bị phục vụ cho sản xuất có hiệu quả, trình độ công nghệ, năng suất lao động của xã hội được nâng lên Từ đó sẽ tiết kiệm được một khoản ngoại tệ lớn do không phải nhập máy móc thiết bị từ nước ngoài vào Nếu đầu
tư vào công nghệ sản xuất hàng tiêu dùng sẽ tạo điều kiện để người tiêu dùng tiếp cận với sản phẩm mới với chất lượng đảm bảo, giá cả hợp lý và xa hơn thế xuất khẩu ra nước ngoài để thu ngoại tệ
Các dự án về cơ sở hạ tầng như: thông tin liên lạc, các công trình giao thông đường không, bộ, thủy, khu công nghệ có một ý nghĩa vô cùng quan trọng làm tiền đề phát triển cho các ngành kinh tế khác
Thứ hai: Thúc đẩy phát triển kim ngạch xuất khẩu Đối với những
nước đang phát triển, nếu kim ngạch xuất khẩu tăng lên, hàng hóa đứng vững được trên thị trường quốc tế với thị phần ổn định sẽ khẳng định: sản phẩm có sức cạnh tranh cao, máy móc thiết bị, trình độ công nghệ đã được quan tâm đúng mức Quy chế tín dụng xuất khẩu mới mở ra theo đó khuyến khích đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu không kể trung, dài hay ngắn hạn
và ngành nghề Đây thực sự là một kích thích tố mạnh mẽ nhằm tăng kim ngạch xuất Như vậy, hoạt động của Quỹ HTPT là một trong những nhân tố thúc đẩy xuất khẩu của nước nhà
Thứ ba: Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa Với đặc điểm hạn chế về đối tượng được hưởng ưu đãi theo quy định
hiện hành của Chính phủ, thông qua các hoạt động của mình, Quỹ có thể tập trung cho vay phát triển ngành này, hay ngành khác Điều đó, có nghĩa là khuyến khích và thúc đẩy lĩnh vực, ngành đó phát triển hơn so với các ngành
Trang 28khác Như vậy, hoạt động của Quỹ có tác động đối với các ngành kinh tế và góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta là đặc biệt quan tâm tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và kinh tế nông thôn, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại; nâng cấp cải tạo và xây dựng mới
có trọng điểm kết cấu hạ tầng kinh tế; xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng trong những ngành trọng yếu mà nhu cầu đòi hỏi bức bách phải có điều kiện về vốn, công nghệ, thị trường, phát huy tác dụng nhanh và hiệu quả
Thứ tư: Tạo thêm việc làm cho người lao động Giải quyết việc làm là
vấn đề hết sức quan trọng mà bất cứ nhà nước nào trên thế giới đều rất quan tâm Một trong những ưu tiên của Quỹ là các dự án đầu tư tạo thêm được nhiều việc làm mới Khi thực hiện ĐTPT sản xuất, ngoài ý nghĩa về mặt kinh
tế là thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn tạo việc làm cho người lao động, góp phần ổn định xã hội
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tín dụng của Quỹ Hỗ trợ phát triển
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tín dụng của Quỹ HTPT Tuy nhiên, những nhân tố cơ bản, quan trọng và tác động mạnh mẽ, trực tiếp đến hiệu quả hoạt động tín dụng của Quỹ bao gồm: Năng lực quản lý của người lãnh đạo Quỹ, chính sách lãi suất của Nhà nước, năng lực giám sát
và thẩm định của đội ngũ cán bộ thuộc Quỹ và tổ chức bộ máy và qui trình nghiệp vụ
- Yếu tố con người, tổ chức, chính sách luôn luôn có tầm quan trọng đặc biệt Năng lực quản lý của người lãnh đạo có tầm quan trọng đặc biệt đối với hoạt động của Quỹ Nếu năng lực của người lãnh đạo yếu, bộ máy tổ chức không hợp lý, các sách lược kinh doanh không phù hợp với thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì các hoạt động của Quỹ, mà chủ yếu
là hoạt động tín dụng có hiệu quả thấp hoặc không có hiệu quả và ngược lại
Trang 29- Quỹ HTPT là một tổ chức tài chính, mục tiêu của Quỹ không vì mục đích lợi nhuận Song, Quỹ HTPT vẫn phải bảo tồn được vốn của mình khi cho vay đầu tư, để có nguồn vốn tái đầu tư và cũng hạn chế sự bao cấp của nhà nước Vì vậy, lãi suất là yếu tố quan trọng không chỉ đối với hoạt động của Quỹ mà còn giúp chủ thể vay vốn sử dụng vốn vay có hiệu quả hơn Lãi suất của Quỹ do Nhà nước quy định thường thấp hơn so với lãi suất Ngân hàng Trong những trường hợp thị trường biến động, sự chênh lệch giữa lãi suất cho vay ưu đãi và lãi suất cho vay thương mại là rất lớn hoặc không đáng kể Nếu chính sách lãi suất của Nhà nước không được điều chỉnh kịp thời thì hoạt động của Quỹ sẽ bị ảnh hưởng rất lớn Các khách hàng có thể sẽ tìm đến với các ngân hàng thương mại khi sự chênh lệch đó là ít mặc dù họ được ưu đãi
về vay vốn đầu tư thay vì đến với Quỹ Hoặc có thể họ sẽ tập trung tới Quỹ, khi đó Quỹ sẽ khó có khả năng đáp ứng kịp thời Do vậy, hiệu quả hoạt động tín dụng của Quỹ hỗ trợ sẽ thấp
- Năng lực thẩm định và giám sát tín dụng của Quỹ HTPT:
Năng lực thẩm định của cán bộ tín dụng là yếu tố quyết định đảm bảo hiệu quả của khoản vay và dự án Nếu năng lực thẩm định cao sẽ loại trừ được sai lệch trong việc cung cấp thông tin của khách hàng cũng như khả năng sử dụng vốn vay của khách hàng Năng lực thẩm định của cán bộ tín dụng thể hiện ở năng lực phân tích tài chính và xử lý các thông tin tín dụng Nếu thiếu khả năng này, tổn thất trong hoạt động tín dụng sẽ không tránh khỏi Do đó, hiệu quả hoạt động tín dụng của Quỹ HTPT sẽ thấp
Năng lực giám sát tín dụng: giám sát tín dụng nhằm đảm bảo chất lượng tín dụng như ban đầu dự đoán, hạn chế xảy ra tình trạng rủi ro trong tín dụng Theo dõi sát sao và chặt chẽ việc giải ngân và sử dụng tiền vay là biện pháp quan trọng để đảm bảo việc sử dụng vốn đầu tư đúng mục đích, ngăn ngừa nợ quá hạn, nợ khó đòi
- Tổ chức bộ máy và qui trình nghiệp vụ: Hoạt động của Quỹ HTPT
có triển khai được thuận lợi và có hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào tổ
Trang 30chức bộ máy và quy trình nghiệp vụ Việc quy định rõ quyền hạn trách nhiệm của từng khâu, từng bộ phận, mối quan hệ của từng bộ phận sẽ có tác dụng quan trọng trong quá trình thực hiện từ thẩm định đến khi thiết lập quan hệ tín dụng và thu hồi vốn (gốc + lãi) Quy trình quản lý tín dụng được bố trí khoa học, rõ ràng sẽ góp phần quan trọng làm nâng cao chất lượng của thông tin tới cấp ra quyết định cho vay, giảm các yếu tố sai lệch thông tin và là cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng tín dụng Từ đó nâng cao được hiệu quả hoạt động của Quỹ HTPT
1.3.5 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Quỹ Hỗ trợ phát triển
* Các chỉ tiêu định tính
Hiệu quả hoạt động tín dụng của Quỹ HTPT được thể hiện qua khả năng thu được nợ gốc và lãi trong khoảng thời gian đã quy định trong hợp đồng tín dụng đối với Quỹ HTPT; khả năng sản xuất kinh doanh của các khách hàng vay vốn từ Quỹ và tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Do đó, về mặt định tính, chất lượng hoạt động tín dụng được đánh giá qua các mặt sau:
Thứ nhất: Hiệu quả hoạt động tín dụng của Quỹ HTPT được thể hiện
ở khả năng thu được nợ gốc và lãi trong khoảng thời gian đã quy định trong hợp đồng tín dụng Nghĩa là, hoạt động tín dụng phải bảo đảm để Quỹ HTPT thực hiện được chức năng mà Nhà nước đã giao, đồng thời phải mang lại thu nhập cho Quỹ HTPT đủ để trang trải các khoản chi phí liên quan và hạn chế thấp nhất nguy cơ rủi ro (không thu hồi được vốn cho vay hoặc thu hồi chậm)
Hiệu quả hoạt động tín dụng của Quỹ HTPT còn thể hiện ở khả năng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng Nói cách khác, đối với bên đi vay thì điều này trước hết biểu hiện ở chỗ thủ tục đơn giản, thuận tiện (tuy nhiên, vẫn phải bảo đảm những nguyên tắc an toàn cần thiết và theo những quy trình nhất định), cung cấp vốn đầy đủ, nhanh chóng, kịp thời Qua đó, bên đi vay sẽ tiết
Trang 31kiệm được các chi phí giao dịch, tiết kiệm thời gian và nhất là sẽ không bỏ lỡ những cơ hội sản xuất kinh doanh tốt
Thứ hai: Khả năng sử dụng vốn vay có hiệu quả của bên đi vay Nói
một cách khác, bên đi vay sử dụng vốn vay được từ Quỹ HTPT phục vụ tốt hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như mục tiêu khi đi vay đề ra
Thứ ba: Đóng góp vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của vùng,
địa phương và cả nước Đây là hệ quả tất yếu đạt được khi cả bên đi vay và Quỹ đều hoạt động tốt Nó được biểu hiện ở chỗ, hoạt động của Quỹ sẽ đóng góp vào việc tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy phát triển kim ngạch xuất khẩu, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo chủ trương, định hướng và chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, tạo thêm việc làm cho người lao động, nâng cao mức sống người dân
Nhìn chung, hiệu quả hoạt động tín dụng của Quỹ HTPT là một chỉ tiêu rất tổng hợp, được đánh giá trên quan điểm của cả ba đối tượng: Quỹ HTPT, khách hàng vay vốn của Quỹ và nền kinh tế - xã hội Các chỉ tiêu định tính chỉ là những căn cứ đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng của Quỹ HTPT một cách khái quát Muốn có những kết luận chính xác hơn, cần phải dựa vào một hệ thống các chỉ tiêu định lượng cụ thể liên quan đến Quỹ Riêng nhân tố kinh tế - xã hội rất khó có các chỉ tiêu định lượng để đo lường tác động cụ thể đối với từng hoạt động tín dụng của Quỹ HTPT đến sự phát triển chung đối với phát triển kinh tế của đất nước Đồng thời, do nhân tố bên đi vay của Quỹ cũng rất đa dạng như các doanh nghiệp, các dự án, các chương trình mục tiêu nên cũng rất khó đưa ra được các chỉ tiêu định lượng cụ thể chung cho đối tượng này Do đó, tùy từng trường hợp cụ thể mà người ta có thể đánh giá hiệu quả kinh tế trên cả hai mặt định tính và định lượng Đôi khi chỉ đánh giá trên các khía cạnh ở tầm vĩ mô
* Các chỉ tiêu định lượng
Trang 32- Doanh số và tốc độ tăng doanh số: Doanh số cho vay là số tiền mà
Quỹ cho các khách hàng vay Tốc độ tăng doanh số cho vay được thể hiện qua công thức:
Tốc độ tăng doanh số = - 1 x 100
Doanh số cho vay thể hiện quy mô tuyệt đối của hoạt động tín dụng, còn tốc độ tăng doanh số thể hiện khả năng mở rộng quy mô và hình thức cho vay qua các thời kỳ Doanh số cho vay lớn và tốc độ cho vay tăng nhanh cho thấy khả năng mở rộng tín dụng của Quỹ Tuy nhiên, như trên đã phân tích,
đó mới chỉ là điều kiện chứ chưa thể khẳng định hiệu quả tín dụng của Quỹ
mà cần phải kết hợp nghiên cứu, phân tích các chỉ tiêu khác
- Tổng vốn huy động: Đây là chỉ tiêu biểu hiện quy mô số vốn mà Quỹ
huy động từ các nguồn: ngân sách, vay nợ nước ngoài, trong một khoảng thời gian nhất định Chỉ tiêu này biểu hiện khả năng cho vay của Quỹ Nếu tổng vốn huy động cao, khả năng cho vay lớn và ngược lại Tuy nhiên, chúng
ta cũng cần kết hợp với các chỉ tiêu định lượng khác để đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng của Chẳng hạn, nếu tổng vốn huy động của Quỹ, trong khi doanh số cho vay nhỏ, tốc độ tăng doanh số cho vay chậm thì hiệu quả hoạt động của Quỹ không cao
cơ sở chỉ tiêu trên để đánh giá hiệu quả tín dụng của Quỹ Bởi vì, đánh giá
Trang 33như vậy là phiến diện, sẽ dễ dẫn đến đánh giá sai Chẳng hạn, tỷ nợ quá hạn cao trong khi hiệu suất sử dụng vốn cũng cao thì hiệu quả hoạt động tín dụng của Quỹ HTPT chưa chắc đã cao, thậm chí còn thấp
có thể chấp nhận được
Hoạt động tín dụng của Quỹ HTPT là một hoạt động tín dụng chính sách cho ĐTPT, không vì mục đích lợi nhuận, hoạt động của Quỹ chủ yếu hoạt động và tổ chức thực hiện cho vay đầu tư theo định hướng và chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế của đất nước trong từng thời kỳ, hàng năm, vì mục đích tín dụng ĐTPT của Nhà nước đã được quy định rõ: tín dụng ĐTPT của Nhà nước nhằm hỗ trợ các dự
án ĐTPT của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực quan trọng, chương trình kinh tế lớn, các lĩnh vực mà không có sự ưu đãi đầu tư của Nhà nước thì sẽ không phát triển được, hoặc các lĩnh vực sản xuất kinh doanh mà ít
có hiệu quả kinh tế trực tiếp, nên hiệu quả hoạt động tín dụng của Quỹ là một khái niệm tổng hợp, vừa mang tính cụ thể, vừa mang tính trừu tượng, nó được biểu hiện qua các chỉ tiêu liên quan đến nhiều đối tượng: Quỹ HTPT, bên đi vay của Quỹ và quan trong nhất là tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trang 34Vì là hoạt động tín dụng chính sách nên các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng của Quỹ HTPT mang nhiều tính chất định tính hơn là tính
định lượng (đây là một đặc điểm khác biệt lớn so với hoạt động của các Ngân hàng thương mại), nên trong luận văn sẽ đi sâu vào phân tích hiệu quả hoạt
động tín dụng của Quỹ HTPT trên một số các chỉ tiêu định tính; có một số chỉ tiêu mang tính chất định lượng hay định tính đánh giá hiệu quả của Quỹ và nó
có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, có thể là bổ sung cho nhau nhưng cũng có thể mâu thuẫn với nhau Do đó, để đánh giá một cách chính xác hiệu quả hoạt động tín dụng của Quỹ HTPT thì phải đánh giá toàn bộ các chỉ tiêu đó trong một hệ thống cả trên tầm vi mô cũng như vĩ mô Đồng thời, cũng cần căn cứ vào định hướng, chủ trương ĐTPT trong từng lĩnh vực, ngành hay chương trình, dự án cụ thể để có sự đánh giá mức độ ưu tiên cho chỉ tiêu này hay chỉ tiêu khác, cho đối tượng này hay đối tượng khác
1.4 KINH NGHIỆM HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC VÀ TRÊN THẾ GIỚI
1.4.1 Hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ở Hàn Quốc
Kinh tế Hàn Quốc bắt đầu cất cánh từ đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước Vào cuối giai đoạn "cất cánh", Hàn Quốc trở thành một nước công nghiệp Sự phát triển nhanh chóng đó có hai yếu tố quan trọng góp phần, một là chiến lược tăng trưởng dựa vào xuất khẩu, hai là chính sách tạo nguồn vốn hợp lý Nhà nước đã sử dụng nhiều công cụ để huy động các nguồn lực, trong đó có tín dụng ĐTPT của Nhà nước Đầu tư của Nhà nước nói chung của tín dụng ĐTPT của Nhà nước nói riêng đã đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các ngành kinh tế phục vụ chiến lược phát triển trong thời kỳ này
Chính phủ Hàn Quốc đã phân bổ các nguồn tài chính thông qua Quỹ đầu tư quốc gia để hỗ trợ cho các ngành được khuyến khích đầu tư Các chính sách được áp dụng cho vay có chọn lọc, ưu tiên lãi suất cho phát triển những ngành công nghiệp có mục tiêu quốc gia Từ năm 1973, Hàn Quốc chuyển
Trang 35sang phát triển các ngành công nghiệp nặng như công nghiệp sắt, thép, kim loại màu… và công nghiệp hóa chất như phân bón, sơn, chất dẻo bằng cách cho vay ưu đãi với lãi suất thấp
Chính phủ hỗ trợ sản xuất hàng xuất khẩu thông qua các biện pháp chủ yếu như: cấp tín dụng xuất khẩu với lãi suất ưu đãi, trợ cấp trực tiếp cho xuất khẩu một số sản phẩm quan trọng, cho vay với lãi suất ưu đãi để sản xuất hàng xuất khẩu, cấp tín dụng cho các nhà nhập khẩu khẩu nguyên liệu thô và thiết bị để sản xuất hàng xuất khẩu, cho vay để chuyển đổi nhà máy sang sản xuất hàng xuất khẩu,
Từ cuối những năm 70 và đầu những năm 80 đã xuất hiện những dấu hiệu phát triển mất cân đối buộc Chính phủ phải điều chỉnh chính sách phát triển Trước hết, Chính phủ giảm hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay xuất khẩu, tín dụng ĐTPT của Nhà nước cấp cho các công ty thuộc diện được vay vốn tín dụng ĐTPT của nhà nước cho xuất khẩu với lãi suất thấp Mặt khác, Nhà nước chuyển sang khuyến khích phát triển doanh nghiệp có quy mô vừa
và nhỏ, tín dụng ĐTPT của Nhà nước được ưu tiên phân bổ cho khu vực này
Tóm lại, sự tăng trưởng kinh tế nhanh của Hàn Quốc trong 4 thập kỷ liên tiếp phần lớn nhờ thực hiện các chính sách thúc đẩy xuất khẩu và công nghiệp hóa chất với sự hỗ trợ tài chính mạnh mẽ từ NSNN và tín dụng đầu tư Nhà nước
1.4.2 Hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ở Trung Quốc
Cùng với công cuộc cải tổ nền kinh tế, Trung Quốc đã cải tổ hệ thống tín dụng nhằm đáp ứng những nhu cầu mới của nền kinh tế hàng hóa Tín dụng đầu tư Nhà nước ngày càng được hoàn thiện
Một trong các nội dung của công cuộc cải cách cơ chế quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản là xác định rõ phạm vi đầu tư từ ngân sách và phân biệt ranh giới danh mục các công trình dự án đầu tư công cộng và các công
Trang 36trình dự án đầu tư có khả năng thu hồi vốn Hoạt động tín dụng đầu tư nhà nước dưới các hình thức cho vay đầu tư, bảo lãnh tín dụng đầu tư, bảo hiểm tín dụng và hỗ trợ LSSĐT
Việc thực hiện tín dụng đầu tư của Nhà nước do ba Ngân hàng: Ngân hàng phát triển, Ngân hàng phát triển nông nghiệp và Ngân hàng xuất nhập khẩu Ngân hàng phát triển nông nghiệp chuyên về lĩnh vực nông nghiệp, Ngân hàng phát triển chuyên về lĩnh vực xây dựng cơ bản và Ngân hàng xuất nhập khẩu chuyên về lĩnh vực xuất nhập khẩu Trong ba ngân hàng này chỉ có Ngân hàng phát triển là ngân hàng chính sách thuần túy, hai ngân hàng còn lại hoạt động có tính lưỡng chế, vừa kinh doanh đồng thời vừa tiếp nhận và quản
lý nguồn vốn nhà nước hỗ trợ cho từng lĩnh vực
1.4.3 Hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ở Đài Loan
Trong những năm 1959 đến 1972, Đài Loan thực hiện vai trò hỗ trợ cho các ngành công nghiệp nhẹ có định hướng xuất khẩu và sử dụng nhiều lao động Trong đó có biện pháp hỗ trợ tài chính của Nhà nước là cấp tín dụng đầu tư với lãi suất thấp Chế độ ưu đãi đối với các công ty tham gia phát triển các ngành công nghiệp chiến lược bao gồm:
- Sự trợ giúp vốn của Nhà nước: Các công ty đáp ứng được tiêu thức trên có thể đề nghị sự giúp đỡ từ phía Chính phủ khi tiêu thức xác định các công ty được phân hạng và Chính phủ có thể trợ giúp khoảng 50% số vốn của toàn bộ chương trình hỗ trợ;
- Cho vay với lãi suất thấp: Năm 1982, Chính phủ đã lập quỹ với số tiền 250 triệu USD để đảm bảo các khoản cho vay với lãi suất thấp đối với các công ty trong ngành công nghiệp chiến lược Các khoản vay với lãi suất thấp được các công ty dùng để mua máy móc, thiết bị là chủ yếu
Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý và sử dụng vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước ở các nước, chúng ta có thể rút ra những bài học kinh nghiệm chủ yếu cho việc thực hiện tín dụng ĐTPT của Nhà nước ở Việt Nam
Trang 37Thứ nhất, các biện pháp hỗ trợ tài chính cho đầu tư được thực hiện
dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó bên cạnh hình thức cấp phát trực tiếp từ ngân sách là cấp tín dụng ĐTPT của Nhà nước Để quản lý hiệu quả nguồn vốn này, cần huy động các tổ chức tín dụng, ngân hàng tham gia vào việc huy động vốn để cho vay theo các đối tượng được Nhà nước quy định hoặc Nhà nước hỗ trợ lãi suất, bảo lãnh tín dụng đầu tư và quản lý thống nhất thông qua một đầu mối
Thứ hai, để quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn tín dụng ĐTPT của
Nhà nước, cần thành lập một tổ chức có đủ năng lực và thẩm quyền để điều hòa vốn và quản lý chung
Thứ ba, hình thức tín dụng ĐTPT của Nhà nước được áp dụng rộng
rãi và luôn được điều chỉnh trong mỗi thời kỳ
Thứ tư, lãi suất tín dụng ĐTPT của Nhà nước thấp hơn lãi suất vay
vốn trên thị trường tự do Lãi suất vay vốn thấp là công cụ quan trọng của Nhà nước trong hỗ trợ vốn dài hạn để phát triển một số ngành công nghiệp then chốt cần nhiều vốn trong thời kỳ đầu của giai đoạn tăng trưởng kinh tế
Thứ năm, điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo các ngành, lĩnh vực, vùng
kinh tế phục vụ chiến lược phát triển của Chính phủ
Thứ sáu, đối tượng cho vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước không
nên quá rộng, làm cho các doanh nghiệp ỷ lại, giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp và tăng khoản nợ của Chính phủ
Thứ bảy, bên cạnh hỗ trợ đầu tư thông qua tín dụng ĐTPT, Nhà nước
còn phải thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp hỗ trợ khác
Thứ tám, để có đủ nguồn vốn cho vay ĐTPT cần đa dạng hóa các hình
thức huy động Bên cạnh việc đẩy mạnh huy động nguồn vốn dưới hình thức trái phiếu trên thị trường trong nước, chúng ta cũng nên khẩn trương tiến hành huy động vốn dưới hình thức phát hành trái phiếu quốc tế
Trang 38Chương 2
THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA QUỸ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN
án ĐTPT cơ sở hạ tầng, các dự án mang tầm chiến lược quốc gia, thuộc ngành kinh tế mũi nhọn, các dự án thuộc vùng khó khăn, kém phát triển thường đòi hỏi lượng vốn lớn, thời gian thu hồi vốn chậm nên các nhà đầu tư thường không muốn hoặc không có khả năng đầu tư Vì vậy, các dự án này thường được Chính phủ tài trợ
Với yêu cầu nâng cao trách nhiệm của các chủ đầu tư, Chính phủ đã thay đổi cơ chế quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản, chuyển từ hình thức cấp phát sang hình thức tín dụng đầu tư đối với những dự án cần khuyến khích đầu tư và có khả năng thu hồi vốn trực tiếp Ban đầu thực hiện tín dụng chỉ thu hồi nợ gốc (không thu lãi) sau chuyển sang cơ chế cho vay thu hồi cả nợ gốc và lãi (lãi suất thấp) Kênh tín dụng mới này thực chất là tín dụng ưu đãi của Nhà nước (hiện nay gọi là tín dụng ĐTPT của Nhà nước)
Bên cạnh đó, để thực hiện việc cấp và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư
từ NSNN, nhằm đổi mới cơ chế, chính sách quản lý tín dụng ĐTPT của Nhà
Trang 39nước, để tập trung các nguồn vốn, các chương trình cho vay ưu đãi của Nhà nước vào một đầu mối, nâng cao hơn nữa vai trò và chất lượng của công tác tín dụng ĐTPT của Nhà nước, ngày 8-7-1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 50/1999/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Quỹ HTPT Từ 1-1-2000, Quỹ HTPT chính thức hoạt động và thực hiện nhiệm vụ tín dụng ĐTPT của Nhà nước
Hiện nay, Quỹ Hỗ trợ phát triển có 62 chi nhánh và 1 văn phòng đại diện đặt tại 62 tỉnh, thành hoạt động dưới sự chỉ đạo của Quỹ Trung ương tại
Hà Nội Quỹ hỗ trợ phát triển có quan hệ mật thiết với các cơ quan khác của Chính phủ như với Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu
tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các bộ và các cơ quan chức năng khác
2.1.2 Thực trạng hoạt động tín dụng của Quỹ Hỗ trợ phát triển trong thời gian qua
+ Tình hình huy động vốn và quản lý điều hành nguồn vốn
Khi mới thành lập, Quỹ HTPT có vốn điều lệ là 3000 tỷ đồng, sau đó Quỹ được bổ sung thêm 2000 tỷ đồng nữa nên hiện nay vốn điều lệ của Quỹ
là 5.000 tỷ đồng Nguồn vốn của Quỹ cho hoạt động tín dụng ĐTPT Nhà nước bao gồm: vốn được Nhà nước cấp bổ sung hàng năm cho đến khi đủ vốn điều lệ, các nguồn theo theo chỉ định và tự huy động
Đối với nguồn vốn tự huy động, vốn vay từ Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Quỹ Tiết kiệm bưu điện là nguồn vốn mang tính kế hoạch và do Chính phủ ấn định về số vốn vay, mức lãi suất Nguồn này có ưu điểm là tương đối ổn định, thời hạn vay vốn dài (khoảng 5 năm) Tuy nhiên, do quy
mô nhỏ nên chưa đáp ứng nhu cầu về vốn của Quỹ HTPT
Từ năm 2002, Quỹ HTPT chính thức phát hành trái phiếu Chính phủ thông qua thị trường chứng khoán tập trung Mặc dù tỷ trọng nguồn này chiếm nhỏ trong tổng nguồn vốn cho vay tín dụng nhà nước nhưng có ý nghĩa quan trọng, tạo điều kiện để mở rộng hoạt động cho vay và đầu tư của Quỹ (xem bảng 2.1)
Trang 40Bảng 2.1: Nguồn vốn hoạt động của Quỹ HTPT
Năm
2002
Tỷ trọng (%)
Năm
2003
Tỷ trọng (%)
A Vốn điều lệ và các quỹ 4.098 9.58 4.981 9.37 5.131 7.6
B Vốn huy động 11.829 27,7 18.517 34.8 30.284 44.8
3 Vay Quỹ tích lũy trả nợ nước
8 Nguồn khác (khấu hao ngành
C Nguồn ghi thu ghi chi ODA
cho vay lại 26.719 62.65 29.648 55.7 32.884 48.7
(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm 2001, 2002, 2003 của Quỹ HTPT)
Bước sang năm 2003, công tác huy động vốn được Quỹ HTPT xác định là một nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu, rất nặng nề Việc huy động vốn của Quỹ HTPT trong năm 2003 có nhiều khó khăn hơn trước do nhu cầu vốn trung dài hạn để đầu tư rất lớn trong khi lãi suất huy động vốn trên thị trường biến động phức tạp Từ đầu năm, Quỹ HTPT đã trình Hội đồng quản lý, Bộ trưởng Bộ Tài chính phương án huy động vốn để đáp ứng nhu cầu giải ngân
và hoàn trả các nguồn vốn huy động đến hạn Ngoài các nguồn vốn theo chỉ định của Chính phủ, Quỹ đã chú trọng đa dạng hóa các nguồn vốn huy động