Một trong những hiện trạng nổi bật nhất đó là bên cạnh sơn ta còn có sự hiện diện của sơn Nhật, sơn điều và các loại sơn công nghiệp khác cùng với kỹ thuật sơn phủ bóng, cán láng bề mặt,
Trang 1TỔ V ỆT TRƯỜ ẠI HỌC TÔ ỨC THẮNG KHOA MỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
Trang 2ỤC ỤC
ục lục
Lời cam đoan
MỞ U 1
C n 1: SƠ MÀI BÌNH DƯƠ TRONG BỐ CẢ SƠ MÀI V ỆT NAM-9 Giớ t uyết k n ệm 13
C n Ệ T UẬT SƠ Ứ DỤ BÌNH DƯƠ Lịc sử s n m Bình D n 17
Vài nét về vùng đất, con người Bình Dương
Tiến trình hình thành và phát triển nghề sơn mài và làng nghề… 20
Làng nghề sơn mài Bình Dương 30
Chất l ệu s n mài Bình D n 34
Các loại chất liệu
Quy trình xử lý chất liệu 36
Nghệ thuật thể hiện 47
Tiểu kết chương 2 54
C n 3: BẢ TỒ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ Ệ T UẬT SƠ MÀI BD Nhữn trị của n ệ t uật s n m Bình D n 58
Giá trị kinh tế, văn hóa và xã hội
Giá trị thẩm mỹ 62
Bảo tồn và phát huy các giá trị của n ệ t uật s n mài Bình D n
Một số định hướng phát triển sơn mài ứng dụng Bình Dương 74
Giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị của nghệ thuật sơn mài BD79 Tiểu kết chương 3 92
Trang 3LỜ C
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của thầy Nguyễn Đăng Minh Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kì hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu nhập từ các nguồn khác nhau được ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc
Nếu phát hiện có bất kì sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn tốt nghiệp của mình Trường đại học Tôn Đức Thắng không liên quan đến những vi phạm tác quyền, bản quyền do tôi gây ra trong quá trình thực hiện (nếu có)
Bình Dương , ngày tháng năm 2015
Tác giả luận án
Trang 4LỜI CẢ Ơ
Sau những năm ngồi trên ghế giảng đường trường Đại học Tôn Đức Thắng, em
đã được qúy thầy cô truyền đạt, trang bị những kiến thức trong công việc chuyên ngành thiết kế đồ họa trong trường và cả những kiến thức trong cuộc sống
Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn qúi thầy cô đã dạy bảo em trong suốt thời gian rèn luyện, học tập
Em xin chân thành cám ơn:
- Ban giám hiệu và qúy thầy cô trường Đại Tôn Đức Thắng
- Thầy cô trong hội đồng chấm thi tốt nghiệp đã cho em những ý kiến qúi báu để
em thực hiện thành công đồ án này
- Thầy Nguyễn Đăng Minh đã tận tình giúp đỡ và chỉ bảo em trong thời gian học
tập cũng như hướng dẫn em trong thời gian thực hiện đồ án tốt nghiệp
- Gia đình đã ủng hộ em cả về vật chất và tinh thần để em thực hiện thành công
đồ án
- Bạn bè đã cho em những ý kiến đóng góp chân thành nhất
Xin quí thầy cô cùng gia đình, bạn bè nhận lời cảm ơn chân thành và những lời chúc tốt đẹp nhất ở nơi em
Em xin chân thành cảm n!
ình ương, ngày tháng năm 2015
Sinh viên: Nguyễn Duy
Trang 6NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN:
Ngày ……tháng ……năm ……
Giảng Viên Phản Biện
ký tên
Trang 7- Đồ sơn đã xuất hiện từ rất sớm và lưu truyền qua nhiều thế hệ, ở nhiều nơi trên đất nước ta, từ Phú Thọ, Hà Nam, Hà Tây, Bắc Ninh, Nam Định đến Quảng Bình, Thuận Hóa và đặc biệt là Bình Dương, nơi tập trung nhiều thợ sơn giỏi và phát triển mạnh nghề sơn mài ở phía Nam Với lịch sử phát triển gần ba trăm năm, nghề sơn mài trên đất Tương Bình Hiệp - Bình Dương, được xem là vốn quý về
mỹ thuật, thể hiện bản sắc văn hóa của địa phương Nó kế thừa đồ sơn và sơn mài
cổ truyền, vừa phát huy những giá trị nghệ thuật của dân tộc, vừa tiếp cận với các
xu hướng mỹ thuật hiện đại, nên đã sớm định hình và ghi dấu ấn sâu sắc trong lịch
sử phát triển vùng đất
- Đất nước ta, giống như các nước trong khu vực, có kho tàng văn hóa quý báu, đó là hàng trăm nghề thủ công truyền thống với hàng ngàn chủng loại sản phẩm đa dạng và phong phú, đóng góp tích cực cho văn hóa tiêu dùng trong quá khứ cũng như hiện tại Song, hiện nay lối sống đô thị, hiện đại, đang làm cho một bộ phận người dân Việt Nam giảm đi ý thức tiêu dùng những sản phẩm thủ công mỹ nghệ, một số khác có xu hướng sùng bái hàng ngoại nhập với các chất liệu mới Sơn mài truyền thống cũng dần bị mai một và không còn nhiều tác phẩm đỉnh cao, có kỹ thuật chế tác tinh xảo cũng như sự phong phú trong kiểu dáng của mỗi sản phẩm
- Với kiểu sản xuất hàng loạt, tiêu dùng ồ ạt, một số người làm sơn mài theo kiểu “hàng chợ”, khiến cho nhiều sản phẩm và tranh sơn mài không còn giữ được vẻ đẹp của sơn mài truyền thống Người ta chạy theo thị hiếu khách hàng cùng sự hào nhoáng của nhiều loại chất liệu “phi sơn ta”, dẫn đến tình trạng sơn mài giả hiệu, kém chất lượng có mặt ở khắp các cửa hàng, nhà sách, văn hóa phẩm
và cả các phòng triển lãm Từ đó, bắt đầu có dư luận chê kỹ thuật truyền thống
là cổ hủ và một loạt sản phẩm, tranh sơn phủ bạc, dập các màu xanh đỏ rồi phủ lên
Trang 82 một lượt sơn bóng Nhật ản xuất hiện, làm cho vàng thau lẫn lộn
- Từ những năm 1990, một lớp họa sĩ trẻ đã và đang tiếp tục tìm tòi về chất liệu và ngôn ngữ nghệ thuật sơn mài Trên bề mặt các sáng tác của họ có gắn
cả xi măng, sỏi đá và mảnh cổ vật để thể hiện ý tưởng và tạo ấn tượng mới lạ Như vậy có phải là một bức tranh sơn mài hay không? Hay tranh sơn mài “hiện đại” đã đánh mất giá trị truyền thống?
- Tình hình trên đã ít nhiều ảnh hưởng và tác động đến chất liệu và nghệ thuật thể hiện của sơn mài Tương Bình Hiệp Một trong những hiện trạng nổi bật nhất đó
là bên cạnh sơn ta còn có sự hiện diện của sơn Nhật, sơn điều và các loại sơn công nghiệp khác cùng với kỹ thuật sơn phủ bóng, cán láng bề mặt, tạo nên sự thay đổi triệt để trong công nghệ chế tác đồ sơn truyền thống… Đây chính là một thách thức lớn đối với các họa sĩ, nghệ nhân, những doanh nghiệp, cơ sở sơn mài phải tìm hướng đi cho mình trước sự khác biệt ngày càng nhiều giữa các sản phẩm cũ và mới! Để gìn giữ, lưu truyền và phát triển nghệ thuật sơn mài Bình Dương trong
xu thế hội nhập hiện nay, luận án Nghệ Thuật Sơn Mài Tương Bình Hiệp - Bình Dương được thực hiện nhằm đóng góp nhận thức về sự hình thành và phát
triển, về các giá trị của sơn mài ứng dụng Bình ương Đồng thời, giúp các nhà quản lý, nhà doanh nghiệp và người làm nghề sơn nâng cao hơn ý thức giữ gìn, trân trọng nghề sơn mài trong bối cảnh đời sống xã hội và nghê thuật có nhiều chuyển biến, cũng như rút ra những bài học hữu ích cho việc bảo tồn, phát huy các giá trị nghệ thuật của sơn mài Tương Bình Hiệp - Bình Dương
- Bản thân là người được đào tạo về Sơn Mài, nghiên cứu sinh mong muốn thực hiện đề tài này để đóng góp nhận thức về mối quan hệ biện chứng giữa chất liệu và nghệ thuật thể hiện, về vai trò của chất liệu trong sự phát triển của mỹ thuật đương đại Từ đó, giúp cho nghiên cứu sinh có cách nhìn và phương pháp chuẩn mực hơn, sâu sắc hơn trong nghiên cứu, sáng tác
2 Tình Hình Nghiên Cứu
Về nghề sơn, đồ sơn cổ truyền và sơn mài Việt Nam
- Theo sách Hải Dương cảnh chí, phần truyện Trần Ứng Long, cho thấy
rằng, ngay từ đầu thời Đinh (giữa thế kỷ X), chất liệu sơn đã được dùng để trát
Trang 93
thuyền phục vụ chiến đấu Còn Dư địa chí của Nguyễn Trãi, điều thứ XX có ghi:
“Huyện Sơn Vi có trĩ trắng, sơn, tơ” Trong quyển Nghề sơn cổ truyền Việt Nam
của Lê Huyên, tác giả đã trình bày, thống kê một cách khoa học và đầy đủ về nguồn gốc nghề sơn, về kỹ thuật, về loại hình và chức năng của đồ sơn, thế kỷ XVII-XIX
ở đồng bằng Bắc Bộ Phần lịch sử nghiên cứu, cùng với nhiều tài liệu khác, có đề
cập đến một số quyển sách như: Bình Vọng Trần thị gia phả, viết ở thời Lê, nói về
ông tổ nghề sơn làng Bình Vọng, huyện Thường Tín là Trần Lư, sinh năm Canh
Dần (1476), đỗ Đồng Tiến sĩ năm Nhâm Tuất (1502) Quyển Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn, có nói đến một số quy định dùng
màu sơn trên kiệu đối với tôn thất là các quan Tướng quốc thời Trần, hoặc dùng
nón sơn đỏ đối với quân Cấm vệ thời Lê Quyển Lĩnh ngoại đại đáp của Chu Khứ
Phi, vào thời Tống (Trung Quốc) cũng có nói về kiệu “Đinh giai” sơn đen mát và đẹp của Việt Nam đã được dùng làm đồ cống nạp cho phương Bắc và rất được
ưa chuộng
- Các học giả và các nhà buôn người Pháp cũng có viết đôi điều về đồ sơn
Việt Nam thế kỷ XVIII như: William ampier trong cuốn Một chuyến đi Đàng Ngoài có nhắc đến việc dùng sơn làm kiệu, làm quan tài và làm mũ (nón) thời Tây Sơn; Những cây sơn ở Đông Dương của Ch Crevost và cuốn Sơn và dầu sơn Bắc
Bộ, Trung Quốc và Nhật Bản của Mountier ghi chép khá sâu về cây sơn, về chế
biến nhựa sơn ở Việt Nam đầu thế kỷ XX Tuy nhiên, các sách này không nhắc tới
đồ sơn ở những thế kỷ trước đó
- Những phát hiện khảo cổ học qua các báo cáo, các tư liệu trong các Viện Khảo cổ học, Viện Bảo tàng lịch sử, Viện Bảo tàng mỹ thuật, Viện Mỹ thuật… Một số bài viết của các nhà khảo cổ học, nhà nghiên cứu sơn mài về những di vật
đồ sơn trong các di tích đình, chùa, đền, miếu, trong các bảo tàng và trong nhân dân… là nguồn tài liệu giúp tìm hiểu vấn đề về nguồn gốc đồ sơn trên đất nước ta
- Một số nhà nghiên cứu văn hóa có đề cập đến nghề sơn trong các công
trình của mình như Nghề cổ nước Việt của Vũ Từ Trang, Di sản thủ công mỹ nghệ Việt Nam của Bùi Văn Vượng Các giới thiệu này đã khái lược những nét chung
nhất về nghề sơn cùng với các nghề thủ công truyền thống khác
- Kỷ yếu hội thảo Sơn ta và nghề sơn truyền thống Việt Nam, là quyển
Trang 104 sách tập hợp một số tham luận và ý kiến chuyên ngành của các nghệ nhân, họa
sĩ, nhà nghiên cứu mỹ thuật tại hội thảo khoa học do Viện Mỹ thuật (thuộc Trường
Đại học Mỹ thuật Việt Nam) tổ chức tại Hà Nội ngày 14 tháng 4 năm 1999 Nội
dung bao gồm các phần về lý luận cơ bản chung của nghề sơn và đồ sơn, về kỹ
thuật truyền thống, về sơn mài mỹ nghệ và sơn mài mỹ thuật, cũng như phần đào
tạo và chuyển giao công nghệ truyền thống cho thế hệ trẻ
- Đặc biệt, hai công trình: Nghề sơn truyền thống tỉnh Hà Tây, luận án
tiến sĩ Văn hóa học của Nguyễn Xuân Nghị và Làng nghề sơn quang Cát Đằng xưa
và nay của Nguyễn Lan Hương là các công trình nghiên cứu chuyên sâu, có giá trị
khoa học về quá trình hình thành và phát triển, về những đặc trưng giá trị của
nghề sơn quang ở làng nghề truyền thống Cát Đằng và nghề sơn ở các làng
nghề truyền thống tỉnh Hà Tây (Hà Nội ngày nay).Bên cạnh đó, còn có rất nhiều
bài viết, nghiên cứu, khảo luận và giới thiệu về đồ sơn và sơn mài ứng dụng của
các họa sĩ, nhà nghiên cứu như: “Đồ sơn cổ truyền” của Du Chi và Hoài Linh;
“Sơn quang dầu - một loại hình mỹ thuật trang trí dân gian cần được phục hồi
phát triển” của Lê Quốc Lộc ; Sơn mài Việt Nam của Nguyễn Đăng Quang;
“Thủ công mỹ nghệ có còn là một bộ phận của mỹ thuật?” của Vũ Hy Thiều ;
“Cần quan tâm đến các nghề thủ công truyền thống” của Vũ Huy Thiều;
“Về ngành nghề sơn mài và sơn quang dầu của ta” của Nguyễn Đức Cường;
“Cụ phó Thành với nghề sơn mài” của Nguyễn Xuân Nghị; v.v… Những bài viết
trên đã khẳng định giá trị tinh thần và ứng dụng của nghề sơn truyền thống như là
một bộ phận không thể thiếu của mỹ thuật nước nhà, vừa phục vụ nhu cầu thẩm mỹ
vừa đáp ứng nhu cầu sử dụng trong đời sống hàng ngày, cần phải được quan
tâm gìn giữ và phát triển
- Đặc biệt, về nghệ thuật sơn mài Việt Nam có các công trình nghiên cứu
tổng hợp của Nguyễn Quang Phòng trong quyển Các họa sĩ Trường Cao đẳng mỹ
thuật Đông Dương ; Quang Việt trong quyển Hội họa sơn mài Việt Nam, và một số
bài viết gần đây của ông trên Tạp chí Mỹ thuật của Hội Mỹ thuật Việt Nam, đã
giới thiệu chi tiết về lịch sử nghề sơn, sự ra đời và phát triển của hội họa sơn mài Việt Nam qua các trích dẫn tư liệu nước ngoài, các nhân chứng, đối chiếu và bình
Trang 115
chú hết sức sâu sắc Về kỹ thuật có sách Kỹ thuật sơn mài của Phạm Đức Cường;
Kỹ thuật sơn của Nguyễn Văn Lộc, giới thiệu đầy đủ các quy trình, phương pháp
thể hiện từ việc đánh sơn, làm cốt vóc đến thể hiện màu sắc, phủ toát, ủ và đánh bóng… Ngoài ra, còn rất nhiều bài viết, trao đổi trên các báo, tạp chí chuyên ngành như “Nét độc đáo của tranh sơn mài” của Nguyễn Quang Hải; “Sơn mài cổ truyền qua bút pháp hiện đại” của Lê Hiểu; “Về khả năng diễn tả của sơn mài Việt Nam” của Lê Kim Mỹ; “Về bước phát triển của tranh sơn mài” của Sỹ Ngọc;
“Chất liệu sơn ta và giá trị của nó trong hội họa” của Nguyễn Vinh Phúc;
“Sơn mài hiện đại Việt Nam-một chặng đường nhìn lại” của Hoàng Đình Tài;
“Tranh sơn mài Việt Nam” của Trần Đình Thọ; “Giữ vững tính truyền thống, phát huy cái đẹp trong nghệ thuật sơn mài hiện đại Việt Nam” và “Họa sĩ Nguyễn Gia Trí với sơn mài và nghệ thuật tranh sơn mài của ông” của Trần Thức;
“Đôi nét về tiến trình phát triển của tranh sơn mài Việt Nam” của Đặng Thanh Vân; “Sơn mài” của Tô Ngọc Vân; v.v… đã nhận định, phân tích và tổng hợp về các tác giả, tác phẩm của một giai đoạn sáng tác, về tiến trình phát triển của tranh sơn mài cũng như vai trò, khả năng diễn tả của chất liệu sơn mài, trình bày những đúc kết kinh nghiệm và những thành quả, những nét đặc trưng trong nghệ thuật thể hiện mang tính truyền thống của nghệ thuật hội họa sơn mài Việt Nam
Về sơn mài Bình Dương
- Có nhiều công trình nghiên cứu, khảo luận, bài viết… đã xuất bản hoặc
đăng rải rác trên các báo, tạp chí và sách như: Gia Định thành thông chí của
Trịnh Hoài Đức, có mô tả về cảnh sinh hoạt, làm đồ sơn của cư dân Bình Dương
xưa ở làng Tương ình Hiệp, Địa chí Bình Dương, Địa chí Sông Bé, Thủ Dầu Một-Bình Dương 300 năm hình thành và phát triển, Thủ Dầu Một-Bình Dương đất lành chim đậu, trong phần mỹ thuật có giới thiệu về nghề sơn mài nhưng ở dạng
tổng quát lịch sử hình thành chung với các ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống khác như gốm, điêu khắc gỗ… nhưng chưa phân tích sâu các yếu tố nghệ thuật và kỹ thuật
- Sơn mài Bình Dương vận dụng kỹ thuật truyền thống trong sáng tác nghệ thuật của Thái Kim Điền và Mỹ thuật Bình Dương xưa và nay là hai công trình
Trang 126 nghiên cứu khá sâu về kỹ thuật chuyên môn Nhưng do giới hạn đề tài nên chưa nghiên cứu toàn diện về nghề sơn mài Bình Dương trong quá trình tiến triển của lịch sử có những đặc điểm kỹ thuật và nghệ thuật riêng
- Ngoài ra, còn có nhiều bài viết của một số nhà nghiên cứu như: Cao Xuân Phách, Huỳnh Ngọc Trảng… và các phóng viên trong cả nước, đã được đăng rải rác trên các báo Bình Dương, Phụ nữ, Thanh niên, Tuổi trẻ…, các tạp chí
Xưa và Nay, tạp chí Mỹ thuật, một số trang web: www.thuvienbinhduong.org.vn/; http://www.baobinhduong.org.vn; v.v… Nội dung giới thiệu về làng nghề Tương Bình Hiệp, về nét đẹp sơn mài Bình Dương…
- Tài liệu nước ngoài có bài viết “Art et technique de la laque au Vietnam” đăng trong tạp chí của Viện Pháp tại Sài gòn (Institut Français de Saigon) số 7-15 , tháng 1 năm 1974, có đề cập đến giá trị ứng dụng của chất liệu sơn ta và sự hình thành nghề sơn ở Việt Nam, đặc biệt từ năm 1940 với sự phát triển mạnh của sơn mài mỹ nghệ tại Thủ Dầu Một
- Nhìn chung, tuy các bài viết, các bài nghiên cứu không hoàn toàn đề cập trực tiếp đến đề tài nghiên cứu hay chỉ đề cập đến khía cạnh tổng quát hoặc một phần của đề tài nhưng đó là những tư liệu quý, có giá trị khoa học, gợi mở cho tác giả luận án nghiên cứu về đặc điểm, tiến trình hình thành nghề sơn và các giá trị nghệ thuật sơn mài Bình Dương trong bối cảnh sơn mài truyền thống Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan về đồ sơn và nghệ thuật sơn mài Việt Nam, để thấy được tiến trình hình thành và phát triển sơn mài Tương Bình hiệp- Bình Dương trên nền tảng của sơn mài truyền thống Việt Nam
- Nghiên cứu nghệ thuật sơn mài T ươ n g B ì n h Hi ệ p- Bình Dương, qua
đó, khẳng định những thành tựu, giá trị nghệ thuật và đóng góp của các nghệ nhân, họa sĩ đối với sự phát triển vượt bậc của nghề sơn mài, đặc biệt là loại hình sơn mài ứng dụng
- Qua nghiên cứu chất liệu và nghệ thuật thể hiện sơn mài Tương Bình Hiệp, tổng hợp và đúc kết các giá trị thẩm mỹ để làm cơ sở đưa ra các yếu tố hợp lý, cần
Trang 137 thiết trong việc thể nghiệm và sử dụng chất liệu và xây dựng tiêu chí các loại sản phẩm sơn mài
- Nghiên cứu thực trạng và xu hướng phát triển của sơn mài ứng dụng Bình Dương Từ đó, đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị nghệ thuật của nó, sự cần thiết xây dựng các chiến lược củng cố làng nghề, doanh nghiệp, hiệp hội sơn mài và nguồn nhân lực đáp ứng những yêu cầu mới của thời đại
4 ố t ợn và phạm v n ên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Luận án chọn loại hình sơn mài làm đối tượng nghiên cứu chính và tập trung vào chất liệu, kỹ thuật chế tác và nghệ thuật thể hiện của sơn mài Bình Dương Những thành tựu nghệ thuật và nét đẹp truyền thống mà sơn mài Bình Dương đã đạt được trong một thế kỷ qua, nhất là từ những năm 1940 đến nay, ở mảng sơn mài ứng dụng
Phạm vi nghiên cứu
- Sơn mài là thể loại tạo hình bao trùm trong các lĩnh vực trang trí, ứng dụng và nghệ thuật, mang tính cộng đồng xã hội, tôn giáo Trong luận án phạm vi nghiên cứu chủ yếu là quá trình hình thành và phát triển, những đặc trưng về chất liệu và nghệ thuật của sơn mài ứng dụng ình Dương Tác giả dành trọn chương hai để nghiên cứu về nghệ thuật sơn mài ứng dụng
- Về thời gian, luận án tập trung tìm hiểu sơn mài Tương Bình Hiệp từ đầu thế kỷ XX đến nay (2013), được nhìn theo từng thời điểm lịch sử để bảo đảm tính liên tục trong nghiên cứu quá trình phát triển có những đặc điểm và kế thừa riêng
Trang 148 pháp nghiên cứu nghệ thuật học có vai trò chủ đạo Đặc biệt là sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, mô phỏng các tác phẩm, sản phẩm thông qua việc tham khảo các bài viết, các nghiên cứu và trao đổi trực tiếp với các họa sĩ, nghệ nhân, nhà nghiên cứu mỹ thuật trong nước và nước ngoài để khai thác nguồn tài liệu Đề tài được thực hiện trên cơ sở khảo sát điền dã, qua đó tổng hợp, đánh giá rút ra những giá trị cơ bản, những đặc trưng chất liệu và nghệ thuật thể hiện của sơn mài Tương Bình Hiệp - Bình Dương
- Tác giả còn sử dụng phương pháp dựa trên thành tựu của các ngành khoa học có liên quan như phương pháp tiếp cận liên ngành (sử học, văn hóa học,
xã hội học, dân tộc học, triết học, mỹ thuật học… ) để nghiên cứu một cách tổng quát mối quan hệ biện chứng giữa chất liệu và nghệ thuật thể hiện, giữa sơn mài ứng dụng và sơn mài hội họa, nhằm giải quyết các vấn đề mỹ thuật ứng dụng nói chung và sơn mài Bình Dương nói riêng một cách căn bản theo quy luật phát triển của lịch sử, văn hóa, xã hội Việt Nam
6 ón óp khoa ọc và thực t ễn của luận án
- Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống lý luận tổng hợp về lịch sử hình thành nghề sơn và nghệ thuật sơn mài Bình Dương trong tiến trình phát triển của sơn mài truyền thống Việt Nam
- Luận án đã chứng minh và lý giải: sự phong phú và đa dạng về chủng loại, thể loại và đề tài của sơn mài ứng dụng Bình Dương trong nền kinh tế thị trường là tích hợp của nhiều yếu tố mang giá trị truyền thống Giá trị đó chính là
bệ đỡ đảm bảo cho sơn mài ình Dương phát triển theo hướng hiện đại với xu hướng thẩm mỹ-ứng dụng có tính nghệ thuật cao
- Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần khẳng định vị thế của sơn mài ứng dụng Bình Dương trong đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội Sơn mài Bình Dương có những cái chung với các vùng khác, nhưng cũng có những đặc trưng của địa phương, góp phần vào kho tàng văn hóa dân tộc
- Luận án bổ sung vào nguồn tư liệu tham khảo, nghiên cứu chung cho chuyên ngành và là nguồn tài liệu cho quá trình biên soạn giáo trình, bài giảng, chuyên đề về sơn mài
Trang 15- David A Lauer và Stephen Pentak thì cho rằng “có hai dạng chất liệu: chất liệu xúc giác và chất liệu thị giác” Chất liệu xúc giác là tên gọi ám chỉ các dạng vật liệu nghệ sĩ sử dụng để thể hiện tác phẩm mà ta có thể tiếp xúc bề mặt của chúng trực tiếp Còn chất liệu thị giác để chỉ các hình thức diễn tả chất của bề mặt vật thể bằng sáng tối, đậm nhạt trên mặt phẳng, không gian mà ta hoàn toàn có thể cảm nhận được bằng thị giác chứ không thể tiếp xúc trực tiếp bằng xúc giác Như vậy, chất liệu vừa là một khái niệm cụ thể, vừa là một khái niệm trừu tượng
Cụ thể khi ta hiểu chất liệu là vật chất, là cái hữu hình, cái có thể sờ được, thấy được và trừu tượng khi chất liệu là cảm giác về chất, là cái vô hình, hay nói cách khác, là xúc cảm về chất liệu thông qua nghệ thuật thể hiện của người nghệ sĩ
- Chất liệu tạo hình không những gây ấn tượng hấp dẫn người xem bởi tính vật lý của nó, mà còn tạo nên sự say mê lắng đọng trong lòng người xem bằng ngôn ngữ biểu cảm riêng của từng chất liệu “Nếu hiểu chất (matière) là lớp biểu bì màu (épiderme coloré) của bức tranh thì nó phải được hiện ra trong hiệu quả điều hòa của hình và sắc Kết cấu (texture), ở khía cạnh nào đó, cũng vậy” o đó, mối quan hệ tương tác ở hai mặt lý tính và cảm tính này đòi hỏi phải được đặt ra khi nghiên cứu về chất liệu Sơn ta
Trang 1610
- Theo Tự điển thuật ngữ mỹ thuật phổ thông, sơn ta là “nhựa của cây
sơn, mọc nhiều ở vùng rừng núi trung du nước ta-nhất là vùng Phú Thọ Cây sơn ta
từ lâu đã được trồng theo quy hoạch Nhựa cây sơn được chế để dùng nhiều trong nghệ thuật tạo hình, mỹ nghệ, công nghệ và xuất khẩu Sơn ta không giống sơn tây Sơn tây được làm bằng hóa chất, pha lỏng, có nhiều màu, đựng trong hộp
và thường dùng để sơn lên gỗ, kim loại, nhằm trang trí hoặc để chống gỉ, chống
ẩm, chống mối mọt…”
- Sơn ta có tên khoa học là Rhus Succdanea, có đặc tính cao trong độ kết dính, giãn nở, chịu các yếu tố nhiệt, ẩm, axít, mài mòn… Nhờ các đặc tính này khi chuyển sang các loại sơn chín như cánh gián, then cho hiệu quả trong trẻo, sâu thẳm, có độ bóng cao, có khả năng diễn tả trong hội họa
Sơn Nam Vang
- Là loại sơn được khai thác ở vùng Nam Vang (Phnom Penh, Campuchia), cây sơn ở đây có tên khoa học là Malanorrhera Nhựa sơn Nam Vang đậm và đặc hơn sơn ta nhưng các đặc tính lý hóa và thời gian khô đều không tốt bằng sơn ta
“Thời chiến tranh chống Mỹ, do đất nước bị chia cắt nên các làng nghề sơn mài ở phía Nam không có sơn ta chuyển vào phải dùng sơn Nam Vang là chính Hiện nay
do giá thành hạ, người ta vẫn dùng sơn Nam Vang trộn với sơn ta theo tỷ lệ nhất
định làm sản phẩm”
Sơn Nhật
- Còn gọi là Polycite, gồm hai loại sơn cánh gián và sơn đen, có nguồn gốc
từ sơn thảo mộc được chiết xuất độc tố bằng phương pháp công nghiệp và sản xuất hàng loạt Sơn Nhật có ưu điểm khô nhanh tự nhiên dưới ánh sáng mặt trời, dễ sử dụng, pha trộn được với tất cả các màu, có độ bóng đẹp, trong suốt nhưng độ dai, khả năng chịu nhiệt, độ sâu của màu… đều không thể sánh bằng sơn ta Theo một
số họa sĩ, nhà nghiên cứu cho rằng “Có thể xuất xứ của sơn Nhật chính là cuộc hợp tác của các chuyên gia sơn mài Nhật ản với xưởng mỹ nghệ Quốc gia của
ta vào các năm 1965-1972 Khi đó xưởng đang sơ tán ở Thanh Trì, Hà Nội đã cung cấp loại sơn tốt nhất ở vùng Phú Thọ cho họ, từ nguyên liệu sơn sống các chuyên gia đã tách axít và một số tạp chất ra khỏi sơn, sau đó mới tinh luyện theo phương pháp công nghiệp để thành loại sơn kể trên”
Trang 1711
Sơn điều
- Là loại sơn được tổng hợp từ dầu vỏ hạt điều, có tên khoa học là Polycashew, cũng gồm hai loại sơn cánh gián và sơn đen Cánh gián có màu đỏ hơn sơn ta, màu đen lại bợt hơn, tuy nhiên nó giống sơn Nhật là khô tự nhiên, pha được với tất cả các màu, đặc biệt sơn điều cho độ mọng cái tốt, giá thành rất rẻ Chính vì vậy khi phục chế hoặc gia công đồ mỹ nghệ, để giảm giá thành xuống mức thấp nhất các nghệ nhân không tránh khỏi phải dùng sơn điều làm vật liệu chủ yếu, cho dù chất lượng sơn điều kém hiệu quả hơn so với sơn ta và sơn Nhật
-Sơn mài
- Theo Đại từ điển tiếng Việt, “sơn mài là chất liệu hội họa, chế từ nhựa sơn,
trong và bóng, dùng để vẽ tranh” hay còn gọi tắt là “tranh sơn mài” Còn “sơn son thếp vàng là phủ sơn đỏ, dát vàng ở ngoài (thuộc loại đồ đạc quý, sang trọng thời xưa)”
- Qua chặng đường phát triển từ đồ sơn cổ truyền đến sơn mài nghệ thuật, nghề làm sơn của ông cha ta đều được gọi là “sơn ta” Nói là sơn ta để phân biệt với loại sơn tổng hợp của Pháp và các nước du nhập vào nước ta dùng cho sơn nhà, sơn cửa, gọi chung là “sơn Tây” Sơn ta bao gồm toàn bộ kỹ thuật làm sơn, có khâu nhựa sơn cần pha dầu trẩu, có khâu cần phải pha nhựa thông, nhưng nước sơn áo cuối cùng vẫn là loại sơn pha dầu trẩu, sơn phủ bên ngoài, nên còn được gọi là sơn quang dầu Những hàng mỹ nghệ như : tráp, quả, lẳng, thúng, cơi trầu… đều làm bằng chất sơn quang dầu Mặt hàng dân dụng này khi được trang trí toàn bằng nét vẽ thếp bạc phủ sơn quang dầu thì được đặt tên là hàng nét Còn các loại tượng thờ làm bằng gỗ mít không phủ sơn quang, khâu cuối cùng là sơn thếp-thếp vàng, bạc quỳ
- Vào trước năm 1930, người ta chỉ dùng sơn ta trong trang trí đồ thờ cúng, làm hàng mỹ nghệ Vào thời gian này, một số họa sĩ Việt Nam đầu tiên đang học trường mỹ thuật Đông ương, đã cùng với các nghệ nhân, kiên trì tìm tòi, thể nghiệm kỹ thuật dùng sơn sống có pha nhựa thông để tạo ra sơn cánh gián, cho khả năng mài và đánh bóng được Từ đó kỹ thuật làm sơn mài được nhiều nghệ nhân, họa sĩ áp dụng và họ đặt luôn cái tên kỹ thuật đó là “sơn mài” (nhưng người Pháp không dùng thuật ngữ này mà vẫn gọi là “la laque”- là chất sơn có
Trang 1812 nguồn gốc thảo mộc để phân biệt với “la gomme laque” hoặc “stick-laque”-là chất sơn công nghiệp được pha chế từ côn trùng; hay “le laque”-chỉ chất sơn đen và sơn son của Trung Quốc)
- Trên thế giới chữ “lacquer” chỉ chung các đồ dùng phủ sơn, chúng gồm các
đồ thủ công mỹ nghệ có tính trang trí cao, cốt nền (phần bên trong) thường bằng gỗ, mùn cưa ép, hay mây tre đan, bên ngoài phủ sơn… Còn cái mà ta gọi là
sơn mài thì thêm hẳn một bước là mài, nếu không mài, không thành… sơn mài
(mà còn mài đi mài lại)… thường chỉ dùng cho tranh sơn mài Việt Nam Trong
từ “lacquer painting” nay đã được dùng rất phổ biến, lại không chứa từ mài
này, thành ra người ta “đánh đồng” với nhau Trên thực tế, làm nghề sơn (thủ công
mỹ nghệ) và tranh sơn mài (hội họa sơn mài) khác nhau khá nhiều cả về công đoạn lẫn vật liệu, cách thực hiện Ở trong ngành phân biệt rất rõ cái gì là đồ sơn
mỹ nghệ và đâu là tranh sơn mài Mọi người vẫn dùng chữ “lacquer painting” để chỉ tranh sơn mài Trong các trường mỹ thuật, nói đến chữ này, người ta nghĩ đến tranh sơn mài, nhưng ở bên ngoài thì khái niệm “tranh sơn mài” được “ám chỉ” rộng hơn rất nhiều Như vậy, sơn mài là một chất liệu mỹ thuật để chỉ các tác phẩm hội họa sơn mài, nhưng từ lâu do thói quen trong dân gian và trong cả các làng sơn truyền thống, người ta thường gọi chung các sản phẩm có sử dụng sơn
ta là “sơn mài” o đối tượng nghiên cứu của luận án khá rộng nên chúng tôi tạm
sử dụng thuật ngữ sơn mài cho các dạng kỹ thuật và loại hình sản phẩm, tác
phẩm có sử dụng sơn ta như: sơn mài mỹ nghệ (sơn mài ứng dụng), sơn mài nhẵn (phẳng), sơn mài đắp nổi…
Hội họa sơn mài
- Thuật ngữ chỉ các hoạt động sáng tạo hội họa (tranh vẽ) bằng chất liệu sơn
ta, phủ dày và mài vẽ Đây là những tác phẩm biểu đạt tư tưởng và tình cảm của người nghệ sĩ trước cuộc sống xã hội, thông qua ngôn ngữ tạo hình và phương thức diễn tả, tái tạo thế giới khách quan bằng các hình tượng điển hình mang tính kinh viện, bao gồm: khả năng biểu cảm, sự diễn đạt và yếu tố thẩm mỹ Hội họa sơn mài được xem là một ngành của mỹ thuật tạo hình và được thể hiện thông qua nhiều thể loại như: sơn mài phẳng, sơn mài đắp nổi, sơn khắc…
Sơn mài phẳng : xuất phát từ kỹ thuật vẽ lặn (vẽ chìm), nhiều lớp, sau
Trang 19từ mài vẽ đến đánh bóng ạng tranh sơn mài phẳng này đã và đang được rất nhiều họa sĩ, nghệ nhân tuân thủ trong quá trình sáng tác và thao tác
Sơn mài đắp nổi : dựa trên khả năng kết hợp cao của chất liệu sơn ta với
các chất liệu khác, sơn mài đắp nổi là dạng sơn mài cho phép tạo nền tranh bằng cách pha trộn sơn ta với bột đất theo một tỷ lệ nhất định để đắp nổi các chi tiết trong tranh theo nguyên tắc của nghệ thuật chạm nổi hoặc tạo độ cao thấp và chi tiết cho bề mặt của tranh theo nội dung và cách tạo hình riêng, sau đó ứng dụng các
kỹ thuật vẽ màu, kỹ thuật xử lý vàng quỳ, bạc quỳ trong sơn mài truyền thống để
vẽ lên bề mặt của tranh đã được đắp nổi Dạng sơn mài này chỉ mài ở những mảng phẳng hoặc mài từng chỗ theo ý đồ của người vẽ Sơn mài đắp nổi thường thấy trong các tấm bình phong giai đoạn đầu của hội họa sơn mài (những năm 1930-1940), trong các tranh sơn mài mỹ nghệ hiện đại cũng như trong các tác phẩm sơn mài đương đại của các họa sĩ trẻ
- Sơn khắc (Coromandel ) : tranh được khắc lên tấm vóc đã được chuẩn bị
sẵn (sơn đen, mài phẳng và đánh bóng trước), sau đó tô màu vào chỗ đã khắc Sơn khắc đòi hỏi thao tác tỉ mỉ, công phu và khả năng tạo hình cao
- Coromendel là bãi biển của bờ biển Tây Á, Ấn Độ-nằm trong vịnh Bengale-là hải cảng rất tiện lợi cho việc giao thương giữa châu Âu với Trung Quốc
và các nước Tây Á Bãi biển Coromendel trở thành tên gọi một loại tranh sơn khắc trũng của Trung Quốc, nhiều người hiểu nhầm là sơn khắc được sản xuất tại vùng này, thực ra là do trong việc chuyển giao các mặt hàng tại đây có những sản phẩm sơn khắc và người ta đã đặt cho nó là “Coromandel” ạng sơn khắc này
đã ra đời từ lâu ở Trung Quốc, được phát triển mạnh vào thời nhà Minh-Thanh (Thế
kỷ XIV-XIX) Ở nước ta, nó cũng được bắt đầu từ việc trang trí cho các đồ dùng, các tấm bình phong, và đặc biệt, cùng với sự ra đời của tranh sơn mài, tranh sơn khắc cũng được các họa sĩ Việt Nam không ngừng tìm tòi, nghiên cứu và ứng
Trang 2014 dụng trong sáng tác dựa trên nền vóc của sơn mài Nhiều tác phẩm sơn khắc đã khẳng định được nét đẹp truyền thống và giá trị nghệ thuật bên cạnh các tác phẩm hội họa khác, tạo nên sự phong phú trong sáng tạo nghệ thuật của chất liệu sơn mài
- Hiện nay, có nhiều ý kiến không nhất trí với việc trước đây người ta thường gộp sơn mài và sơn khắc vào một thể loại chất liệu, với lý giải là sơn mài
và sơn khắc chỉ chung nhau ở nền vóc, ngoài ra, hoàn toàn khác nhau về ngôn ngữ
và kỹ thuật thể hiện Trong luận án, chỉ đề cập đến tranh sơn khắc như là một trong những thành quả sáng tác, đánh dấu sự xuất hiện của hội họa sơn mài VN trên
cơ sở kết hợp yếu tố cổ truyền dân gian và bác học với nhiều dạng thể hiện của chất liệu, trong đó có tranh sơn khắc
- Về hội họa sơn mài đương đại qua thể nghiệm của các nghệ sĩ (nhất là nghệ
sĩ trẻ), sơn mài đã có nhiều “biến thể” Không ít tác phẩm trên nền vóc còn đắp nổi, gắn đá, đồng xu, căng dây thép, dây sợi… đã thực sự chuyển sang một dạng mới: sử dụng sơn ta vẽ trên vóc kết hợp với các chất liệu tổng hợp Để phân biệt với các tác phẩm đã được định hình về mặt kỹ thuật của cha anh trước đây, nhiều ý kiến của các họa sĩ, nhà nghiên cứu sơn mài cho rằng chỉ nên gọi đó là
“sơn ta tổng hợp” hoặc “tranh sơn”
Sơn mài ứng dụng
- Cho đến nay, thuật ngữ “ứng dụng” đã được sử dụng rộng rãi và bao quát cho nhiều loại hình mỹ thuật như: “mỹ thuật sản phẩm”, “mỹ thuật môi trường”, “mỹ thuật sân khấu-điện ảnh”, “mỹ thuật công nghiệp”, hay “mỹ thuật ứng dụng”… Trong luận án, khái niệm “sơn mài ứng dụng” là loại hình sơn mài sử dụng các phương tiện tạo hình để sáng tạo nên thế giới đồ vật mang tính thẩm mỹ
và công năng Nó là sản phẩm được hình thành qua một quá trình sáng tác mỹ thuật và được thể hiện bởi quy trình công nghệ nhất định, vừa mang tính thực dụng, phục vụ nhu cầu đời sống vật chất của con người, đồng thời vừa mang tính chất thẩm mỹ, đáp ứng nhu cầu văn hóa, tinh thần Sơn mài ứng dụng ngày nay bao gồm các sản phẩm đồ sơn dân gian, sơn mài mỹ nghệ, có phương thức chế tác cả
Trang 2115 thủ công, công nghiệp và có hình thức mỹ thuật mang yếu tố thẩm mỹ của thời đại thông qua sự chi phối của các ngành đi-dai (design)
- Cụm từ “design” ở Việt Nam được hiểu là “mỹ thuật công nghiệp”, “thiết
kế tạo dáng công nghiệp” hay “mỹ thuật ứng dụng” Thuật ngữ này xuất hiện tại
VN khoảng thập niên 1960, bắt nguồn từ “Industrielle Formgestaltung” trong tiếng Đức khi các giáo sư trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Halle (Die Hochschule für Industrielle Formgestaltung-Halle) sang trường Mỹ nghệ Hà Nội (nay là trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp) trao đổi học thuật và đã được dịch
thành “mỹ thuật công nghiệp” Từ đó, mỹ thuật công nghiệp trở thành thuật ngữ của
ngành và trở nên thông dụng, quen thuộc
- Sơn mài mỹ nghệ là những sản phẩm trang trí nhỏ hoặc đồ trang sức, đồ lưu niệm, đồ dùng… do các nghệ nhân (thợ thủ công) làm bằng tay với chất liệu nhựa sơn, trong đó có tranh sơn mài mỹ nghệ là một loại tranh trang trí được sản xuất hàng loạt theo mẫu nhất định Tùy theo chủ đề mà tranh sơn mài mỹ nghệ còn
có những tên riêng như: tranh Tứ thời (Mai, Lan, Cúc, Trúc), tranh Cá vàng (vẽ chuyên về cá vàng), tranh Lục đền (bình phong sáu tấm, vẽ sáu phong cảnh đền, chùa nổi tiếng), v.v…
- Mỹ nghệ là thuật ngữ chuyên môn thường gặp trong nghệ thuật trang trí,
nó quan trọng đối với xuất khẩu và đời sống hàng ngày, là một bộ môn nghệ thuật truyền thống được phát triển dần lên theo những điều kiện mang tính chất tổng hợp của sản xuất hiện đại, của phân phối hàng loạt, phục vụ nhu cầu ngày càng cao của con người
- Đặc thù của mỹ nghệ là làm bằng tay nhưng lại phải tổ chức được sản xuất hàng loạt Nó có một ý nghĩa cơ bản làm thỏa mãn những nhu cầu của con người về các vật dụng có tính chất trang trí, đáp ứng những đòi hỏi về tình cảm
và tiêu dùng Như vậy, đối tượng của mỹ nghệ không chỉ mang tính thực dụng, mà trước hết là cả tính thẩm mỹ Khác với mỹ thuật (sản phẩm được “sản xuất” một lần, từ khi phác thảo tới khi thực hiện và hoàn chỉnh chỉ nằm trong tay người nghệ sĩ), mỹ nghệ được xã hội hóa cao hơn trong công nghệ sản xuất, một sản phẩm
mỹ nghệ được phân công chuyên môn hóa ra nhiều công đoạn (người vẽ người thực hiện-nếu được sản xuất bằng máy thì đằng sau nó là cả một dây
Trang 22mẫu-16 chuyền) Mục tiêu của mỹ nghệ là phải tổ chức sản xuất hàng loạt và phải thiết kế sao cho thỏa mãn nhu cầu đa dạng của công chúng Trong các sản phẩm của sơn mài mỹ nghệ, sản phẩm khảm xà cừ (cẩn ốc xà cừ) khá phổ biến và tiêu biểu Ở Việt Nam, nghề khảm xà cừ là một nghệ thuật cổ truyền có liên quan mật thiết với nghề sơn “ ưới triều vua Lý Nhân Tông (1072-1128) có cụ Trương Công Thành người thôn Ngọ (tức làng Chuôn Ngọ, xã Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây, nay thuộc địa phận Hà Nội) là người được dân làng tôn làm ông tổ của nghề khảm trai Theo một số tư liệu khác, lại cho rằng ông Nguyễn Kim, sống dưới triều vua Lê Hiến Tông (1740-1786) là tổ nghề khảm trai”
- Vẻ đẹp muôn màu sắc của vỏ trai, ốc xà cừ đã trở thành chất liệu trong sơn mài mỹ nghệ Hai thể chất: sơn ta và vỏ trai, xà cừ đã được nghệ nhân kết hợp thể hiện đầy tính trang trí trong những bộ bàn ghế, những chiếc trường kỷ, tủ thờ, bàn viết, những bức tranh bộ nên nét lung linh cho sản phẩm
- Ngày nay do phát triển phong phú về đề tài, với nhiều chất liệu của cốt, nền như: gỗ, đồng, nhựa, đất, đá, thủy tinh, tre nứa, giấy, quả bầu, v.v… có kích thước khác nhau nên sơn mài mỹ nghệ được thể hiện với nhiều gam màu, hòa sắc, thậm chí chuyển sắc độ sáng tối để diễn đạt không gian, tôn vẻ đẹp riêng cho từng chủng loại sản phẩm, phục vụ mọi thị hiếu người tiêu dùng Khi nền công nghiệp phát triển, những sản phẩm trang trí này được làm bằng máy móc, giống nhau hàng loạt, nên đôi lúc còn gọi là sơn mài kỹ nghệ Do đó, ở góc độ nhìn chung cho các sản phẩm sơn mài mỹ nghệ ngày nay, chúng ta cũng có thể hiểu và tạm gọi qua thuật ngữ “sơn mài ứng dụng”
Trang 2317
C n 2
Ệ T UẬT SƠ Ứ DỤ BÌ DƯƠ
ịc sử s n m B n D n
Vài nét về vùng đất và con người Bình Dương
- Theo các tư liệu cũ đã ghi chép, vùng đất Nam ộ xưa thuộc lãnh thổ của vương quốc Phù Nam Từ Thế kỷ VI, khi Vương quốc Phù Nam sụp đổ cho đến khi người Việt có mặt ở vùng đất đỏ và thảm phù sa cổ (vùng Đông Nam Bộ ngày nay), chỉ có người Xtiêng, người Mạ, người Miêng làm nương rẫy Một số rẻo đất cao thuộc Tây sông Tiền và ven sông Hậu, có người Khơ Me làm lúa nước
- Trải qua hàng chục thế kỷ, cả vùng đất Nam ộ rộng lớn vẫn còn là vùng hoang dã, toàn những dãy rừng thấp, rậm rạp xen kẽ vơi những dòng sông trải dài hàng trăm dặm Mãi đến đầu Thế kỷ XVII, các lớp lưu dân người Việt bắt đầu vào khẩn hoang Nam ộ Ở vùng đất mới, họ phải đấu tranh gian khổ với phong thổ lạ lẫm đầy những thách thức và nguy hiểm nhưng cũng nhiều hứa hẹn
Do vậy đã hình thành nên tính cách của người Nam ộ mà Trịnh Hoài Đức đã nhận xét:
…Gia Định đất rộng, vật thực nhiều, không lo bị đói rét, cho nên dân ít phải lo dành dụm… sĩ khí hiên ngang, con người chuộng nghĩa tiết… Gia Định là đất phương Nam của nước Việt Khi mới khai phá, lưu dân nước ta (tức người Việt) cùng với các dân kiều ngụ như người Đường (tức người Hoa), người Cao Miên (người Khơ Me), người Phú Lãng Sa (người Pháp), người Hồng Mao (người Anh), người Mã Lai, người Đồ à (tức người Gia Va), ở lẫn với nhau, nhưng người nước nào theo tục lệ nước đó…
- Trải qua thời gian cộng cư, văn hóa của các dân tộc khác nhau đã dần dần hòa nhập vào văn hóa Việt, chính điều này đã làm cho văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần ở Nam ộ có những nét độc đáo
- Sự độc đáo đó thể hiện trong cung cách làm ruộng vườn, đánh cá, đi biển, trong các nghề thủ công mỹ nghệ, trong cả cách ăn ở, cách mặc, trong
Trang 2418 phong tục tín ngưỡng, thói quen và cả ngôn ngữ (từ vựng và ngữ âm) nữa Đây
là kết quả của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa từ những thành tựu văn hóa của các tộc ít người, đặc biệt là của người Việt gốc Hoa và người Khơme Nam Bộ
- Đến năm 1698, để chính thức hóa sự nhập cư của người Việt, đồng thời mở mang các chính sách chính trị, kinh tế khác, Chúa Nguyễn Phúc Chu (Hiển Minh Tông Hiến Minh Hoàng Đế) cử Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh (Thống suất Chưởng cơ) trông coi vùng đất này
- Năm 1834, triều Minh Mạng thứ nhất, Phan Huy Chú đã viết Đại Nam nhất thống toàn đồ, có ghi chú:
… Phủ Gia Định bao gồm 3 tổng: Phước Long, ình An và Tân Bình Điạ giới ình An thời ấy rất rộng, đông giáp Sông é và sông Đồng Nai, tây giáp sông Sài Gòn và sông Thị Tính, phía Nam chạy dọc theo Giồng Ông Tố và ngã ba Nhà Bè Tổng Bình An lại chia làm 4 phủ: Thủ Thiêm, Thủ Đức, Thủ ầu Một và Thủ ăng ột (Thị Tính), trong đó Thủ ầu Một là trung tâm của tổng [36, tr 15]
- Sau khi Pháp chiếm Biên Hòa và cả khu vực miền Đông Nam ộ, đến năm
1871, huyện ình An đổi thành hạt Thủ Dầu Một và chính thức thành tỉnh Thủ Dầu Một ngày 20 tháng 12 năm 1889
- Tỉnh Thủ Dầu Một tồn tại được 98 năm (từ 1889 đến 1987), địa bàn tuy
có ít nhiều thay đổi nhưng nhìn chung vẫn giới hạn từ khu vực sông Sài Gòn, Đồng Nai, Sông é đến giáp biên giới Campuchia, tỉnh lỵ vẫn đặt tại Thủ Dầu Một
Do nhiều biến động, sau hiệp định Genève, tỉnh Thủ Dầu Một bị chính quyền Ngô Đình Diệm chia cắt thành 3 tỉnh khác nhau: Bình Dương , Bình Long
và Phước Long (Tỉnh ình Dương được thành lập do sắc lệnh của Ngô Đình Diệm năm 1957, lỵ sở đặt tại Phú Cường, dân số khoảng 187.500 người)
- Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng (ngày 30 tháng 4 năm 1975) Lúc đầu chính quyền cách mạng sáp nhập hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước lại thành tỉnh Bình Thủ (địa danh này chỉ tồn tại trong thời gian rất ngắn) Sau đó,
Trang 25- Đến ngày 6 tháng 11 năm 1996, vì những đặc điểm rất khác nhau giữa hai vùng phía Nam và phía Bắc của tỉnh, nên Sông Bé lại được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam phân chia thành hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước cho đến ngày nay Tỉnh ình Dương bao gồm 4 huyện thị nằm ở phía Nam tỉnh Sông Bé cũ, đó là: thị xã Thủ Dầu Một, huyện Tân Uyên, huyện Thuận An và huyện Bến Cát
- Như vậy, về phương diện địa dư, hiện nay tỉnh Bình Dương đã thu nhỏ lại về diện tích và số dân nhưng về gốc độ lịch sử, có thể nhận định rằng, đây chính
là vùng đất có quá trình ổn định và phát triển nhanh chóng Nếu tính theo khai sinh, thực tế ình Dương là vùng đất được hình thành trên 100 năm hoặc xa hơn, nếu tính
từ khi Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh khai hoang lập ấp thì Bình Dương đã có quá trình ra đời trên 300 năm
- Theo kết quả điều tra ngày 01 tháng 4 năm 2010 của Ủy ban dân số Bình Dương, hiện nay dân số của tỉnh là 1.487.571 người, diện tích tự nhiên 2.995,5 km2 Do kinh tế phát triển nhanh, nên trong thời gian qua Bình Dương thu hút nhiều dân nhập cư từ các địa phương khác (số nhân khẩu thường trú chỉ 866.754, số nhân khẩu tạm trú 620.817) Bình Dương hiện có trên mười dân tộc, nhưng đông nhất là người Việt (Kinh) chiếm khoảng 90%, sau đó là người Hoa, người Khơ Me, người Chăm, Xtiêng, Mạ, Ấn Độ, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore Trải qua hơn ba thế kỷ, vùng đất BD từ chỗ hoang vu đã trở thành đất lành cho mọi người đến làm ăn sinh sống Quá trình tạo dựng, phát triển đến nay, qua biết bao thế hệ nối tiếp nhau đổ mồ hôi và xương máu khai phá, xây dựng và bảo vệ Trong suốt quá trình lịch sử ấy, vùng đất và con người ình Dương đã hòa quyện vào nhau, tác động lẫn nhau, ngày một phát triển phồn vinh
Trang 26vì thiên nhiên khắc nghiệt, vì cuộc chiến triền miên của các thế lực phong kiến,
họ muốn có một nơi chốn bình yên
- Người Việt vốn có kinh nghiệm trồng lúa nước từ ngàn xưa nên khi gặp những cánh đồng cỏ ngập hoang hóa, họ đã có sự phân công và canh tác ở đó (gọi
là thảo điền), còn các tộc cư khác vì thạo làm rẫy và nghề săn bắn nên canh tác ở ruộng cao trên gò hay giồng (gọi là sơn điền)
- Hành trang mang theo của những lưu dân không chỉ là lương thực, thực phẩm mà còn cả truyền thống văn hóa Họ đã thích ứng và tận dụng môi trường tự nhiên, sử dụng các vật liệu sẵn có để biến chúng trở thành các vật dụng thiết yếu phục vụ cho cuộc sống như: phương tiện vận chuyển, công cụ sản xuất, nhà ở, đình, chùa, miếu
- Sự chuyển cư và hội nhập nhiều thành phần dân tộc trên đất Bình Dương ngày một tăng nhưng được thiên nhiên ưu đãi, điều kiện địa lý và tự nhiên thuận lợi nên cùng với Sài Gòn, Biên Hòa, Bình Dương có nhịp độ phát triển kinh tế khá nhanh với việc xuất hiện các cụm dân cư mang tính chất đô thị (dù là ở dạng sơ khai) Sản xuất nông nghiệp tuy phát triển, nhưng nhu cầu đời sống đô thị đã giải phóng một bộ phận lao động nông nghiệp và chuyển họ thành những người thợ Những yếu tố này đã làm cho nhiều nghề thủ công ra đời và phát triển, ban đầu chỉ mang tính tự cung tự cấp hoặc là trao đổi bằng sản vật, dần dần các sản phẩm của nghề thủ công trở thành hàng hóa không thể thiếu trong mọi gia đình Các thợ này đã trở thành thợ chuyên nghiệp, không còn kiểu làm thợ trong những lúc nông nhàn như trước kia nữa
- Sự phát triển của thủ công nghiệp vào đầu Thế kỷ XVIII và nhiều thập niên
Trang 2721 tiếp theo, chịu sự chi phối của nông nghiệp vốn còn đóng vai trò là động lực, kích thích sự phát triển mạnh mẽ của các ngành nghề thủ công tại Bình Dương như: nghề rèn, nghề mộc và làm dụng cụ sản xuất nông nghiệp, đóng thuyền, khai thác cát, đá làm vật liệu xây dựng nhà cửa, nung vôi, làm đồ gốm, gạch ngói, dệt chiếu, đóng bàn ghế, dệt vải, nhuộm vải và làm đồ sơn chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cư dân nông nghiệp ần dần việc sản xuất được chuyên môn hóa, đã dẫn đến sự hình thành các địa danh quen thuộc gắn với các ngành nghề sản xuất các mặt hàng thủ công đó, như: gốm Lái Thiêu, sơn mài Tương Bình Hiệp, mộc Phú Cường, An Nhất Thuyền (nơi đóng thuyền lớn nhất xứ ình An), chạm gỗ Phú Văn
- Đối với nghề sơn, ban đầu chỉ mang tính chất là một bộ phận phụ thuộc của nghề mộc, được dùng sơn phủ bên ngoài để tăng độ bền của vật dụng Về sau yếu
tố thẩm mỹ được chú trọng và nâng cao, nghề sơn mới dần tách khỏi nghề mộc và trở thành nghề độc lập mang tính chuyên môn cao
- Cùng với quá trình khai hoang lập ấp, những cư dân trên đất Đồng Nai- Gia Định không quên xây dựng ở nơi họ dừng chân những trung tâm văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh và gắn kết các mối quan hệ cộng đồng Xuất phát từ những nhu cầu về văn hóa mang tính cộng đồng này, người Việt trên đất Bình Dương đã tạo nên thiết chế mỹ thuật song hành, ghi lại nét đẹp trên các công trình xây dựng Có thể thấy những dấu ấn của nghề sơn qua những công trình địa phương nổi tiếng từ xưa, như: Chùa Hội Khánh (xây dựng năm 1741), Đình Bà Lụa (khoảng năm 1861), các nhà cổ tại ình Dương (được xây dựng trong những năm 1835 đến năm 1904) và những vùng phụ cận, như: chùa Hội Sơn (Tp.HCM), chùa Châu Thới (Thuận An-BD), đình Bình Hòa (Tp.HCM), đình Mỹ Trà (Cao Lãnh, Đồng Tháp) cùng nhiều công trình nhà cổ, mộ cổ rải rác khắp khu vực Đồng Nai-Gia Định
- Trên cơ sở nông nghiệp và thủ công nghiệp đã khá phát triển và sớm mang tính chất hàng hóa, việc trao đổi buôn bán với các nơi khác trong vùng cũng được mở rộng Trong Thế kỷ XVIII, ở Nam Bộ đã xuất hiện nhiều thị tứ, nhiều
tụ điểm buôn bán sầm uất, như: thương cảng Cù Lao Phố (ở iên Hòa), thương cảng Sài Gòn, thương cảng Hà Tiên Thủ Dầu Một - Bình Dương cách không xa
Trang 2822 trung tâm Sài Gòn-Gia Định, vì vậy, nhu cầu về hàng hóa tiêu dùng của người dân
là rất lớn Những đòi hỏi của thị trường đã góp phần thúc đẩy các làng nghề thủ công phát triển, về đội ngũ lao động với tay nghề ngày càng cao cũng như các mẫu
mã ngày càng đa dạng
- Thời kỳ này, ở ình Dương cũng đã hình thành những khu vực tập trung, chuyên sản xuất một loại hàng hóa nhất định, càng về sau xu hướng tích tụ thành các xóm, các làng chuyên một nghề càng rõ nét Những khu vực sản xuất tập trung này thường có mối quan hệ thân tộc, địa phương và dân tộc Một số khu vực hình thành từ sau những đợt di dân lớn như làng nghề gốm sứ Lái Thiêu, Tân Phước Khánh, Chánh Nghĩa, làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp, Phú Cường đã làm cho nghề thủ công truyền thống lớn mạnh không ngừng Những người thợ giỏi cùng những sản phẩm của các làng nghề không chỉ đáp ứng nhu cầu của người dân địa phương mà còn cung ứng sản phẩm và tỏa đi đến các vùng phụ cận Trong đó, có những người thợ sơn giỏi, chuyên nghề vẽ tranh cho các đình chùa, miếu mạo, trang trí nhà cửa, thiết kế nội thất cho các nhà cổ, nhà giàu có
- Đến đầu Thế kỷ XX, dân số phát triển khá nhanh, chủ yếu là người bản xứ, một ít người Hoa, Khơ Me và người các nước châu Á khác Các tộc người Xtiêng, Mạ đã rút dần lên mạn phía ắc, vùng rừng núi thuộc tỉnh Bình Phước ngày nay Sự xuất hiện của người Hoa đã góp phần rất lớn vào việc phân phối và lưu thông hàng hóa ở khu vực Thủ Dầu Một Thời bấy giờ số người Hoa ở đây không nhiều, song họ lại có quan hệ với các tư thương ở các miền, nên nghề buôn bán, trao đổi hàng hóa ngày càng phát triển Hàng hóa trao đổi lúc bấy giờ chủ yếu là vải vóc, thổ cẩm, lúa gạo và một số mặt hàng thủ công
- Từ năm 1858, khi đặt chính sách cai trị trên đất nước ta, người Pháp đã nắm lấy thế mạnh của Thủ Dầu Một về nghề truyền thống, chủ yếu để khai thác tiềm năng kinh tế sẵn có tại địa phương Nhằm mục đích thực dụng, họ đã nhanh chóng tập trung hầu hết những nghệ nhân xuất sắc của đất Thủ cùng với những chuyên gia Pháp để thành lập trường Mỹ thuật bản xứ Thủ Dầu Một (École d’Art Indigène de Thu au Mot) vào năm 1901, vì trường đào tạo nhiều ngành nghề như: mộc, chạm gỗ, cẩn gỗ, cẩn ốc xà cừ, đồ sơn mỹ nghệ, đúc đồng, trang trí… nên
Trang 2923 người dân địa phương thường gọi là trường Bá Nghệ Qua nhiều năm tháng thăng trầm, tên trường cũng thay đổi theo, có lúc tên gọi là trường Thực hành (École d’Application), sau đó đổi tên là trường ạy nghề (École Professionnelle) Đến năm
1932, đổi tên là trường Mỹ nghệ thực hành (École d’Art Applique) Năm 1964, đổi tên là trường Trung học Kỹ thuật Bình Dương Năm 1977, sau khi thống nhất đất nước, nhận thấy tính chất ngành nghề mỹ thuật truyền thống tiếp tục kế thừa, duy trì và phát triển nên đổi là trường Trung học Mỹ thuật Công nghiệp tỉnh Sông é Đến năm 2000, đổi lại tên là trường Trung học Kỹ thuật ình Dương Từ năm 2007 đến nay (2012) là trường Trung học Mỹ thuật ình Dương, với 4 chuyên ngành đào tạo:
- Ngành thiết kế đồ gỗ: đào tạo công nhân có trình độ thiết kế, thực
- Ở giai đoạn đầu tiên, trường Bá nghệ Thủ Dầu Một đã đào tạo ra một lớp họa sĩ, nghệ nhân của đất Thủ với tay nghề giỏi, có tri thức về văn hóa nghệ thuật Hầu hết những học sinh tốt nghiệp đều trở thành những họa sĩ, nhà giáo nổi tiếng như: Châu Văn Trí, Trương Văn Thanh, Nguyễn Thành Lễ, Nguyễn Văn Yến, Nguyễn Văn Tuyền và các thợ sơn giỏi nghề như: ông năm Nhượng, ông
Tư Hoảnh, ông Sáu Minh, ông Ba Lắm chính những nghệ nhân này, sau khi thành thợ cả trong trường, đã lập ra các xưởng sản xuất gia đình, thu nhận thêm lao động, bổ sung dần cho các xóm nghề, làng nghề Các nhóm thợ Thủ tập trung tại làng sơn mài Tương Bình Hiệp và Phú Cường, cùng sản xuất các mặt hàng sơn mài và điêu khắc gỗ (cẩn ốc xà cừ, chạm gỗ, sơn son thếp vàng), với tên tuổi các thợ Xù, thợ Nhồng, thợ Phèn, thợ ựa vang danh khắp Nam Kỳ lục tỉnh
Trang 30Đơn vị tính: đồng Đông Dương
- Trải qua hơn một thế kỷ tồn tại và phát triển, trường Mỹ thuật Bình Dương đã góp phần quan trọng vào sự hình thành, duy trì và phát triển các làng nghề thủ công truyền thống, bắt đầu từ sự ra đời của xưởng sơn mài Thành Lễ-cơ sở
để phát triển nghệ thuật sơn mài Bình Dương - Xưởng được thành lập vào năm
1943, do hai ông Trương Văn Thanh và Nguyễn Thành Lễ-là hai học sinh xuất sắc trong niên khóa 1938-1942 sáng lập
“Theo thống kê năm 1945, ngoài làng sơn mài Tương ình Hiệp với hàng trăm hộ gia đình làm nghề, còn có các cơ sở sản xuất khác như: Trần Hà, Văn Thoạt, Phát Anh, Lai Leaux, Sông Gianh thu hút hàng ngàn thợ, đáng kể nhất là xưởng sơn mài Thành Lễ” [36, tr.94]
Trang 31- Năm 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, là
sự kiện to lớn tác động đến các mặt sinh hoạt xã hội, trong đó có đời sống của người dân làm nghề thủ công truyền thống ở ình Dương Do không còn xuất hàng sang các nước như trước, nghề sơn mài bị gián đoạn một thời gian Đến năm 1976, hợp tác xã sơn mài đầu tiên được thành lập là Tương Bình Hiệp, cùng với việc phục hồi xưởng sơn mài Thành Lễ, đưa vào sản xuất “cầm chừng” Hàng hóa chủ yếu giao cho khối các nước xã hội chủ nghĩa theo hình thức hợp tác hoặc trao đổi nguyên liệu, hàng tiêu dùng
- Một số cơ sở tiếp tục mối quan hệ trước đây với thị trường ở Sài Gòn, bắt đầu sản xuất trở lại như: gia đình ông Ba Lắm, ông Năm Phú, ông ảy Đảo, ông
a Tường, ông Tám Khiêm… ở Tương ình Hiệp; gia đình ông Tư Hoảnh, ông Năm Thành, ông Sáu vườn chanh, ông ảy Thạnh, ông Tư Chúc… ở ến Thế (Tân An, Thủ Dầu Một); gia đình bà Năm Hòa, ông Sáu Minh, ông Hai Trực…
ở Thị xã Thủ Dầu Một Sản phẩm chủ yếu được giao cho các cơ sở tại Tp.Hồ Chí Minh như: Sông Đồng, Thanh Bình, Vĩnh Viễn… và các cửa hàng tư nhân tập trung ở các tuyến đường Lê Lợi, Đồng Khởi, Nguyễn Huệ (Quận 1, Tp.HCM)…
- Do nhu cầu thị trường các nước xã hội chủ nghĩa tăng cao, công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ Sài Gòn (Art Export Saigon) được thành lập (năm 1976) với chi nhánh là Liên hiệp công ty xuất nhập khẩu Sông Bé (Sobexim) Sự ra
Trang 3226 đời của các công ty này đã tác động đến các hộ gia đình và cơ sở sản xuất sơn mài tại Thù Dầu Một, trong đó có gia đình bà Năm Hòa (nghệ nhân Nguyễn Thị Hòa)
là tư nhân đầu tiên thành lập tổ hợp sơn mài Đồng Tâm (năm 1976), tiếp theo
đó là các tổ hợp: Phú Cường của ông Sáu Minh; Thủ ầu Một của các ông Hai Trực, Tư Phép, Mười Kẹo; Chánh Mỹ của ông Bảy Vinh, ông Năm Thành; Hiệp Công của nhóm gia đình ông Tư Lắm (Ba An, Tư Lọ, Năm Vạn, Sáu Ty…); Chánh Nghĩa của ông a Tấn; Trường An của ông Năm Xi; Tân An của các ông
Tư Hoảnh, Năm Tịnh, a Quang; Hợp tác xã Thống Nhất của ông ảy Tèo… Ở Thuận An có hợp tác xã An Thạnh của ông Năm Ngà, ông Sáu Thương Về sau còn có sơn mài Thái Sơn của ông Bùi Thế Sơn; Định Hòa của ông Trương Quang Tịnh; Chí Công của ông ảy Vinh; v.v…
- Cơ chế quản lý kinh tế nói chung và sản xuất tiểu thủ công nghiệp nói riêng trong thời kỳ này theo kiểu kế hoạch hóa, hành chính quan liêu bao cấp, có những mặt tích cực như: Nhà nước bảo đảm cung cấp nguyên vật liệu và bao tiêu sản phẩm, người làm nghề chỉ biết sản xuất, nhưng đồng thời cũng là rào cản cho
sự phát triển: do ỷ lại vào nhà nước, các cơ sở không có nhiều thay đổi về mẫu
mã, chất lượng sản xuất, trang thiết bị kỹ thuật, tình hình sản xuất tiểu thủ công nghiệp cũng không tránh khỏi khủng hoảng, trì trệ, năng suất lao động thấp, thiếu tính sáng tạo do không có tính cạnh tranh Từ đó đã ảnh hưởng đến đời sống xã hội trong các cụm dân cư sống chuyên về nghề sơn mài Trước tình hình đó, Đảng bộ tỉnh Bình Dương đã đặt vấn đề tháo gỡ cho sản xuất phát triển:
- Mở rộng sản xuất các mặt hàng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có thế mạnh tại địa phương như gốm sứ, sơn mài… Phát động sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân hiểu rõ chính sách khuyến khích sản xuất hàng tiêu dùng của Nhà nước Mở các hội nghị cải tiến tổ chức và quản lý trong các xí nghiệp quốc doanh, công ty hợp doanh và hợp tác xã tiểu, thủ công nghiệp; khuyến khích nhân dân,
kể cả các nhà tư sản dân tộc khôi phục lại các cơ sở cũ, xây dựng thêm cơ sở mới,
mở rộng sản xuất các mặt hàng dựa vào nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương
- Năm 1988, khối các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, thị trường sơn mài Bình Dương lại một lần nữa lao đao, một số tổ hợp phải ngừng hoạt động do không bán được hàng Nhưng nhờ chính sách mở cửa của Nhà nước, đã giúp
Trang 3327 ngành sơn mài từng bước tìm lại đối tác xuất khẩu của mình Hai thị trường nổi bật vào thời điểm này là Campuchia và Lào, do thuận tiện đường giao thông và giá vận chuyển không cao (hầu hết các mặt hàng sơn mài xuất khẩu sang Lào, Campuchia sau đó lại được xuất tiếp sang nước thứ ba) Từ những năm 1990, ngoài sơn mài Thành Lễ và các hợp tác xã, xí nghiệp, tổ hợp sơn mài đã có từ trước, nay xuất hiện thêm nhiều cơ sở có quy mô lớn như: sơn mài Hồng Đức, Hùng Hương, Hoàng Khánh, Như Ý, Thanh ình… Ngành sơn mài thật sự hòa nhập vào kinh tế thị trường, hàng hóa sản xuất theo yêu cầu của khách hàng, từ những khách hàng Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản, Malaysia… đến các khách hàng Pháp, Đức, Hà Lan, Hoa Kỳ…
- Trên tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước, chủ trương xóa bỏ kinh tế bao cấp, thực hiện cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, trong đó việc thực hiện ba chủ trương kinh tế: sản xuất lương thực, thực phẩm; sản xuất hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu đã tạo nên sức bật cho sơn mài Bình Dương tiếp tục phát triển mạnh mẽ Nhiều tổ hợp, hợp tác xã sơn mài nâng lên thành xí nghiệp sơn mài dưới
sự quản lý của liên hiệp xã Hoạt động sản xuất và kinh doanh rất nhộn nhịp, sôi nổi, tạo việc làm cho hàng ngàn lao động, tập trung vào ba xí nghiệp lớn là: Thành
Lễ, Đồng Tâm, Định Hòa và hàng loạt các cơ sở sơn mài mới như: An Thạnh, Chí Công, Thống Nhất, Thủ ầu Một, Thuận An, Thái Sơn, Trường An, Hiệp Công, Tân An, Chánh Mỹ… Lúc này làng sơn mài Tương ình Hiệp được tổ chức thành Hợp tác xã sơn mài 19 tháng 5 với phong trào “người người làm sơn mài, nhà nhà làm sơn mài” lớn mạnh chưa từng thấy Sơn mài thời điểm này đã chiếm ưu thế hơn hẳn các ngành nghề khác tại Bình Dương
- Từ những năm 1990, Nhà nước mở ra nhiều chính sách lưu thông hàng hóa, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Các doanh nghiệp được thành lập theo cơ chế mới cùng với thị trường mở rộng hơn, hàng hóa ngày càng phong phú hơn để đáp ứng nhu cầu mua bán ngày một đa dạng Các nhà sản xuất chủ động bỏ vốn đầu tư và thuê lao động, tìm kiếm thị trường Các ngành nghề thủ công truyền thống trong đó có sơn mài được khuyến khích, tạo điều kiện sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu Đây là hướng đi có lợi cho sự ổn định và phát triển nghề sơn mài Bình Dương
Trang 3428
- Nhiều doanh nghiệp có vốn lớn, mở rộng cơ sở với đội ngũ nghệ nhân, công nhân lên đến vài trăm người, được đầu tư máy móc, thiết bị phục vụ cho việc hiện đại hóa từng phần trong công nghệ sản xuất sơn, như: máy đánh bóng, máy quậy (đánh) sơn, máy phun sơn, máy ép keo, buồng ủ có gắn máy theo dõi nhiệt độ… Chính nhờ hiện đại hóa một phần trong công nghệ sản xuất nên sản phẩm đồng đều hơn và khả năng đáp ứng nhu cầu với số lượng lớn hơn nhiều so với trước đây Tuy nhiên, cùng với sự xuất hiện nhiều loại vật liệu, sơn hạt điều, sơn công nghiệp… đã làm cho sơn mài ứng dụng Bình Dương không còn nhiều sản phẩm sử dụng toàn bộ bằng sơn ta
- Việc trang bị máy móc hiện đại cho thấy thế mạnh về kinh tế của tỉnh Bình Dương trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu các sản phẩm và tranh sơn mài mỹ nghệ là rất lớn Những mặt hàng sơn mài không những có giá trị về mặt văn hóa mà còn mang lại lợi nhuận kinh tế cao cho nhà sản xuất, đồng thời còn tạo được công ăn việc làm cho lực lượng lao động ở địa phương, góp phần ổn định đời sống xã hội và sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh nhà
- Sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm 1986), là thời kỳ
“hoàng kim” của ngành thủ công truyền thống ình Dương, thời kỳ mà tất cả các làng nghề tập trung nhiều các cơ sở sản xuất nhất Nghề sơn mài cũng đã thực sự khởi sắc và phát triển đến đỉnh cao, nhất là từ những năm 1980-1990 Theo số liệu thống kê về tiểu thủ công nghiệp của tỉnh, sơn mài và gốm sứ trở thành thế mạnh, chiếm 30-35% thu nhập quốc dân về công nghiệp
- Đến nay, ngành sơn mài ứng dụng của Bình Dương đã phát triển tương đối ổn định và có nhiều thay đổi tích cực Trước hết, phải kể đến sự đa dạng về chủng loại sản phẩm sơn mài, bên cạnh những sản phẩm truyền thống như các loại
tủ thờ, bộ bàn ghế, tranh mỹ nghệ… cẩn vỏ trứng, cẩn vỏ ốc xà cừ, còn có những
sản phẩm mới, được phân loại theo chức năng sử dụng như: Đồ dùng hàng ngày có: khay các loại, hộp trang sức, hộp đựng khăn giấy, giá để dù (ô), lót ly, đế chân đèn (nến), chén đĩa, gát đũa…; Đồ nội thất có: sa lông, bàn, ghế, kệ, tủ, vách ngăn, án gió (bình phong)… cẩn vỏ trứng hoặc vỏ ốc; Sản phẩm trang trí có:
bình soa, đĩa soa, đĩa treo tường, khung ảnh, các loại tranh mỹ nghệ…
- Các sản phẩm sơn mài ình Dương luôn được cải tiến chất lượng và mẫu
Trang 3529
mã để bắt nhịp cùng sự phát triển của xã hội và để tồn tại dưới sự cạnh tranh của
các sản phẩm cùng loại ở các địa phương và thị trường nước ngoài Hiện nay thị
trường tiêu thụ các sản phẩm sơn mài ứng dụng ình Dương không những trong
nước, ở thị trường Liên Xô và Đông Âu như trước đây mà còn mở rộng ra
nhiều nước trên thế giới như: châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật ản, châu Úc, Trung Đông,
Nam Phi v.v…
- Tóm lại, về sự hình thành nghề sơn mài trên đất Bình Dương, nhà
nghiên cứu Cao Xuân Phách đã viết: “ ình Dương quả là vùng đất mà
Thiên-Địa-Nhân đều vượng, người hiền đã lắm, nghề tinh cũng nhiều Cụ thể, trên địa
bàn có tới ba nghề truyền thống là gốm sứ, mộc và sơn mài, nổi tiếng từ lâu và
phát triển đến ngày nay”
Sự hội tụ các yếu tố cơ bản của nghệ thuật sơn mài Bình Dương
- Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông Nam ộ, nằm ở vị trí giao thông
thuận lợi, được bao bọc bởi ba con sông lớn là Sài Gòn ở phía Tây, sông é ở
phía ắc và sông Đồng Nai ở phía Đông Những điều kiện giao thông thuận
lợi này đã khiến cho ình Dương có thể dễ dàng nối với các cảng biển lớn ở phía
Nam
- Hệ thống những khu rừng bạt ngàn, dày đặc khắp nơi trên đất ình Dương
xưa với nhiều loại gỗ quý, cung cấp nguồn nguyên liệu dồi dào chính là điều kiện
cần thiết để phát triển nghề mộc gia dụng, nghề chạm khắc gỗ và nghề sơn mài
Sự phát triển đồng bộ của các nghề mộc gia dụng, nghề chạm khắc gỗ, nghề làm
gốm… đã kích thích nghề sơn mài phát triển
- Sự năng động của lớp lưu dân đã khai phá, bám trụ và biết tận dụng
những lợi thế từ thiên nhiên sẵn có và từ nhu cầu của cư dân lúc nông nhàn, cùng
với kinh nghiệm mang theo trong hành trang, là những yếu tố tiên quyết để người
dân có thể làm ra các vật dụng thiết yếu phục vụ đời sống hàng ngày Theo thời
gian, các sản phẩm nghề thủ công ngày một nổi tiếng và trở thành hàng hóa
thương mại trong nước và nước ngoài
Trang 36- Nhiều lớp thợ, nghệ nhân từ miền ắc, miền Trung vào định cư có tay nghề cao, điêu luyện trong lĩnh vực làm đồ sơn, chạm trổ, khảm xà cừ… Cùng với trường á nghệ ình Dương được thành lập (từ năm 1901), có dạy nghề về sơn mài
và nghề điêu khắc gỗ Cộng với lớp nghệ nhân, họa sĩ được đào tạo có hệ thống
về kỹ năng, kiến thức tại các trường Mỹ thuật Đông ương, trường vẽ Gia Định… đã trở thành đội ngũ chuyên nghiệp để giảng dạy, truyền bá các kỹ thuật chế tác và sáng tác bằng chất liệu sơn ta
- Mặt khác, bên cạnh nguồn sơn ta được đưa vào từ miền ắc, tỉnh Bình Dương có đường biên giới giáp ranh với Campuchia nên chất sơn từ Phnôm Pênh (Nam Vang) được đưa về đây một cách nhanh chóng và dễ dàng Nguồn chất liệu phong phú đã giúp cho sơn mài có điều kiện phát triển, đa dạng về nghệ thuật thể hiện với nhiều chủng loại và thể loại
Làng nghề sơn mài Bình Dương
- Những cuộc di dân đến huyện Bình An lập nghiệp từ giữa Thế kỷ XVII- XVIII, các cư dân đã dần hình thành và phát triển nghề từ quê cha đất tổ
để định hình thành làng nghề sơn mài tại đây Trên địa bàn rộng lớn, từ Thủ Dầu Một chạy dài theo bờ sông Sài Gòn ở phía Tây là nơi các cư dân tập trung làm nghề nhiều nhất, như: Tương ình Hiệp, Phú Cường, Tân An, ến Thế… Trong đó, có xã Tương ình Hiệp và Phú Cường (Thủ Dầu Một) là hai nơi quy tụ đông và mạnh những hộ và cơ sở làm nghề, trở thành làng nghề sơn mài tiêu biểu tại Bình Dương
Trang 3731
- Làng sơn mài Tương Bình Hiệp: Nằm cách Thủ Dầu Một khoảng bốn cây
số về hướng Tây Bắc, làng nghề sơn mài truyền thống Tương ình Hiệp nổi tiếng khắp cả nước và được xem là chiếc nôi của ngành sơn mài Bình Dương
- Theo Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, làng Tương Bình Hiệp
xưa chỉ có “vài ngôi nhà nhỏ chuyên nghề cưa, xẻ gỗ rồi phủ sơn lên và vẽ thêm hình cây cảnh, biển, trời, sông nước, con người…” để bán cho người dân địa phương có nhu cầu trang trí nhà cửa
- Cùng với thời gian, nhiều lớp người đến đây học nghề, học việc và định cư
Từ đó, lực lượng thợ sơn Tương Bình Hiệp ngày càng phát triển tạo nên một làng nghề sản xuất sơn mài có uy tín trên đất ình Dương nói riêng và xứ Nam ộ nói chung
- Với việc mở Trường á nghệ Thủ Dầu Một, các nghệ nhân sơn mài Tương Bình Hiệp có thêm điều kiện thuận lợi để nâng cao kiến thức, trình độ mỹ thuật ứng dụng vào ngành nghề mà trươc đây chỉ bó hẹp trong phạm vi gia đình vơi tính chất cha truyền con nối Nhờ lòng đam mê nghề nghiệp và sự cần cù, nhẫn nại, tiếp thu tri thức tạo hình mà nhiều người thợ sơn Tương Bình Hiệp đã trở thành những nghệ nhân xuất sắc, những người thầy mẫu mực cho nhiều thế hệ học trò trong kỹ thuật sơn mài
- Qua nhiều thăng trầm, biến đổi của thời cuộc, qui trình sản xuất tranh sơn mài ở Tương ình Hiệp cho đến ngày nay vẫn tuân thủ đúng phương pháp cổ truyền mặc dù nội dung, đề tài sản phẩm có sự thay đổi cho phù hợp với thị hiếu của khách hàng Bên cạnh các sản phẩm và tranh sơn mài thông dụng thường được sản xuất như trước đây, các nghệ nhân còn thể hiện các sản phẩm mới như: sa lông, tủ rượu, bàn ăn, giường ngủ… theo kiểu dáng phương Tây hay các bức tranh
mỹ nghệ theo phong cách tạo hình của châu Âu… Chính vì thế, nghề sơn mài của làng Tương ình Hiệp không bị gián đoạn và đời sống vật chất của người thợ vẫn được đảm bảo bởi thu nhập tài chính luôn được duy trì và ổn định
- Đỉnh cao của nghề sơn mài làng Tương Bình Hiệp là thời điểm từ năm
1945 đến năm 1975 với trình độ kỹ thuật và nghệ thuật đa dạng, nhiều chủng loại
và mẫu mã, hàng sơn mài ở giai đoạn này đã được xuất khẩu sang các nước Tây
Âu, Nhật ản và Trung Đông…
Trang 3832
- Sau năm 1975, ngành sơn mài đã phát triển với quy mô cả tỉnh Sông Bé, nhưng do tình hình kinh tế khó khăn, không nhập được nguyên liệu, chất lượng hàng không cao, không thể cạnh tranh, xuất khẩu mà chỉ tiêu thụ nội địa, nên nghề sơn mài làng Tương ình Hiệp cũng bị đình trệ trong một thời gian Mặc dù vậy, làng sơn mài Tương ình Hiệp vẫn là nơi duy trì sản xuất về số lượng cũng như chất lượng, với nhiều sản phẩm sơn mài đạt giá trị kinh tế và mỹ thuật cao, được nhiều tặng thưởng
Trong hội chợ triển lãm kinh tế kỹ thuật Giảng Võ (Hà Nội) năm 1985
và 1986, sơn mài Thủ Dầu Một đã đạt 9 huy chương, trong đó có 7 huy chương vàng là sản phẩm của sơn mài Tương ình Hiệp Nhiều sản phẩm lúc đó được xuất khẩu sang thị trường quốc tế và được nhiều nước trên thế giới ưa chuộng như: Đức, Pháp, Canada, Đài Loan, Nhật ản…
- Với bề dày của nghề, cùng nhiều nghệ nhân tài hoa nổi tiếng, làng sơn mài Tương Bình Hiệp xứng đáng là điểm son rực rỡ cho văn hóa nghệ thuật truyền thống của tỉnh Bình Dương
- Làng sơn mài Phú Cường: Nói đến làng sơn mài Phú Cường, là nói đến
xưởng sơn mài Thành Lễ (thành lập năm 1943), là cơ sở sơn mài lớn mạnh nhất trong làng, thu hút sự tham gia của nhiều nghệ nhân, họa sĩ, các hộ dân và các cơ
sở gia công Do nắm vững kỹ thuật sơn mài, cùng với trình độ quản lý tốt nên chỉ sau vài năm thành lập, xưởng sơn mài Thành Lễ đã tạo dựng được một cơ sở đồ
sộ với một hệ thống nhà xưởng sản xuất lớn nhất thời bấy giờ ở Bình Dương Bên cạnh hai phòng trưng bày và giới thiệu sản phẩm đặt ở Sài Gòn và Bình Dương , xưởng được tổ chức theo qui trình khép kín từ các khâu:
Trang 3933
- Uy tín của xưởng sơn mài Thành Lễ được củng cố do tập hợp được một đội ngũ nghệ nhân, họa sĩ như: Ngô Từ Sâm, Thái Văn Ngôn, Nguyễn Văn Tuyền, Duy Liêm, Trần Văn Nam, Hồ Văn Sa, Trương Ngọc Lợi, Trần Văn Trừ, Nguyễn Văn Cờ, Hồ Hữu Thủ… và lực lượng đông đảo những người thợ chuyên nghiệp Sản phẩm của sơn mài Thành Lễ không những đạt trình độ kỹ thuật cao mà còn rất phong phú, đa dạng về kiểu thức, kiểu dáng, đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng
cả trong và ngoài nước
Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, ở tỉnh ình Dương có trên dưới 10 cơ sở sản xuất sơn mài cùng với hơn 300 hộ dân sản xuất sơn mài cá thể ở làng Tương Bình Hiệp Trong số đó, xưởng sơn mài Thành Lễ có qui mô sản xuất lớn nhất qui tụ 200 thợ sơn mài chuyên nghiệp và đến những năm 1970-1990, số thợ của xưởng tăng lên 500 người”
- Với hơn 60 năm hình thành và phát triển, sơn mài Thành Lễ xứng đáng với vai trò tiên phong trong việc giữ gìn và phát huy nghệ thuật sơn mài, mở ra nhiều triển vọng cho nền văn hóa-nghệ thuật của tỉnh nhà Đồng thời, còn là một đòn bẩy tích cực cho nền kinh tế tiểu thủ công nghiệp của Bình Dương
- Ngoài ra, còn có những cơ sở sản xuất sơn mài với qui mô trung bình nhưng cũng được nhiều người biết đến vì uy tín và chất lượng của sản phẩm như: Lương Định Của, Trần Hà, Sông Gianh … Đặc biệt là xưởng sơn mài Trần Hà với kỹ thuật cẩn vỏ trứng làm nền hoặc cẩn từng vùng, nhưng vẫn diễn tả được chất của hình tượng, qua kỹ thuật đập vụn vỏ trứng tùy theo độ đậm nhạt, kết hợp
vẽ màu trên nền vỏ trứng rất ấn tượng Các sản phẩm sơn mài khác của Trần Hà, như: các loại bình, hộp trang trí và tranh mỹ nghệ… còn được chế tác hết sức công phu và có ý thức cao về tạo hình Nhiều sản phẩm đẹp được sử dụng làm
mẫu để sản xuất hàng loạt phục vụ nhu cầu thưởng thức và thị trường tiêu thụ
Trang 40- Sơn mài ứng dụng Bình Dương từ buổi đầu, đã sử dụng sơn ta làm chất liệu chính Tính đồng nhất chất liệu giữa sơn mài truyền thống và sơn mài ứng dụng được thể hiện dưới hai cách vẽ khác nhau, qua lối vẽ sơn mài của họa sĩ và lối
vẽ thủ công mỹ nghệ của nghệ nhân Chất sơn cánh gián ấm trong, sơn then đen huyền, hòa điệu với bao chất liệu khác (vỏ trứng, trai, vàng, bạc, son, màu…) được các họa sĩ, nghệ nhân diễn đạt bằng ngôn ngữ đa dạng, tạo nên một bản nhạc nhiều tiết tấu trong từng sản phẩm sơn mài Với lối thể hiện nhiều lớp của chất liệu sơn mài truyền thống từng bước được các nghệ nhân đem vào thực hiện trên các sản phẩm và tranh mỹ nghệ Chất sơn ta với vẻ đẹp thâm trầm, công dụng bền chắc, khi sử dụng vào tranh sơn mài mỹ nghệ đã làm tôn thêm vẻ đẹp của tranh, vượt hẳn lối thể hiện bằng chất liệu sơn Nhật hay sơn hạt điều Những chất màu son quí hiếm (son trai-son tươi-son thắm-son nhì) nếu đem vào tranh mỹ nghệ thay thế cho màu đỏ Nhật, nhất định tranh sẽ trở nên sống động do chất sơn son thắm đượm bởi cái tinh túy từ màu đất đá Ngoài ra chất sơn thếp, sơn phủ trong tranh sơn mài truyền thống khi đem sử dụng vào tranh cá vàng mỹ nghệ đã cho hiệu quả cao…
- Tranh Cá vàng thể hiện đàn cá vàng tung tăng trong làn nước trong veo
mà người xem có thể nhìn thấy được cả ánh sáng và chi tiết trên từng con cá với những dáng vẻ và chuyển động khác nhau Toàn bộ phần nền của bức tranh là một màu son thắm, tươi tắn nhưng vẫn tạo được không gian qua những cây san
hô trang trí, những cánh lục bình cận cảnh hay những cành thủy sinh ẩn hiện phía
xa Chất liệu trong tranh chỉ có chất son, vàng lá, bạc lá và sơn ta, bao gồm sơn cánh gián để vẽ, sơn thếp để dán vàng, bạc và sơn phủ kết hợp yếu tố mài nhưng
đã tạo được sự sinh động cho bức tranh, gợi cảm xúc gần gũi hiện thực và ấn