1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Giáo trình Sáng tác mẫu thời trang - Trường CĐ Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex TP. HCM

249 38 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 249
Dung lượng 27,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Sáng tác mẫu thời trang cung cấp cho độc giả những kiến thức cơ bản nhất về các phương pháp vẽ dựng hình dáng người mẫu dùng trong vẽ sáng tác thời trang, các phương pháp thể hiện chất liệu, phương pháp vẽ phác họa bộ sưu tập trang phục theo thể loại trang phục và theo đề tài ý tưởng nghiên cứu. Giáo trình gồm có bốn chương, trong mỗi chương tập trung chủ yếu vào những kiến thức cơ bản nhất, cô đọng nhất để người đọc có thể nắm được những nội dung chính. Trong chương thứ nhất, tác giả muốn giới thiệu đến độc giả những kiến thức về phương pháp vẽ dựng hình dáng người mẫu thời trang để ứng dụng vào vẽ sáng tác thời trang.

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG TẬP ĐOÀN DỆT MAY VIỆT NAM TRƯỜNG CAO KINH TẾ - KỸ THUẬT VINATEX TP.HCM

GIÁO TRÌNH SÁNG TÁC MẪU THỜI TRANG

(Lưu hành nội bộ)

Thành Phố Hồ Chí Minh – 2019

Trang 3

Contents

LỜI NÓI ĐẦU Error! Bookmark not defined.

Phần 1: THIẾT KẾ TẠO DÁNG Error! Bookmark not defined.

Chương I 5

KHÁI QUÁT VỀ NGÀNH NGHỀ THIẾT KẾ 5

I KHÁI QUÁT CHUNG VỂ NGÀNH NGHỀ THIẾT KẾ 5

II QUÁ TRÌNH PHÁT TRIẾN DESIGN GIAI ĐOẠN 1950-1990 14

III SỰ PHÁT TRIẾN TỪ Ý TƯỞNG ĐẾN THIẾT KẾ 25

1 Hãy nêu khái niệm Design 29

2 Hãy trình bày tóm tắt quá trình hình thành ngành nghề thiết kế thời trang giai đoạn đầu 29

3 Hãy trình bày các quá trình phát triển Design giai đoạn 1950-1990 29

4 Hãy phân tích sự phát triển từ ý tưởng đến thiết kế sản phẩm nói chung 29

Chương II 30

KHÁI QUÁT VỀ THIẾT KẾ THỜI TRANG 30

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THIẾT KẾ THỜI TRANG 30

II KHÁI QUÁT VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIẾN NGÀNH THIẾT KẾ THỜI TRANG VIỆT NAM 39

III TẦM QUAN TRỌNG CỦA THƯƠNG HIỆU THỜI TRANG VÀ PHONG CÁCH TRONG SỰ LỰA CHỌN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 43

IV PHÂN LOẠI PHONG CÁCH THIẾT KẾ THỜI TRANG 46

Chương III 53

CƠ SỞ THIẾT KẾ TẠO DÁNG THỜI TRANG 53

I KHÁI NIỆM BỘ SƯU TẬP TRANG PHỤC 53

II ĐỐI TƯỢNG THIẾT KẾ 55

III ĐẶC ĐIỂM TRANG PHỤC ẢNH HƯỞNG THEO TÂM SINH LÝ ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG TRANG PHỤC 56

IV NGHỆ THUẬT PHỐI MÀU TRANG PHỤC 64

V TIẾN TRÌNH THIẾT KẾ THỜI TRANG 71

Phần 2: SÁNG TÁC MẪU THỜI TRANG Error! Bookmark not defined. Chương I 75

CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG VẼ PHÁC HỌA THỜI TRANG 75

I CÁC DỤNG CỤ HỌC TẬP 75

Trang 4

II Ý TƯỞNG SÁNG TẠO VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP THỂ HIỆN 79

III NGUYÊN TẮC VẼ DỰNG HÌNH DÁNG NGƯỜI MẪU THỜI TRANG 84

IV.PHƯƠNG PHÁP VẼ TRANG PHỤC LÊN HÌNH VẼ DÁNG NGƯỜI MẪU 103

V BÀI TẬP ÁP DỤNG 107

Chương II 109

PHƯƠNG PHÁP THỂ HIỆN CHẤT LIỆU TRONG VẼ PHÁC HỌA 109

THỜI TRANG 109

I PHƯƠNG PHÁP VẼ THỂ HIỆN TÍNH CHẤT NGUYÊN LIỆU CỦA TRANG PHỤC 109

II PHƯƠNG PHÁP VẼ THỂ HIỆN HOA VĂN TRÊN TRANG PHỤC 124

III BÀI TẬP ÁP DỤNG 130

Chương III 131

PHƯƠNG PHÁP VẼ PHÁC HỌA BỘ SƯU TẬP TRANG PHỤC 131

THEO THỂ LOẠI 131

I PHƯƠNG PHÁP VẼ PHÁC HỌA BỘ SƯU TẬP TRANG PHỤC THEO THỂ LOẠI DẠO PHỐ 131

II PHƯƠNG PHÁP VẼ PHÁC HỌA BỘ SƯU TẬP TRANG PHỤC THEO THỂ LOẠI CÔNG SỞ 162

III PHƯƠNG PHÁP VẼ PHÁC HỌA BỘ SƯU TẬP TRANG PHỤC THEO THỀ LOẠI ĐỒNG PHỤC 178

IV PHƯƠNG PHÁP VẼ PHÁC HỌA BỘ SƯU TẬP TRANG PHỤC THEO THỂ LOẠI DẠ HỘI 189

V PHƯƠNG PHÁP VẼ PHÁC HỌA BỘ SƯU TẬP TRANG PHỤC THEO THỂ LOẠI NGHỆ THUẬT BIỄU DIỄN 210

Chương IV 223

PHƯƠNG PHÁP VẼ PHÁC HỌA BỘ SƯU TẬP TRANG PHỤC THEO ĐỀ TÀI Ý TƯỞNG 223

I KHÁI NIỆM ĐỀ TÀI Ý TƯỞNG SÁNG TÁC 223

III CÁC BƯỚC THỰC HIỆN VẼ PHÁC HỌA BỘ SƯU TẬP THEO ĐỀ TÀI Ý TƯỞNG 226

II GIỚI THIỆU HÌNH VẼ MỘT SỐ BỘ SƯU TẬP TRANG PHỤC THEO ĐỀ TÀI Ý TƯỞNG CỦA CÁC THÍ SINH DỰ THI CÁC CUỘC THI VIỆT NAM COLLECTION GRAN PRIX 239 IV BÀI TẬP ÁP DỤNG 246

TÀI LIỆU THAM KHẢO 247

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

Giáo trình Sáng tác mẫu thời trang được biên soạn dùng để tham khảo giảng dạy

và học tập cho giáo viên và học sinh - sinh viên chuyên ngành thiết kế thời trang các trường cao đẳng và trung cấp Thông qua giáo trình, tác giả mong đánh thức và phát triển khả năng cảm nhận của người đọc về màu sắc, hình ảnh gây ấn tượng trong việc nghiên cứu và mẫu thiết kế trang phục, vận dụng ý tưởng sáng tạo thiết kế mẫu trang phục thời trang, nguyên lý thiết kế thời trang, phương pháp vẽ các bản vẽ thiết kế thời trang, phác thảo ý tưởng để phát triển ý tưởng thành bộ sưu tập thời trang.

vẽ dựng hình dáng người mẫu dùng trong vẽ sáng tác thời trang, các phương pháp thể hiện chất liệu, phương pháp vẽ phác hoạ bộ sưu tập trang phục theo thể loại trang phục

và theo đề tài ý tưởng nghiên cứu

Giáo trình gồm có bốn chương, trong mỗi chương tập trung chủ yếu vào những kiến thức cơ bản nhất, cô đọng nhất để người đọc có thể nắm được những nội dung chính Trong chương thứ nhất, tác giả muốn giới thiệu đến đọc giả những kiến thức về phương pháp vẽ dựng hình dáng người mẫu thời trang để ứng dụng vào vẽ sáng tác thời trang

Chương thứ hai cung cấp cho đọc giả những kiến thức về phương pháp thể hiện chất liệu theo tính chất và hoa văn của vải Chương thứ ba và chương thứ tư cung cấp cho đọc giả phương pháp thực hiện vẽ phác họa mẫu bộ sưu tập thời trang theo thể loại trang phục và theo đề tài ý tưởng sáng tác

Trong giáo trình có sử dụng nguồn thông tin và một số tài liệu, hình ảnh từ Giáo trình Phương pháp vẽ người mẫu trong thiết kế thời trang, Nhà xuất bản mỹ thuật 2002, tài liệu Phương Pháp Vẽ Thiết Kế Thời Trang, tác giả Anh Vũ, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin- 2003, các trang web và các tạp chí dệt may, thời trang Trong quá trình biên soạn, mặc dù tác giả đã cố gắng nhưng không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các nhà nghiên cứu, các đồng nghiệp, học sinh - sinh viên để giáo trình ngày càng được hoàn thiện hơn

Trang 7

Phần 1: THIẾT KẾ TẠO DÁNG

Chương I

KHÁI QUÁT VỀ NGÀNH NGHỀ THIẾT KẾ

I KHÁI QUÁT CHUNG VỂ NGÀNH NGHỀ THIẾT KẾ

Chúng ta nghe thấy khái niệm Design ở mọi nơi, Design trở thành một phạm trù của văn hóa, nó chiếm một chuyên mục riêng trong các tạp chí, các chương trình vô tuyến giống như mỹ thuật văn học Trước đây, trên thế giới tên tuổi các nhà tạo mẫu (tạo dáng công nghiệp) ít có ý nghĩa - ngoại trừ các nhà tạo mẫu thời trang nổi tiếng - nhưng ngày nay các nhà tạo dáng hàng đầu cũng có vị trí không khác gì các siêu sao màn bạc của điện ảnh và âm nhạc Tên tuổi các nhà tạo mẫu nổi tiếng như: Ettore Sottsass, Philippe Starck

và Metteo Thun và các sản phẩm do họ thiết kế được nhiều người biết đến và chính họ đã

mở ra một chương sử mới của loại nghệ thuật này Nhiều hãng đã sử dụng tên của các nhà tạo mẫu làm nhãn hiệu, biểu tượng cho hãng của mình Để nâng được giá trị sản phẩm và

sự hấp dẫn với người mua, họ cho ra đời các loại sản phẩm có ký hiệu riêng - như để sưu tập - từ các bộ ghế ngồi, các hệ thống thiết bị Hi-fi hoặc các bộ tách thủy tinh Ngày nay, Design đã được thừa nhận là một bộ phận lịch sử văn hóa

Thế kỉ XX, Design được coi trọng như một chính sách kinh doanh của hãng Trong một thời đại mà khoa học kỹ thuật đã được đến đỉnh cao, sự chênh lệch về chất lượng kỹ thuật trong những phương diện cụ thể không là vấn đề bàn cãi và giá cả cũng tương tự, mặt bằng chi phí vật tư nguyên liệu, điều kiện làm việc, lương bỗng giống nhau - thì Design sẽ trở thành yếu tố để so sánh cuối cùng và là yếu tố quan trọng nhất trong cuộc cạnh tranh Việc tạo dáng sản phẩm riêng lẻ chỉ là một phần trong hình ảnh của công ty - được biểu hiện từ tấm danh thiếp cho đến biểu trưng văn phòng của hãng, từ bao bì sản phẩm cho đến tiêu chí quảng cáo - gọi là Corporate Indentidy Thực tế thì Design là nhận thức đã đi vào đời sống tuyên truyền, triễn lãm và cạnh tranh trong các họp bàn tròn của doanh nghiệp, của các trung tâm thiết kế và các cơ quan công cộng đến cán bộ y tế, các phòng thương mại và các công nghiệp của các quốc gia

Trang 8

1 Khái niệm Design

Trong thực tế, danh từ Design bị lạm dụng đã dẫn đến lạm phát về khái niệm giống như sử dụng một con dấu chất lượng, danh từ được sử dụng vô tội vạ cho mọi hàng hóa, cho mọi đồ vật cốt để bán hàng Nào là “Designer -Jen”, “Designer - Brille”, “Designer - Moebel”, thậm chí cả “Design - Drogen” không có liên quan gì đến ý nghĩa gốc của danh

từ này

Trang 9

Bên cạnh những hiện tượng sử dụng ngôn từ đó, trong những năm 1980 đã diễn ra nhiều cuộc tranh luận về khái niệm Design nhằm xác định ranh giới của nó giữa mỹ thuật, thủ công, công nghiệp Design - trong quá trình phát triển của cách mạng công nghiệp cũng như qua các hình thức biểu đạt mới về thẩm mỹ học - khái niệm trên thường bị hòa đồng với nhau

Design là một lĩnh vực về mặt lý luận và thực diễn đều chịu sự chi phối của các yếu tố rất khác nhau, nên đối với lĩnh vực mới mẻ này người ta cũng chưa thể có một định nghĩa thống nhất

Danh từ Design xuất xứ từ gốc chữ Ý “Disegno” - có từ thời Phục Hưng - có nghĩa

là phác thảo, bản vẽ và bao trùm toàn bộ là công việc của một sự sáng tạo Đến thế kỷ XVI, thì khái niệm Design đã được mở rộng ở Anh và mang nghĩa lả “lập trình một cái gì

đó để thể hiện” Nhà nghiên cứu Buerdek khái niệm về Design là thực hiện phác thảo một bản vẽ đầu tiên cho một tác phẩm nghệ thuật hoặc một phác thảo của một sản phẩm mỹ nghệ

Ngày nay, chúng ta hiểu Design như là khái niệm về phác thảo và lập kế hoạch cho sản phẩm công nghiệp Nội dung đó có thể sử dụng chung cho thời đại công nghiệp hóa

mà ở Anh, Đức và sau cùng là Ý đã dùng Với quá trình công nghiệp hóa cũng là quá trình hình thành lịch sử Design được bắt đầu vào khoảng giữa thế kỷ XIX.Trong quá trình phát triển của mỹ thuật công nghiệp, Design đã có nhiều đánh giá khác nhau, những nhìn nhận khác nhau về vai trò, vị trí của lĩnh vực mới mẻ này Có những giai đoạn đã dẫn đến các cuộc tranh cãi nảy lửa bao quanh khái niệm – thế nào là Design?

Trong khu vực những nước nói tiếng Đức chẳng hạn, thuật ngữ cho việc tạo dáng các sản phẩm công nghiệp cho đến năm 1954 vẫn chưa thấy mấy ai sử dụng danh từ Design- mà vẫn được gọi là “tạo dáng sản phẩm”, “tạo dáng công nghiệp”…Đến nay, từ định nghĩa cho đến nội dung đều đã thay đổi nhiều đối với khái niệm Design Trước đây, người ta quan niệm Design là việc sản xuất ra một sản phẩm theo phương pháp công nghiệp, bởi lẽ do sự phát triển và phân công lao động của quá trình công nghiệp hóa thì việc thiết kế thi công, đã không còn nằm trong tay một người thợ như trước đây và đó chính là tiền đề cơ bản cho sự ra đời nghề Design (nhà tạo mẫu), người lãnh trách nhiệm sau này được gọi là nhà tạo dáng công nghiệp

Kể từ khi bắt đầu công nghiệp hóa đã có nhiều phong trào cải cách xuất hiện ở Anh

và Đức Đó là cuộc cải cách nền nghệ thuật thủ công, giáo dục ý thức xã hội và giáo dục thị hiếu thẩm mỹ, nhằm đối lập lại những hậu quả tiêu cực của công nghiệp hóa Có một

xu hướng muốn thay thế các sản phẩm thô kệch của sản xuất công nghiệp bằng những sản

Trang 10

phẩm chất lượng cao của một sự cách tân trong sản xuất thủ công - phong trào này kêu gọi hãy trở về với quá khứ, một phong trào khác có mục đích muốn tạo dáng tốt hơn, nâng cao chất lượng sản phẩm công nghiệp - bằng cách phải tạo mẫu sao cho phù hợp với những điều kiện sản xuất công nghiệp - nhằm hiện đại hóa sản phẩm - đạt đến mục tiêu hiện đại, giá cả phải chăng, bền và đẹp

Những nỗ lực trên cuối cùng cũng đã dẫn đến kết quả của những điều kiện của việc sản xuất ra các sản phẩm hàng loạt trong công nghiệp phải tuân thủ theo những yếu tố có tính đạo đức và mang nội dung của cải cách xã hội - cụ thể là thông qua lý luận của chủ nghĩa công năng đã đưa ra những quan điểm thẩm mỹ trên trở thành nội dung của khái niệm về Design Các đại diện của chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa công năng cho rằng - hình thức của một đồ vật phải tuân thủ nội dung (công năng) của nó - ở đó không được trang trí thừa thãi Điều thứ hai là những điều kiện sản xuất công nghiệp đòi hỏi phải có một ngôn ngữ tạo hình đơn giản, theo những hình kỷ hà (hình học) và phải được tiêu chuẩn hóa, định hình hóa, nhằm tạo ra những sản phẩm bền, đẹp có chất lượng cao, sản xuất với giá thành phải chăng để thỏa mãn và phù hợp với nhu cầu cải cách xã hội

Lý luận của chủ nghĩa công năng là kim chỉ nam và định hướng cho đến thời kỳ hiện đại, nó đã thống trị về nội dung thẩm mỹ đối với nền Design công nghiệp chính thống Khái niệm Design đồng nghĩa với sự đơn giản về hình dáng, và sự đơn giản của hình dáng lại đồng nghĩa với tiện dụng, chất lượng cao và giá thành hợp lý

2 Khái niệm nghề nghiệp nhà tạo mẫu nói chung

Danh hiệu nghề nghiệp nhà tạo mẫu (Designer) không có trong danh sách đăng ký bản quyền, cho nên bất kỳ ai làm gì dính dáng đến công việc thiết kế đều có thể tự phong

là Designer Trong thực tế có nhiều nhà tạo dáng nổi tiếng không qua đào tạo chuyên nghiệp mà họ tạt sang từ các lĩnh vực kiến trúc hoặc quảng cáo Ngày nay, việc đào tạo các nhà tạo dáng thông thường phải qua các nhà đào tạo trung cấp hoặc cao đẳng toàn phần để có được bằng Diploma - Tạo dáng công nghiệp hoặc thiết kế đồ họa Việc đào tạo các nhà tạo dáng công nghiệp bao gồm toàn bộ các lĩnh vực của các bộ môn khoa học rất cần thiết cho kiến thức để hành nghề Design thực thụ đó là các môn thẩm mỹ học, tín hiệu học, lý thuyết màu… Bộ môn phân tích và thể hiện sản phẩm gồm: Hình học, viễn cận và

lý thuyết về tỉ lệ Về chuyên ngành của quá trình thiết kế cần có những thông tin cập nhật

về vật lý, sức bền vật liệu, thiết kế mỹ thuật, tiêu chuẩn hóa và định hình hóa

Design là một nghề nghiệp phong phú và đa dạng Người ta chia ngành làm hai nhánh: Thiết kế đồ họa và Thiết kế công nghiệp Ngày nay, khái niệm công nghiệp không còn nữa bởi các hình thức tổ chức và sản xuất nói chung đã không thể tách bạch nổi Các

Trang 11

nhà tạo dáng công nghiệp đã có một phạm vi hoạt động rộng lớn từ những sản phẩm tiêu dùng hàng ngày như đồ gỗ, dụng cụ gia đình, quần áo… cho đến các sản phẩm công nghiệp không chỉ hoạt động trên thế giới của hàng hóa tiêu dùng - họ còn hoạt động cả trong lĩnh vực thiết kế xe tăng, tên lửa, thiết kế các dụng cụ y tế, các sản phẩm siêu âm…trong các năm gần đây, các nhà Design còn tham gia thúc đẩy sự tiến bộ của kỹ thuật, y học, hoặc các lĩnh vực phục hồi chức năng

Design là một quá trình được bắt đầu từ phác thảo và lập kế hoạch để thực hiện sản xuất một sản phẩm hoặc thực hiện một dịch vụ Đó là quá trình phát triển biện chứng qua lại giữa việc xác định nội dung của sản phẩm để xây dựng một hình thức thích hợp cho

nó Nói đến điều đó không chỉ đề cập đến việc xác định các chức năng kỹ thuật, chức năng về nhân trắc (Ergonomie), mà còn hàng loạt các chức năng khác như: thẩm mỹ, tín hiệu và biểu tượng, tạo nên khả năng giao tiếp của sản phẩm

Nhiều mô hình lý thuyết tương tự đã xuất hiện, trở thành đối tượng tranh luận giữa hình dáng và công năng trong lịch sử phát triển Design Chúng ta có thể xác định ba chức năng chính của một sản phẩm khi nói về Design:

- Chức năng kỹ thuật và thực tiễn

- Chức năng thẩm mỹ

- Chức năng biểu tượng

Giới thiệu một số nhà thiết kế tạo dáng nổi tiếng và một số tác phẩm tạo dáng tiêu biểu (Xem hình 1.1,1.2, 1.3)

Hình 1.1 Ettore Sottsass và một số sản phẩm tiêu biểu do ông thiết kế

Trang 12

3 Quá trình hình thành Design nói chung

Nếu như ngày nay chúng ta coi Design là sản phẩm của quá trình công nghiệp hóa thì sự hình thành của Design hiện đại cũng không tách rời những yếu tố của thời kỳ tiền công nghiệp Bởi ngay thời kỳ đầu từ hình dáng, phong tục tập quán, cách sử dụng và hình mẫu thẩm mỹ của thời kỳ đó đã mang tính định hướng và ý nghĩa to lớn cho sự phát triển sau này

Giai đoạn quá độ chuyển từ sản xuất thủ công lên cơ khí là giai đoạn tách giữa lao động cơ bắp và lao động cơ khí - công việc đó được phân biệc bằng bản vẽ (phác thảo)

Để đáp ứng cho sản xuất công nghiệp, đã có rất nhiều cặp đựng các bản vẽ thiết kế và đã

có nhiều sách in các bản mẫu thiết kế để phục vụ cho các hợp đồng sản xuất Nhiều mẫu thiết kế đã được tiêu chuẩn hóa và in ra theo đơn đặt hàng như các loại đồ gỗ đã được quảng cáo qua các tờ gấp và trên các tạp chí Cho nên phác thảo còn có một ý nghĩa quan trọng không chỉ để phục vụ sản xuất mà còn phục vụ tiêu thụ Với tầm quan trọng ngày

Trang 13

càng tăng của bản vẽ thiết kế - môn vẽ kỹ thuật đã được chuyên môn hóa và trở thành bộ môn hàng đầu trong sản xuất công nghiệp Ngoài những chuyển động trên, bên cạnh việc

bổ sung các bộ môn kỹ thuật đã xuất hiện các ngành học mới về giáo dục thị hiếu Giữa thế kỷ XIX, ở Đức hình thành các bảo tàng, các sưu tập, các trường nghề của thủ công mỹ nghệ và thủ công nghiệp bên cạnh các Viện hàn lâm nghệ thuật cổ điển Song, nơi đi tiên phong trong quá trình công nghiệp hóa và phát triển sớm nhất trong lĩnh vực này phải kể đến nước Anh, bởi từ cuối thế kỷ XVIII nền công nghiệp đã bắt đầu có ở đó và họ đã đi trước 50 năm so với phần còn lại của châu Âu

Cuối thế kỷ XVIII sang đầu thế kỷ XIX, ở châu Âu có những chính sách kinh tế nhằm phát triển công nghiệp và thương mại, chính nhờ vậy đã tạo tiền đề cho mỹ thuật công nghiệp hình thành Cuộc cách mạng tư sản Pháp năm 1789 là điểm xuất phát cho sự thay đổi về luận lý và kinh tế - tiến trình cách mạng và trật tự chính trị mới ở châu Âu Sau hội nghị Viên năm 1814… đã tạo đà bãi bỏ những chính sách thuế quan, thương mại khắt khe và bộ máy hành chính quan liêu tạo thuận lợi cho sự phát triển của thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng như sản xuất công nghiệp nói chung

Ngoài những chính sách trên còn một yếu tố nữa đó là giai cấp tư sản sau khi đã thống trị, đã tạo cho nó một hình mẫu thẩm mỹ mới trong đời sống Đạo đức, lối sống có tác động mạnh mẽ đến thị hiếu tiêu dùng, ảnh hưởng trực tiếp đến Design ngày hôm nay Những yêu cầu quan trọng nhất của Design hiện đại như công bằng, sự thuần khiết và chuẩn xác - hình thành lúc khởi đầu bởi kỹ thuật sản xuất do tư bản sinh ra - nhưng đồng thời con người làm việc lúc đó cũng còn nặng nề về tín ngưỡng, ít ai có được sự kích thích nhờ vào trình độ kỹ thuật

4 Quá trình hình thành ngành nghề thiết kế thời trang - Fashion design

Thời trang hiện đại với tính quần chúng rất cách mạng được bắt đầu vào nửa cuối thế kỷ XIX ở Châu Âu ở Paris thủ đô nước Pháp Có thể nói người khởi đầu ngành nghề thiết kế thời trang, khởi đầu thời kỳ thời trang hiện đại là Charles Frederick Worth (1825 - 1895) một thợ may người Anh sang sinh sống tại Paris Ông là người đầu tiên thấy rõ một tầng lớp tư sản mới được sinh sôi nẩy nở có nhu cầu ăn mặc đẹp nhưng thiếu khả năng thẩm mỹ và kinh nghiệm may mặc, phụ thuộc vào những lời khuyên của thợ may, đây là điều kiện đặc biệt làm nảy sinh cho một nền thời trang mới Năm 1858, Charles Frederick Worth thành lập cửa hiệu mang tên ông tại Paris đặt viên gạch đầu tiên của ngành may đo hiện đại, không còn là một hiệu may bình thường như những hiệu may từ trước đến mà hiệu may của ông trở thành Haute Couture - nhà may, nơi tạo mẫu, sản xuất, tư vấn về thời trang cho khách hàng Worth là người đầu tiên thay đổi hình ảnh Couturier (thợ may),

Trang 14

người chỉ biết thực hiện ý định của khách hàng thành Fashion designer (nhà tạo mẫu, người sáng tạo, thực hiện và định hướng thẩm mỹ, thời trang cho khách hàng)

Xuất thân từ một gia đình nghèo khó nhưng nhờ chí có chí lớn nên ông đã thu thập được những kiến thức vô giá rất có lợi cho sự nghiệp của ông sau này Công việc đầu tiên của Worth là phụ việc cho cửa hàng bán vải Swan và Edgar một, công việc của ông là giúp cho khách hàng tìm được loại vải theo nhu cầu của họ để họ mang đi may Ông phải làm việc vất vả 12 giờ/ngày, nhưng những kiến thức học được là vốn quý giá sau 7 năm ông học được cách tìm hiểu, đánh giá tính chất các loại vải, những đặc tính thích hợp cho các kiểu mẫu khác nhau, thấu hiểu mối quan tâm về mốt của các tầng lớp thượng lưu bấy giờ Ông còn tìm cách đọc sách báo, đi xem các cuộc triển lãm, trưng bày nghệ thuật để

bổ sung cho kiến thức của mình Đầy tham vọng và can đảm, ông bỏ Swan và Edgar để chuyển sang làm cho Lewis và Allenby, một trong những cửa hàng vải lụa lớn nhất London

Năm 1845 tròn 20 tuổi, ông bỏ Anh sang Paris với rất ít tiền trong túi và vốn tiếng Pháp bán tạp phẩm Năm 1847, ông tìm được chổ làm tại Gagelin và Opigez, một trong những cửa hàng vải lụa có tiếng lớn nhất nước Pháp với kinh nghiệm sau 12 năm bán hàng và sau vài năm ông trở thành thợ may Với tài năng sáng tạo, cải tiến cách may đo thời đó ông bắt đầu bằng cách tìm những chất liệu vải thích hợp, ông dùng các kỹ thuật may đo của Anh để sáng tạo ra sự hoà hợp giữa các đường cắt và chất vải, ông luôn đòi hỏi sự vừa vặn và chuẩn mực cao Một trong những tiêu chuẩn cơ bản của thời trang hiện đại, nhờ vậy ông được tặng các giải thưởng ở Lodon và Paris

Năm 1858, đó là thời kỳ đế chế Napoleon thứ III, cùng với sự giúp đỡ của vợ, Worth mở ra nhà may mang tên ông tại số 7 đường Rue de la Paris Tầng lớp tư sản mới ở Paris là một đối tượng lí tưởng cho những chuyên gia có tài như ông, ông đã may áo cho công chúa Metternich - vợ của đại sứ Áo - bộ váy dạ hội mặc đến dự hội tại cung đình Tại đây, Worth đã được giới thiệu cho bà hoàng Eugénie Từ đó cửa hàng của ông trở thành nhà may đo cho hoàng cung Chỉ sau một thời gian ngắn nhà may của ông trở thành

“nhà độc tài” của thời trang thời bấy giờ Worth là người đầu tiên thoát ly hoàn toàn khỏi vai trò thuần tuý thợ may Trước ông, khách hàng đặt ra những yêu cầu và thuê thợ may may cho họ, Worth là người đầu tiên dám áp đặt quan điểm may mặc của ông lên khách hàng ( Xem hình 1.4)

Đây là lần đầu tiên xã hội có được khái niệm về Brand name (hàng xịn) loại quần

áo làm tại một nhà may nhất định với kiểu mẫu và mác áo riêng Để gây tác động mạnh hơn đến khách hàng, Worth còn thuê những cô gái trẻ, người mẫu mặc trước và trình diễn

Trang 15

cho khách xem Những người mẫu này thường được chọn trông giống với khách hàng để

họ dể hình dung Đó chính là nền móng của những cuộc trình diễn thời trang sau này

Cùng vời sự phát triển của nhà may, Worth cũng dần dần trở thành một trong những

người lãnh đạo thời trang thời bấy giờ, đoán trước và sáng tạo ra mốt cho từng thời kỳ,

Worth là cha đẻ của thời trang hiện đại Worth là người biến đổi hoàn toàn mối quan hệ

giữa khách hàng và Couturier Bắt đầu từ ông, Couturier không còn thuần tuý là thợ may,

người chỉ biết thực hiện ý định thời trang, mà họ đã trở thành những nhà tạo mẫu - những

Fashion designers - tên của Worth đã trở thành biểu tượng của Haute Couture

Thành công của ông đã làm các Couturier thời bấy giờ đều theo bước chân ông, những nhà may khác thành lập sau ông như Jeans Paquin, Paul Poiret Jaques Douhacest,… đều có cùng hoạt động và mang ý nghĩa như nhà may của ông Cũng có thể nói, từ sự đột phá của Charles Frederick Worth đã sinh ra ngành nghề thiết kế thời trang

và nó được phát triển toàn châu Âu và cả châu Mỹ Qua thời gian, cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật ngành nghề thiết kế thời trang cũng đã phát triển và cho ra đời những tuyệt tác thời trang gắn liền với tên tuổi với các nhà thiết kế như Coco Chanel, Christan Dior, Yves Saint Lauren, Mary Quant, Valentino, Giorgio Armani, Calvin Klein, Rauph Laurent, Lagerfeld,… ( Xem hình 1.5, 1.6, 1.7, 1.8, 1.9)

Hình 1.7 Chân dung Yves Saint Lauren và một số trang phục tiêu biểu do ông thiết kế

Hình 1.8 Chân dung Mary Quant và một số trang phục tiêu biểu do bà thiết kế

Trang 16

II QUÁ TRÌNH PHÁT TRIẾN DESIGN GIAI ĐOẠN 1950-1990

Khi nói đến lịch sử Design ta không chỉ đề cập đến sự phát triển về kỹ thuật, kinh

tế, thẩm mỹ và xã hội mà còn phải đề cập đến các yếu tố khác nữa như tâm lý, văn hóa và môi trường Lịch sử Design không chỉ là lịch sử của đồ vật và hình dáng của chúng, lịch

sử Design là lịch sử của các hình thức sống, là mối quan tâm và phong cách ứng xử trong quan hệ giữa con người và đồ vật được phản ánh phần lớn trong lịch sử văn hóa và nền văn minh của thế kỷ XX

Năm 1995, nhà nghiên cứu Kuethe Thun đã nghiên cứu và diễn tả bằng mô hình

sự phát triển Design trong giai đoạn 1950 -1990 như sau:

Hình 1.9 Chân dung Jeanne-Paquin và một số trang phục tiêu biểu do bà thiết kế

Trang 17

1 Giai đoạn 1950

Năm 1947 Liên đoàn thủ công Đức được tái lập sau chiến tranh thế giới lần 2, năm

1951 tại thành phố Darmstadt thành lập Vụ tạo dáng công nghiệp do Bộ kinh tế liên bang Đức quản lý, đây cũng là nơi đề xướng và đặt ra các chính sách khuyến khích và phát triển tạo dáng công nghiệp Những cơ quan chức năng này ngay cả sau năm 1945 vẫn giữ vững quan điểm ủng hộ chủ nghĩa công năng, không chấp nhận các khuynh hướng tạo dáng khác như chủ nghĩa lịch sử hoặc các phong cách có hình dáng hữu cơ

Xã hội dư thừa

Tự điều chỉnh Design cảm ứng

T.niên 90 T.niên 50

Xã hộ dư thừa Tín hiệu học

Trang 18

Khái niệm cái tốt là tiêu chuẩn thẩm mỹ của sự đơn giản và hợp lý, không có trang trí thừa Quan niệm này đã có ngay từ khi mới thành lập Liên đoàn thủ công Đức Năm

1949 khái niệm “Hình dáng tốt” đã trở thành tên gọi của một triển lãm do Mác Bill tổ chức ở Basel và Ulm Năm 1957 Mác Bill công bố cuốn sách của mình lấy tiêu đề như vậy và gây ảnh hưởng rộng rãi trong nhân dân “Hình dáng tốt” trở thành biểu tượng không chỉ có giá trị thẩm mỹ, mà còn có giá trị đạo đức Khái niệm đó có sức mạnh vững vàng trong nền Design Đức đến những năm 70 Hình dáng tốt - có nghĩa là sự đơn giản,

sự chuẩn xác, là bền lâu và là một hình dáng có tuổi thọ cao (Xem hình 1.10)

2 Giai đoạn 1960

Nếu ở thập niên 50 là những năm biến động thì đến thập niên 60 các nước có nền công nghiệp đã đạt được các thành tựu kinh tế đến đỉnh cao - mà ta gọi là kỳ quan kinh tế Đời sống kinh tế của đại đa số nhân dân được bảo đảm trong cuộc khôi phục - kỹ thuật phát triển với một tốc độ chưa từng có, cuối thập niên này là sự kiện con người chinh phục mặt trăng (Năm 1969 Edwin Aldrin và Neil Armstrong là người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng) Kỹ thuật và mức sống ổn định đã tác động mạnh vào Design và thói quen

Hình 1.10 Các sản phẩm tiêu dùng giai đoạn 1950

Trang 19

tiêu dùng của người dân ở châu Âu và ở Mỹ đã thành thông lệ Hàng hóa tràn ngập, hầu như gia đình nào cũng có vô tuyến truyền hình, loa stereo… nhu cầu mỗi gia đình có ô tô riêng và căn hộ riêng tăng vọt

Nội dung của Design không dựa vào cốt lõi của nghệ thuật để định hướng mà lúc này dựa vào kỹ thuật, khoa học và phương pháp sản xuất hiện đại để phát triển Sự tiến bộ vượt bậc của kỹ thuật trong giao thông, trong khoa học chinh phục vũ trụ, trong thông tin

và truyền thông cũng như sự khám phá ra các chất liệu mới như chất dẻo… đã đánh thức các nhà tạo dáng công nghiệp dám có những giấc mơ xa vời đến một tương lai xây dựng các ngôi nhà ở không tưởng và mạnh dạng tạo ra các sản phẩm mới với muôn hình vạn vẻ

và màu sắc bất ngờ Cuối thập kỷ này, tại châu Âu diễn ra các cuộc đấu tranh chống lại nếp sống tiêu thụ của một xã hội tư sản no đủ, buộc trong thiết kế phải đổi mới, phải phá

vỡ những định kiến cứng nhắc

Nguyên lý trong việc hình thành phong cách của Design Đức những năm 60 theo

mô hình Ulm là: chủ nghĩa công năng với hình dáng tốt Nguyên lý này đã được các cơ quan, các viện nghiên cứu, các trung tâm thiết kế và hội đồng mỹ thuật công nghiệp khác nhau coi là chuẩn mực và ứng dụng cho một cách giáo điều Các giảng viên của trường đại học tạo dáng công nghiệp Ulm làm việc tại các hãng như Braun, Vitosoe hay Rosenthal đã tham gia thiết kế các sản phẩm và tạo uy tín cho tên gọi “Hình dáng tốt” hay

“Design German”- yếu tố công năng và công nghệ được đề cao Khi nói đến danh hiệu Design người ta nghĩ ngay đến đó phải là nhà kỹ thuật, người kỹ sư chứ không phải là họa

sĩ thiết kế

Triết lý của “Hình dáng tốt” là hữu ích, hình dáng đơn giản, giá trị sử dụng cao,

tuổi thọ cao, bền lâu, hợp lý, dễ nhìn, xử lý bề mặt tốt, sử dụng vật tư hợp lý, chi tiết tinh

xảo, công nghệ và nhân trắc thích hợp, không gây hại đến môi trường Tại Ý xuất hiện

một nghề có tên gọi Consultant Designers: nghề tư vấn về tạo dáng có thể cùng một lúc làm việc cho nhiều hãng khác nhau Ý nghĩa và mục đích trong chiến lược kinh doanh của hãng tại Ý bao hàm cả tầng cao văn hóa Một trong các thí dụ điển hình nhất là chính sách của hãng Olivetti đã sử dụng các nhà thiết kế và kiến trúc sư trẻ tuổi như E.Sottass, M.Zanuso hoặc M.Bellini và đã cộng tác với họ (Xem hình 1.11)

Trang 20

Design ở đây không còn là việc riêng của các chuyên gia tạo dáng và kỹ thuật, mà còn là

sự nghiệp của kiến trúc sư, triết gia và nhà văn nữa Nước Ý đã sinh ra các nhà lý luận về tạo dáng công nghiệp vĩ đại như: G.Dorfles.G.C.Argan, V.Gregotti và sau nữa phải kể đến U.Eco Đội ngũ này đã tạo nên không khí nghệ thuật trên các tạp chí Design và kiến trúc rộng rãi trong công luận, điều mà tại Đức mãi đến thập niên 80 mới có được

3 Giai đoạn 1970

Những năm 60 là thời điểm đạt tới đỉnh cao của một xã hội tiêu dùng và của chủ nghĩa công năng, song chuyển sang nửa sau của thập niên này người ta đã thấy xuất hiện dấu hiệu của khủng hoảng Mọi sự gia tăng, mọi quá trình phát triển của bất kỳ một xu hướng nào đều có đỉnh điểm của nó và mở đầu những năm 70 (1973) thế giới được chứng kiến cú sốc về khủng hoảng dầu lửa

Sự no nê sung sướng, do có nhiều hàng hóa sản xuất hàng loạt và kết quả của các sản phẩm theo phong cách thực dụng của chủ nghĩa công năng trong thiết kế hiện đại ngày càng bị phê phán kịch liệt và vị trí của Design trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa trở nên nghi ngại Nhiều nhà tạo mẫu không muốn mình trở thành kẻ “Tiếp tay cho nền công nghiệp” Họ làm việc tự do và đi làm thể nghiệm với mong muốn sẽ là người tạo ra một thự tế mới được xã hội chấp nhận Những sự kiện chính trị sôi động tại các thành phố lớn của châu Âu, cuộc chiến tranh Việt Nam,… cũng làm cho Design thay đổi Ý nghĩa của một sản phẩm được thiết kế không chỉ mang biểu tượng của hình thức mà còn mang ý nghĩa xã hội

Thực tế đến lúc này lý thuyết của chủ nghĩa công năng không còn sức thuyết phục nữa Người ta đi tìm lối thoát khỏi sự bế tắc này Những thay đổi lớn trong đời sống văn hóa của các đô thị, đặt biệt tầng lớp thanh niên bị cuốn hút bởi các phong trào âm nhạc, Pop-art và phim ảnh mạnh mẽ Khởi đầu từ nước Anh, rồi Ý và sang lan Đức hình thành các phong trào cực đoan chống lại chủ nghĩa công năng trong kiến trúc và tạo dáng công nghiệp, chống lại quan niệm sản xuất hàng loạt của các Viện tạo dáng công nghiệp Tại

Mỹ xuất hiện đầu tiên các bài báo phê phán phái hiện đại trên các mặt văn hóa, tâm lý và biểu tượng trong kiến trúc, coi kiến trúc là trung tâm của vấn đề cần lên án và cũng từ đây bắt đầu sự ra đời của lý luận hậu hiện đại

Ở Đức, nơi chủ nghĩa công năng được ứng dụng một cách giáo điều trong kiến trúc

và Design, đặt biệt sau chiến tranh lại được ứng dụng cứng nhắc cho các khu dân cư mới xây dựng lại mà ngày nay chúng ta phải gánh lấy hậu quả của các qui trình hoạch tổng thể của thập niên 60 Nhiều vấn đề trong lý luận của chủ nghĩa công năng được xét lại, ngay

Hình 1.11 Các sản phẩm tiêu dùng giai đoạn 1960

Trang 21

cả quan điểm cho rằng không được đề cao vai trò của mỹ thuật trong quá trình phác thảo chẳng hạn (Xem hình 1.12)

Âm nhạc Pop ở Anh và phong trào Hippie trong thanh niên Mỹ đã tạo ra loại ngôn ngữ hình thể mới “Flower- Power” gắn bó mặt thiết với Pop-art của đồ họa, thời trang và trang trí nội thất theo con đường mới (hủy bỏ cái cũ), tác động vào sáng tác của các nhà Design Văn hóa quần chúng trong quảng đại thanh niên của thập niên 60 như âm nhạc Pop phản ảnh sự khước từ tính truyền thống, Pop-art (nghệ thuật Pop) tuyên chiến với những tiêu chuẩn thẩm mỹ của nghệ thuật Khắp nơi đua nhau làm nghề nghệ thuật; các

Hình 1.12 Các sản phẩm tiêu dùng giai đoạn 1970

Trang 22

loại đồ dùng bàn ghế, các loại tranh Comics và quảng cáo, tự thân vốn chẳng cao siêu gì

về mỹ cảm, mà nội dung còn kích động tầm thường được đưa vào tranh của R.Lichtenstein, T.Weselmann hoặc A.Warhol và trở thành nghệ thuật và được sử dụng làm khẩu hiệu tuyên truyền cho xã hội tiêu dùng

Xu hướng thẩm mỹ đó đã tác động vào Design Việc sử dụng chất dẻo đã cho phép các nhà thiết kế tạo ra các hình dáng hấp dẫn, lạ kỳ, uốn éo, lắm khi còn kích động và đồng hành với việc khước từ quan niệm sống mẫu mực của giới trung lưu Thế hệ thập niên 68 đã sinh ra mô hình trung dung Trong trang trí nội thất pha trộn giữa các đồ vật rẻ tiền, tầm thường bên cạnh các đồ đạc tự chọn, đồ ngoại lai bên cạnh đồ cổ điển, các đồ cũ

kỹ bên cạnh đồ dùng mới ra đời…tạo nên một không gian ở phức hợp Tác động của một nền văn hóa trẻ tuổi với lối sống xô bồ, cộng với những thành tựu của kỹ thuật và sự phấn khích của khoa học vũ trụ cùng với một xã hội tràn ngập phim ảnh…như cuốn phim đầy ấn tượng 200, với tiêu đề Odeysseetrong vũ trụ (1968) đã được coi là hướng đi tới

của tương lai và làm cho các nhà tạo dáng coi là tiêu chí cho sáng tác

4 Giai đoạn 1980-1990

Những năm 1980 là những năm đột biến, là thập kỷ có sự chuyển động như vũ bảo của kỹ thuật, xã hội, sinh thái, văn hóa và phong cách với tốc lực chưa từng có so với các thập kỷ đã qua Giống như trong lịch sử mỹ thuật, xuất phát từ nhận thức của nghệ thuật trong các năm 60 và 70 đã diễn ra nền “ Hội họa ngông cuồng ” thay thế cho hội họa biểu hiện và hình thể - thì trong kiến trúc và Design cũng chấm dứt sự thống trị của phái hiện đại và chủ nghĩa công năng Trong giai đoạn này người ta khó có thể đo được tác dụng và ảnh hưởng lớn lao của “Memphis” và cũng từ đây, năm 1980 đã xuất hiện “ Diễn đàn Design ” được tổ chức tại Linz (Áo) đề ra cương lĩnh cho Design phát triển Tại diễn đàn này, toàn bộ lịch sử Design được đánh giá, nội dung và ý nghĩa của Design cũng như mối quan hệ giữa đồ vật và người sử dụng được đề cao

Sự thừa nhận cho một đa phong cách và các xu hướng cũng chính là lối thoát khỏi ngõ cụt và chủ nghĩa công năng – đã hướng cho sự phát triển Design tren toàn châu Âu sang một trang sử mới Do vậy ý nghĩa của Design cũng đưuợc khẳng lại Những năm 80 được coi là thập niên của Design Design không chỉ được coi là vị trí then chốt của tiếp thị và quảng cáo, nó còn tham dự vào tổ chức phong cách sống, tạo ra thói quen tiêu dùng

và thái đô ứng xử xã hội Design đã trở thành phương tiện thông tin và trưng bày quảng cáo Những xu hướng phát triển Design mới có thể bộc lộ qua các quan điểm rất gần nhau:

- Xa rời sản xuất công nghiệp và tính duy lý của chủ nghĩa công năng

Trang 23

- Trong ý đồ sáng tác và thiết kế của mình phản ánh sức sống mãnh liệt của đô thị hóa, của lối sống gấp thông qua việc thay đổi liên tục mẫu mã, tác động mạnh của nền văn hóa lớn và đời sống hàng ngày gây dấu ấn trong các dự án, chương trình và hình thức của thiết

kế

Một nét mới là cho đến ngày nay các nhà thiết kế mới nhận ra phương pháp tiếp thị

là phương tiện thông tin có thể cạnh tranh với số lượng khá đông dân chúng đến thăm các bảo tàng Bên cạnh nhận thức đã thay đổi cho rằng nghệ thuật tạo dáng có một ý nghĩa quan trọng và có vai trò mới trong thực tiễn văn hóa, nền kỹ thuật phát triển mau lẹ của những năm cuối đã làm thay đổi hẳn tính năng của nhiều thiết bị và đồ dùng quen thuộc, yêu cầu ngành tạo dáng phải đáp ứng được trên nhiều lĩnh vực và nhiều cách thức sử dụng hoàn toàn mới mẻ Sự phát triển của nền kỹ thuật đã tác động mạnh mẽ một cách thường xuyên tới nền thẩm mỹ

Sự hấp dẫn của kỹ thuật thể hiện trong quá trình thẩm mỹ hóa ngày càng gia tăng Thuật ngữ “High Tech” được chấp nhận là thuật ngữ về phong cách trong kiến trúc và tạo dáng từ khi xuất bản cuốn sách cùng tên của S.Slezin và J.Kron năm 1978 Phong cách High-tech nhấn mạnh sự xuất hiện về phương diện công nghệ của các tòa nhà thông qua

sự bố trí ra bên ngoài các mạch lắp đăt và thang máy (Installationsleitungen und Aufzuege), các chi tiết thiết kế dầm chữ T, các gân chịu lực bằng thép… Ví dụ điển hình

là Trung tâm Pompidou (1977) của R.Piano và R.Rogers tại Paris, Ngân hàng Hồng Kông

- Thượng Hải (1981-1985) của Foster và tòa nhà Lloyd-of-London (1986) của R.Rogers

Năm 1979, ông chủ của hãng Sony A.Morita đã quyết định sản xuất một loại phương tiện bỏ túi để nghe nhạc - Walkman, mặc dù có sự phản đối của giám đốc thương mại của công ty Phương tiện này trong những năm 80 đã làm thay đổi cảm giác về cuộc sống và mức tiêu thụ âm nhạc trong nền văn hóa thanh niên một cách sâu sắc Từ đây người ta có thể nghe nhạc trong lúc đi tàu điện ngầm, đi mua hàng, v.v…Đài Walkman được sản xuất tới tận ngày nay với vô số kiểu dáng khác nhau Nguyên lý của nó trong thời gian qua đã được ứng dụng trong các đầu CD và các máy truyền hình (Watchman -1988), đầu video (Camcorder - 1983) cũng như trong kỹ thuật CD - Rom (Data - Discman 1991)

Quá trình phát triển nhất quán ngành vi điện tử có thể coi là dẫn đến sự biến mất của các vật thể công năng, trước kia là một yếu tố quan trọng cho công việc tạo dáng nay

đã trở thành không còn nhận biết nữa Nếu người ta có thể nhận ra công năng của máy chữ cơ khí một cách dễ dàng và theo dõi được công năng của máy chữ chạy điện, thì ở một đĩa mềm (vi tính) người ta hoàn toàn không có cách nào để nhận biết Với một loại

Trang 24

Hardware (phần cứng) như nhau có thể thõa mãn được nhiều công năng khác nhau Truyền đạt cho người xem một nhận thức mới của nhà tạo dáng trong thời đại vi điện tử, việc tạo bề mặt trước kia bị chế nhạo là Styling, thì nay phía người sử dụng coi đó là vị trí cầu nối giữa máy vi tính và con người, sẽ trở thành nhiệm vụ trung tâm của công việc tạo dáng Nghệ thuật tạo dáng nay không còn chỉ thiết kế ra các hình dáng cụ thể có thể sờ

mó được mà trong thời gian qua nó đã tham gia tổ chức sắp xếp các quá trình phi vật chất

và các thông tin (Xem hình 1.13)

Từ những năm 80 không còn chỉ thiết kế cho máy vi tính nữa mà là thiết kế bằng máy vi tính Các khái niệm CAD/CAM “Computer Aided Design”/ Computer Aided

Hình 1.13 Các sản phẩm tiêu dùng giai đoạn 1980

Trang 25

Manufacturing”= “Thiết kế dưới sự giúp đỡ của máy vi tính”/ “Sản xuất dưới sự trợ giúp của máy vi tính” đã trở thành những từ ngữ mang tính thần diệu đối với khả năng mới trong khâu lập kế hoạch và trong sản xuất, đặt biệt là đối với các sản phẩm của công nghệ cao Các chương trình đồ họa mới cho phép mô phỏng chuẩn xác sản phẩm trên màn hình, mà trong đó bên cạnh bản phác thảo người ta có thể gọi ra các dữ liệu kỹ thuật và kinh tế quan trọng và thay đổi chúng Ưu điểm của phương pháp này là đem lại cho ta sự thể hiện mang tính hình tượng cao và phát triển linh hoạt và mềm dẻo

Qua sự tăng vọt của công tác thiết kế trong những năm 80, vai trò của nó cũng được nêu bật trong chính sách của doanh nghiệp Phần lớn các mặt hàng tiêu dùng đến đầu những năm 80 đã trở nên chín muồi về mặt kỹ thuật và ở các thang giá liên quan về chất lượng coi như có chung một mặt bằng Trong cuộc cạnh tranh với các đối tác của mình các hãng sản xuất chỉ còn lại phương tiện để tạo ra sự khác biệt: đó là khâu thiết kế

Trong rất nhiều doanh nghiệp công tác thiết kế đã trở thành một bộ phận cấu thành tất yếu của diện mạo doanh nghiệp, tạo dáng sản phẩm là uy tín của doanh nghiệp cũng như của người tiêu dùng Trong việc này có một số hãng không đề ra một chính sách cụ thể nào cho công tác thiết kế mà chỉ sử dụng thuật ngữ này một cách chung chung Người

ta coi tất cả những gì trông sặc sỡ hơn, nghiêng ngả hơn cái thông thường là “tác phẩm Design”, ký tên một nhà thiết kế nổi tiếng (trong một số trường hợp đã lạm dụng tên một nhà thiết kế nào đó) và khi cần thiết có thể còn thêm vào “xuất bản có hạn” nhằm tăng thêm sức hấp dẫn đối với người mua Để đáp ứng vô vàn sở thích khác nhau người ta thực hiện quá trình tư nhân hóa những mẫu trang trí, bề mặt và các chi tiết bên ngoài trong khi vẫn giữ nguyên nội dung bên trong

Ngành tạo dáng ngày nay không thể nào bỏ qua vấn đề về môi trường, tạo ra một sản phẩm tốt nhưng phải bảo vệ môi trường và các nguồn tài nguyên Giới tiêu dùng phản ứng ngày một nhạy cảm hơn đối với vấn đề môi trường Hàng núi giấy được tẩy trắng bằng Clo, các nhãn giấy độc hại và các loại rác thải đặt biệt từ văn phòng buộc các nhà tạo dáng phải suy nghĩ một cách có ý thức hơn về các loại vật liệu và phương pháp sản xuất ra các sản phẩm mới Người ta đã cảm nhận được một cách rõ ràng sự nỗ lực của các nhà tạo dáng trong việc chống lại hình ảnh của họ như là “người trang trí marketing” và

họ muốn thể hiện sự cam kết của mình đối với xã hội và nhận thức đối với môi trường

Tạo dáng phù hợp với môi trường ngày nay không còn thỏa mãn với giải pháp thẩm mỹ thay thế từ xưa “đay thay nhựa” mà phải tạo ra những sản phẫm phức tạp cả trên lĩnh cực High Tech, có tuổi thọ cao, có thể tái sinh và đồng thời đáp ứng được một nền thẩm mỹ trình độ cao và thỏa mãn tính riêng tư Các sáng kiến trong việc này bao gồm từ

Trang 26

việc sử dụng hình thức bao gói ăn được làm từ tinh bột cho tới việc chế tạo máy vi tính hoàn toàn tái sinh được, trong đó không sử dụng một chất kết dính nào thừa Nhiệm vụ của ngành tạo dáng đã luôn thay đổi theo thời gian, luôn được mở rộng và trong thời gian qua đã không còn chỉ dừng ở việc tạo dáng sản phẩm Ngay cả khi người ta bỏ qua việc

sử dụng thuật ngữ một cách quá lạm dụng thì rõ rang ý nghĩa của ngành tạo dáng trong tương lai vẫn gia tăng cùng với việc mở rộng nhiệm vụ của lĩnh vực này Mặc dù đang có những than phiền về tình trạng các thị trường bị xé nhỏ, song sự đa dạng của sản phẩm và hình dáng sẽ tiếp tục gia tăng, bởi sự nỗ lực để đạt được tính riêng tư và để tạo ra sự phân biệt với các đối thủ cạnh tranh khác sẽ khuyến khích quá trình phát triển đó

Bức tranh của tình hình tạo dáng hiện hành sẽ ngày một phức tạp hơn, các nhà lý luận, các nhà phê bình và những người trong cuộc sẽ phải hành động giống như ở các lĩnh vực nghệ thuật đã có từ trước S(hội họa, kiến trúc…) và phải chọn cho mình những lĩnh vực chuyên môn và những vấn đề riêng lẻ đặc biệt (Xem hình 1.14, 1.15)

Hình 1.14 Các sản phẩm tiêu dùng giai đoạn 1990

Trang 27

III SỰ PHÁT TRIẾN TỪ Ý TƯỞNG ĐẾN THIẾT KẾ

Thế giới tự nhiên tồn tại một cách khách quan và được các nhà thiết kế cảm nhận, phản ánh qua nhiều cách nhìn khác nhau do những hạn chế, ảnh hưởng của hoàn cảnh tâm lý hoàn cảnh tức thời Sự tạo ra nó diễn ra trước hết là bằng các phương tiện thẩm mỹ thông qua các dạng quan niệm, phép ẩn dụ, các phong cách trí tưởng tượng và phép chiếu hình.,…thực tế là sự xây dựng tính thẩm mỹ

Nhà triết học Wolfgang Welsdi đã diễn đạt về vấn đề thẩm mỹ tại hội nghị thiết kế Châu Âu “Design quo vadis?” mang đến cho công chúng thêm hiểu biết về cái nhìn toàn

Hình 1.15 Các sản phẩm tiêu dùng giai đoạn 1990

Trang 28

cảnh về thẩm mỹ thiết kế đương đại, theo ông thì thẩm mỹ xâm nhập vào nhận thức chung, vào những ngóc ngách của xã hội và vào đầu óc từng cá nhân Suy nghĩ, nhận thức và tình cảm hiện nay của chúng ta thiên về một ý nghĩa rất đơn giản mang tính thẩm

mỹ Những hình ảnh và cư xử của thế giới hiện nay - những cái mang tính khoa học như những điều hằng ngày, tri thức và cảm xúc - tất cả những thứ đó điều được xác định bởi những tiền đề thẩm mỹ Con người đang sống trong thời đại thẩm mỹ, chúng ta bắt đầu mọi thứ với cái bề ngoài Một sự thịnh vượng đột ngột về thẩm mỹ đã nắm giữ những mối quan hệ tiêu thụ về phong cách cá nhân và các nhu cầu làm đẹp của con người Thẩm

mỹ được chuyển lên phía trước dành cho kinh tế, sự tăng trưởng của thẩm mỹ có thể khẳng định được thẩm mỹ xuất phát từ biến đổi của tưởng tượng thực tế, sự thật hoàn toàn là kiểu kiến trúc dựa trên những tiền đề và những thực hiện mang tính thẩm mỹ (Xem hình 1.16)

Vai trò của người thiết kế là tổ chức được cảm giác chung, tâm lý chung trong khi

sử dụng sản phẩm của người tiêu dùng Sản phẩm thiết kế phải lay động được lòng người tiêu dùng Điều đó dẫn đến sự thay đổi lớn lao nhiệm vụ của thiết kế Không chỉ xoay quanh các chức năng thẩm mỹ hướng vào “vẻ đẹp” hoặc “hình thức tốt” mà còn phải liên tục đưa ngữ nghĩa và biểu tượng vào sự hoàn hảo của thiết kế Thiết kế hoàn toàn trở thành cái tên mà nó biểu lộ, trở thành một công việc của “designare” (dấu hiệu) của mô

tả Thế giới đô vật hướng về thế giới công việc và cuộc sống ở khắp nơi, từ đó xuất hiện mối liên kết vô hình giữa thiết kế trong ý nghĩa hẹp - mẫu mã sản phẩm và thiết kế theo nghĩa rộng - và bộ mặt cuộc sống Thiết kế trở thành hình dạng của một khuôn khổ của phong cách sống và của bộ mặt xã hội Khi bắt đầu thiết kế một tác phẩm hay bất cứ một thứ gì, việc bắt đầu sẽ là tìm ý tưởng

Để đạt được một ý tưởng tốt, các nhà thiết kế phải suy nghĩ, vận động rất nhiều, không phải lúc nào cũng có thể suy nghĩ và tìm thấy được ý tưởng thiết kế, ý tưởng thiết

kế có thể đến một cách bất chợt, nhưng cũng có nhiều lúc những người thiết kế ngồi hàng giờ trước tờ giấy trắng mà không đạt được bất cứ một ý tưởng nào Khi đó, không phải là

họ không có khả năng sáng tạo, mà chỉ đơn giản là do họ chưa tìm được cách để nắm bắt được tất cả những ý tường của mình, mà có thể là họ chưa có phương pháp để hoạt động não hiệu quả Một trong những phương pháp giúp cho não của con người hoạt động một cách hiệu quả và sáng tạo là phương pháp Brainstorming Phương pháp Brainstorming không chỉ dành riêng cho những họa sĩ bậc thầy hay những nhà thiết kế đồ họa lâu năm

mà còn có thể được sử dụng bởi tất cả mọi đối tượng, những người cần tới sự sáng tạo, tìm kiếm cái mới cho dù họ là họa sĩ, kỹ sư hay một chuyên gia kinh tế Brainstorming

Trang 29

(công não) là một kỹ thuật tạo ra ý tưởng trong công việc làm việc theo nhóm Kỹ thuật này được sáng tạo từ năm 1957, nhằm giải quyết các vấn đề Nó được miêu tả trong cuốn sách Applied Imagination do Alex F Osborn, một nhà quản trị quảng cáo Brainstorming được sử dụng trong các công việc sau đây phát triển sản phẩm mới, quảng cáo, giải quyết vấn đề, quá trình quản trị, quản trị dự án, xây dựng nhóm, xây dựng kế hoạch kinh doanh Brainstorming có ý nghĩa rất lớn trong các công việc hàng ngày của chúng ta, quan trọng với các công việc của doanh nghiệp, các dự án.Khi sử dụng kỹ thuật công não, cần phải chuẩn bị một cây bút và giấy trắng để có thể viết hoặc vẽ tất cả những điều đang suy nghĩ ra, bất cứ lúc nào cũng có thể viết hoặc vẽ bất cứ thứ gì có trong suy nghĩ ra mặt giấy (brain dumping), không cần phải suy nghĩ nó là một ý tưởng tốt hay chỉ là một suy nghĩ thoảng qua trong đầu Cũng không cần phải bận tâm đến việc mình có viết đẹp, vẽ đẹp hay không, nếu cần diễn tả một hình ảnh, cứ việc vẽ ra nếu bạn thích, nhưng hãy phác hoạ thật nhanh chóng, hay khi phát hiện ra mình viết sai thì cũng chẳng cần phải quay lại để sửa chữa, hãy để suy nghĩ của bạn liên tục Đừng chỉ suy nghĩ về chỉ một thứ

mà hãy suy nghĩ đến tất cả những thứ có liên quan đến nó

Khi bắt đầu thực hiện phương pháp Brainstorming, phải lưu ý thực hiện từng bước sau:

Bước 1: Quan sát những điều mới mẻ

Khi đứng trước một đồ vật có hình dáng lạ, câu hỏi đầu tiên của bạn sẽ là chính xác đây là cái gì? Nó có công dụng gì và dùng ra sao? Chính sự phán đoán khi không biết

rõ sẽ dẫn tới những ý tưởng thú vị, ngay cả khi những phán đoán đó hoàn toàn không đúng với thực tế Đã bao giờ bạn nghĩ một cây Antena có kiểu dạng lạ là một cây cột thu lôi hay chưa? Hay mỗi ngày khi đi về nhà, bạn đều đi đúng một con đường duy nhất, nhìn cùng một cảnh vật nên lâu ngày sẽ chẳng buồn ngó đến cảnh vật xung quanh Hãy thử một lần khám phá một con đường mới về nhà mà bạn chưa từng đi, khi đó bạn thấy bạn

sẽ phải chú ý đến cảnh vật xung anh nhiều hơn Du lịch, gặp gỡ những người bạn mới đều là những cách để khám phá và tích lũy những ý tưởng mới để có thể sử dụng khi cần thiết

Bước 2: Quan sát thật kỹ những gì tồn tại xung quanh

Đã bao giờ bạn nhìn kỹ một vết loang trên bàn gỗ, trên bàn làm việc một cách thật

tỉ mỉ, thật gần để tìm hiểu nó là do trà để lại, café hay cái đã tạo ra nó hay không … Nhìn

kỹ những bảng hiệu, con người trên đoạn đường đi về hàng ngày, bạn sẽ nhật thấy những điều vô cùng ngạc nhiên mà bình thường bạn bỏ qua hay nghĩ là không cần thiết Hãy tìm cách suy nghĩ phát triển những điều mình thấy, ví dụ như nhìn thấy một ngã tư, bạn hãy

Trang 30

hình dung nếu có đèn tín hiệu giao thông thì sẽ thế nào? Nếu không có thì sao hay thậm chí giải sử có một vòng xoay thì giao thông và cảnh vật sẽ thế nào? Cuối cùng, hãy quan sát thật kỹ những thành phần cấu tạo nên thứ bạn đang nhìn Có trong tay một hộp quà, hãy khoan vội mở nó ra để lấy thứ bên trong, hãy quan sát thật kỹ tới hộp đựng, giấy gói,

nơ, hoa văn trên giấy, kết dính ra sao? …

Bước 3: Kết hợp nhiều ý tưởng để tạo ra ý tưởng mới

Đây là một bước vô cùng quan trọng trong việc tìm kiếm những ý tưởng mới Giả

sử ta có một cây đèn và một chiếc đồng hồ trong tay, nếu kết hợp chúng lại thì sẽ như thế nào? Một cây đèn có gắn đồng hồ? Một chiếc đèn hẹn giờ bật tắt? Một chiếc đồng hồ dạ quang? Hay đồng hồ sử dụng năng lượng ánh sáng? Một chiếc đồng hồ du lịch có thể phát sáng để soi đường? Kết hợp hai hay nhiều thứ khác nhau lại với nhau theo chức năng, hình dạng, cấu tạo và bạn sẽ bất ngờ với những ý tưởng mới nghe có thể là vô lý những hoàn toàn có thể là bước bắt đầu cho một sản phẩm đột phá

Bước 4: Đặt ý tưởng trong những điều kiện khác thường và đối nghịch

Cố gắng khai thác sự đối nghịch với ý tưởng đang có sẽ giúp ta có 2 ý tưởng hoàn toàn khách nhau Ví dụ như tại sao phải xây một ngôi nhà đầy góc cạnh mà không xây một ngôi nhà tròn? Hay tại sao phải lắp ráp một máy tính có kích thước lớn mà không lắp ráp một máy tính thật nhỏ gọn, tiết kiệm diện tích? Bên cạnh đó hãy đặt ý tưởng vào trong những điều kiện khác thường Ví dụ một chiếc máy tính thu nhỏ hết cỡ thì sẽ như thế nào, có thể xách tay, có thể bỏ túi áo, hay thậm chí có thể ghép dưới da? Một chiếc bánh nếu phóng thật lớn trông nó sẽ ra sao?

Bước 5: Phải biết đặt ra những giới hạn và luật lệ khi Brainstorming

Việc liệt kê các ý tưởng một cách lan tràn sẽ dễ dẫn tới đi qua xa vấn đề cần giải quyết nếu bạn không đặt ra một hàng rào giới hạn nó và thực hiện theo Ví dụ, khi nghĩ

về quảng cáo một loại nước hoa thì bạn không phải suy nghĩ phát triển ra tới tình hình thế giới, hay khi tìm hiểu về con đường thì không cần phát triển ý tưởng lan qua lãnh vực thể thao chẳng hạn Giới hạn hợp lý giúp bạn tập trung vấn đề và kiếm thật nhiều ý tưởng hữu dụng mà không mất quá nhiều thời gian, nhưng nếu giới hạn quá nhỏ có thể sẽ giới hạn luồng suy nghĩ của bạn Đến đây bạn đã nắm bắt được cơ bản của kỹ thuật Brainstorming Ý tưởng sáng tạo là thứ đóng vai trò quyết định trong bất cứ lĩnh vực nào

và giới hạn của bộ não bạn là vô cùng Hãy kết hợp và sử dụng Brainstorming đúng lúc

để khai thác nó một cách hiệu quả nhất Tập thành thói quen thúc đẩy não làm việc hết sức khi cần ý tưởng Hãy nhớ rằng một ý tưởng tốt là bước đầu tiên để có một tác phẩm hoàn hảo

Trang 31

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG I

1 Hãy nêu khái niệm Design

2 Hãy trình bày tóm tắt quá trình hình thành ngành nghề thiết kế thời trang giai đoạn đầu

3 Hãy trình bày các quá trình phát triển Design giai đoạn 1950-1990

4 Hãy phân tích sự phát triển từ ý tưởng đến thiết kế sản phẩm nói chung

Hình 1.16 Các sản phẩm được thiết kế tạo dáng từ những ý tưởng độc đáo

Trang 32

Chương II

KHÁI QUÁT VỀ THIẾT KẾ THỜI TRANG

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THIẾT KẾ THỜI TRANG

1 Khái niệm thiết kế thời trang

Trong một xã hội hiện đại khi nhu cầu và trình độ văn hóa, nghệ thuật - thẩm mỹ ngày càng tăng cao thì nghề thiết kế thời trang (Fashion design) đang được xem như một trong những nghề thời thượng được nhiều bạn trẻ chọn lựa Lý do cũng chính bởi sức hấp dẫn của nó ở tính năng động, khả năng sáng tạo tối đa và cả ánh hào quang trong mắt công chúng của nghề này Thiết kế thời trang được xem như một môn nghệ thuật ứng dụng đòi hỏi nhà thiết kế phải có tài năng và óc sáng tạo không ngừng nghỉ Các sáng tạo của họ không chỉ đơn thuần là về kiểu dáng trang phục mà còn bao gồm các phụ kiện sao cho phù hợp với văn hóa, xã hội và thời đại

Tuy nhiên, khái niệm về nghề thiết kế thời trang được hiểu khá rộng Người thiết kế

có thể là người trực tiếp đứng ra thiết kế hoặc cũng có thể là người quản lý một đội ngũ thiết kế ở một công ty thời trang hay tự gây dựng một nhãn hiệu thời trang riêng Đây là ngành nghề phù hợp với các bạn trẻ yêu thích mỹ thuật, thời trang và có năng khiếu trong những lĩnh vực này Có thể hiểu một cách khái quát về khái niệm thiết kế thời trang như

sau: Thiết kế thời trang là một ngành nghề ứng dụng nghệ thuật và kỹ thuật để sáng tạo

ra sản phẩm thời trang

2 Nhà thiết kế thời trang

Nhà thiết kế thời trang là những người sáng tạo, tìm tòi, nghiên cứu để cho ra đời những tác phẩm thời trang giúp làm đẹp cho con người, cho cuộc sống.(Xem hình 2.1) Những tác phẩm thời trang được chia làm hai hướng riêng biệt, một là hướng trình diễn nghệ thuật và hướng thứ hai là ứng dụng thực tế Hướng trình diễn nghệ thuật là để các nhà thiết kế thể hiện ý tưởng thẩm mỹ, thử nghiệm các kỹ thuật hay chất liệu mới trong cắt may, hoặc thể hiện cái tôi trong nghệ thuật tạo nên những bộ trang phục mang tính nghệ thuật biểu diễn nhằm quảng bá tên tuổi nhà thiết kế hoặc thương hiệu thời trang Còn hướng ứng dụng thực tế giúp tạo ra những bộ quần áo thường ngày mà mọi người vẫn mặc ở nhà, đi tiệc hay công sở Thông thường, những thử nghiệm thiên về trình diễn nghệ thuật là ý tưởng ban đầu cho việc thiết kế các mẫu thời trang ứng dụng Các bộ sưu

Trang 33

tập nặng về trình diễn là để tạo ấn tượng và khẳng định phong cách trước đồng nghiệp, các nhà chuyên môn Còn các bộ sưu tập mang tính ứng dụng thì để nhắm tới số đông

Trang 34

người tiêu dùng Đó là hai mặt không thể tách rời của thời trang, thiếu một trong hai, thời trang sẽ mất đi tính chất đặc trưng, vì thời trang là tổng hợp của nghệ thuật và kinh doanh

Các nhà thiết kế thời trang là những nghệ sĩ đằng sau sàn diễn (catwalk) Là những nghệ sĩ nên yếu tố đầu tiên không thể không nhắc đến là niềm đam mê nghệ thuật, vì là những người góp phần tô điểm cho vẻ đẹp cuộc sống nên họ có những cái nhìn thẩm mỹ rất cao Và để nâng cao các giá trị thẩm mỹ thì họ không ngừng tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo để tạo ra nhiều vẻ đẹp phong phú, đa dạng Như vậy, nhà thiết kế thời trang cần có:

- Năng khiếu tạo hình, óc thẩm mỹ cao

- Yêu vẻ đẹp của con người

- Óc sáng tạo và thực tế

- Tính kiên trì, sự bền bỉ và cầu thị

- Đôi bàn tay khéo léo

- Vốn văn hóa sâu rộng và thực sự say mê nghề nghiệp

Thêm nữa, muốn đứng vững trong nghề này, nhà thiết kế trước hết phải làm chủ

ba yếu tố then chốt:

- Kĩ thuật cắt may

- Công nghệ chế tạo các vật liệu

- Nhạy cảm về thẩm mỹ

Bất kì nhà thiết kế thời trang nào cũng phải trang bị cho bản thân những kiến thức

về mỹ thuật, chất liệu vải, cắt may nên những tác phẩm thời trang ra đời là cả một quá trình nghiên cứu và tìm chất liệu, sáng tạo mẫu, đăng ký giấy phép, làm việc với nhà may, với người mẫu, thợ ảnh, các công tác truyền thông

Công việc chung của một nhà thiết kế thời trang thường bao gồm:

- Nghiên cứu các yếu tố thị trường, khách hàng, các xu hướng thời trang để định hình cho những thiết kế của mình

- Chọn chất liệu vải và đồ trang sức đi kèm

- Kết hợp những nguyên tắc, kĩ thuật may, xếp nếp với mô hình phẳng để tạo nên sản phẩm

Trang 35

- Sửa sang lại sản phẩm cho hợp lý và hoàn chỉnh hơn

- So sánh kiểu mẫu của mình với những kiểu mẫu của đối thủ cạnh tranh

- Đọc các tạp chí thời trang và tham dự các buổi trình diễn thời trang để cập nhật những

xu thế thời trang mới của thời đại

3 Vai trò và trách nhiệm của nhà thiết kế thời trang

Nhà thiết kế thời trang cũng là một nghệ sĩ, người nghệ sĩ này phải vừa tự diễn tả mình (diễn tả những ý tưởng cá nhân được thôi thúc từ bên trong) vừa phải giải quyết các vấn đề của một vấn đề có sẳn ngoài kia (các vấn đề được thôi thúc từ bên ngoài, ví dụ khuynh hướng thời trang, thị hiếu khách hàng,…) Vai trò chính của nhà thiết kế là tạo ra trào lưu thời trang, làm đẹp cho đời, cho xã hội qua những sản phẩm thời trang Qua đó nhà thiết kế định hướng thẩm mỹ trang phục cho người tiêu dùng, góp phần tạo nên bộ một mặt xã hội thêm đa dạng, văn minh, lịch sự Những nhu cầu của nhà thiết kế đang thay đổi nhanh chóng, nhiều người quan niệm rằng nghệ thuật và thiết kế là một Trong quá khứ, nhiều nhà thiết kế đã được huấn luyện từ những trường nghệ thuật, ví dụ nhà thiết kế thời trang Minh Hạnh, Sĩ Hoàng, …là những nhà thiết kế thời trang hàng đầu Việt Nam được đào tạo từ trường Đại học Mỹ thuật Thế nhưng những yêu cầu đối với nhà thiết kế và những gì nhà thiết kế phải xem xét lúc phát triển một tác phẩm thiết kế vượt xa những khía cạnh mỹ thuật và nghệ thuật thuần túy Để thiết kế những sản phẩm thực tế ứng dụng trong đời sống, nhà thiết kế phải có sự hiểu biết về kỹ thuật cần thiết cho sự sản xuất cũng như hiểu biết về các loại nguyên phụ liệu được dùng trong thiết kế may mặc Tuy nhiên, nhà thiết kế thời trang không cần bắt buộc phải là một chuyên viên trong tất cả các lĩnh vực nghệ thuật, kỹ thuật, dệt sợi,…mà chỉ cần có một sự hiểu biết nhất định nhằm thiết kế các sản phẩm có thể sản xuất một cách thực tế

Hình 2.1 Một số NTK nổi tiếng tại Việt Nam hiện nay, từ trái qua phải là nhà thiết kế

Minh Hạnh, Sĩ Hoàng, Trương Anh Vũ, Ngô Thái Uyên và Võ Việt Chung

Trang 36

Những vấn đề trong tiến trình sản xuất có thể được tránh khỏi ở một giai đoạn sơ khởi khi nhà thiết kế làm hiểu và làm đúng vai trò, trách nhiệm của mình khi vừa là một nhà nghệ thuật vừa là một nhà thiết kế và đồng thời cũng là một kỹ thuật viên Hay nói cách khác thì thiết kế thời trang là gạnh nối giữa nghệ thuật và kỹ thuật, đòi hỏi nhà thiết

kế thời trang phải có óc nghệ thuật, có sự hiểu biết về những khía cạnh kỹ thuật và còn phải có sự am tường thông tin giữa thiết kế và sản xuất, đảm bảo là thành phẩm cuối cùng

sẽ gần với quan niệm sơ khởi, ý tưởng ban đầu và thời gian thực hiện từ ý tưởng đến thành phẩm được tối thiểu hóa Muốn tồn tại và phát triển với nghề lâu dài, đòi hỏi nhà thiết kế phải biết sáng tạo không ngừng, phải biết vận dụng khoa học để giải quyết các vấn đề, hiểu biết những kết quả nghiên cứu mới và sử dụng những kết quả này một cách sáng tạo hơn là nhìn vào một giải pháp cho một thiết kế đã có sẳn

4 Khuynh hướng thời trang

Trong công việc thiết kế và phát triển một sản phẩm, tầm quan trọng của thiết kế

là tạo ra sự khác biệt với những sản phẩm khác, mẫu thiết kế sản phẩm phải có tính độc đáo, duy nhất Tuy nhiên, làm cho sản phẩm của mình khác biệt không thì cũng không có nghĩa là đảm bảo là hàng của mình bán chạy, và trong khi sản phẩm của mình khác biệt thì mẫu thiết kế vẫn phải theo những khuynh hướng chung của thời trang trong nước và thời trang thế giới Sự khác biệt với những thiết kế khác mà vẫn giữ được sự tương tự có

lẽ là khía cạnh khó khăn nhất của thiết kế thương mại Có rất nhiều nhà thiết kế trẻ phải lúng túng tự hỏi làm thế nào để nhìn và hiểu được khuynh hướng thời trang, làm thế nào

để dự đoán là một thiết kế sẽ bán chạy hay không Vai trò của nhà thiết kế là phải giải thích tin liệu xu hướng, không phải là bắt chước những gì người khác đang làm Tin liệu

xu hướng bao gồm có những phát triển mới trong kỹ thuật, tin liệu này được áp dụng cho mỗi công ty riêng biệt và thị trường liên hệ, đồng thời được biến đổi để thích hợp với kỹ thuật có sẳn Những câu hỏi luôn làm mọi người phải suy nghĩ là khuynh hướng đến từ đâu?

Khuynh hướng thời trang là những gì chúng ta tiên đoán thời trang trong tương lai

sẽ ra sao Những gì chúng ta suy nghĩ thì lịch sử sẽ cho chúng ta biết sau năm mươi năm nữa, khuynh hướng là trước mắt chúng ta trong khi lịch sử là sau lưng Khuynh hướng trong thời trang tương lai không phải là về các kiểu đường lai, chiều rộng vai, các kiểu

cổ, độ rộng của áo, quần, ,….mặc dù các yếu tố trên có thể bị ảnh hưởng bởi sự giải thích của các nhà thiết kế về khuynh hướng thời trang Có câu nói “Thời trang là phản ánh của thời đại” có nghĩa là khi nhìn vào lịch sử thời trang, chúng ta có thể thấy phản ánh của cái

gì đã xảy ra trong thời gian đó, có thể là những phản ánh của tình trạng kinh tế, chính trị,

Trang 37

xã hội, tôn giáo, …vào một khoảng thời gian cụ thể nào đó (Xem hình 2.2, 2.3, 2.4, 2.5, 2.6, 2.7, 2.8) Một ví dụ của những thay đổi kinh tế, chính trị được phản ánh trong thời trang là thời trang phương Tây như thế nào trong thế chiến thứ II Vì chiến tranh, có sự thiếu hụt của vải vóc và giới hạn được áp đặt trên lượng bao nhiêu mét cho một cái áo, vì mỗi người chỉ được định mức ba mét vải nên không thể thiết kế những cái váy dài mà thay vào đó là những chiếc áo, váy hẹp hoặc những bộ áo đầm hẹp và ngắn Gần đây hơn, thời trang “Grunge" của những năm đầu của thập niên 90 là sự phản ánh của sự suy thoái kinh tế, đồng thời là sự ảnh hưởng trở lại của thập niên 80 thịnh vượng và giàu có

Thời trang hiện tại là cầu nối giữa lịch sử thời trang và khuynh hướng thời trang trong tương lai, để tiên đoán thời trang trong tương lai, chúng ta cần phải xét những khía cạnh xã hội và kỹ thuật nào sẽ ảnh hưởng đến cái nhìn lúc đó Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần quan tâm đến các kiểu thời trang tại các trung tâm thời trang lớn như Paris, NewYork, Milan, London, Tokyo,… vì đây là những thành phố lớn, những trung tâm thời trang được tập trung các nhà thiết kế danh tiếng, tài ba và là nơi mua sắm thời trang sầm uất, những kiểu mẫu thời trang phong phú đa dạng Những trung tâm này có những kiểu thời trang đặc trưng riêng theo từng khu vực nhưng vẫn theo cùng một khuynh hướng chung Tất cả những trung tâm này đều giải thích những khuynh hướng trong một cách duy nhất và cá biệt nhưng đều bị ảnh hưởng bởi những khuynh hướng đồng nhất (tổng quát) và cho mẫu mốt của họ một cá tính có thể nhận diện được Nhìn lại sự phát triển của những trung tâm thời trang khác nhau, những mẫu mốt đã được tạo ra nói lên một điều gì đó về lối sống ở những nơi này

Thời trang là phản ánh của xã hội nói chung, cụ thể thời trang còn phản ánh lối sống của người dân Chẳng hạn như nước Pháp thường được coi là “vua”, là “kinh đô” về thời trang, là nơi mà mọi người nhìn về để được hướng dẫn mẫu mốt thời trang, trong khi

đó mẫu mốt thời trang của Hoa Kỳ được phát triển như là một phản ứng đối với thời trang của Pháp Phụ nữ Hoa Kỳ nhận ra rằng thời trang của Pháp không thích hợp cho lối sống hoạt động của phụ nữ Hoa Kỳ, phụ nữ Hoa Kỳ thích sự tự do, thoải mái, du lịch,…

và quan trọng nhất là họ muốn sự tiện nghi Do sự ưa thích tiện nghi này mà phát triển ra những thiết kế thời trang để mặc tiện nghi hơn, sự phát triển của hàng Polyester giặt được

và không cần ủi của Dupont là sự đáp ứng cho lối sống tiện nghi của Hoa Kỳ

Nhiều quốc gia chẳng hạn như Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc trong quá khứ chú trọng đến sự sản xuất cần nhiều lao động, bây giờ muốn phát triển một kỹ nghệ thiết

kế Chúng ta không thể biết một thiết kế sẽ bán chạy hay không, nhưng sản phẩm có một

cá tính thích hợp với khuynh hướng hiện hành làm cho mọi người ưu tiên lựa chọn hơn

Trang 38

Nguồn gốc tốt nhất cho cá tính duy nhất đó là nền văn hóa và lối sống riêng của cộng đồng, dân tộc Thời trang Hoa Kỳ là phản ánh nếp sống tự do, thoải mái, tiện nghi,…của Hoa Kỳ Nhưng vẫn có nhiều quốc gia vẫn theo thời trang của Hoa Kỳ, điều đó có nghĩa

là có những cơ hội xuất khẩu, giao thương về thời trang giữa các nước, điều này đã làm cho các thời trang các nước bị ảnh hưởng bởi những khuynh hướng đồng nhất Sự thành công của những thiết kế Calvin Klein và những thiết kế về mặt hàng Jean là một ví dụ của sự ảnh hưởng lối sống của Hoa Kỳ đến với người tiêu dùng thời trang thế giới Như vậy giới tiêu thụ thời trang có thể mang hình ảnh của nhiều quốc gia khác nhau, và hình ảnh đó có thể là hình ảnh quốc gia và lối sống của một nhà thiết kế nào đó,…do vậy nhà thiết kế cần phải làm cho mọi người lưa chọn thiết kế của mình hơn là thiết kế khác bằng nhiều sự nổ lực, tích cực lao động để mẫu thiết kế của mình luôn đạt đến độ thẩm mỹ cao, độc đáo có cá tính riêng biệt mà vẫn theo môt khuynh hướng chung toàn cầu

Hình 2.2 Khuynh hướng thời trang thập niên 1930

Trang 39

Hình 2.3 Khuynh hướng thời trang thập niên 1940

Hình 2.4 Khuynh hướng thời trang thập niên 1950

Hình 2.5 Khuynh hướng thời trang thập niên 1960

Trang 40

Hình 2.5 Khuynh hướng thời trang thập niên 1960

Hình 2.6 Khuynh hướng thời trang thập niên 1970

Hình 2.7 Khuynh hướng thời trang thập niên 1980

Hình 2.8 Khuynh hướng thời trang thập niên 1990

Ngày đăng: 30/10/2022, 14:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm