1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

kl nghien cuu cac giai phap hoan thien 628 4

57 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Các Giải Pháp Hoàn Thiện Quy Trình Xử Lý Rác Thải Theo Công Nghệ A.B.T Tại Huyện An Phú Tỉnh An Giang
Tác giả Nguyễn Văn Sắc
Người hướng dẫn ThS. Đinh Thị Việt Huỳnh, ThS. Kiều Đỗ Minh Luân
Trường học Trường Đại Học An Giang
Chuyên ngành Kỹ Thuật Môi Trường
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU (6)
  • CHƯƠNG 2. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU (7)
    • 2.1. Khái niệm và nguồn gốc phát sinh rác thải (7)
    • 2.2. Thành phần và tính chất của rác thải (9)
    • 2.3. Ảnh hưởng của rác thải đến môi trường và sức khỏe cộng động (10)
    • 2.4. Tổng quan về các công nghệ kỹ thuật xử lý rác (0)
    • 2.5. Tổng quan về tình hình quản lý, xử lý rác thải nông thôn tỉnh An Giang .11 2.6. Một số mô hình quản lý rác nông thôn trên địa bàn An Giang (16)
    • 2.7. Nhận định chung (19)
  • CHƯƠNG 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (21)
    • 3.1. Đối tượng nghiên cứu (0)
    • 3.2. Thời gian nghiên cứu (21)
    • 3.3. Mục tiêu nghiên cứu (21)
    • 3.4. Nội dung nghiên cứu (21)
    • 3.5. Phương tiện và vật liệu nghiên cứu (22)
    • 3.6. Phương pháp nghiên cứu (23)
  • CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ THẢO LUẬN (24)
    • 4.1. Hiện trạng quản lý, xử lý rác thải trên địa bàn huyện An Phú (24)
    • 4.2. Hiện trạng quản lý, thải bỏ và sự cần thiết thực hiện xử lý rác thải tại xã Vĩnh Lộc (27)
    • 4.3. Nghiên cứu, khảo sát các qui trình xử lý rác thải bằng công nghệ A.B.T. 24 4.4. Xây dựng và hoàn thiện quy trình xử lý rác thải sinh hoạt bằng công nghệ A.B.T. tại xã Vĩnh Lộc, huyện An Phú (29)
  • CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (0)
    • 4.1. Kết luận (0)
    • 4.2. Kiến nghị (0)
  • PHỤ LỤC (52)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (56)

Nội dung

Rác thải đô thị bao gồm các loại rác thải phát sinh từ các hộ gia đình, khu công cộng, khu thương mại, các công trình xây dựng, khu xử lý chất thải…, trong đó, rác thải sinh hoạt sinh ra

LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

Khái niệm và nguồn gốc phát sinh rác thải

Rác thải là các chất rắn bị loại bỏ trong quá trình sống, sinh hoạt và sản xuất của con người và động vật Ở đô thị, rác thải đô thị bao gồm các loại rác phát sinh từ hộ gia đình, khu công cộng, khu thương mại, các công trình xây dựng và khu xử lý chất thải; rác thải sinh hoạt từ hộ gia đình chiếm tỷ lệ cao nhất.

2.1.2 Nguồn gốc phát sinh rác thải

Thông thường rác thải phát sinh từ các nguồn sau:

- Khu thương mại (nhà hàng, khách sạn, siêu thị, chợ )

- Cơ quan, công sở (trường học, trung tâm và viện nghiên cứu, bệnh viện )

- Khu xây dựng và phá hủy các công trình xây dựng

- Khu công cộng (nhà ga, bến tàu, công viên, khu vui chơi, đường phố )

- Nhà máy xử lý chất thải

Chất thải đô thị có thể xem như chất thải công cộng ngoại trừ các chất thải rắn từ quá trình sản xuất công nghiệp và nông nghiệp

Rác thải có thể phân loại bằng nhiều cách khác nhau:

Phân loại chất thải theo nguồn gốc phát sinh giúp quản lý rác hiệu quả và giảm thiểu tác động đến môi trường Theo phương pháp này, rác được chia thành rác thải sinh hoạt, rác văn phòng, rác thương mại, rác công nghiệp, rác đường phố và chất thải phát sinh trong quá trình xây dựng hoặc đập phá nhà xưởng Nhận diện đúng nguồn gốc không chỉ tối ưu quy trình thu gom và xử lý mà còn tạo điều kiện cho các hoạt động tái chế và phân loại tại nguồn, từ đó tiết kiệm chi phí và nâng cao an toàn cho cộng đồng.

- Phân loại dựa vào đặc tính tự nhiên như: các chất hữu cơ, vô cơ, chất có thể cháy hoặc không có khả năng cháy

Xét trên đặc điểm chất thải, rác thải được phân loại thành ba nhóm lớn: rác thải đô thị (rác sinh hoạt từ khu vực dân cư và đô thị), rác thải công nghiệp (phân loại theo nguồn phát sinh và tính chất công nghiệp), và rác thải nguy hại (chứa chất độc hại hoặc nguy cơ gây hại cho môi trường và sức khỏe Việc phân loại này giúp quản lý rác thải hiệu quả hơn, từ quy trình thu gom và phân loại tại nguồn đến xử lý, tái chế và tiêu hủy an toàn, đồng thời nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường và tuân thủ các quy định.

Chất thải nguy hại là thành phần đáng chú ý nhất của rác thải và thường phát sinh từ các khu công nghiệp, vì vậy việc nắm bắt nguồn gốc phát sinh và đặc tính của chất thải nguy hại từ các loại hình công nghiệp khác nhau là rất cần thiết Các hiện tượng như chảy tràn, rò rỉ các loại hóa chất đòi hỏi sự chú ý đặc biệt vì chi phí thu gom và xử lý chất thải nguy hại bị chảy tràn thường rất cao Ví dụ, chất thải nguy hại có thể bị hấp phụ bởi các vật liệu dễ ngậm nước như rơm rạ và dung dịch hóa chất bị thấm vào đất, dẫn đến ô nhiễm đất và phải đào đất để xử lý Lúc đó, chất thải nguy hại bao gồm cả thành phần chất lỏng chảy tràn, chất hấp phụ (rơm rạ) và cả đất bị ô nhiễm Đối với rác thải đô thị, do nguồn thải có tính phân tán nên quản lý rất khó khăn, đặc biệt ở các khu vực đất trống.

Phân loại rác thải theo nguồn phát sinh

Rác thải từ các khu dân cư chủ yếu là rác thải sinh hoạt, bao gồm thực phẩm và thức ăn thừa, giấy và carton, nhựa, túi nylon, vải và da, rác vườn như lá cây và cành khô, gỗ, thủy tinh, lon thiếc, nhôm và các kim loại khác, tro, và các chất thải đặc biệt như pin, dầu nhớt xe, lốp xe, ruột xe và sơn thừa.

 Từ các khu thương mại:

Rác thải khu thương mại bao gồm nhiều loại vật liệu và chất thải cần được quản lý riêng biệt để tối ưu hóa tái chế và giảm thiểu tác động đến môi trường Các nhóm rác phổ biến gồm giấy, carton, nhựa, túi nylon, gỗ, rác thực phẩm, thủy tinh và kim loại; bên cạnh đó còn có chất thải đặc biệt như vật dụng gia đình hư hỏng (kệ sách, đèn, tủ ), đồ điện tử hư hỏng (máy radio, tivi ), tủ lạnh, máy giặt hỏng; pin, dầu nhớt xe, săm lốp và sơn thừa Việc phân loại rác thải khu thương mại thành các nhóm này giúp thu gom và xử lý hiệu quả hơn, tăng cơ hội tái chế và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Chất thải từ các cơ quan, trường học phát sinh với đa dạng loại, bao gồm giấy, carton, nhựa, túi nylon, gỗ, rác thực phẩm, thủy tinh và kim loại; đồng thời có chất thải đặc biệt như kệ sách, đèn, tủ hỏng, pin, dầu nhớt xe, săm lốp và sơn thừa, đòi hỏi quy trình thu gom và xử lý đúng quy định để bảo vệ môi trường.

 Từ các công trình xây dựng: Gỗ, thép, bêtông, đất, cát, xà bần

 Từ các dịch vụ công cộng: Giấy, túi nylon, lá cây

 Từ các nhà máy xử lý: Bùn hóa lý, bùn sinh học

 Từ các nhà máy công nghiệp: Rác thực phẩm thừa, bao bì đựng hóa chất, thiết bị hư hỏng, pin acquy, chất hoạt động bề mặt

 Từ hoạt động nông nghiệp: Rác vườn, chai lọ, bao bì đựng thuốc trừ sâu

(Nguồn: Viện Môi trường và Phát triển bền vững, 2003)

Thành phần và tính chất của rác thải

Thành phần rác thải mô tả các phần riêng biệt cấu thành nên dòng chất thải và mối quan hệ giữa chúng thường được thể hiện dưới dạng phần trăm theo khối lượng Việc phân tích thành phần rác thải đóng vai trò then chốt trong việc lựa chọn thiết bị xử lý rác thải, xác định các quá trình xử lý phù hợp và hoạch định các chương trình cùng hệ thống quản lý rác thải một cách hiệu quả, góp phần tối ưu hóa chi phí và hiệu suất hoạt động của hệ thống xử lý.

Rác thải đô thị là vật phế thải phát sinh từ sinh hoạt và sản xuất, tạo thành một hỗn hợp phức tạp gồm nhiều loại vật liệu khác nhau Thành phần của rác phụ thuộc vào mức sống của người dân, trình độ sản xuất và nguồn lực tài nguyên của đất nước, đồng thời chịu tác động của mùa vụ trong năm.

Thành phần riêng biệt của rác thải thay đổi theo vị trí địa lý, thời gian, mùa trong năm và điều kiện kinh tế

Bảng 2.1: Thành phần rác thải đô thị

Các nước có thu nhập thấp (%)

Các nước có thu nhập trung bình

Các nước có thu nhập cao (%)

Nguồn: Công ty Môi trường đô thị thành phố Hồ Chí Minh, 2010

Rác thải nông thôn là chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt và sản xuất ở nông thôn, bao gồm rác sinh hoạt của người dân, rác từ trồng trọt, thu hoạch, bảo quản và sơ chế nông sản, cũng như các chất thải từ chăn nuôi, giết mổ động vật và chế biến nông sản Có nhiều cách phân loại nguồn gốc phát sinh rác thải nông thôn, nhưng cách phân loại phổ biến nhất là dựa trên nguồn gốc, chia thành rác sinh hoạt gia đình, rác từ sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản, rác từ chăn nuôi và giết mổ, và các chất thải từ bảo quản và sơ chế nông sản.

+ Rác thải từ nguồn sinh hoạt hàng ngày

+ Rác thải từ nguồn trồng trọt (cây lương thực, hoa màu, cây ăn quả )

+ Rác thải từ nguồn chăn nuôi (nuôi trâu, bò, lợn, gà, vịt )

+ Rác thải từ việc sử dụng hóa chất BVTV

Thành phần rác thải đóng vai trò then chốt trong việc lựa chọn thiết bị xử lý rác thải, xác định các bước và quá trình xử lý, cũng như hoạch định các chương trình và hệ thống quản lý rác thải Đối với rác thải nông thôn, có nhiều chủng loại khác nhau đòi hỏi công tác phân loại và các giải pháp xử lý phù hợp để nâng cao hiệu quả quản lý, tối ưu chi phí và giảm thiểu tác động tới môi trường.

Chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học là nhóm chất thải sinh học có khả năng phân hủy nhanh dưới tác động của vi sinh vật, giúp tái chế thành phân hữu cơ và cải thiện đất nông nghiệp Ví dụ điển hình gồm thức ăn thừa từ gia đình, phân gia súc, phế phụ phẩm trồng trọt như rơm rạ, và chất thải từ chăn nuôi, giết mổ Việc thu gom và xử lý các nguồn chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học tạo nguồn vật liệu cho phân compost, giảm thiểu chất thải rắn và ô nhiễm môi trường, đồng thời đóng góp cho chu trình dinh dưỡng của đất và nền kinh tế tuần hoàn.

Chất thải khó phân hủy và độc hại bao gồm bao bì đóng gói, chai lọ đựng thuốc BVTV và thuốc trừ sâu, cùng với các bệnh phẩm của động vật nhiễm bệnh như gà rù, gà cúm, lợn lở mồm long móng và trâu bò điên; đây là những loại rác thải cần được thu gom và xử lý đặc biệt để ngăn ngừa ô nhiễm môi trường và nguy cơ lây lan dịch bệnh (Nguồn: Công ty Môi trường đô thị thành phố Hồ Chí Minh, 2010)

Ảnh hưởng của rác thải đến môi trường và sức khỏe cộng động

2.3.1 Ảnh hưởng đến môi trường

Rác thải có thể gây ra nhiều tác động tiêu cực lên môi trường xung quanh, ảnh hưởng trực tiếp đến không khí, đất và nước Ô nhiễm không khí do rác thải phát sinh từ quá trình phân hủy và thoát khí độc hại, làm giảm chất lượng không khí và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Rác thải cũng gây ô nhiễm đất và nguồn nước qua nước rỉ rác và các chất ô nhiễm rò rỉ từ bãi xử lý, làm suy giảm độ phì đất và ô nhiễm nguồn nước ngầm Vì vậy, quản lý rác thải hiệu quả là cần thiết để giảm thiểu các tác động này lên hệ sinh thái và đời sống con người.

Rác thải phát sinh mùi do quá trình phân hủy các chất hữu cơ, gây ô nhiễm môi trường không khí và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Quá trình phân hủy này sinh ra nhiều khí sinh học như metan (CH4), khí sunfua hydro (H2S), amoniac (NH3), carbon dioxide (CO2) và các hợp chất hữu cơ bay hơi (VOC), là nguyên nhân chính của mùi khó chịu và ô nhiễm không khí tại các bãi rác và khu dân cư Việc quản lý rác và xử lý chất thải hiệu quả giúp giảm lượng chất thải phân hủy, thu hồi khí sinh học và từ đó giảm phát thải khí, bảo vệ chất lượng không khí.

- Sunfur hữu cơ: bắp cải rữa

Ngoài ra, quá trình đốt rác sẽ phát sinh nhiều khí ô nhiễm như: SO2,

NO x , CO 2 , THC (total hydrocarbon), bụi Ô nhiễm môi trường nước

Việc thải bỏ rác thải vào nguồn nước gây tắc nghẽn dòng chảy, ô nhiễm nguồn nước và làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái thủy vực đồng thời tạo nguy cơ lây lan dịch bệnh Nước rỉ rác từ bãi rác chứa nhiều kim loại nặng như đồng (Cu), asen (As) và thủy ngân (Hg) cùng các ion làm tăng độ cứng nước, làm giảm chất lượng nước và đe dọa sức khỏe con người và hệ sinh thái.

Ca2+ và Mg2+ từ rác thải nếu không được thu gom và xử lý đúng cách sẽ thâm nhập vào nguồn nước mặt và nước ngầm, gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường nước Ô nhiễm môi trường đất từ rác thải xuất phát từ hai nguyên nhân chính gây ra, cần được kiểm soát để bảo vệ đất đai và nguồn nước Việc thu gom, xử lý chất thải theo quy định giúp ngăn ngừa ô nhiễm nước mặt, nước ngầm và đất, đồng thời bảo vệ hệ sinh thái và sức khỏe cộng đồng.

Rác thải bị rơi vãi trong quá trình thu gom và vận chuyển gây ô nhiễm đất bởi các thành phần độc hại có trong rác, điển hình là thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất và vi sinh vật gây bệnh Việc phân tán các chất độc hại này không chỉ làm suy giảm chất lượng đất mà còn tác động xấu đến nguồn nước và sức khỏe cộng đồng Do đó cần tăng cường quản lý thu gom, đóng gói và vận chuyển rác đúng quy trình, đồng thời áp dụng các biện pháp giảm rơi vãi để hạn chế ô nhiễm đất và rủi ro từ các chất bảo vệ thực vật và vi sinh vật gây bệnh.

 Nước rỉ rác nếu không được thu gom, xử lý sẽ thấm xuống đất gây ô nhiễm môi trường đất do:

- Nước rỉ rác chứa nhiều kim loại nặng

- Có thành phần chất hữu cơ khó phân hủy sinh học cao

- Chứa nhiều vi sinh vật, vi khuẩn gây bệnh

2.3.2 Tác hại của rác thải đối với sức khỏe cộng đồng

Các nguyên nhân gây bệnh

- Rác thải chứa nhiều vi khuẩn, vi trùng gây bệnh do chứa mầm bệnh từ phân người, súc vật, rác thải y tế

- Các vi khuẩn gây bệnh như: E.Coli, Coliform, giun, sán

- Ruồi, muỗi đậu vào rác rồi mang theo các mầm bệnh đi khắp nơi

- Kim loại nặng: Chì, thủy ngân, crôm có trong rác không bị phân hủy sinh học, mà tích tụ trong sinh vật, tham gia chuyển hóa sinh học

- Dioxin từ quá trình đốt rác thải ở các điều kiện không thích hợp Ảnh hưởng đến sức khỏe của người thu gom rác

 Ung thư, sốt xuất huyết

 Cảm cúm, dịch bệnh và các bệnh nguy hại khác

Các bệnh trên có thể gây ra các tác động tức thời hoặc lâu dài

- Nếu không sử dụng thiết bị bảo hộ khi thu gom rác thì vi khuẩn sẽ xâm nhập vào da và gây viêm da

- Ngoài ra chất hữu cơ dễ bay hơi cũng có thể gây viêm loét da

Chất hữu cơ dẽ bay hơi gây nguy cơ bị hen suyễn nhất; chảy nước mắt, mũi; viêm họng

Trường hợp ngộ độc nặng có thể gây nhức đầu, nôn mữa Về lâu dài có thể gây tổn thương gan và các cơ quan khác

Ngoài ra khi tiếp xúc trưc tiếp với rác thải còn gây ra bệnh xung huyết niêm mạc miệng, viêm họng, lợi, rối loạn tiêu hóa

Một số hợp chất hữu cơ dễ bay hơi trong rác, gồm benzen và styrene-butadiene, có khả năng gây ung thư máu; tiếp xúc trực tiếp nhiều với THC có thể gây ung thư da và ung thư tinh hoàn.

Rác thải là môi trường thuận lợi cho muỗi phát triển và tăng nguy cơ muỗi đốt gây bệnh Muỗi chích truyền bệnh sốt xuất huyết và lan truyền mầm bệnh đi khắp nơi Bệnh sốt xuất huyết có thể gây nguy hiểm đến tính mạng và tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

Bệnh cảm cúm, dịch bênh và các bệnh nguy hại khác

Rác thải chứa nhiều ruồi, muỗi và vi trùng gây bệnh nên dễ bị dịch bệnh khi tiếp xúc trực tiếp với rác thải

(Nguồn: Viện Môi trường và Phát triển Bền vững, 2003)

2.4 Tổng quan về các công nghệ và kỹ thuật xử lý rác

Xử lý rác thải nhằm làm giảm hoặc loại bỏ các thành phần không mong muốn trong chất thải, như chất độc hại và yếu tố gây mất vệ sinh, đồng thời tận dụng năng lượng và vật liệu có trong rác để giảm tác động lên môi trường Mục tiêu này được thực hiện bằng cách áp dụng các công nghệ xử lý rác hiện đại trên toàn cầu nhằm giảm thiểu rủi ro sức khỏe và tăng hiệu quả nguồn lực Các công nghệ xử lý rác được áp dụng hiện nay gồm phân loại và tái chế để hồi phục vật liệu, xử lý sinh học hiếu khí và ủ để sản xuất phân bón hữu cơ, công nghệ đốt rác để phát điện, và các giải pháp chuyển hóa chất thải thành năng lượng như pyrolysis, gasification, plasma gasification, cùng với các hệ thống cơ khí – sinh học (Mechanical Biological Treatment) nhằm giảm lượng rác đến bãi rác và hạn chế phát thải.

Phương pháp sản xuất phân từ rác bằng cách ủ phân có thông khí cho chất liệu làm phân sẽ giúp chất hữu cơ phân hủy nhanh và cho ra phân bón ở dạng có thể tái sử dụng Thuận lợi là rác có thể được tái sử dụng ở dạng phân thông qua các quy trình phân hủy đồng nhất và có thể kiểm soát được sự phát tán Tuy nhiên, phương pháp này khá tốn kém do đầu tư cao và đòi hỏi trình độ chuyên môn cao để vận hành và quản lý quá trình phân hủy.

- Đốt rác: Có thể áp dụng cho nhiều loại rác khác nhau, ngược lại chi phí đầu tư và hoạt động rất tốn kém

Nhiệt phân là một kỹ thuật xử lý rác gắn liền với quá trình đốt và hóa hơi, cho phép kiểm soát nhiệt độ ở mức ổn định và làm sạch khí cháy mà không cần bổ sung oxy Nhờ quá trình này, các chất hữu cơ được phân hủy hiệu quả và lượng khí thải được cải thiện, nhưng chi phí đầu tư cho công nghệ nhiệt phân tương đối cao Kỹ thuật này chủ yếu dành cho các loại rác đặc biệt có thành phần và lưu lượng xử lý đòi hỏi sự kiểm soát và thiết bị phức tạp, nên được xem là lựa chọn phù hợp trong những trường hợp đặc thù mà các công nghệ xử lý rác thông thường chưa đáp ứng được.

Lên men là công nghệ sản xuất phân hữu cơ dựa trên quá trình phân hủy diễn ra trong môi trường kỵ khí Quá trình này sinh ra biogas (khí sinh học) do thiếu oxy trong quá trình phân hủy rác hữu cơ Ưu điểm của phương pháp lên men là có thể chuyển hóa chất thải hữu cơ thành khí có thể dùng làm nguồn năng lượng và cho ra phân bón sau xử lý, đồng thời giảm lượng rác thải và tối ưu nguồn lực cho năng lượng tái tạo.

Biogas có lượng CO2 thoát ra thấp, là ưu điểm giúp giảm phát thải khí nhà kính và tăng tính bền vững của nguồn năng lượng Tuy nhiên, thực tế việc áp dụng biogas chưa được rộng rãi nên vẫn thiếu kinh nghiệm thực tiễn và chi phí đầu tư ban đầu cao cho các hệ thống xử lý và vận hành.

Bãi chôn lấp là những hố chôn lấp được trang bị lớp phủ kín dưới đáy và lớp cách ly bằng nhựa được phủ lên khi việc đổ rác đã hoàn tất Việc thu khí và biến đổi năng lượng từ chất thải tại bãi chôn lấp giúp thu hồi một phần chi phí đầu tư.

Đốt rác sản xuất điện là phương pháp xử lý rác phổ biến hiện nay nhằm vừa xử lý chất thải vừa tận dụng nguồn năng lượng Quá trình đốt là biến đổi chất thải rắn dưới tác dụng của nhiệt ở nhiệt độ cao, tạo ra nhiệt lượng để phát điện hoặc cung cấp nhiệt cho các hệ thống công nghiệp Khi được kiểm soát bằng công nghệ xử lý khí thải và tro xỉ tiên tiến, quá trình này giúp giảm thể tích rác và lượng phát thải, đồng thời đóng góp nguồn điện cho lưới điện Tuy nhiên, hiệu quả và an toàn của đốt rác sản xuất điện phụ thuộc vào thiết bị, hệ thống lọc khí thải và quản lý tro xỉ, đòi hỏi quy trình vận hành nghiêm ngặt và tuân thủ các quy định môi trường Với chiến lược công nghệ phù hợp, đốt rác có thể tối ưu hóa việc chuyển đổi chất thải thành năng lượng, hỗ trợ mục tiêu phát triển điện bền vững.

Ở nhiệt độ rất cao, vượt quá 1200°C, công nghệ này có thể mang lại hiệu quả mong đợi, nhưng vẫn là phương pháp tốn kém nhất Bởi vì ngoài việc tiêu thụ nhiều năng lượng, nó đòi hỏi trang bị và vận hành một hệ thống khí thải hết sức tốn kém để đảm bảo an toàn và tuân thủ quy chuẩn.

2.4.1 Công nghệ chôn lấp chất thải rắn

Tổng quan về tình hình quản lý, xử lý rác thải nông thôn tỉnh An Giang 11 2.6 Một số mô hình quản lý rác nông thôn trên địa bàn An Giang

Theo báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam, rác thải nông thôn ước tính 0,3 kg/người/ngày và có xu hướng tăng đều theo từng năm

Ở An Giang, rác thải nông thôn nói riêng và rác thải nói chung đang trở thành vấn đề nhức nhối Nhiều gia đình cho biết không biết đổ rác ở đâu nên buộc phải vứt rác trên đường, xuống ao, hồ, sông ngòi và mương máng Lượng rác thải tập trung ngày càng nhiều gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, làm tắc nghẽn dòng chảy và ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt hàng ngày của người dân.

Nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm và tồn đọng rác ở nông thôn là ý thức của người dân còn thấp, công tác tuyên truyền chưa hiệu quả và đặc biệt là lực lượng thu gom rác ở nông thôn rất ít Thậm chí có xã chưa có tổ thu gom rác, dẫn đến không thể thu gom toàn bộ rác tại các thôn, xóm trong khu dân cư Vì vậy, rác thải tích tụ gây ô nhiễm môi trường, tạo khó khăn trong quản lý rác thải ở khu vực nông thôn và ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân.

Hiện nay, hầu hết các xã chưa có hố chôn rác hợp vệ sinh hoặc hệ thống xử lý chất thải đạt chuẩn, khiến công tác quản lý rác thải sinh hoạt gặp nhiều khó khăn Phần lớn bãi rác chỉ là những ao tù đọng hoặc thùng rác nhỏ, thiếu sự phân loại và an toàn vệ sinh môi trường Tuy một vài xã đã bắt đầu triển khai hố chôn rác hợp vệ sinh và bố trí các điểm thu gom, song quy mô còn hạn chế và chất lượng chưa đồng bộ, dẫn tới ô nhiễm đất, nước và ảnh hưởng đến đời sống người dân.

Khóa luận tốt nghiệp này ghi nhận việc tổ chức đào hố chôn rác nhưng không tuân thủ quy cách và tiêu chuẩn xử lý chất thải, dẫn tới các rủi ro môi trường nghiêm trọng Hố chôn quá nông làm nhanh đầy và lãng phí đất đai quý giá, trong khi thiếu công trình bảo vệ như thành đắp khiến hố dễ sụt lún khi mưa lớn và nước tràn ngập có thể gây ô nhiễm nguồn nước mặt Mặt hố không được phủ đất khiến mùi hôi thối phát tán ra môi trường xung quanh, còn đáy hố không được lót vải địa kỹ thuật hoặc nylon khiến nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm tăng lên.

An Giang huy động toàn bộ hệ thống chính trị vào cuộc và triển khai nhiều biện pháp cấp bách, thiết thực nhằm quyết tâm thu gom và xử lý toàn bộ chất thải rắn sinh hoạt, chất thải nguy hại trên địa bàn tỉnh trước năm 2015 Chương trình tập trung nâng cao hiệu quả quản lý chất thải, tăng cường thu hồi, phân loại tại nguồn, đầu tư hệ thống xử lý hiện đại và sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, cơ quan chức năng và người dân để bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.

Do tốc độ phát triển nhanh của các khu dân cư mới, đô thị mới, khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các cơ sở sản xuất chế biến…, công tác quản lý và thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt cũng như rác thải nguy hại vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập Hệ thống này đang đối mặt với thách thức trong việc nâng cao hiệu quả thu gom, xử lý rác thải và giảm thiểu rủi ro từ chất thải nguy hại để bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.

Mỗi ngày, An Giang phát sinh trên 1.000 tấn chất thải rắn Nguồn thải lớn nhất là rác tại các chợ, chiếm 49,02%; tiếp đến là cụm tuyến dân cư với 38,2%; hộ gia đình ở khu vực nông thôn chiếm 11,3%; phần còn lại đến từ cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ.

1,48%, còn lại từ các nguồn khác

Hiện 11 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh đều xây dựng được bãi rác có tổng diện tích 140.650 m 2 Nhưng thực tế chỉ mới thu gom được 841,14 tấn/ngày, trong đó thành phố Long Xuyên và thị xã Châu Đốc có tỷ lệ thu gom rác là 80,5%, tỷ lệ thu gom rác tại các thị trấn là 71,75% ng 50% số hộ thải đổ rác ra sông, kênh rạch, 74,2% cụm tuyến dân cư chưa có đội thu gom, xử lý rác (Ban Công trình đô thị Long Xuyên, 2010)

Tỉnh chỉ đạo các huyện, thị xã ngay từ bây giờ rà soát nguồn thải chất thải rắn và chất thải nguy hại, xây dựng kế hoạch và dự án quy hoạch bãi chôn lấp cùng với nhà máy xử lý rác đạt tiêu chuẩn kỹ thuật Đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải, tăng cường sự tham gia của cộng đồng và khu vực tư nhân trong các hoạt động xử lý rác thải và bảo vệ môi trường.

Tỉnh có chính sách vay vốn ưu đãi dành cho cá nhân và tổ chức tham gia các dự án thu gom và xử lý rác thải Chính sách này được bổ sung bằng nguồn vốn đầu tư hàng năm dành cho các huyện, thị xã và xã để xây dựng bãi chôn lấp hoặc nhà máy xử lý rác theo yêu cầu Việc thực thi các chương trình này giúp nâng cao năng lực thu gom, xử lý rác thải, đồng thời củng cố hạ tầng môi trường và thúc đẩy sự phát triển bền vững của địa phương.

Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh phối hợp với các huyện, thị xã và các ngành nông nghiệp, công thương, y tế, Ban quản lý khu công nghiệp và khu cửa khẩu để rà soát, lập thủ tục đăng ký chủ nguồn thải chất thải rắn và chất thải nguy hại, đồng thời quản lý chất thải nguy hại một cách có hệ thống Mục tiêu là nâng cao tính tuân thủ pháp lý, giảm thiểu rủi ro môi trường và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

2.6 Một số mô hình quản lý rác nông thôn trên địa bàn An Giang

Thời gian qua, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh đã phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường hỗ trợ một số huyện, gồm Châu Thành, Châu Phú và Thoại Sơn, triển khai các chương trình nhằm ứng dụng khoa học và công nghệ vào quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Các hoạt động tập trung vào tư vấn xây dựng kế hoạch phát triển bền vững, triển khai các dự án ứng dụng công nghệ trong quản lý đất đai, tài nguyên nước và môi trường, đồng thời tổ chức tập huấn, chuyển giao công nghệ và hỗ trợ địa phương tiếp cận nguồn lực, vốn và cơ chế ưu đãi để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện nói trên. -**Support Pollinations.AI:**🌸 **Quảng cáo** 🌸 Đăng ký dùng thử miễn phí [Pollinations.AI](https://pollinations.ai/redirect/kofi) để tăng hiệu quả quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường với công nghệ AI tiên tiến!

Chương trình nâng cao năng lực quản lý chất thải rắn được triển khai tại các xã điển hình ở Sơn, An Phú và Tri Tôn nhằm củng cố hệ thống quản lý chất thải ở cấp xã Đây là cơ sở để nhân rộng mô hình quản lý chất thải rắn ra các địa phương khác trên toàn tỉnh An Giang Mô hình này được áp dụng hiệu quả đối với vùng nông thôn An Giang.

2.6.1 Xã An Hảo, huyện Tịnh Biên

Qua một năm triển khai dự án Nâng cao năng lực quản lý chất thải rắn trên địa bàn xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, đã ghi nhận nhiều kết quả nổi bật: nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người dân về phân loại tại nguồn và tham gia hoạt động thu gom, cải thiện hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở cấp xã và thôn ấp, xây dựng và củng cố mô hình quản lý chất thải rắn tại địa phương với sự tham gia của người dân, ban quản lý dự án và cán bộ cấp xã, tăng cường năng lực, kiến thức và kỹ năng cho đội ngũ cán bộ và tình nguyện viên thông qua tập huấn chuyên môn, đẩy mạnh các hoạt động truyền thông, giám sát và đánh giá, từ đó giảm thiểu ô nhiễm môi trường và nâng cao hiệu quả thu gom, xử lý rác thải, đồng thời đóng góp vào sự phát triển bền vững của xã An Hảo và nâng cao chất lượng sống cho người dân.

Dự án đã thành công trong việc nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư về tham gia quản lý rác thải, giúp người dân hình thành ý thức trách nhiệm với môi trường Thực tế cho thấy quá trình triển khai dự án đã làm cho nhận thức của các tầng lớp nhân dân trên địa bàn xã An Hảo tăng lên rõ rệt, thể hiện qua sự tham gia tích cực vào các hoạt động phân loại rác tại nguồn và tuân thủ các quy định về quản lý rác thải Kết quả này chứng minh hiệu quả của chiến lược truyền thông và giáo dục môi trường được triển khai, đồng thời củng cố niềm tin của cộng đồng vào khả năng tự quản lý rác ở địa phương.

Nhận định chung

Từ các lược khảo tài liệu trên, chúng tôi nhận thấy:

Người dân tỉnh An Giang, đặc biệt ở các vùng nông thôn, đang đối mặt với suy thoái nguồn tài nguyên gồm đất nông nghiệp, nước, khoáng sản và hệ sinh thái sinh vật, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và đời sống Ô nhiễm môi trường do rác thải gia tăng đang thách thức chất lượng đất và nước, tác động tiêu cực tới sức khỏe cộng đồng và triển vọng sản xuất nông nghiệp Để bảo vệ nguồn lực và phát triển bền vững, cần triển khai đồng bộ các biện pháp quản lý tài nguyên, giảm thiểu rác thải, tăng cường tái chế và phục hồi hệ sinh thái Nếu những vấn đề này không được quan tâm, phòng tránh và giải quyết một cách hiệu quả, bền vững sẽ dẫn đến mất cân bằng môi trường và thiệt hại kinh tế lâu dài cho địa phương.

Khóa luận tốt nghiệp cho thấy trong thời gian tới, chúng ta sẽ đối mặt với những tác động tiêu cực có thể ảnh hưởng đáng kể đến sự tồn tại và sự phát triển của cá nhân cũng như của cộng đồng Để ứng phó hiệu quả, cần nhận diện các thách thức, đánh giá mức độ rủi ro và xây dựng các giải pháp thích ứng bền vững Việc nâng cao năng lực cá nhân, đổi mới phương pháp học tập và tăng cường nguồn lực sẽ giúp sinh viên và tổ chức vượt qua áp lực kinh tế, xã hội và công nghệ Quan trọng là thiết lập kế hoạch dài hạn, theo dõi kết quả và chia sẻ kiến thức để tối ưu hóa cơ hội thành công và đảm bảo sự phát triển lâu dài.

Lượng rác thải nói chung, bao gồm rác nông thôn, ngày càng tăng, đặt ra yêu cầu xử lý triệt để Việc ứng dụng công nghệ sinh học để xử lý rác thải thành phân hữu cơ mang lại hiệu quả cao, chi phí thấp và dễ triển khai ở các vùng nông thôn so với các phương án xử lý rác khác.

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thời gian nghiên cứu

- Từ tháng 01/2011 đến 02/2011: đi khảo sát thực địa quy trình công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt bằng công nghệ A.B.T tại xã An Hảo, huyện

Tịnh Biên, tỉnh An Giang

Trong khoảng từ tháng 2 đến tháng 3 năm 2011, đoàn đã tiến hành khảo sát thực địa quy trình công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt bằng công nghệ A.B.T tại xã Hòa Bình, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang Hoạt động khảo sát nhằm thu thập dữ liệu vận hành và đánh giá tính khả thi của công nghệ A.B.T, phục vụ xây dựng báo cáo và đề xuất giải pháp xử lý rác thải bền vững cho địa phương.

- Từ ngày 01/3/2011 đến ngày 15/3/2011: đi tập huấn về quản lý và xừ lý chất thải rắn tại xã Vĩnh Lộc, huyện An Phú, tỉnh An Giang

- Từ ngày 15/3/2011 đến ngày 30/4/2011: viết bài báo cáo.

Mục tiêu nghiên cứu

- Hoàn thiện và đề xuất qui trình xử lý rác thải bằng công nghệ A.B.T tại xã Vĩnh Lộc, huyện An Phú, tỉnh An Giang

- Xác định hiện trạng quản lý, thu gom, xử lý rác thải tại xã Vĩnh Lộc, huyện An Phú, tỉnh An Giang

- Đề xuất hoàn thiện quy trình công nghệ.

Nội dung nghiên cứu

+ Hiện trạng môi trường khu vực: thu thập số liệu và tài liệu tại Sở

Khoa học và Công nghệ, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang

+ Điều kiện khí tượng thủy văn, điều kiện kinh tế xã hội địa phương:

Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện An Phú

+ Các tài liệu liên quan đến dự án đầu tư từ Trung tâm Ứng dụng tiến bộ Khoa học và Công nghệ tỉnh An Giang

3.4.2 Khảo sát hiện trạng môi trường kinh tế xã hội tại xã Vĩnh

3.4.3 Khảo sát hiện trạng quản lý, thu gom, xử lý rác và thành phần rác thải tại xã Vĩnh Lộc, huyện An Phú

Thu thập 100 phiếu điều tra từ các hộ dân đang sinh sống tại khu vực chợ và cụm dân cư xã Vĩnh Lộc về thành phần rác thải, khối lượng, phương pháp xử lý rác… (Mẫu Phiếu điều tra xem Phụ lục 2)

3.4.4 Khảo sát các mô hình, dự án xử lý rác thải bằng công nghệ A.B.T tại các xã An Hảo, Hòa Bình…

- Nhà máy xử lý rác thải theo công nghệ A.B.T tại xã An Hảo, huyện

Tịnh Biên.đã được khởi công xây dựng vào ngày 25/7/2008 và hoàn tất các hạng mục công trình xây dựng vào tháng 10/2008 Hiện đã ngưng hoạt động ở hầu hết các thiết bị từ năm 2009, chỉ còn xử lý rác tồn đọng bằng thủ công

- Nhà máy xử lý rác thải theo công nghệ A.B.T tại xã Hòa Bình, huyện

Chợ Mới vừa hoàn thiện phần thô của một nhà xưởng có diện tích khoảng 100 m2, nhưng hiện chưa được lắp đặt thiết bị cũng như thiết lập quy trình xử lý để có thể đi vào hoạt động.

3.4.5 Đề xuất và bổ sung các giải pháp hoàn thiện dây chuyền công nghệ xử lý rác thải bằng công nghệ A.B.T tại xã Vĩnh Lộc, huyện An

Phối hợp thực hiện theo dự án đang triển khai của Trung tâm Ứng dụng tiến bộ Khoa học và Công nghệ tỉnh.

Phương tiện và vật liệu nghiên cứu

- Phương tiện: Xe Honda, máy ảnh, máy vi tính, Internet…

- Công trình xử lý rác thải theo công nghệ A.B.T tại xã An Hảo

- Cân, bao tay, giỏ đựng rác…

- Phiếu điều tra phỏng vấn

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thống kê được triển khai bằng cách thu thập và xử lý các số liệu khí tượng thủy văn và các yếu tố kinh tế - xã hội của khu vực dự án, từ đó hình thành cơ sở dữ liệu thống kê phục vụ phân tích định lượng Quá trình xử lý dữ liệu diễn ra thông qua quản lý và làm sạch các phiếu điều tra bằng phần mềm Excel, đảm bảo tính nhất quán, chuẩn hóa và chất lượng dữ liệu cho các bước phân tích tiếp theo.

+ Phương pháp so sánh: dùng để đánh giá mức độ tác động môi trường trên cơ sở so sánh với các tiêu chuẩn môi trường tương ứng

+ Phương pháp liệt kê: dùng để liệt kê các phương pháp xử lý từ đó chọn ra phương án tốt nhất

Phương pháp điều tra xã hội học là quá trình sử dụng hệ thống câu hỏi được xác định rõ nhằm thu thập những thông tin khách quan nói lên nhận thức và thái độ của người được điều tra Trong khuôn khổ khóa luận, phương pháp này thường được thực hiện bằng phiếu điều tra để phỏng vấn, với người tham gia trả lời bằng cách ghi lại câu trả lời trên giấy theo thời gian quy định Những câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn trên giấy cho phép người trả lời diễn đạt quan điểm và nhận thức một cách có hệ thống Nhờ tính đồng loạt và quy mô của phiếu điều tra, phương pháp này cho phép thu thập ý kiến của nhiều người một cách hiệu quả.

Các phương pháp tính toán khối lượng rác thải

Phương pháp thể tích - khối lượng:

Trong phương pháp này khối lượng hoặc thể tích (hoặc cả khối lượng và thể tích) của rác thải được xác định để tính toán khối lượng rác thải

Trong phương pháp này, số lượng chất thải được thu gom cùng với đặc điểm và tính chất của chất thải tương ứng (loại chất thải, thể tích ước lượng) được ghi nhận liên tục trong một khoảng thời gian xác định Khối lượng chất thải phát sinh trong khoảng thời gian khảo sát, được gọi là khối lượng đơn vị, sẽ được tính toán bằng cách kết hợp dữ liệu thu thập tại khu vực nghiên cứu với các số liệu đã biết trước, từ đó phục vụ đánh giá chất thải và lên kế hoạch quản lý chất thải hiệu quả.

Phương pháp cân bằng vật chất:

Phân tích cân bằng vật chất chi tiết cho từng nguồn phát sinh chất thải cho phép thu thập dữ liệu về tốc độ phát sinh rác thải và mức dao động của lượng chất thải, từ đó xác định lưu lượng và phân bổ nguồn lực cho quản lý chất thải một cách hiệu quả Trong một số trường hợp, phương pháp cân bằng vật chất là cần thiết để chứng minh sự phù hợp và hiệu quả của các chương trình tái sinh chất thải, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho việc đánh giá và cải thiện các chiến lược xử lý chất thải.

KẾT QUẢ THẢO LUẬN

Hiện trạng quản lý, xử lý rác thải trên địa bàn huyện An Phú

4.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội huyện An Phú a Vị trí địa lý:

An Phú là một huyện thuộc tỉnh An Giang, nằm ở đỉnh cực Tây của vùng Tây Nam Bộ và giáp Campuchia, là cửa ngõ tiếp nhận dòng chảy đầu tiên của sông Hậu từ Campuchia đổ vào Việt Nam.

Phía Tây và Bắc giáp Campuchia, đường biên giới dài khoảng 40,5 km

Phía Đông giáp thị xã Tân Châu

Phía Nam giáp ngã ba sông Hậu ở Châu Đốc

Hình 4.1: Bản đồ vị trí huyện An Phú

Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/AnPhu

Huyện An Phú có diện tích khoảng 240,4 km 2 , dân số khoảng 99.696 nghìn người (2008), bao gồm 13 đơn vị hành chính (1 thị trấn và 12 xã)

Địa thế của huyện được chia làm ba phần bởi sông Hậu chảy xuyên giữa, khiến mảnh đất phân thành các khu vực riêng biệt Qua nhiều năm tích tụ phù sa, cù lao An Phú nổi lên giữa sông và được chia thành hai nhánh nhỏ: nhánh phía tây rộng khoảng 300 m, tiếp giáp với sông Châu Đốc và sông Bình Di, và nhánh phía đông rộng hơn một chút.

An Phú là huyện nằm trên đồng bằng với đất phù sa màu mỡ, tuy nhiên hầu hết diện tích đều chịu ngập úng thường xuyên Mỗi năm, khu vực này chịu ảnh hưởng của mùa nước nổi khi mực nước trên sông Cửu Long dâng cao từ tháng 6, do lượng mưa lớn và nước từ Biển Hồ Campuchia tích tụ khiến nhiều nơi chìm trong nước Độ ngập trung bình khoảng 2-3 mét và kéo dài khoảng 6 tháng, ảnh hưởng lớn đến tập quán sinh hoạt và sản xuất của người dân Địa thế của An Phú khá thuận lợi, án ngữ nơi đầu nguồn của sông Cửu Long, góp phần vào hệ thống thủy lợi và giao thông của vùng.

Nằm trên tuyến đường giao thông thủy kết nối các tỉnh miền Tây ven sông Hậu của Việt Nam với thủ đô Phnom Penh của Campuchia, khu vực này đóng vai trò quan trọng trong giao thương liên vùng Trước đây giao thông giữa An Phú và Châu Đốc khá bất tiện vì phải qua phà, nhưng hiện nay cầu Cồn Tiên đã hoàn thiện và thông suốt, nâng cao hiệu quả vận chuyển và du lịch Điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương được cải thiện nhờ mạng lưới giao thông được mở rộng và kết nối tốt hơn.

An Phú ở tỉnh An Giang có người Kinh chiếm đa số, bên cạnh đó còn có cộng đồng người Chăm và người Hoa Điểm đáng lưu ý là khác với hầu hết các địa phương giáp biên giới của tỉnh An Giang, An Phú thể hiện sự đa dạng dân cư và sự gắn kết giữa các cộng đồng.

Khơmer định cư mà chỉ có một số ít sang buôn bán nhỏ

Dân cư ở đây chủ yếu là nông dân, hầu hết diện tích đều trồng lúa

Vùng này là một trong những khu vực có đất phù sa màu mỡ của tỉnh, đồng thời nơi đây còn nuôi trồng thủy sản nước ngọt Hàng năm, cả huyện chịu ảnh hưởng của mùa nước nổi từ tháng 6 đến tháng 12; ngập lụt ruộng đồng là chuyện quen thuộc từ xa xưa, nên người dân ở đây đã quen thuộc và biết tận dụng nguồn nước và đất phù sa để phát triển sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.

An Phú là huyện có đường biên giới dài tiếp giáp Campuchia và thường xuyên ghi nhận sự đi lại của người dân hai bên Ở phía bên kia biên giới, đối diện với An Phú là khu vực Campuchia nơi các hoạt động giao lưu, trao đổi hàng hóa và di chuyển giữa hai nước diễn ra thường xuyên.

Khóa luận tốt nghiệp diện thị trấn Long Bình có một khu chợ của Campuchia gọi là Cỏ Thum (hoặc

Chạy Thum, Kor Thum) mua bán tấp nập nhưng không kém phần phức tạp

Tính theo đường bộ thì từ An Phú đi thủ đô Phnom Pênh của

Campuchia là đường gần nhất từ Việt Nam đi sang nên tạo điều kiện tốt cho giao thương trong vùng

( Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/AnPhu).

4.1.2 Tổng quan về hiện trạng quản lý rác thải sinh hoạt tại huyện An Phú

Ở huyện, lượng rác thải sinh hoạt phát sinh mỗi ngày ước tính khoảng 26 tấn; khối lượng rác được thu gom đạt 14,4 tấn, chiếm khoảng 55,7% Việc thu gom rác chủ yếu tập trung tại hai thị trấn An Phú và Long Bình, các khu dân cư, trung tâm hành chính và chợ xã, trong khi phần còn lại do người dân tự xử lý bằng đào hố chôn hoặc đốt Một phần nhỏ người dân vẫn chưa ý thức đầy đủ về bảo vệ môi trường nên có tình trạng vứt rác xuống sông, kênh rạch.

Trung tâm Dịch vụ công huyện An Phú, 2011)

Trung tâm Dịch vụ công huyện thu gom rác thải sinh hoạt và vận chuyển đến hai bãi rác An Phú (diện tích 2.500 m2) và Long Bình (diện tích 1.500 m2) ở hình thức đổ xá, chưa qua xử lý và phân loại tại nguồn Định kỳ, đơn vị phun xịt hóa chất khử mùi 10 lần/tháng cho mỗi bãi rác nhằm hạn chế mùi hôi và sự xuất hiện của ruồi; hàng quý, khi lượng rác đầy, bãi được san ủi và dọn dẹp để đảm bảo vận hành an toàn Trong năm 2010, huyện nhận được sự hỗ trợ của Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài nguyên và Môi trường và Trung tâm Ứng dụng tiến bộ Khoa học và Công nghệ tỉnh để triển khai các giải pháp kỹ thuật xử lý ô nhiễm tại hai bãi rác, mang lại hiệu quả giảm thiểu ô nhiễm môi trường cho cư dân quanh khu vực.

Hiện trạng hai bãi rác đang quá tải khiến lượng rác thu gom chỉ mang tính tạm thời và thiếu xử lý kỹ thuật, dẫn tới phát sinh mùi hôi thối và nguy cơ dịch bệnh Mùi hôi và ô nhiễm môi trường ngày càng lan rộng gây bức xúc cho người dân sống quanh khu vực Do thiếu giải pháp quản lý bền vững, người dân buộc phải xử lý sơ tạm bằng cách chôn lấp hoặc đốt rác để hạn chế ô nhiễm tại nguồn Tình trạng này cho thấy cần ngay các biện pháp cấp bách và dài hạn về công nghệ xử lý chất thải, tái chế và quản lý rác hiệu quả để giảm thiểu rủi ro sức khỏe và bảo vệ môi trường.

Lượng rác thải ngày càng tăng nhanh trong khi chỉ có hai xe ép rác làm nhiệm vụ thu gom vẫn phải hoạt động liên tục nhưng thường xuyên gặp sự cố hỏng hóc và phải tạm ngừng để sửa chữa Điều này khiến lượng rác tồn đọng lớn và việc xử lý rác thải gặp khó khăn nghiêm trọng.

( Nguồn : Trung tâm Dịch vụ công huyện An Phú, 2011)

Hiện trạng quản lý, thải bỏ và sự cần thiết thực hiện xử lý rác thải tại xã Vĩnh Lộc

thải tại xã Vĩnh Lộc

4.2.1 Điều kiện địa lý tự nhiên - nhân văn xã Vĩnh Lộc

Xã Vĩnh Lộc nằm bên bờ trái sông Hậu, đối diện với thị trấn An Phú và xã Phước Hưng, có 4.116 ha diện tích tự nhiên và 13.688 nhân khẩu (2009)

Xã có diện tích lớn là đồng bằng với đất phù sa nên nhiều khu vực thường xuyên bị ngập úng Mỗi năm, Vĩnh Lộc chịu ảnh hưởng của mùa lũ từ tháng 5 đến tháng 10, với độ ngập trung bình khoảng 2–3 mét và thời gian lũ kéo dài, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tập quán sinh hoạt và sản xuất của người dân Việc di chuyển đến Vĩnh Lộc càng thêm bất tiện vì người dân phải qua đò Phước.

Vùng Hưng – Vĩnh Lộc không thuận tiện cho giao thông đường bộ, khiến việc đi lại và kết nối với các khu vực lân cận gặp nhiều khó khăn Dân cư ở đây chủ yếu là nông dân, với diện tích đất nông nghiệp chủ yếu trồng lúa nước, bên cạnh nuôi trồng thủy sản nước ngọt, mang lại nguồn thu nhập ổn định cho người dân Tuy nhiên, hệ thống giao thông và hạ tầng còn chưa đồng bộ, ảnh hưởng đến vận chuyển nông sản và sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng.

Dân cư tập trung đông đúc tại chợ xã Vĩnh Lộc và cụm dân cư xã

4.2.2 Hiện trạng thu gom và xử lý rác thải xã Vĩnh Lộc

Hiện trạng thu gom và xử lý rác thải tại cụm dân cư và chợ xã Vĩnh Lộc chưa đáp ứng yêu cầu phát triển hiện nay, làm giảm hiệu quả quản lý chất thải và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Việc thu gom và xử lý rác thải trong khu vực vẫn còn chưa triệt để, dẫn tới ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng Một chiến lược đồng bộ về hạ tầng thu gom, xử lý rác và tuyên truyền cộng đồng sẽ nâng cao hiệu quả quản lý chất thải tại địa bàn.

Hiện nay, chưa có bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh, khiến việc vận chuyển rác đến bãi rác tập trung của huyện gặp nhiều khó khăn và chi phí cao Vì khoảng cách xa và chi phí vận chuyển đắt đỏ, lượng rác được thu gom chỉ với tần suất vài ngày một lần, dẫn đến rác thải bị vứt bừa bãi, gây mùi hôi thối và ảnh hưởng tới cộng đồng dân cư Ước tính lượng rác phát sinh hàng ngày tại khu vực xã Vĩnh Lộc là khoảng 4,5 tấn/ngày (nguồn: Trung tâm Dịch vụ công huyện An Phú, 2011).

Theo điều tra xã hội học về việc thải rác của người dân trong khu vực, kết quả như sau:

Bảng 4.1: Hiện trạng xả rác và cách xử lý rác của người dân xã Vĩnh Lộc

STT Các loại rác xả thải hàng ngày Cách xử lý

1 Vỏ trái cây, rau cải, thức ăn dư thừa… Chôn lấp, Cho gia súc ăn

2 Kim loại, bọc nylon, chai nhựa… Bán, Chôn lấp

3 Giấy, gỗ, rơm rạ Đốt

4 Các loại chai bằng thủy tinh, bóng đèn Đổ xuống sông, kênh, rạch

- Số lượng phiếu điều tra: 100 phiếu

Những nhận định cho thấy nguồn rác thải phát sinh hàng ngày chủ yếu là rác thải hữu cơ, bắt nguồn từ hoạt động mua bán và sinh hoạt tại chợ cũng như trong hộ gia đình Phần còn lại của rác thải là rác thải phi hữu cơ, nhưng chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng lượng rác thải.

- Biện pháp xử lý chủ yếu là chôn lấp, đốt Trong đó có một lượng khá lớn người dân đổ xuống sông rạch

Thu thập phân tích thành phần rác thải:

Bảng 4.2: Thành phần rác thải khu vực chợ Vĩnh Lộc

STT Thành phần Khối lƣợng (kg) Tỉ lệ Ghi chú

1 Chất hữu cơ 6,3 63% Thức ăn, rau cải

2 Kim loại 0,1 1% Sắt, thép, chì

6 Giấy 0,4 4% Bao bì, giấy vụn

7 Vải 0,35 3,5% Vải rách, giẻ lau

8 Chất hữu cơ khó phân hủy

1,25 12,5% Vỏ dừa, cây gỗ, bã mía…

Ghi chú: Khối lượng thu gom: 10 kg

4.2.3 Sự cần thiết phải xử lý rác thải tại xã Vĩnh Lộc

Với tình hình ô nhiễm môi trường như hiện nay trên địa bàn xã Vĩnh

Lộc thì việc xây dựng hệ thống xử lý rác thải là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo đảm sức khỏe và cuộc sống của người dân

- Hiện chưa có bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh tại chợ trung tâm xã

Việc vận chuyển rác đến bãi rác tập trung của huyện có khoảng cách xa, làm tăng chi phí vận chuyển và giảm hiệu quả xử lý chất thải Xã Vĩnh Lộc nằm ở phía đối diện bãi rác thị trấn, vượt sông Hậu, nên việc đưa rác từ xã về huyện gặp nhiều bất tiện và chi phí logistics cao.

Việc thu gom rác chỉ diễn ra với tần suất vài ngày một lần, khiến lượng rác tồn đọng và bị vứt bừa bãi Điều này gây mùi hôi thối, ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống của cộng đồng dân cư Để cải thiện vệ sinh đô thị và an toàn sức khỏe, cần tăng cường lịch thu gom và quản lý rác hiệu quả, đồng thời khuyến khích người dân bỏ rác đúng nơi quy định.

Ý thức của nhiều hộ dân còn kém dẫn đến việc không bỏ rác đúng vào thùng thu gom mà vứt bừa bãi ra khu vực xung quanh Tình trạng này đặc biệt phổ biến ở các hộ dân sống cạnh bờ sông hoặc ở những khu đất trống, khiến môi trường bị ô nhiễm và gây khó khăn cho công tác dọn dẹp vệ sinh khu dân cư.

Xã Vĩnh Lộc nằm ở vị trí tuyến đường ngắn kết nối các xã phía tây và phía bắc huyện An Phú đi về hướng thị xã Tân Châu, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các dịch vụ giao thông và thương mại trong khu vực Nhờ địa thế thuận lợi, chợ trung tâm xã Vĩnh Lộc ngày càng phát triển, trở thành đầu mối kinh tế quan trọng của địa phương Từ đó, lượng rác thải ngày càng tăng do hoạt động thương mại và giao thông tăng lên.

Nghiên cứu, khảo sát các qui trình xử lý rác thải bằng công nghệ A.B.T 24 4.4 Xây dựng và hoàn thiện quy trình xử lý rác thải sinh hoạt bằng công nghệ A.B.T tại xã Vĩnh Lộc, huyện An Phú

Trước những tồn tại trong xử lý chất thải rắn hiện nay, tập thể cán bộ kỹ thuật của Công ty Công trình Đô thị Ninh Thuận đã nghiên cứu và thử nghiệm thành công công nghệ xử lý chất thải rắn bằng biện pháp yếm khí tùy nghi – A.B.T., phù hợp với đặc điểm thành phần rác và điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội của nước ta Công nghệ này đã phát triển và vận hành hiệu quả từ năm 2002, là công nghệ tiên tiến giúp xử lý triệt để chất hữu cơ, không phát sinh nước rỉ rác và mùi hôi, đồng thời đã đăng ký tác quyền sáng chế tại Cục Sở hữu Công nghiệp Việt Nam vào năm 2002.

Công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt bằng biện pháp yếm khí tùy nghi -

A.B.T., với sự tham gia của tổ hợp vi sinh vật có trong chế phẩm sinh học

P.MET, phụ gia bột (các chế phẩm sinh học này do Công ty Công trình Đô thị

Ninh Thuận từ năm 2002 đã nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt, nổi bật với tổ hợp vi sinh vật có ích thúc đẩy nhanh tốc độ phân hủy chất hữu cơ; hệ thống ủ đạt nhiệt độ cao giúp tăng hiệu quả phân hủy, không phát sinh nước rỉ, tiêu diệt mầm bệnh và khử mùi trong quá trình vận chuyển và xử lý rác Công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt A.B.T được đông đảo đồng nghiệp, các cơ quan quản lý chuyên ngành, các viện nghiên cứu lớn và nhiều trường đại học danh tiếng biết đến.

Khóa luận tốt nghiệp trình bày một công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt được xem là hiệu quả nhất hiện nay và có khả năng ứng dụng rộng rãi cho đô thị, vùng nông thôn và các trang trại Công nghệ này giới thiệu một quy trình xử lý rác thải sinh hoạt bằng biện pháp yếm khí tùy nghi - A.B.T., cho phép tối ưu hoá quá trình phân huỷ sinh học và giảm thiểu tác động tới môi trường Các bước chính của quy trình bao gồm tiền xử lý, công nghệ yếm khí và xử lý khí sinh học, giúp giảm khối lượng rác thải rắn và giảm mùi hiệu quả Có tính linh hoạt cao, hệ thống có thể vận hành liên tục và dễ tích hợp với cơ sở hạ tầng hiện có ở các khu vực đô thị, nông thôn và trang trại, đồng thời tối ưu chi phí vận hành và hiệu quả xử lý Nghiên cứu nhấn mạnh khả năng mở rộng và ứng dụng thực tiễn của công nghệ A.B.T, hứa hẹn đóng góp vào mục tiêu quản lý rác thải bền vững và thân thiện môi trường.

 Giai đoạn xử lý sơ bộ:

Rác thải được đưa về sân thao tác để tiến hành phân loại và xử lý Tại đây, người vận hành xé các túi nylon đựng rác để rác thoát ra ngoài và dễ dàng được thu gom Những loại rác có kích thước lớn được thu gom riêng và xử lý riêng nhằm tối ưu hóa quá trình phân loại và tái chế.

- Phun, rải, trộn đều cùng các chế phẩm sinh học P.MET và phụ gia bột trước khi đưa vào hầm ủ

- Rác sau khi đã trộn đều cùng các chế phẩm sinh học P.MET và phụ gia bột, được đưa chuyền vào hầm ủ theo từng lớp dày 20 cm

Mỗi lớp rác 20 cm được phun chất P.MET và rải phụ gia bột, lặp đi lặp lại cho đến khi đầy hầm ủ; miệng hầm ủ được phủ kín bằng vải bạt không trong suốt để che chắn và kiểm soát mùi.

- Thời gian ủ rác 28 - 30 ngày Trong quá trình ủ rác, thực hiện phun

P.MET để bổ sung vi sinh và độ ẩm giúp cho các vi sinh vật phân hủy chất hữu cơ nhanh

Rác thải sau khi ủ 28–30 ngày được đưa lên sàng phân loại để thu được mùn thô Mùn thô được nghiền mịn và sau đó tách bằng khí tuyển để phân biệt mùn hữu cơ khỏi cát và đất đá Mùn tinh thu được là nguyên liệu để sản xuất phân bón và các sản phẩm từ mùn hữu cơ khác.

Trong quản lý rác thải sinh hoạt, các thành phần phi hữu cơ được tái chế hoặc chôn lấp tùy theo khối lượng và điều kiện kinh tế để tối ưu chi phí và hiệu quả xử lý Công nghệ nổi bật cho xử lý rác thải sinh hoạt bằng biện pháp yếm khí tùy nghi - A.B.T có đặc điểm nổi bật như khả năng phân hủy sinh học nhanh, giảm thể tích rác và tạo ra khí biogas, đồng thời cho phép điều chỉnh mức độ yếm khí theo nhu cầu vận hành và điều kiện thực tế nhằm tối ưu hiệu quả xử lý và khai thác nguồn năng lượng từ rác thải.

Trong quy trình vận chuyển và xử lý rác, hệ thống được thiết kế để không phát sinh mùi hôi thối và khí độc hại, đảm bảo môi trường sạch và an toàn cho cộng đồng Quá trình xử lý rác được kiểm soát nhằm ngăn ngừa khí dễ cháy nổ, giảm thiểu rủi ro và tai nạn trong vận hành Nhờ đó, hoạt động vận hành diễn ra an toàn, hiệu quả và thân thiện với môi trường.

- Không sinh ra nước rỉ rác

- Chi phí đầu và chi phí vận hành thưòng xuyên thấp, ít tốn điện năng

- Không nhất thiết phải phân loại rác trước khi ủ, phù hợp với đặc điểm ở Việt Nam hiện nay là rác thải không được phân loại tại nguồn

Công nghệ xử lý chất thải rắn A.B.T có thể ứng dụng ở mọi quy mô xử lý từ quy mô cụm gia đình, thôn xóm đến đô thị lớn, nhờ khả năng mở rộng linh hoạt theo tốc độ phát sinh rác Hệ thống có thể được xây dựng ở gần nguồn phát sinh rác, từ đó giảm chi phí vận chuyển và chi phí xây dựng, đồng thời tối ưu hóa hiệu quả xử lý Đặc biệt, công nghệ A.B.T cho phép mở rộng khu xử lý theo nhịp độ gia tăng lượng rác thải, giúp đáp ứng tiến độ xử lý và tiết kiệm chi phí vận hành.

Công nghệ xử lý chất thải rắn A.B.T được so sánh với công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh và một số công nghệ xử lý rác khác nhằm làm rõ lợi ích về chi phí Theo phân tích, A.B.T có lợi thế giảm thiểu chi phí xây dựng và vận hành hệ thống nước rỉ rác cũng như hệ thống thu gom khí thải so với các giải pháp chôn lấp truyền thống Đồng thời, công nghệ này giúp tối ưu hóa diện tích chôn lấp rác, giảm không gian cần lưu trữ và tăng hiệu quả xử lý chất thải Nhờ đó, A.B.T được xem là lựa chọn tiết kiệm chi phí và hiệu quả về mặt môi trường trong quản lý chất thải rắn.

- Phân hữu cơ sinh học chế biến từ mùn rác có chất lượng rất cao

Công nghệ xử lý chất thải rắn A.B.T được lựa chọn dựa trên khả năng tiếp nhận chất thải của khu xử lý, sự thuận tiện trong vận hành và bảo dưỡng, nhằm phù hợp với trình độ và nguồn lực của đội ngũ cán bộ công nhân viên quản lý và vận hành khu xử lý Việc này giúp tối ưu hiệu quả xử lý, đảm bảo an toàn môi trường và duy trì hoạt động ổn định của hệ thống.

4.3.2 Kết quả khảo sát thực tế quy trình công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt bằng công nghệ A.B.T tại xã An Hảo, huyện Tịnh Biên a Thuyết minh:

 Giai đoạn xử lý sơ bộ:

Rác thải được đưa về sân thao tác để xử lý Tại đây, các túi nylon chứa rác được xé mở để rác thoát ra và đi vào khu xử lý Những loại rác có kích thước lớn được tách riêng và xử lý riêng để tối ưu hóa quy trình quản lý rác thải.

- Phun, rải, trộn đều cùng các chế phẩm sinh học P.MET và phụ gia bột trước khi đưa vào hầm ủ

- Rác sau khi đã trộn đều cùng các chế phẩm sinh học P.MET và phụ gia bột, được đưa chuyền vào hầm ủ theo từng lớp dày 20 cm

Trong quy trình ủ rác, mỗi lớp rác dày 20 cm được phun P.MET và rải phụ gia bột, lặp lại cho đến khi hầm ủ đầy Miệng hầm ủ được phủ kín bằng vải bạt không trong suốt.

- Thời gian ủ rác 28 - 30 ngày Trong quá trình ủ rác, thực hiện phun

P.MET để bổ sung vi sinh và độ ẩm giúp cho các vi sinh vật phân hủy chất hữu cơ nhanh

Hình 4.2: Sơ đồ công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt bằng biện pháp yếm khí tùy nghi - A.B.T tại An Hảo

Rác sau khi ủ 28–30 ngày được đưa lên sàng phân loại để thu được mùn thô Mùn thô được nghiền nhỏ và tiến hành tách mùn hữu cơ, cát đất, đá… bằng biện pháp khí độc học Mùn tinh thu được là nguyên liệu sản xuất phân bón và các sản phẩm khác.

- Các thành phần phi hữu cơ được tái chế hoặc chôn lấp (tùy theo khối lượng và điều kiện kinh tế)

Rác thải thu gom đưa về sân thao tác

Loại rác có kích thước lớn

Thành phần phi hữu cơ

Xé bao nilon Trộn để ủ chế phẩm P.MET, phụ gia bột với rác

Mùn nguyên liệu làm phân bón và các sản phẩm khác Đưa rác vào hầm ủ Phun chế phẩm ủ rác thời gian 28 - 30 ngày

Tách mùn, đất, cát, kim loại bằng biện pháp khí động học Nghiền mùn

Sàng phân loại tách mùn và thành phần phi hữu cơ

Nhựa, nilon, kim loại Đất, cát, gạch

Khóa luận tốt nghiệp b Các kỹ thuật về xây dựng và lắp đặt thiết bị

- Kích thước bên trong 01 ngăn hầm: (5 x 1 x 1,2) m = 6 m 3 , chiều cao nổi trên mặt sân thao tác: 0,2 m

- Lót đáy hầm bằng bê tông đá (4 x 6)m, dày 200 mm

- Số lượng hầm ủ: 32, chia làm 2 dãy, mỗi dãy gồm 16 hầm, giữa 2 dãy là sân thao tác để xử lý rác thải trước khi dưa vào hầm ủ

- Sân thao tác (xử lý rác trước và sau khi ủ 28 ngày)

- Kích thước giữa 2 dãy hầm ủ: (6 x 22,4) m 4,4 m 2

- Kích thước viền bao quanh hầm ủ: (5 x 1 x 2) +( 22,4 x 1 x 2) = 54,8 m 3 ; Tổng diện tích sân thao tác: 189,2 m 2 (làm tròn 190 m 2 )

- Kết cấu sân: bê tông dal, kích thước 1 miếng dal (0,5 x 0,5 x 0,06) m

- Mái lợp tol Fibro xi măng – khung nhà bao che bằng bê tông

- Kích thước nhà bao che (18,8 x 22,4) m = 421,1 m 2 ;

- Xung quanh bao che chắn bằng tường gạch thẻ dày 100 mm

- Kết cấu sân: bê tông dal, kích thước 1 miếng dal (0,5 x 0,5 x 0,06) m

Nhà kho đặt máy và làm việc:

- Kết cấu: móng đá chẻ, vữa xi măng 50#, tường xây gạch thẻ vữa xi măng 75#;

- Tường dầu hồi (cạnh 5,2 m), dày 200 mm;

- Máy lợp tol Fibro xi măng

- Nền lót bê tông dal, kích thước 1 miếng dal (0,5 x 0,5 x 0,06) m;

- Cửa đi: 2 cửa, kích thước (1,2 x 2,2) m;

- Của sổ: 4 cửa, kích thước (1,2 x 1,3) m, cửa gỗ

- Xây tường gạch thẻ, móng đá chẻ vữa xi măng 75#;

- Kết cấu: móng đá, tường gạch, máy tol;

- Cửa ra vào 2 cửa kích thước (0,8 x 0,8) m

Các thiết bị dụng cụ và máy móc:

- Máy xé bao nylon: 01 cái, công suất 1 tấn/giờ;

Nhiệm vụ của hệ thống là xé các bao nylon để rác thoát ra ngoài một cách hiệu quả Thiết kế gồm một trống xé bao nylon có cánh quay với đường kính 30 cm và dao xé bao 30 cm, kết hợp với dao thép 10, được chế tạo từ thép đen để tăng độ bền và khả năng chịu tải Toàn bộ hệ thống được vận hành bởi motor 5HP, đảm bảo hiệu suất làm việc ổn định và độ bền trong môi trường công nghiệp.

Hình 4.6: Máy sàng phân loại

- Băng tải: 01 cái; Chiều dài của băng tải: 5 m; Motor giảm tốc 1HP, vật liệu chế tạo bằng thép đen, băng tải có thể di động được

- Máy sàng quay: 01 cái, công suất 1 tấn/giờ;

Nhiệm vụ: Sàng phân loại mùn đã phân hủy và thành phần phi hữu cơ

(nylon, vỏ sò, thủy tinh…) sau khi ủ 28 ngày Trống quay phân loại 2 lớp sàng, lớp trong 10 mm, lớp ngoài 6 mm, mỗi lớp sàng có 1 cửa ra liệu riêng

Vật liệu chế tạo bằng thép đen; Motor 5HP

- Máy nghiền: 01 cái, công suất 0,5 tấn/giờ;

- Máy phun chế phẩm: 01 cái;

- Dụng cụ đo nhiệt độ: 01 cái;

- Dụng cụ do pH: 01 cái;

- Máy khâu miệng bao: 01 cái;

Hóa chất sử dụng trong công nghệ:

- Sử dụng chế phẩm P.MET: 2 lít P.MET + 10 lít nước/tấn rác

- Phụ gia bột: 3 kg/tấn rác

Chu kỳ mỗi lớp rác 20 cm phun chế phẩm và rải phụ gia bột c Vận hành thử nghiệm

Ngày đăng: 30/10/2022, 11:48

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w