Tính ổn định của nguồn nước Mục đích của việc xử lí ổn định nước là giữ cho nước luôn ở môi trường trung tính, nhằm ngăn ngừa các quá trình xâm thực hoặc lắng đọng của cặn CaCO3 trong
Trang 1CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Giới thiệu
Cùng với xu hướng phát triển của toàn cầu, Việt Nam đang từng bước đi lên
trở thành một nước công nghiệp phát triển Thành phố Hồ Chí minh là một trong
những thành phố lớn của cả nước đóng góp một phần rất lớn vào sự phát triển
kinh tế của cả nước Để giữ được mức tăng trưởng như hiện nay và có thể phát
triển bền vững trong tương lai, Thành phố cần những hoạt động đầu tư nhiều hơn
nữa cho các công trình cơ sở hạ tầng như: mạng lưới điện, mạng lưới cấp nước,
thông tin liên lạc cũng như đầu tư cho việc bảo vệ môi trường Thành phố
Mỗi năm, ngoài những người dân đã định cư lâu năm thì Thành phố còn tiếp
nhận hàng ngàn người nhập cư đến đây với mục đích lao động, học tập Do đó
nằm trong tiến trình phát triển Thành phố thì việc phát triển và cung cấp đủ nước
sạch cho người dân là hết sức quan trọng
Việc phát triển xây dựng nhà máy nước ngầm Hocmôn GĐ II nhằm đáp ứng
nhu cầu sử dụng nước ngày càng lớn của người dân ở phía tây Thành phố, góp
phần trong việc quản lý việc khai thác và sử dụng nguồn nước ngầm hợp lý hơn
Nhà máy nằm trong vùng có trữ lượng nước ngầm dồi dào, có sẵn đường dây cao
thế lại nằm gần trung tâm Thành phố nên rất thuận tiện cho việc xây dựng, khai
thác và cung cấp nước cho người dân
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Nghiên cứu lựa chọn phương án xây dựng Nhà máy nước ngầm HocMôn
mang tính khả thi cao phù hợp với quan điểm bảo vệ môi trường và phát triển
bền vững
- Cung cấp đủ lượng nước cho các nhu cầu: sinh hoạt, công nghiệp, tưới tiêu,
thương mại, công nghiệp, dịch vụ, chữa cháy ở phía tây Thành phố, giảm áp
lực cấp nước cho Nhà máy nước Thủ Đức
1.3 Nội dung của luận văn
Qua cơ sở thu thập những số liệu khảo sát thực tế cũng như sự hướng dẫn của
giáo viên em đã đưa ra các phương án xây dựng Nhà máy nước ngầm HocMôn
GĐ II phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và công nghiệp…
- Đề xuất phương án dây chuyền công nghệ trạm xử lý
- So sánh hiệu quả kinh tế và đặc tính kỹ thuật của các phương án
Trang 2- Tính toán từng công trình chi tiết
- Bản vẽ chi tiết
1.4 Phương pháp thực hiện
- Phương pháp tổng hợp và xử lý các tài liệu liên quan
- Thu thập số liệu về khu vực: điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
- Thu thập chất lượng nước ngầm tại khu vực chuẩn bị xây dựng dự án
Trang 3CHƯƠNG 2 : GIỚI THIỆU CHUNG
2.1 Cơ sở pháp lý
- Căn cứ vào Quyết định của Bộ trưởng Bộ công nghiệp nặng về việc phê
duyệt phương án thăm dò khai thác nước dưới đất vùng Hocmôn, TPHCM
mục tiêu trữ lượng 100.000m3/ ngày do Thứ trưởng Phạm Quốc Tường ký
ngày 17/6/1992 số 227CN nặng KHKT
- Ngày 14/4/2006, UBNDTP có văn bản số 2440/UBND – ĐT giao Sở GTCC
phối hợp cùng Sở KHĐT, Tổng công ty cấp nước Thành phố, Công ty nước
ngầm Thành phố nghiên cứu lập báo cáo xác định lại nhu cầu đầu tư mở
rộng nhà máy nước ngầm Hocmôn nâng công suất nhà máy lên 100.000
m3/ngày
2.2 Vị trí xây dựng nhà máy
- Nhà máy dự định được xây dựng cạnh Nhà máy nước ngầm Hocmôn GĐ I
đang hoạt động sản xuất với công suất 50 000 m3 nằm ở phía Tây bắc TP
HCM, thuộc địa phận phường 15, Quận Tân phú và một phần Quận 12
(giếng khai thác)
- Hướng đông giáp với khu dân cư
- Hướng tây giáp với đường Chế Lan Viên
- Hướng nam giáp với nhà máy Hocmôn GĐ I
- Hướng bắc giáp với khu dân cư
2.3 Điều kiện tự nhiên
2.3.1 Địa hình
- Địa hình đồng bằng chuyển tiếp từ đông sang Tây Nam Bộ, chủ yếu là đồng
bằng và đầm lầy Tầng cấu trúc địa chất bằng lớp bột, sét bột với hàm lượng
chất hữu cơ cao
- Địa hình có cao độ từ 1 – 6 m tập trung theo Quốc lộ 1A và khu trung tâm
thành phố
2.3.2 Khí hậu
- Có 2 mùa: mùa mưa và mùa khô, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11,
lưu lượng lớn, tập trung chủ yếu trong thời gian ngắn nên rất dễ gây ra hiện
tượng xói mòn đất
Trang 4- Nhiệt độ trung bình năm: 27.00C, nhiệt độ trung bình cao nhất: 28.90C
(tháng 6), nhiệt độ trung bình thấp nhất: 25.70C (tháng 12)
- Độ ẩm trung bình năm: 79.5%, lớn nhất: 86.0%, nhỏ nhất: 71.0%
- Độ bốc hơi lớn nhất: 5.7mm, thấp nhất: 2.3mm
- Hướng gió chủ đạo từ tháng V đến tháng IX là hướng Tây Nam với tần suất
70% và tốc độ khoảng 1,2 – 1,3 m/s Từ tháng XI đến tháng II năm sau là
hướng Đông Bắc có tần suất 60% với tốc độ khoảng 1,18 – 1,44 m/s Từ
tháng II đến tháng V có gió Đông Nam với tốc độ gió trung bình là 1,36 m/s
2.3.3 Bức xạ mặt trời
- Theo số liệu điều tra, thời gian có nắng trung bình trong năm là khoảng từ
2.000 đến 2.200 giờ/năm Hàng ngày có đến 10 – 13 giờ có nắng (vào mùa
khô) và cường độ chiếu sáng vào giữa trưa có thể lên tới 100.000lux
- Cường độ bức xạ trực tiếp: vào tháng 2,3 là 0,72 – 0,79 cal/cm2.phút, tháng
6 đến tháng 12 có thể đạt 0,42 – 0,46 cal/cm2.phút vào giờ giữa trưa Lượng
bức xạ trung bình ngày 363,5 cal/cm2
2.4 Điều kiện Kinh tế – Xã hội
2.4.1 Kinh tế
- Quận Tân phú có kinh tế phát triển, là nơi tập trung nhiều khu công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp, dân cư đông đúc Có nhu cầu tiêu thụ sản phẩm lớn,
văn hóa tương đối phát triển
2.4.2 Xã hội
- Dân cư: Quận Tân phú tập trung dân cư lớn thứ 3 thành phố có mật độ dân
số 15.168 người/km2
- Giao thông:
+ Đường bộ: thuận lợi hệ thống đường nối liền với hệ thống đường xa lộ
vành đai và xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa Quốc lộ nối liền với Đồng Tháp
Mười và miền Tây Nam Bộ và nối liền với hệ thống giao thông cả nước
+ Đường thủy: thuận lợi nhờ 2 sông Sài gòn – Đồng Nai rộng lớn thuận tiện
việc giao thông vận tải trên sông, gần cảng Sài Gòn thuận tiện cho việc
vận chuyển hàng hóa
Trang 5CHƯƠNG 3 : TỔNG QUAN VỀ XỬ LÍ NƯỚC NGẦM
3.1 Tổng quan về nguồn nước
Để cung cấp nước sạch, có thể khai thác từ các nguồn nước thiên nhiên (thường
gọi là nước thô) là nước mặt, nước ngầm, nước mưa
Nước mặt bao gồm các nguồn nước từ hồ chứa, sông suối Do sự kết hợp từ các
dòng chảy trên bề mặt và thường xuyên tiếp xúc với với không khí nên các đặc
trưng của nước mặt là :
+ Chứa khí hoà tan, đặc biệt là oxy
+ Chứa nhiều chất rắn lơ lửng Đối với nước trong hồ chứa lượng chất rắn
còn lại tương đối thấp, chủ yếu ở dạng keo
Trang 6+ Có hàm lượng chất hữu cơ cao
+ Có sự hiện diện của nhiều loại tảo
Còn đối với nước ngầm thì được khai thác từ các tầng chứa nước ở dưới đất
Chất lượng nước ngầm phụ thuộc vào cấu trúc địa tầng mà nước thấm qua Khi
nước chảy qua các tầng chứa cát hoặc granít thì nước thường có tính axít và
chứa ít khoáng Trong khi nước chảy qua tầng chứa đá vôi thì nước thường có
độ kiềm bicatbonat khá cao Ngoài ra nước ngầm còn có những tính chất chung
sau:
+ Độ đục thấp
+ Nhiệt độ và thành phần hoá học tương đối ổn định
+ Không có oxy hoà tan nhưng có chứa nhiều khí H2S, CO2
+ Chứa nhiều chất khoáng hoà tan, chủ yếu là sắt, mangan, flour
+ Không có sự hiện diện của vi sinh vật
Nước biển thường có độ mặn rất cao Hàm lượng muối trong nước biển thay đổi
phụ thuộc vào vị trí địa lí như là khu ở gần cửa sông, gần bờ hay xa bờ Ngoài
ra nước biển còn có chứa nhiều vi sinh vật lơ lửng chủ yếu là các phiêu sinh
động thực vật
3.1.1 Tính chất lí học của nguồn nước
Bao gồm:
1 Nhiệt độ: ( 0 C): nhiệt độ của nước có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình xử lí
nước Sự thay đổi nhiệt độ của nước phụ thuộc vào từng loại nguồn nước Nhiệt
độ của nguồn nước mặt dao động rất lớn từ 4 - 400, phụ thuộc vào thời tiết và độ
sâu nguồn nước Còn nguồn nước ngầm có nhiệt độ tương đối ổn định từ
17-270C
2 Hàm lượng cặn không tan (mg/l): được xác định bằng cách lọc qua một đơn vị
thể tích nước nguồn qua giấy lọc, rồi đem sấy khô ở nhiệt độ (105-110)0C Hàm
lượng căn của nước ngầm thường dao động nhỏ từ 30-50mg/l, chủ yếu là cát mịn
có trong nước gây ra Hàm lượng cặn của nước mặt dao động rất lớn từ
20-5000mg/l, có khi lên tới 30000mg/l Cùng một nguồn nước, hàm lượng cặn dao
động theo mùa, mùa khô nhỏ, mùa mưa lớn Cặn có trong nước sông là do các hạt
cát, sét, bùn bị dòng nước xói rửa mang theo và các chất hữu cơ nguồn gốc động
thực vật mục nát hoà tan trong nước Hàm lượng cặn là một trong những chỉ tiêu
cơ bản để chọn biện pháp xử lí đối với nguồn nước mặt Hàm lượng cặn của
nguồn nước càng cao thì quá trình xử lí càng phức tạp
3 Độ màu của nước (tính bằng độ): được xác định theo phương pháp so sánh với
thang màu coban Độ màu của nước được gây ra bởi các hợp chất hữu cơ, các
Trang 7hợp chất keo sắt, nước thải công nghiệp hoặc do sự phát triển của rong rêu, tảo
Nước trong ao hồ thường có độ đục cao
4 Mùi và vị của nước: nước có mùi là do trong nước có các khí, các muối khoáng
hoà tan, các hợp chất hữu cơ và vi trùng, nước thải công nghiệp chảy vào và các
hoá chất hoà tan… Nước có thể có mùi bùn, mùi tanh, mốc mùi clo, mùi
phenol… vị mặn, vị chua, vị chát…
3.1.2 Tính chất hoá học của nguồn nước
1 Hàm lượng cặn toàn phần (mg/l): bao gồm tất cả các chất vô cơ và hữu cơ có
trong nước, không kể các chất khí Cặn toàn phần được xác định bằng cách đun
cho bốc hơi một lượng dung tích nước nguồn nhất định và được sấy khô ở nhiệt
độ 105 – 1100C cho đến khi trọng lượng không đổi
2 Độ cứng của nước: là đại lượng biểu thị hàm lượng các muối của canxi và
magiê có trong nước Có thể phân biệt thành ba loại độ cứng: độ cứng tạm thời,
độ cứng vĩnh viễn và độ cứng toàn phần Độ cứng toàn phần biểu thị tổng hàm
lượng các muối của canxi và magiê có trong nước Độ cứng vĩnh viễn biểu thị
tổng hàm lượng các muối còn lại của canxi và magiê có trong nước Độ cứng
toàn phần là tổng của hai độ cứng trên Độ cứng có thể đo bằng độ độ đức, kí
hiệu kà 0dH, 10dH = 10mg CaO Nước có độ cứng cao gây cản trở cho sinh hoạt
và sản xuất
3 Độ pH của nước: đặc trưng bởi nồng độ ion H+ có trong nước Khi pH = 7
nước có tính trung tính, pH < 7 nứơc mang tính axít, pH > 7 nước mang tính
kiềm Nước nguồn có độ pH thấp sẽ gây khó khăn cho quá trình xử lí
4 Độ kiềm của nước (mgđl/l): có thể phân biệt thành độ kiềm toàn phần và độ
kiềm riêng phần Độ kiềm toàn phần bao gồm tổng hàm lượng các ion
bicacbonat, cacbonat, hyđroxít và anion của các muối của các axít yếu Độ kiềm
riêng phần còn gọi là độ kiềm bicacbonát Độ kiềm của nước ảnh hưởng trực tiếp
đến tốc độ và hiệu quả xử lí nước Nước có độ kiềm yếu cần phải bổ sung hóa
chất để kiềm hoá nước
5.Độ oxi hóa(mg/l O2 hay KMnO4): là lượng oxi cần thiết để oxi hoá hết các hợp
chất hữu cơ có trong nước Chỉ tiêu oxi hoá là đại lượng để đánh giá sơ bộ mức
độ nhiễm bẩn của nguồn nước Độ oxi hoá của nguồn nước càng cao chứng tỏ
nước bị nhiễm bẩn và chứa nhiều vi trùng
6 Hàm lượng sắt (mg/l): sắt tồn tại ở dạng sắt (II )hoặc sắt (III) Trong nguồn
nước ngầm, sắt thường tồn tại ở dạng sắt( II) hoà tan của các muối bicacbonat,
sunfat, clorua, đôi khi ở dạng keo của axit humic hoặc keo silic Khi tiếp xúc với
oxi hoặc chất oxi hoá, sắt( II) bị oxi hoá thành sắt(III ) và kết tủa Fe(OH)3 có màu
nâu đỏ Nước ngầm thường có hàm lượng sắt cao, đôi khi lên đến 30mg/l hoặc có
thể còn cao hơn nữa Nước mặt chứa sắt( III) ở dạng keo hữu cơ hoặc cặn huyền
Trang 8phù, thường có hàm lượng không cao và có thể khử sắt kết hợp với công nghệ
khử đục Khi trong nước có hàm lượng sắt > 0,5mg/l, nước có mùi tanh khó chịu,
làm vàng ố quần áo, hư hỏng các sản phẩm của ngành dệt…
7 Hàm lượng mangan (mg/l): mangan thường có trong nước ngầm ở dạng
mangan (II), nhưng với hàm lượng nhỏ hơn sắt rất nhiều Tuy vậy với hàm lượng
mangan > 0,05mg/l đã gây ra các tác hại cho việc sử dụng và vận chuyển nước
như sắt Công nghệ xử lí mangan thường kết hợp với khử sắt trong nước
8 Các hợp chất của axit silic (mg/l): thường gặp trong nước thiên nhiên ở dạng
keo hay ion hoà tan, tuỳ thuộc vào độ pH của nước Nồng độ axít silic trong nước
cao gây khó khăn cho việc khử sắt
9 Các hợp chất chứ nitơ (mg/l): tồn tại trong nước thiên hiên dưới dạng nitrit,
nitrat và ammoniac Các hợp chất chứa nitơ có trong nước chứng tỏ nước đã bị
nhiễm bẩn bởi nước sinh hoạt
10 Hàm lượng sunfat và clorua (mg/l): tồn tại trong thiên nhiên dưới dạng các
muối natri, canxi, magiê và axit H2SO4, HCl
11 Iốt và flo (mg/l): thường gặp trong nước dưới dạng ion và chúng có ảnh
hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của con người Hàm lượng flo có trong nước uống
nhỏ hơn 0,7mg/l dễ gây bệnh đau răng, lớn hơn 1,5mg/l gây hỏng men răng Ở
những vùng thiếu iốt thường xuất hiện bệnh bướu cổ
12 Các chất khí hoà tan: các chất khí O2, CO2, H2S trong thiên nhiên dao động
rất lớn Khí H2S có trong nước gây ra mùi trứng thối và ăn mòn kim loại Hàm
lượng O2 hoà tan trong nước phụ thuộc vào nhiệt độ, áp suất, đặc tính của nguồn
nước Các nguồn nước mặt thường có hàm lượng oxi hoà tan cao do có bề mặt
thoáng tiếp xúc trực tiếp với oxi không khí Nước ngầm có hàm lượng oxi hoà tan
thấp hoặc không có do các phản ứng oxi hoá xảy ra trong long đất đã tiêu hao hết
oxi Khí oxi có vai trò quyết định trong sự ổn định của nước thiên nhiên
3.1.3 Tính ổn định của nguồn nước
Mục đích của việc xử lí ổn định nước là giữ cho nước luôn ở môi trường trung
tính, nhằm ngăn ngừa các quá trình xâm thực hoặc lắng đọng của cặn CaCO3
trong các công trình xử lí và vận chuyển nước
Trong thực tế có hai phương pháp đánh giá tính ổn định của nước
- Phương pháp Langlier:
Dựa vào chỉ số pHs là chỉ số của pH của nước tương ứng với trạng thái cân bằng
của các hợp chất axít cacbonic và được gọi là pH bão hoà:
I = pH0-pHs
Trong đó: pH0 là pH thực của nước
Nếu pH0 < pHs thì I < 0 nước có tính xâm thực bêtông
Trang 9pH0 = pHs, thì I = 0 nước ổn định, không xâm thực cũng không lắng đọng CaCO3
pH0 > pHs, thù I > 0 nước có xu hướng lắng đọng CaCO3Trong thực tế, do khó điều chỉnh chất lượng nước nên có thể chấp nhận giá trị I
từ - 0,5 đến + 0,5 Nhưng phương pháp này chỉ xác định tính xâm thực bêtông do
CO2 gây ra Giá trị pHs có thể xác định bằng thực nghiệm hoặc dùng phương
pháp toán đồ với các đại lượng cho biết là nhiệt độ, độ cứng canxi, độ kiềm và
tổng khoáng chất hoà tan có trong nước
- Phương pháp Marble Test:
Dựa vào sự thay đổi độ pH và độ kiềm sau khi bão hoà nước với CaCO3 trong 24
giờ Phương pháp này có thể đánh giá tính ổn định của nước đối với bêtông và
xác định được pH tại mức ổn định
Ngoài ra để đánh giá tính ăn mòn của kim loại của nước có thể dùng phương
pháp xác định độ ăn mòn của kim loại Nguyên tắc cơ bản của phương pháp này
là ngâm sắt kim loại trong dung dịch nước không có oxi để đánh giá khả năng
hoà tan của kim loại sau một thời gian thí nghiệm 24 giờ Kết quả có thể cho biết
mức độ ăn mòn của nước
3.2 Tổng quan về các phương pháp xử lý nước ngầm
3.2.1 Quá trình khử sắt
Trong thiên nhiên, kể cả nước mặt và nước ngầm đều có chứa sắt Hàm lượng sắt
và dạng tồn tại của chúng tuỳ thuộc vào từng loại nguồn nước, điều kiện môi
trường và nguồn gốc tạo thành chúng Trong nước mặt, sắt tồn tại ở dạng hợp
chất Fe3+ thường là Fe(OH)3 không tan ở dạng keo hoăc huyền phù, hoặc ở dạng
hợp chất hữu cơ phức tạp ít tan Hàm lượng sắt trong nước mặt thường không lớn
và sẽ được khử trong quá trình làm trong nước
Trong nước ngầm, sắt thường tồn tại ở dạng Fe2+ là thành phần của muối hoà tan
như bicacbonat, sunfat Hàm lượng sắt có trong nước nước ngầm tương đối cao
và phân bố không đều trong các lớp trầm tích dưới sâu
Cho đến nay, nhiều phương pháp khử sắt đã được nghiên cứu và thực hiện có
hiệu quả các phương pháp khử sắt có thể chia làm hai dang như sau:
Trang 10+ Làm thoáng và lọc hai bậc
- Phương pháp hoá học:
+ Làm thoáng, xử lí chất oxy hoá và loc
+ Kiềm hoá, tuyển nổi áp lực và lọc
+ Làm thoáng, oxy hoá, keo tụ, tuyển nổi, lắng trong tầng cặn lơ lửng và
lọc + Lọc qua lớp vật liệu lọc đặc biệt
+ Trao đổi ion
Sơ lược quá trình khử sắt trong nước ngầm
Sắt ở trong nước tồn tại dưới dạng sắt (II) và sắt (III) tuỳ thuộc vào điều kiện nhất
định, Fe2+ tạo thành muối với hầu kết các anion, tạo thành FeCO3, Fe203, FeS
lắng cặn hoặc hoà tan trong các điều kiện khác nhau Khi tiếp xúc lâu dài với
không khí, hyđroxít sắt kết tủa chuyển hoàn toàn thành Fe2O3.H2O
Điện thế của cặp Fe3+/Fe2+ bằng 0,77V, do đó permanganatkali, ozôn,
hypochlorite OCl- cũng như oxy phân tử có thể oxy hoá Fe2+ thành Fe3+
- Trong môi trường axít, quá trình oxi hoá Fe2+ thành Fe3+ bằng oxi được biễu
diễn như sau:
Khi tăng độ axít (giảm pH), sự oxi hoá của các ion sắt bị chậm lại Nguyên nhân
của hiện tượng này là bởi vì các ion oxít sắt nằm trong nước ở dạng phức chất với
nhóm OH- Sự oxy hoá Fe2+ bởi oxy phân tử được tiến hành qua các giai đoạn tạo
thành ion FeO2+, do kết quả tương tác của các ion này với những ion của
hypooxít sắt tạo nên một liên kết trung gian có hai nhân, phản ứng tổng cộng sẽ
là:
2 ( 2 ) ( ) ( )
Dẫn đến sự tạo thành các ion hyđroperoxit, nó nhanh chóng bị phân huỷ thành
các ion sắt và HO2-, HO2- sẽ tiếp tục hoặc oxyhoá hypooxit sắt hoặc sẽ thuỷ phân
đến oxy nguyên tử
Fe3+ cũng như Fe2+ kết hợp với đa số các anion, trừ những anion có tính khử
Đặc trưng của Fe3+ trong nước là chúng có khả năng thuỷ phân và tạo phức Giai
đoạn ban đầu của quá trình thuỷ phân xảy ra ở pH gần như bằng 0, được mô tả
bằng những phản ứng sau đây:
Trang 11Trong đó phản ứng đầu tiên tương ứng với phản ứng phân huỷ ion hecxan có kèm
theo việc bỏ một proton
Ion hecxan tồn tại trong nước có độ axít cao, chứa muối Fe3+ cũng như trong một
số tinh thể ngậm nước Khi tăng pH lên lớn hơn 2-3 tạo thành những liên kết clo
khả năng kết tủa mạnh hơn Khi pH = 6-8 và cao hơn oxit sắt ngậm nước sẽ kết
tủa dạng màu nâu đỏ Fe3+ có thể là chất oxy hoá, bởi vì FeS không kết tủa từ
nước Trong nước chứa FeS hoặc H2S, khi có mặt của Fe3+ sẽ tạo nên dạng keo
và FeS Cũng như vậy không thể được trong kết tủa Fe2(CO3)3 Trong nước có
chứa bicarbonate sắt và carbonat sắt thì ion Fe3+ sẽ tạo nên hyđroxit mà khi nâng
pH lên cao sẽ bị kết tủa
Cho đến nay, mặc dù các dạng tồn tại của sắt trong nước tự nhiên vẫn chưa được
nghiên cứu đầy đủ, tuy nhiên một điều rõ ràng là dạng tồn tại chủ yếu của sắt
trong nước ngầm là Fe(HCO3)2, nó chỉ bền vững khi nồng độ axit carbonic cao và
không có mặt oxy trong nước
Khi giảm nồng độ CO2, có nghĩa là tăng pH và với sự có mặt của oxy thì các
phản ứng thuỷ phân xảy ra và sắt chuyển sang dạng ít tan
2
Fe HCO H O Fe OH H CO
Nhiều các liên kết trung gian được tạo thành trong quá trình này, tiếp theo đó là
Fe2+ sẽ bị oxy hoá theo phản ứng sau:
4Fe OH( ) O 2H O 4Fe OH( )
3.2.2 Quá trình khử mangan
Trong thực tế việc khử mangan thường được tiến hành đồng thời với khử sắt
Trong nước ngầm mangan thường tồn tại ở dạng Mn2+ hoà tan hoặc có thể ở dạng
keo không tan Khi Mn2+ bị oxi hoá sẽ chuyển hoá về dạng Mn3+ và Mn4+ ở dạng
hyđrôxít kết tủa
2Mn HCO( ) O 6H O 2Mn OH( ) 4H 4HCO
Kết quả thực nghiệm cho thấy, nếu không có chất xúc tác và pH < 8 thì quá trình
oxi hoá Mn2+ diễn ra rất chậm, pH tối ưu để khử Mn2+ là 8,5 - 9,5
Khử mangan có thể bằng làm thoáng hoặc dùng hoá chất như clo, vôi, ozôn…hay
bằng phương pháp sinh học
3.3 Tổng quan về các công trình xử lý nước ngầm
Trang 123.3.1 Công trình thu nước ngầm
Công trình thu nước ngầm có thể chia thành các loại sau:
Giếng khoan: là công trình thu nước ngầm mạch sâu Độ sâu khoan phụ thuộc
vào độ sâu tầng chứa nước, thường nằm trong khoảng 20 - 200m, đôi khi có thể
lớn hơn Giếng khoan được sử dụng rộng rải trong mọi trạm xử lí
Hiện nay có 4 loại giếng khoan đang được sử dụng:
+ Giếng khoan hoàn chỉnh, không áp
+ Giếng khoan không hoàn chỉnh, không áp
+ Giếng khoan hoàn chỉnh, có áp
+ Giếng khoan không hoàn chỉnh, có áp
Cấu tạo giếng khoan gồm:
+ Miệng giếng
+ Ống vách để gia cố và bảo vệ giếng
+ Ống lọc
+ Ống lắng
Giếng khơi: là công trình thu nước ngầm mạch nông, thường không áp, đôi khi áp
lực yếu, chỉ áp dụng đối với các điểm dùng nước nhỏ hoặc hộ gia đình lẻ
Đường hầm thu nước: được áp dụng để thu nước ngầm mạch nông, độ sâu tầng
chứa nước không quá 8m, cung cấp cho những điểm dùng nước với lưu lượng
nhỏ
Công trình thu nước ngầm mạch lộ thiên
Công trình thu nước thấm
3.3.2 Công trình làm thoáng
Mục đích làm thoáng là làm giàu oxi cho nước và tăng pH cho nước
Làm thoáng có thể là làm thoáng tự nhiên hoặc làm thoáng nhân tạo
Các công trình làm thoáng gồm:
- Làm thoáng đơn giản: thực chất là phun hoặc tràn trên bề mặt bể lọc có chiều
cao từ trên đỉnh tràn đến mực nước cao nhất > 0,6m
Trang 13-Dàn mưa (cường độ tưới = 5 - 10m3/m2.h) là làm thoáng tự nhiên
Khử được 75 - 80% CO2, tăng DO (55% DO bão hoà)
Cấu tạo dàn mưa gồm có:
+ Hệ thống phân phối nước
+ Sàn tung nước (1 - 4 sàn), mỗi sàn cách nhau 0,8m
+ Sàn đỡ vật liệu tiếp xúc (than, đá cuội); khe lỗ chiếm 40% diện tích lỗ,
lớp vật liệu tiếp xúc dày 4cm + Hệ thống cửa chớp lấy và thoát khí
+ Sàn và ống thu nước
- Thùng quạt gió (cường độ tưới = 40 - 50m3/m2.h) làm thoáng tải trọng cao (làm
thoáng cưỡng bức) nghĩa là gió và nước đi ngược chiều
Khử được 85 - 90% CO2, tăng DO lên 70 - 85 % DO bão hoà
Cấu tạo:
- Hệ thống phân phối nước
- Lớp vật liệu tiếp xúc (thanh gỗ hay tre xếp xen kẽ, thẳng góc hoặc vòng tròn
bằng sứ nhựa) chiều cao từ 1,5 - 4,0 tuỳ thuộc vào độ kiềm
3.3.3 Bể lắng
Mục đích của bể lắng là nhằm lắng cặn nước, làm sạch sơ bộ trước khi đưa nước
vào bể lọc để hoàn thành quá trình làm trong nước Trong thực tế thường dùng
các loại bể lắng sau tùy thuộc vào công suất và chất lượng nước mà người ta sử
dụng:
Bể lắng ngang: được sử dụng trong các trạm xử lí có công suất lớn hơn 30000
m3/ngày đối trường hợp xử lí nước có áp dụng phèn và áp dụng với bất kì công
suất nào cho các trạm xử lí không dùng phèn
Bể lắng đứng: thường được áp dụng cho những trạm xử lí có công suất nhỏ hơn
(đến 3000 m3/ngày) Bể lắng đứng hay bố trí kết hợp với bể phản ứng xoáy hình
trụ Bể có thể xây bằng gạch hoặc bằng bêtông cốt thép
Bể lắng lớp mỏng: có cấu tạo giống như bể lắng ngang thông thường nhưng
khác với bể lắng ngang ở chỗ là trong vùng lắng của bể lắng có lớp mỏng được
đặt thêm các bản vách ngăn bằng thép không rỉ hoặc bằng nhựa Các bản vách
này nghiệng một góc 45 - 600 so với mặt phẳng ngang và song song với nhau
Mặc dù tiết kiệm về diện tích so với bể lắng ngang và hiệu suất lắng cao nhưng
bể này ít được sử dụng ở Việt Nam do còn một số vấn đề chưa hoàn chỉnh như là
vấn đề thu cặn chưa được nghiên cứu hoàn chỉnh
Trang 14 Bể lắng trong có lớp cặn lơ lửng: hiệu quả xử lí cao hơn các bể lắng khác và
tốn ít diện tích xây dựng hơn nhưng bể lắng trong có kết cấu phức tạp, chế độ
quản lí chặt chẽ, đòi hỏi công trình làm việc liên tục và rất nhạy cảm với sự dao
động lưu lượng và nhiệt độ của nước Bể chỉ áp dụng với đối với các trạm có
công suất đến 3000 m3/ngày
Bể lắng li tâm: có dạng hình tròn, đường kính từ 5m trở lên Bể thường được áp
dụng để sơ lắng các nguồn nước có hàm lượng cặn cao (lớn hơn 2000mg/l) với
công suất lớn hơn hoặc bằng 30000 m3/ngày thì có hoặc không dùng chất keo tụ
Bể lắng li tâm là trung tâm của bể lắng ngang và bể lắng đứng
Xiclon thuỷ lực: dùng để xử lí sơ bộ nguồn nước mặt có nhiều thành phần cặn
thô, nhất là những nguồn nước có độ đục đột xuất trong khoảng thời gian không
lâu là rất thích hợp Có kích thước gọn nhẹ, hiệu quả lắng cao, thích hợp cho
những trạm xử lí có công suất nhỏ và làm việc không liên tục
3.3.4 Bể lọc
Bể lọc chậm: dùng để xử lí cặn bẩn, vi trùng có trong nước bị giữ lại trên lớp
màng lọc Ngoài ra bể lọc chậm dùng để xử lí nước không dùng phèn, không đòi
hỏi sử dụng nhiều máy móc, thiết bị phức tạp, quản lí vận hành đơn giản Nhược
điểm lớn nhất là tốc độ lọc nhỏ, khó cơ giới hoá và tự động hoá quá trình rửa lọc
vì vậy phải quản lí bằng thủ công nặng nhọc Bể lọc chậm thường áp dụng cho
các nhà máy có công suất đến 1000 m3/ngày với hàm lượng cặn đấn 50 mg/l, độ
màu đến 50 độ
Bể lọc nhanh: là bể lọc nhanh một chiều, dòng nước lọc đi từ trên xuống, có
một lớp vậ liệu là cát thạch anh, và là lọc trọng lực Bể lọc nhanh phổ thông được
sử dụng trong dây chuyền xử lí nước mặt có dùng chất keo tụ hay trong dây
chuyền xử lí nước ngầm
Bể lọc nhanh 2 lớp: có nguyên tắc làm việc giống bể lọc nhanh phổ thông
nhưng có 2 lớp vật liệu lọc là cát thạch anh và lớp than ăngtraxít nhằm tăng tốc
độ lọc và kéo dài chu kì làm việc của bể
Bể lọc sơ bộ: còn gọi là bể lọc phá được sử dụng để làm sạch nước sơ bộ trước
khi làm sạch triệt để trong bể lọc chậm Bể lọc này làm việc theo nguyên tắc bể
lọc nhanh phổ thông
Bể lọc áp lực: là một loại bể lọc nhanh kín, thường được chế tạo bằng thép có
dạng hình trụ đứng cho công suất nhỏ và hình trụ ngang cho công suất lớn
Loại bể này được áp dụng trong dây chuyền xử lí nước mặt có dùng chất phản
ứng khi hàm lượng cặn của nguồn nước lên đến 50mg/l, độ đục lên đến 80 độ với
công suất trạm xử lí lên đến 3000 m3/ngày, hay dùng trong dây chuyền công nghệ
khử sắt khi dùng ejector thu khí với công suất nhỏ hơn 500 m3/ngày và dùng máy
nén khí cho công suất bất kì
Trang 15 Bể lọc tiếp xúc: thường được sử dụng trong dây chuyền xử lí nước mặt có dùng
chất phản ứng với nguồn nước có hàm lượng cặn đến 150mg/l, có độ màu đến
150 độ với công suất bất kì hoặc khử sắt trong nước ngầm cho trạm xử lí có công
- Khử trùng bằng các ion kim loại nặng
Ở Việt Nam, sử dụng phổ biến nhất là phương pháp khử trùng bằng các chất oxi
hoá mạnh
3.3.6 Bể chứa nước sạch
Bể chứa nước sạch có nhiệm vụ điều hoà lưu lượng nước giữa trạm bơm cấp I và
trạm bơm cấp II Nó còn có nhiệm vụ dự trữ nước chữa cháy trong 3 giờ, nước xả
cặn bể lắng, nước rửa bể lọc và nước dùng cho các nhu cầu khác của nhà máy
Bể có thể làm bằng bêtông cốt thép hoặc bằng gạch có dạng hình chữ nhật hoặc
hình tròn trên mặt bằng Bể có thể xây dựng chìm, nổi hoặc nửa chìm nửa nổi tuỳ
thuộc vào điều kiện cụ thể
3.4 Các công nghệ xử lí nước ngầm
Quá trình xử lí nước phải qua nhiều công đoạn, mỗi công đoạn được thực hiện
trong các công trình đơn vị khác nhau Tập hợp các công trình đơn vị từ đầu đến
cuối gọi là dây chuyền công nghệ Căn cứ vào chỉ tiêu chất lượng nguồn nước,
yêu cầu nước sử dụng có thể xây dựng các sơ đồ dây chuyền công nghệ khác
nhau
Trong dây chuyền xử lí nước ngầm, chủ yếu là quá trình khử sắt và khử trùng
+ Khử sắt được thực hiện trong công trình làm thoáng tự nhiên (dàn mưa), làm
thoáng nhân tạo (thùng quạt gió), bể lắng tiếp xúc, bể lọc
+ Khử trùng : chất khử trùng sử dụng phổ biến hiện nay là hợp chất clo (clorua
vôi, nước javen, clo lỏng) được đưa vào ống dẫn nước từ bể lọc sang bể
chứa hoặc đưa trực tiếp vào bể chứa Để khử trùng hiệu quả thời gian tiếp
xúc giữa nước và clo tối thiểu là 30 phút Ngoài ra có thể dùng ozôn, các tia
vật lí, sóng siêu âm để diệt trùng
Trang 16Sau đây là một số sơ đồ dây chuyền công nghệ xử lí nước uống sinh hoạt sử dụng
phổ biến ở Việt Nam
Để xử lí nước ngầm người ta dùng các sơ đồ sau :
Ejector thu khí hay máy nén khí
Bầu trộn khí
Bể lọc áp lực
nhanh
Bể chứa nước sạch
Chất khử trùng
Từ trạm
Trang 17CHƯƠNG 4: LỰA CHỌN NGUỒN NƯỚC VÀ CÔNG NGHỆ XỬ LÝ
4.1 Sơ lược tình hình GĐ I và hướng phát triển GĐ II
4.1.1 Sơ lược tình hình GĐ I
Các hạng mục công trình đều thực hiện theo đúng thiết kế được duyệt Công ty tư
vấn thiết kế cấp thoát nước số 2 – BXD (WASECO) đảm nhận hoàn thành công
trình từ thiết kế đến thi công Đến nay GĐ I đã hoàn tất và đã đưa vào sử dụng
một trạm xử lý nước và 42 giếng khoan trong đó số giếng thường xuyên hoạt
động từ 29 đến 32 giếng với lưu lượng khai thác 50.000 m3 nước sạch/ngày
Hiện trạng giếng khoan khai thác nước
Theo luận chứng kinh tế kỹ thuật đã được duyệt trong GĐ I với thiết kế 23 giếng
cho công suất 50.000 m3/ngày Hiện tại nhà máy đã khoan và đưa vào sử dụng 42
giếng trong đó một số giếng cũ có chất lượng nước xấu phải ngưng hoạt động
đồng thời thăm dò, khoan khai thác các giếng mới
Cấu tạo của giếng
Dây chuyền công nghệ: nước thô được khai thác từ các trạm bơm giếng lắp
máy bơm trục đứng đưa nước lên dàn mưa Tại dàn mưa nước được tiếp xúc
với oxi không khí và giải phóng CO2 để oxy hóa sắt Sau dàn mưa, Clo được
đưa vào nước và hòa trộn trong bể trộn đứng với định lượng trung bình 9 – 10
mg/l Mục đích đưa clo vào nước nhằm giải quyết oxy hóa Mangan trong
nước Vôi được đưa vào nước cùng với clo Từ bể trộn nước chảy sang bể
lắng tiếp xúc Tại bể lắng tiếp xúc, quá trình chuyển hóa Fe2+ thành Fe3+ và
Trang 18Mn2+ thành Mn3+ được tiến hành và cặn vôi, cặn sắt Fe(OH)3 được lắng, tách
ra khỏi nước đã lắng Sau bể lắng tiếp xúc, nước chảy sang bể lọc sau đó bơm
vào bể chứa Trạm bơm cấp II bơm nước vào mạng lưới cấp nước thành phố
Hai đơn nguyên xử lý nước, mỗi đơn nguyên có công suất thiết kế 25.000
m3/ngày bao gồm
Hệ thống dàn mưa : 1 đơn nguyên
Bể lắng tiếp xúc : 2 đơn nguyên
Bể lọc nhanh : 6 đơn nguyên
Các công trình khác như :
- Bể chứa gồm 2 bể 5000m3/bể
- Nhà hóa chất (pha vôi và clo):
+ Trạm pha clo : gồm kho chứa bình clo, nhà đặt thiết bị clo, bình chứa
clo loại 1.000kg, cân bàn loại 0 – 3.000kg, 3 bộ clorator C7 Lượng clo đưa vào nước: trước bể trộn 9 -10 mg/l và tại bể chứa 1 mg/l
+ Trạm pha vôi: do pH nguồn thấp, vôi cho vào nước sau giàn mưa với
hàm lượng 40 – 50 mg/l để nâng pH trong nước tạo điều kiện tốt cho quá trình xử lý sắt và nhằm ổn định nước Vôi sử dụng là vôi bột Hòa trộn vôi bột trong bể tiêu thụ Bể tiêu thụ có lắp đặt máy khuấy công suất động cơ N = 3,2 KW Máy bơm định lượng chuyển dung dịch vôi đến vị trí trước bể trộn
- Xưởng sữa chữa và bảo trì thiết bị
- Nhà quản lý hành chính và thí nghiệm là nhà 2 tầng: 12 * 17m
- Trạm bơm nước sạch và rửa lọc: phần đặt máy bơm chìm dưới đất, được bố
trí các bơm như sau:
+ Máy bơm D1250-65T có Q = 1.250 m3/h, H = 65m, N = 320 KW
(Trong đó 2 bơm hoạt động, 1 bơm dự phòng)
+ 1 máy bơm nước rửa lọc Q = 1.500 m3/h, H = 15m, N = 28 KW
+ 1 máy bơm gió rửa lọc Q = 28 m3/phút, H = 3m, N = 28m, N = 4,5 KW
- Hệ thống cấp điện: gồm các đường dây trung thế 15 KV và 2 trạm hạ thế,
ngoài ra còn 1 đường dây ưu tiên để đảm bảo sản xuất liên tục
- Hệ thống thoát nước: gồm hệ thống thoát nước trong nhà máy và mương lộ
thiên dẫn ra kênh Tham Lương
- Các tuyến ống: gồm tuyến ống nước thô: trong đó đường ống chính có D =
900 – 1000 và đường ống góp có D = 250 – 500 có nhiệm vụ chuyển tải
Trang 19nước thô về nhà máy xử lý và tuyến ống nước sạch bắt đầu từ nhà máy đến
đường Hùng Vương có D = 800 – 1000
4.1.2 Hướng phát triển GĐ II của Nhà máy
Hiện nay Thành phố Hồ Chí Minh lấy nguồn cấp nước chủ yếu từ Nhà máy
nước Thủ Đức và Nhà máy nước ngầm Hocmôn với tổng công suất khoảng
730 000 m3/ngày Do đó hiện trạng cấp nước của Thành phố có những tồn tại
như sau:
- Không phân phối đủ nước cần dùng cho các đối tượng tiêu thụ
- Y thức sử dụng nước của người tiêu thụ còn kém, nhiều vùng ở cuối mạng
lưới nhân dân còn tự đục ống, xây bể ngầm, lắp máy bơm hút trực tiếp từ
đường ống gây tụt áp cho toàn mạng lưới
- Tỉ lệ tổn thất lớn ( 1985: lượng thất thoát chiếm 29%, 1993 – 1994 là 40%,
hiện nay lượng thất thoát đã giảm còn khoảng 31%)
- Phần lớn đường ống đã quá cũ, chưa được cải tạo một cách đồng bộ
- Các thiết bị phụ tùng, đồng hồ, vòi nước công cộng hư hỏng không được bảo
dưỡng gây thất thoát nhiều
Sự cần thiết phải xây dựng nhà máy nước ngầm Hocmôn trong GĐ II
- Hiện nay, tình hình khai thác và sử dụng nước ngầm vẫn chưa có một sự quản
lý tập trung của các cơ quan hữu trách do đó việc khai thác và sử dụng nguồn
tài nguyên này vẫn còn tràn lan chưa có những quy dịnh rõ ràng Y thức cũng
như sự hiểu biết của những cơ sở khoan giếng tư nhân vẫn chưa cao Các cơ
sở này đều có kiến thức rất hạn chế về tầng nước ngầm của Thành phố, khoan
giếng không theo quy trình, quy hoạch mà chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu của
khách hàng Do đó cần phải xây dựng Nhà máy nước ngầm Hocmôn GĐ II
nhằm cung cấp đủ nước cho người dân ngoại thành và cũng góp phần cho
việc quản lý việc khai thác và sử dụng nước ngầm của Thành phố được dễ
dàng hơn
- Một vấn đề khác, đó là tình hình ô nhiễm nước sông Đồng Nai – Sài Gòn hiện
nay là một vấn đề đáng báo động Mỗi ngày hệ thống sông này phải nhận
khoảng 111.600 m3 nước thải từ các khu công nghiệp, khu chế xuất, trong đó
chứa hàng chục tấn hóa chất gây ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn cho phép, gây
khó khăn cho việc khai thác nguồn nước mặt từ hệ thống sông này trong
tương lai
- Do địa hình của Thành phố Hồ Chí Minh trải dài từ đông sang tây trên 15 km
nên lượng nước cấp từ Nhà máy nước Thủ Đức và Nhà máy nước HocMôn
vẫn chưa thể cấp đủ nước cho người dân ở những vùng ngoại thành
Trang 20- Theo khảo sát thăm dò trong GĐ I của Nhà máy nước ngầm Hocmôn thì khu
vực Tân bình – Hocmôn có trữ lượng lớn và dồi dào về nguồn nước ngầm thuận lợi cho việc xây dựng tăng công suất nhà máy trong GĐ II
- Nhà máy nước được xây dựng trong GĐ II ở khu vực Hocmôn – Tân Bình
gần nội thành, không bị ngăn cách bởi sông lớn, có sẵn đường dây điện cao thế, thuận lợi để đưa nước về phía tây thành phố
- Trong GĐ I và chuẩn bị cho bước phát triển của GĐ II Ngân hàng đầu tư và
phát triển châu Á (ADB) đã và sẽ đầu tư cho việc phát triển dự án với lãi suất thấp
4.2 Các loại nguồn nước có trong khu vực
4.2.1 Nước mưa
Mức độ ô nhiễm của nước mưa chảy tràn phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Tình trạng vệ sinh trong khu vực
- Khả năng tiêu thoát nước mưa của hệ thống cống
- Chất lượng môi trường không khí Lượng mưa trong khu vực tương đối dồi dào nhưng do chịu ảnh hưởng của khí
thải từ những nhà máy, xí nghiệp và các khu công nghiệp tập trung nên chất
lượng nước mưa có nhiều chất bẩn công nghiệp Đồng thời lượng nước mưa
phân bố không đều chỉ có nhiều từ tháng 6 – 11 trong năm Lượng mưa trung
bình tháng được thể hiện tại trạm đo mưa Tân sơn nhất gần khu dự án
Bảng 4.1: LƯỢNG MƯA TRUNG BÌNH TẠI TRẠM TÂN SƠN NHẤT
Nguồn nước mặt gần khu dự án nhất là kênh Tham Lương, trong quá trình hoạt
động, nước thải của nhà máy thải ra kênh này Ngoài ra kênh này cũng tiếp
nhận nguồn thải từ các nhà máy, xí nghiệp trong khu vực nên nguồn nước tại
kênh này bị ô nhiễm khá nặng Chất lượng nước kênh Tham lương được trình
này trong bảng 4.2
Bảng 4.2 CHẤT LƯỢNG NƯỚC KÊNH THAM LƯƠNG
Trang 21- Vị trí bãi giếng chuẩn bị khai thác cho GĐ II nằm trong khu vực phường Tân
An, Tân Chánh, Tân Thới Hiệp thuộc huyện Hocmôn Hiện nay một số giếng
đã được khai thác cung cấp cho Nhà máy nước Hocmôn GĐ I Chất lượng
nguồn nước ngầm từ giếng khoan được thể hiện trong bảng
Bảng 4.3 CHẤT LƯỢNG NGUỒN NƯỚC NGẦM
STT Chỉ tiêu Đơn vị Giá trị
Nguồn số liệu : Nhà máy nước ngầm HocMôn
4.3 Lựa chọn nguồn nước
- Qua khảo sát chất lượng các nguồn nước ở trên cho thấy:
Nguồn nước mưa tuy nhiều nhưng không phân bố đều các tháng trong năm
Mặt khác lại bị ô nhiễm do khí thải của các nhà máy, xí nghiệp và các khu
công nghiệp trong khu vực
Nguồn nước mặt từ kênh Tham Lương hiện nay cũng đã bị ô nhiễm khá
nặng do chất thải từ nhà máy Hocmôn 1 và các nhà máy, xí nghiệp sản xuất
trong khu vực
Đối với nguồn nước ngầm tại khu vực dự án có các ưu và khuyết điểm sau:
Trang 22 Nước ngầm tại khu vực dự án có trữ lượng dồi dào, lại là một nguồn tài
nguyên thường xuyên, ít chịu ảnh hưởng của các nhân tố khí hậu như hạn hán Chất lượng nước ổn định ít bị biến đổi theo mùa như nước mặt
Việc xây dựng các công trình xử lý ít tốn kém so với nước mặt
Chủ động vấn đề cấp nước cho đối tượng sử dụng ở cuối Thành phố,
cũng như ở cuối mạng lưới cấp từ Nhà máy nước Thủ Đức
Nguồn nước ngầm có pH thấp Hàm lượng CO2 hòa tan cao Môi trường
pH này không thuận lợi cho việc khử sắt và mangan
Sắt và mangan không tồn tại ở dạng keo mà tồn tại ở dạng vô cơ của
muối HCO3- và Cl-
- Qua so sánh các yếu tố trữ lượng cũng như chất lượng của các nguồn nước
có trong khu vực dự án( không xét đến nước mưa vì có sự phân bố không
đều) ta thấy nguồn nước mặt từ kênh Tham Lương không thể sử dụng cho
mục đích cấp nước do chất lượng nước đã bị ô nhiễm, trữ lượng lại không
nhiều và khả năng tư làm sạch của kênh là rất kém Do đó ta chọn nguồn
nước ngầm để cấp cho Nhà máy nước ngầm Hocmôn trong GĐ II
4.4 Lựa chọn công nghệ xử lý
4.4.1 Mục đích của việc xử lý
Vì nước nguồn chưa đạt tiêu chuẩn cấp nước trực tiếp cho sinh hoạt và ăn uống
nên cần phải xử lý trước khi đưa đến các đối tượng sử dụng Qua so sánh ta
thấy để sử dụng được nước khoan tai các giếng khoan cấp cho mục đích sinh
hoạt và ăn uống thì chủ yếu là xử lý sắt và nâng pH của nước lên đúng tiêu
chuẩn cho phép
4.4.2 Đề xuất phương án xử lý
Việc lựa chọn công nghệ xử lý nước phụ thuộc vào chất lượng và đặc trưng của
nguồn nước thô Các vấn đề cần đề cập đến khi thiết kế hệ thống xử lý nước
bao gồm chất lượng nước thô, yêu cầu và tiêu chuẩn sau xử lý Dựa vào các số
liệu đã có, so sánh chất lượng nước thô và nước sau xử lý để quyết định cần xử
lý những chất gì, chọn những thông số chính về chất lượng nước và đưa ra kỹ
thuật xử lý cụ thể Theo chất lượng nước nguồn đã có thì các phương án xử lý
Clo khử trùng
MLCN
Bể trộn
Vôi
Bể phản ứng
Bể lắng ngang
Trang 23- Nước sau khi qua giàn mưa được cho thêm vào hóa chất là vôi, rồi dẫn qua bể
trộn Nhờ bể trộn hóa chất được khuấy trộn đều với nước nhằm nâng pH và
tăng hiệu quả quá trình khử sắt và mangan trong bể lắng
- Nước sau khi qua bể trộn được dẫn vào bể phản ứng kết hợp bể lắng ngang tạo
điều kiện cho quá trình oxy hóa và thủy phân sắt diễn ra hoàn toàn, đồng thời
giữ lại một phần bông cặn trước khi qua bể lọc
- Tại bể lọc, những cặn còn lại của quá trình lắng sẽ được giữ lại trong lớp vật
liệu lọc và giữ lại các chất như sắt và mangan Sau đó nước được bơm về bể
chứa nước sạch Nước được giữ lại tại đây và được bơm clo vào khử trùng
trước khi qua trạm bơm cấp II bơm vào mạng lưới sử dụng
Phương án 2:
- Tương tự phương án 1, nhưng ở phương án 2 ta không dùng công trình khử sắt
là giàn mưa mà sử dụng thùng quạt gió Và ở phương án 2 ta sử dụng bể lắng
trong có lớp cặn lơ lửng
Thùng quạt gió
Bể lắng trong có lớp cặn lơ lửng
Bể lọc nhanh Bể chứa
Trang 244.4.4 So sánh hai phương án
So sánh Phương án 1 Phương án 2
Ưu điểm - Giàn mưa dễ vận hành và
cải tạo khi chất lượng nước đầu vào thay đổi
- Bể lắng ngang hoạt động
ổn định, có thể hoạt động tốt ngay khi chất lượng nước đầu vào thay đổi Vận hành đơn giản
- Các công trình được hợp khối nên chiếm diện tích không đáng kể
- Chủ động trong việc tăng giảm lưu lượng hằng ngày hay tăng công suất xử lý khi cần thiết
- Khi nước qua bể lắng ngang kết hợp bể phản ứng thì hiệu suất xử lý gần như tương đương so với bể lắng trong có lớp cặn lơ lửng
- Hệ số khử khí CO2 trong thùng quạt gió là 90 – 95% cao hơn so với trong giàn mưa là 80 – 85%
- Bể lắng trong có lớp cặn lơ lửng đạt hiệu suất cao hơn bể lắng ngang trong xử lý
- Khối lượng công trình nhỏ ít chiếm diện tích xây dựng
Nhược điểm - Giàn mưa tạo tiếng ồn khi
hoạt động, khối lượng công trình chiếm diện tích lớn
- Thùng quạt gió vận hành khó hơn giàn mưa, khó cải tạo khi chất lượng nước đầu vào thay đổi, hao phí điện khi vận hành
- Khi tăng công suất phải xây dựng thêm thùng quạt gió chứ không thể cải tạo
Trang 25- Bể lắng trong có lớp cặn lơ lửng xây dựng và vận hành phức tạp, đòi hỏi người xây dựng và vận hành phải có trình độ và kinh nghiệm
- Bể lắng trong rất nhạy cảm với
sự dao động về lưu lượng và nhiệt
độ nguồn nước khó khăn khi tăng giảm lưu lượng nước đầu vào
CHƯƠNG 5 : TÍNH TOÁN THIẾT KẾ CÔNG TRÌNH ĐƠN VỊ
Trang 265.1 Tính toán công trình đơn vị theo phương án 1
5.1.1 Giàn mưa làm thoáng
Kích thước giàn mưa
Diện tích mặt bằng giàn mưa
2 2083
208,3 10
Chọn số ngăn trên giàn mưa N = 10
Diện tích mỗi ngăn:
2 n
Chọn kích thước mỗi ngăn : 5 x 4,2 m
- Với hàm lượng sắt từ 18 – 20 mg/l chọn giàn mưa có 4 sàn tung nước bằng
những tấm inox được đục lỗ có d = 3mm, khoảng cách giữa các lỗ là 100mm
Khoảng cách giữa các sàn tung nước là 0,7m Chọn chiều cao ngăn thu nước là
0,3m; chiều cao trên sàn tung nước cao nhất là 0,1m
Chiều cao 1 giàn mưa = 0,7 x 4 + 0,3 + 0,1 = 3,2 m
Ong phân phối nước
Lưu lượng trên mỗi ngăn của giàn mưa:
3 n
Theo quy phạm khoảng cách giữa các trục ông nhánh nằm trong khoảng 200 –
300mm Với kích thước giàn mưa 5 x 4,2m lấy khoảng cách giữa các ống nhánh
là 300mm
Vậy số ống nhánh trên 1 ngăn là : 4,2 0,6 12
0,3 -
= ống
Trang 27- Chọn đường kính ống nhánh d = 100mm Trên mỗi ống khoan 2 hàng lỗ so le
nhau hướng xuống dưới nghiêng một góc 450 so với phương ngang Đường kính
lỗ khoan lấy là d = 8mm ( Theo TCVN 33:2006 : 5 – 10mm) Khoảng cách giữa
các lỗ là 100mm
- Với Q = 578 l/s Tính được đường kính ống thu nước cùa sàn thu dẫn qua bể
trộn Chọn 4 đường ống d = 400 mm, v = 1,48 m/s dẫn sang 4 bể trộn (Theo
TCVN 33 : 2006 v = 1,5m/s)
- Bố trí 4 vòi phun nước rửa sàn d = 40 mm, nằm về một phía của giàn mưa, với
khoảng cách phục vụ xa nhất là 10m
- Trang bị 10 ống thoát nước sàn d = 100 mm để xả nước thau rửa giàn mưa
Xác định các chỉ tiêu sau khi làm thoáng
Độ kiềm sau khi làm thoáng
Chọn vận tốc nước trong ống dẫn nước nguồn vào bể v = 1,2m/s khi đó đường
kính của ống dẫn nước nguồn ở đáy bể là 390 mm
Đường kính ngoài của ống dẫn nước là 400mm
Do đó diện tích đáy bể (chỗ nối với ống) sẽ là:
Trang 2831
Thiết kế thu nước bằng máng vòng có lỗ ngập trong nước Nước chảy trong máng
đến chỗ ống dẫn nước ra khỏi bể theo 2 hướng ngược chiều nhau nên lượng nước
của máng thu nước sẽ là:
3 m
là:
m m
Độ dốc của máng về phía ống tháo nước ra lấy bằng 0,02 tổng diện tích các lỗ
ngập thu nước ở thành máng với tốc độ nước chảy qua lỗ vl = 1m/s sẽ là:
Trang 29l l
f n
Lấy chiều rộng bể phản ứng bằng chiều rộng bể lắng ngang B = 8,7 m
Chiều dài ngăn phản ứng
90,310,38,7
Trang 30Chọn chiều rộng đáy ngăn bđ = 0,3m
Chọn chiều cao phần hình chóp đáy : hđ = 1 m
Vậy tổng chiều cao bể kể cả chiều cao bảo vệ hbv = 0,4 m là :
H = h + hđ + hbv = 3 + 1 + 0,4 = 4,4 m
Hệ thống phân phối nước
Nước theo mương vào máng kết hợp ngăn tách khí Nước từ máng phân
phối đầu xuống đáy bể bằng ống đứng chạc ba
Mương phân phối nước Diện tích mặt cắt mương với vận tốc nước chảy trong mương vm = 0,7 m/s là :
2
0,578
0,770,75
Máng phân phối nước (đóng vai trò ngăn tách khí )
- Tổng số máng phân phối nước : 3N = 3 x 4 = 12
- Tốc độ nước đi xuống ống phân phối 0,5 m/s (Theo TCVN 33 : 2006
Trang 31- Vận tốc nước chảy trong ống:
3
4 4 1,5.10
0,7 /0,1
Ong nhánh phân phối nước
Từ ống chính nước sẽ được phân phối theo 2 hướng bời 2 ống nhánh
Lưu lượng nước qua mỗi ống nhánh
n n
- Trong ngăn phản ứng đặt 3 vách ngăn hướng dòng
- Lấy mép dưới vách ngăn cách đáy bể 0,2m
- Khoảng cách giữa các vách ngăn : 10,3/4 = 2,575 < 3 (đúng theo quy phạm)
- Chọn chiều cao lớp nước trên vách ngăn lấy hvn = 0,5m
Tường tràn sang bể lắng Nước được đưa từ bể phản ứng sang bể lắng bằng tường tràn Tốc độ nước qua tường tràn nhỏ hơn 0,05m/s (Theo TCVN 33 : 2006)
- Vậy ta chọn lớp nước qua tường tràn htt = hvn = 0,5m
- Chiều cao tường tràn Htt = H – hbv – htt = 4,4 – 0,4 – 0,5 = 3,5m
- Ơ sau tường tràn đặt 1 vách treo lơ lửng nhưng ngập sâu ¼ chiều cao bể lắng để hướng dòng nước chảy xuống, phân bố đều trên bể
và tránh xáo động bề mặt bể
Hệ thống ống xả kiệt: Chọn mỗi bể có 3 ống xả kiệt có d=150 mm
5.1.4 Bể lắng ngang
Diện tích mặt bằng bể lắng
Trang 322 0
1,3 2083
15783,6 3,6 0,55
Nếu chiều rộng mỗi ngăn b = 2,9 m, hàng lỗ cuối cùng nằm cao hơn mức cặn tính
toán là 0,3 m (Theo TCVN 33 : 2006: 0,3 – 0,5m) thì diện tích công tác của vách
ngăn phân phối vào bể, đặt cách đầu bể 1,5m (Theo TCVN 33: 2006 : 1 – 2m) sẽ
là
2 0
2 1
1
0,048
0,160,3
n lo
2
0,048
0,0960,5
n lo
Trang 33Lấy đường kính lỗ ở vách ngăn phân phối thứ nhất d1 = 0,06 m (Theo TCVN
33:2006 : d = 0,05 – 0,15m) Diện tích một lỗ flo 1 = 0,00285 m2, tổng số lỗ ở
vách ngăn phân phối thứ nhất là:
1 1
1
0,16
560,00285
lo lo
f n
f
Đường kính lỗ ở vách ngăn thu nước thứ hai là d2 = 0,05 m, diện tích lỗ flo 2 =
0,00196 m2 Tổng số lỗ ở vách ngăn thu nước thứ hai là:
2 2
2
0,096
490,00196
lo lo
f n
f
Ơ vách ngăn phân phối bố trí thành 8 hàng dọc và 7 hàng ngang, tổng số lỗ đục là
8 x 7 = 56 lỗ Khoảng cách giữa trục các lỗ theo hàng dọc là:
(3 – 0,3) : 7 = 0,38m
Khoảng cách giữa các trục lỗ theo hàng ngang là : 3,5 : 8 = 0,44 m
Việc xả cặn dự kiến tiến hành theo chu kì với thời gian giữa hai lần xả cặn là T =
4 ngày Thể tích vùng chứa nén cặn của 1 bể lắng là :
3 max
Với Cn : hàm lượng cặn trong nước nguồn, Cn = 50 mg/l
M : độ màu của nước nguồn với thang màu Coban – Platin, M = 25
v : hàm lượng vôi dùng để nâng pH, v = 50 mg/l
: nồng độ trung bình của cặn đã nén chặt, = 15000g/m3
Diện tích mặt bằng 1 bể lắng
21578
3954
c c