Tên Dự án: Khách sạn Cao Nguyên. Địa điểm xây dựng: Đường 233, phường Nghĩa Trung, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông. Chủ đầu tư: Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Liên Thành Đắk Nông. Quy mô Dự án: Diện tích khu đất của Dự án khoảng 17,793 m2 (1.78 ha) được đầu tư xây dựng thành khu khách sạn cao cấp gồm: + Khách sạn 160 phòng cao cấp (180 giường), tiêu chuẩn 5 sao. + Nhà nghỉ dạng Bungalow: 06 căn. + Nhà hàng phục vụ tiệc cưới hội nghị quy mô 1,600 chỗ ngồi. + Nhà hàng, café ven đồi. + Khu thể thao cao cấp: Sân tenis, hồ bơi cao cấp. + Đất cây xanh. + Đất giao thông, đỗ xe. Nguồn vốn đầu tư Dự án: Vốn đầu tư cho Dự án gồm nguồn vốn chủ đầu tư, vốn vay ngân hàng. Hình thức đầu tư: Các công trình thuộc Dự án được đầu tư xây dựng mới. Thời gian thực hiện: Khoảng 4 năm. Hình thức quản lý Dự án: Chủ đầu tư trực tiếp quản lý Dự án. Đơn vị tư vấn thiết kế: Công ty TNHH Thiết kế Kiến trúc Sao Hôm.
Trang 1CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
LIÊN THÀNH ĐẮK NÔNG
DỰ ÁN ĐẦU TƯ
DỰ ÁN: KHÁCH SẠN CAO NGUYÊN
ĐỊA ĐIỂM : ĐƯỜNG 23/3, PHƯỜNG NGHĨA TRUNG,
THỊ XÃ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG
CHỦ ĐẦU TƯ : CÔNG TY CP ĐTXD LIÊN THÀNH ĐẮK NÔNG
Trang 2CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ DỰ ÁN 3
1.1 Thông tin chung về dự án 3
1.2 Giới thiệu địa điểm đầu tư xây dựng Dự án 3
1.2.1 Tỉnh Đắk Nông 3
1.2.2 Thị xã Gia Nghĩa 8
1.2.3 Hiện trạng khu đất xây dựng Dự án 10
CHƯƠNG 2 SỰ CẦN THIẾT VÀ MỤC TIÊU DỰ ÁN 12
2.1 Định hướng phát triển của du lịch 12
2.1.1 Định hướng phát triển ngành du lịch Quốc gia: 12
2.1.2 Thực trạng, thách thức và cơ hội đối với kinh doanh lưu trú và du lịch 14
2.1.3 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh 17
2.1.4 Du lịch và lưu trú Đắk Nông 18
2.2 Sự cần thiết đầu tư Dự án 24
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH 25
3.1 Cơ sở pháp lý của Dự án 25
3.2 Phương án giải phóng mặt bằng 27
3.3 Giải pháp quy hoạch 27
3.3.1 Quan điểm quy hoạch 27
3.3.2 Quy hoạch cơ cấu tổng mặt bằng và phân khu chức năng 28
3.3.3 Chi tiết quy hoạch 29
3.3.4 Nguyên tắc tổ chức quy hoạch 32
3.4 Các giải pháp kỹ thuật khác và trang thiết bị 33
3.4.1 Chống ăn mòn 33
3.4.2 Chống thấm 33
3.4.3 Chống sét 33
3.4.4 Chống ồn 33
3.4.5 Vệ sinh tiện nghi 33
3.4.6 Quy trình và trách nhiệm bảo trì công trình 33
3.5 Giải pháp cấp điện, cấp nước 34
3.5.1 Cấp nước: 34
3.5.2 Cấp điện 34
3.6 Giải pháp thoát nước 35
3.7 Quy hoạch san nền 37
3.8 Phương án thu gom rác thải 37
Trang 33.9 Khả năng kết nối hạ tầng 37
3.10 Giải pháp an toàn lao động 38
3.11 Giải pháp phòng cháy, chữa cháy 38
3.12 Tiến độ thực hiện Dự án 39
3.13 Phương án khai thác Dự án và sử dụng lao động 39
3.13.1 Ban quản lý chỉ đạo hoặc tổ chức thực hiện Dự án 40
3.13.2 Bộ máy quản lý và sản xuất kinh doanh: 40
3.14 Khái toán tổng mức đầu tư công trình 41
CHƯƠNG 4 KẾ HOẠCH KHAI THÁC KINH DOANH 44
4.1 Kế hoạch tiếp thị 44
4.2 Phương thức kinh doanh 44
CHƯƠNG 5 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG VÀ PHƯƠNG ÁN PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY 45
5.1 Các vấn đề môi trường tiềm tàng của Dự án 45
5.2 Quy chế môi trường 46
5.3 Nguồn gây ô nhiễm không khí 47
5.4 Nguồn gây ô nhiễm nước mặt, nước ngầm, đất 47
5.5 Chất thải rắn 48
5.6 Những tác động của khu ảnh hưởng đến môi trường 48
5.7 Sự cố trong quá trình hoạt động của Dự án 48
5.8 Tác động đến môi trường do rác thải sinh hoạt 49
5.9 Ảnh hưởng đến sức khoẻ con người 49
5.10 Các biện pháp quản lý kiểm soát và khống chế ô nhiễm 49
5.11 Các biện pháp chung 49
5.12 Các biện pháp giảm trừ ô nhiễm 50
5.12.1 Khống chế và giảm thiểu ô nhiễm trong quá trình xây dựng 50
5.12.2 Khống chế và giảm thiểu ô nhiễm trong quá trình hoạt động 51
5.13 Các biện pháp khống chế để bảo vệ chất lượng nước ngầm 52
CHƯƠNG 6 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ HIỆU QUẢ XÃ HỘI CỦA DỰ ÁN 53 6.1 Hiệu quả xã hội của Dự án 53
6.2 Hiệu quả kinh tế của Dự án 53
Trang 4CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ DỰ ÁN
1.1 Thông tin chung về dự án
Tên Dự án: Khách sạn Cao Nguyên
Địa điểm xây dựng: Đường 23/3, phường Nghĩa Trung, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
Chủ đầu tư: Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Liên Thành Đắk Nông
Quy mô Dự án: Diện tích khu đất của Dự án khoảng 17,793 m2 (1.78 ha) được đầu tư xây dựng thành khu khách sạn cao cấp gồm:
Khách sạn 160 phòng cao cấp (180 giường), tiêu chuẩn 5 sao
Nhà nghỉ dạng Bungalow: 06 căn
Nhà hàng phục vụ tiệc cưới hội nghị quy mô 1,600 chỗ ngồi
Nhà hàng, café ven đồi
Khu thể thao cao cấp: Sân tenis, hồ bơi cao cấp
Đất cây xanh
Đất giao thông, đỗ xe
Nguồn vốn đầu tư Dự án: Vốn đầu tư cho Dự án gồm nguồn vốn chủ đầu tư, vốn vay ngân hàng
Hình thức đầu tư: Các công trình thuộc Dự án được đầu tư xây dựng mới Thời gian thực hiện: Khoảng 4 năm
Hình thức quản lý Dự án: Chủ đầu tư trực tiếp quản lý Dự án
Đơn vị tư vấn thiết kế: Công ty TNHH Thiết kế Kiến trúc Sao Hôm
1.2 Giới thiệu địa điểm đầu tư xây dựng Dự án
1.2.1 Tỉnh Đắk Nông
Đắk Nông là một tỉnh ở Tây Nguyên được
thành lập từ năm 2004 Phía Bắc giáp tỉnh Đắk Lắk,
phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía
Tây giáp tỉnh Bình Phước và Campuchia
1.2.4.1 Vị trí địa lý
Đắk Nông nằm ở phía Tây Nam của vùng Tây
Nguyên, đoạn cuối dãy Trường Sơn; được xác
định trong khoảng tọa độ địa lý: 11045’ đến
12050’ vĩ độ Bắc, 107013’ đến 108010’ kinh
độ Đông Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh
Đắk Lắk, phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh
Lâm Đồng, phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh
Trang 5Bình Phước, phía Tây giáp Vương quốc Campuchia Đắk Nông là tỉnh nằm trong khu vực tam giác phát triển Việt Nam – Lào – Campuchia
Diện tích tự nhiên có 6,514.38 km2, có 07 đơn vị hành chính cấp huyện và
01 thị xã với dân số 510,570 người, cùng với 33 dân tộc anh em đang làm
ăn, sinh sống Trung tâm tỉnh lỵ là Thị xã Gia Nghĩa
Toàn tỉnh có 7 huyện và 1 thị xã: Huyện Cư Jút, Đắk Mil, Krông Nô, Đắk Song, Đắk R’Lấp, Tuy Đức, Đắk G’Long và thị xã Gia Nghĩa
Đắk Nông có 130 Km đường biên giới tiếp giáp với tỉnh Mondulkiri, có 02 cửa khẩu Bu Prăng và Đắk Peur nối thông với Mondulkiri, Kratie, Kandal, Pnom Penh, Siem Reap, v.v.v của nước bạn Campuchia
Vị trí địa lý như trên tạo điều kiện cho Đắk Nông có thể mở rộng giao lưu với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và Duyên hải Miền Trung, tăng cường liên kết giữa Đắk Nông với các tỉnh về mở rộng thị trường các sản phẩm có ưu thế cạnh tranh cao của mỗi vùng
Trong tương lai, khi dự án khai thác và chế biến bauxit được triển khai, tuyến đường sắt Đắk Nông – Di Linh – Cảng Khê Gà tỉnh Bình Thuận được xây dựng, mở ra cơ hội lớn cho Đắk Nông đẩy mạnh khai thác các thế mạnh của Tỉnh Mặt khác, Đắk Nông cùng với các tỉnh Tây Nguyên khác nằm trong vùng được Nhà Nước quan tâm thông qua các quyết định 135, 135, 168… Yếu tố này tạo cho Đắk Nông có điều kiện khai thác và vận dụng các chính sách phát triển vào tỉnh
1.2.4.2 Địa hình
Đắk Nông nằm ở phía Trung Bộ,
đoạn cuối dãy Trường Sơn, trên một
vùng cao nguyên, độ cao trung bình 500
m so với mặt biển Địa hình tương đối
bằng, có bình nguyên rộng lớn với nhiều
đồng cỏ trải dài về phía Đông Phía Tây
địa hình thấp dần, nghiêng về phía
Campuchia, phía Nam là miền đồng
trũng có nhiều đầm hồ
Có 3 hệ thống sông chính: sông
Ba, sông Serepôk (các nhánh Krông
Bông, Krông Pắk, Krông Ana, Krông Nô ) và một số sông nhỏ khác, nhiều thác nước cao, thuỷ năng lớn
Đắk Nông nằm trọn trên cao nguyên M’Nông, độ cao trung bình khoảng 600m đến 700m so với mặt nước biển, có nơi lên đến 1,982m (Tà Đùng)
Nhìn tổng thể, địa hình Đắk Nông như hai mái của một ngôi nhà mà đường nóc là dãy núi Nam Nung, chạy dài từ Đông sang Tây, có độ cao trung bình khoảng 800m, có nơi cao đến hơn 1,500m Địa hình có hướng thấp dần từ Đông
Trang 6sang Tây Các huyện Đắk Song, Đắk Mil, Cư Jút, Krông Nô thuộc lưu vực sông Krông Nô, sông Srêpốk nên thấp dần từ Nam xuống Bắc
Các huyện Tuy Đức, Đắk R’lấp, Đắk Glong và thị xã Gia Nghĩa thuộc thượng nguồn lưu vực sông Đồng Nai nên thấp dần từ Bắc xuống Nam
Vì vậy, Đắk Nông có địa hình đa dạng và phong phú, bị chia cắt mạnh, có sự xen kẽ giữa các núi cao hùng vĩ, hiểm trở với các cao nguyên rộng lớn, dốc thoải, lượn sóng, khá bằng phẳng xen kẽ các dải đồng bằng thấp trũng Địa hình thung lũng thấp, có độ dốc từ 0-30% chủ yếu phân bố dọc sông Krông Nô, Sêrêpôk, thuộc các huyện Cư Jút, Krông Nô Địa hình cao nguyên đất đỏ bazan chủ yếu ở Đắk Mil, Đắk Song, độ cao trung bình 600 - 800 m, độ dốc khoảng 5-100% Địa hình chia cắt mạnh và có độ dốc lớn > 150% phân bố chủ yếu trên địa bàn các huyện Đắk Glong, Đắk R'Lấp
1.2.4.3 Khí hậu
Đắk Nông là khu vực chuyển tiếp giữa hai tiểu vùng khí hậu Tây Nguyên và Đông nam bộ, chế độ khí hậu mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhưng có sự nâng lên của địa hình nên có đặc trưng của khí hậu cao nguyên nhiệt đới ẩm, vừa chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam khô nóng Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 4 đến hết tháng 11, tập trung trên 90% lượng mưa cả năm; mùa khô từ tháng 12 đến hết tháng 3 năm sau, lượng mưa không đáng kể
Lượng mưa trung bình năm
2,513 mm, lượng mưa cao nhất
3,000 mm Tháng mưa nhiều nhất
vào tháng 8, 9; mưa ít nhất vào
tháng 1, 2 Độ ẩm không khí trung
bình 84% Độ bốc hơi mùa khô
14.6-15.7 mm/ngày, mùa mưa
1.5-1.7 mm/ngày
Hướng gió thịnh hành mùa mưa
là Tây Nam, hướng gió thịnh hành mùa khô là Đông Bắc, tốc độ gió bình quân 2.4 -5.4 m/s , hầu như không có bão nên không gây ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội Tuy nhiên cũng như các vùng khác của Tây Nguyên, điều bất lợi cơ bản về khí hậu là sự mất cân đối về lượng mưa trong năm và sự biến động lớn về biên độ nhiệt ngày đêm và theo mùa, nên yếu tố quyết định đến sản xuất và sinh hoạt là việc cấp nước, giữ nước và việc bố trí mùa vụ cây trồng
1.2.4.4 Đất đai
Đắk Nông có tổng diện tích đất tự nhiên là 651,561 ha
Về thổ nhưỡng: Đất đai Đắk Nông khá phong phú và đa dạng, nhưng chủ yếu gồm 05 nhóm chính: Nhóm đất xám trên nền đá macma axit và đá cát chiếm khoảng 40% diện tích và được phân bổ đều toàn tỉnh Đất đỏ bazan trên nền đá bazan phong hóa chiếm khoảng 35% diện tích, có tầng dày bình
Trang 7quân 120 cm, phân bổ chủ yếu ở Đắk Mil, Đắk Song Còn lại là đất đen bồi
tụ trên nền đá bazan, đất Gley và đất phù sa bồi tụ dọc các dòng sông, suối
Về sử dụng: Đất nông nghiệp có diện tích là 306,749 ha, chiếm 47% tổng diện tích tự nhiên Trong đó đất trồng cây công nghiệp lâu năm chiếm phần lớn diện tích Đất cây hàng năm chủ yếu là đất trồng lúa, ngô và cây công nghiệp ngắn ngày Đất lâm nghiệp có rừng diện tích là 279,510 ha, tỉ lệ che phủ rừng toàn tỉnh là 42.9% Đất phi nông nghiệp có diện tích 42,307 ha Đất chưa sử dụng còn 21,327 ha, trong đó đất sông suối và núi đá không có cây rừng là 17,994 ha
1.2.4.5 Thủy văn
Đắk Nông có mạng lưới sông suối, hồ, đập phân bố tương đối đều khắp Đây là điều kiện thuận lợi để khai thác
nguồn nước phục vụ sản xuất
nông nghiệp, công nghiệp, xây
dựng các công trình thủy điện và
phục vụ nhu cầu dân sinh
Các sông chính chảy qua địa
phận tỉnh gồm:
Sông Sêrêpôk do hai nhánh
sông Krông Nô và Krông
Na hợp lưu với nhau tại
thác Buôn Dray Khi chảy
qua địa phận huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông, do kiến tạo địa chất phức tạp, lòng sông trở nên hẹp và dốc nên tạo ra các thác nước lớn hùng vĩ, vừa có cảnh quan thiên nhiên đẹp, vừa có tiềm năng thủy điện mang lại giá trị kinh
tế Đó là thác Trinh Nữ, Dray H'Linh, Gia Long, Đray Sáp Các suối Đắk Gang, Đắk Nir, Dray H'Linh, Ea Tuor, Đắk Ken, Đắk Klou, Đắk Sor cũng đều là thượng nguồn của sông Sêrêpôk
Sông Krông Nô: Bắt nguồn từ dãy núi cao trên 2,000 m phía Đông Nam tỉnh Đắk Lắk, chảy qua huyện Krông Nô Sông Krông Nô có ý nghĩa rất quan trọng đối với sản xuất và đời sống dân cư trong tỉnh Còn nhiều suối lớn nhỏ khác suối Đắk Mâm, Đắk Rô, Đắk Rí, Đắk Nang là thượng nguồn của sông Krông Nô
Hệ thống sông suối thượng nguồn sông Đồng Nai Sông Đồng Nai dòng chảy chính không chảy qua địa phận Đắk Nông nhưng có nhiều sông suối thượng nguồn Đáng kể nhất là: Suối Đắk Rung bắt nguồn từ khu vực Thuận Hạnh, Đắk Nông với chiều dài 90 km Suối Đắk Nông có lưu lượng trung bình 12.44m3/s Môdun dòng chảy trung bình 47.9 m3/skm2.Suối Đắk Buksô là ranh giới giữa huyện Đắk Song và Đắk R'Lấp Suối Đắk R'Lấp có diện tích lưu vực 55.2 km2, là
hệ thống suối đầu nguồn của thủy điện Thác Mơ Suối Đắk R'Tih chảy về sông Đồng Nai, đầu nguồn của thủy điện Đắk R’Tih và thủy điện Trị An
Trang 8Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có nhiều hồ, đập lớn vừa có tác dụng giữ nước cho sản xuất nông, công nghiệp, thủy điện, vừa là tiềm năng để phát triển du lịch như Hồ Tây, EaSnô, Ea T'Linh, Đắk Rông, Đắk Đier, Đắk R’Tih, Đồng Nai 3, 4 Chế độ lũ: Chịu sự chi phối mạnh của sông Krông Nô Tại Đức Xuyên lũ lớn thường xảy ra vào tháng 9, 10 Hàng năm dòng sông này thường gây ngập lũ ở một
số vùng thuộc các xã phía nam huyện Krông Nô Lũ trên sông Sêrêpôk là tổ hợp lũ của 2 sông Krông Nô và Krông Na, lũ xuất hiện vào tháng 9 và 10
1.2.4.6 Dân số - Dân tộc
Dân số toàn tỉnh là 510,570 người, trong đó dân số đô thị chiếm 14.9%, dân
số nông thôn 85.1% Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,57% Mật độ dân số trung bình
là 78.39 người/km2 Dân cư phân bố không đều trên địa bàn các huyện, nơi đông dân cư chủ yếu tập trung ở các trung tâm xã, thị trấn huyện lỵ, ven các trục đường quốc lộ, tỉnh lộ Có những vùng dân cư thưa thớt như một số xã của huyện Đắk Glong, Tuy Đức
Dân số Đắk Nông là dân số
trẻ, trong độ tuổi còn đi học
khoảng 165,000 người, chiếm
32%; trong độ tuổi lao động có
cư Đắk Nông được hình thành
từ: Đồng bào các dân tộc tại chỗ như M’Nông, Mạ, Ê đê, Khmer…; đồng bào Kinh sinh sống lâu đời trên Tây nguyên và đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc mới
di cư vào lập nghiệp như Tày, Thái, Mường, Nùng, Dao, H’Mông v.v
Cơ cấu dân tộc đa dạng, chủ yếu là dân tộc Kinh, M'Nông, Nùng, H’Mông v.v Dân tộc Kinh chiếm tỉ lệ 67.9%, M'Nông chiếm 8.2%, Nùng chiếm 5.6%, H’Mông chiếm 4.5%, các dân tộc khác chiếm tỉ lệ nhỏ; cá biệt có những dân tộc chỉ có một người sinh sống ở Đắk Nông như Cơ Tu, Tà Ôi, Hà Nhì, Phù Lá, Chứt 1.2.4.7 Tôn giáo – Tín ngưỡng
Đắk Nông là vùng đất sinh sống từ
hàng ngàn đời của đồng bào các dân tộc tại
chỗ, đồng thời cũng là vùng đất quần tụ
của cư dân từ nhiều vùng miền về sinh cơ,
lập nghiệp nên đời sống tâm linh, tôn giáo,
tín ngưỡng cũng vô cùng phong phú
Đến nay, Đắk Nông có hơn 170,000
người là tín đồ của hơn 10 tôn giáo khác
Trang 9nhau, nhưng chủ yếu là Công giáo (hơn 100 ngàn, chiếm gần 20% dân số), Tin lành (hơn 50 ngàn, chiếm tỷ lệ 10% dân số) và Phật giáo (hơn 20 ngàn, tỷ lệ 4% dân số)
Ngoài ra, đồng bào các dân tộc Đắk Nông còn có rất nhiều tín ngưỡng để tôn thờ, đặc biệt là đồng bào các dân tộc tại chỗ thờ cúng Yàng (Trời), thần Núi, thần Sông v.v và rất nhiều lễ hội như: Lễ hội Đâm trâu (ăn trâu), lễ mừng nhà mới, lễ mừng mùa, lễ bỏ mả v.v phong phú và đặc sắc
1.2.2 Thị xã Gia Nghĩa
Thị xã Gia Nghĩa được thành lập theo Nghị định 85/2005/NĐ-CP, có diện tích 86,64 km2, phía đông giáp huyện Đắk Glong, tây giáp huyện Đắk R’Lấp, nam giáp tỉnh Lâm Đồng, bắc giáp huyện Đắk Song
Năm 1985, Đắk Nông được chia thành ba huyện Đắk R'Lấp, Đắk Nông và Đắk Song (tính từ phía miền Đông Nam bộ đi lên) Đầu năm 2004, khi Đắk Lắk tách thành hai tỉnh, huyện Đắk Nông trở thành hai đơn vị hành chính mới là thị xã Gia Nghĩa và huyện Đắk G'Long Phần huyện Đắk Lấp cũng được tách ra thành hai, thêm huyện mới mang tên Tuy Đức Tiếng dân tộc, Đắk là nước, chữ đi sau thường là tên một ngọn núi hay một dòng sông
Thị xã Gia Nghĩa với những trảng đất bằng phẳng của cao nguyên Đắk Nông nằm trên độ cao 900 m với những ngọn núi dựng đứng, vách đá lộ suối chảy Cách Gia Nghĩa 40 km trên đường ra Buôn Ma Thuột là cột mốc người Pháp dựng nên
để phân chia ba biên giới Nam kỳ, Trung kỳ và Campuchia, nên từ lâu Đắk Nông còn được gọi là "cao nguyên ba biên giới" Trước đây cao nguyên này nối liền với cao nguyên Bảo Lộc - Di Linh phía Lâm Đồng thành một dải Nhờ có Quốc lộ 20 Sài Gòn - Đà Lạt nên Bảo Lộc - Di Linh sớm sầm uất với những đồn điền chè, cà phê Còn phía Đắk Nông chỉ có đường Trường Sơn bom đạn ngút trời, dân cư thưa thớt
Năm 1990, đường Quốc lộ 14 được nâng cấp phục hồi, đoạn 100km đường từ Gia Nghĩa sang Di Linh nối thêm luôn 90km về phía đông xuống thẳng Phan Thiết Có thể nói đây là thị xã lợi thế nhất Nam Tây Nguyên vì là điểm nối các đường đi Phan Thiết, Đà Lạt, Buôn Ma Thuột, Đồng Xoài
Nhiều người cho rằng thị xã Gia Nghĩa ra đời và tồn tại chính vì vị trí địa lý xung yếu của nó Từ phía Bình Dương lên, người, voi thồ hàng (nay là xe tải) đều cần một chỗ dừng chân trước khi lên dốc cao Đắk Song có cửa khẩu biên giới với Campuchia, tại điểm này lại có lối mòn về hướng đông vượt sông Đồng Nai về thị trấn Di Linh (Lâm Đồng) Đường tạo nên từ những dấu chân thú rừng và những người "phá sơn lâm đâm thuồng luồng"
Đường từ Di Linh qua Đắk Nông, nay là Quốc lộ 28 có lẽ là một trong những con đường đẹp nhất Đường hình thành khá nhanh để phục vụ xây dựng hai công trình thuỷ điện lớn là Đồng Nai 3 và Đồng Nai 4 Đẹp vì những đoạn khúc khuỷu bất ngờ Sông Đa Đung, một trong hai nhánh chính của sông Đồng Nai vùng thượng nguồn hẹp, bên triền núi bất ngờ, hoa gạo rưng rưng niềm nhớ nhung Và
Trang 10những cây Kơ Nia với gốc to kềnh, nhánh vạm vỡ, tán cây xanh rộng như biểu tượng của Tây Nguyên hùng vĩ
Đắk Nông còn tự hào là một vùng cao nguyên phát nguồn hai dòng sông lớn
Từ huyện Krông Nô ở phía đông bắc, hai dòng Krông Nô và Krông Ana hợp thành Sêrêpôk chảy ngược về hướng tây qua đất Campuchia rồi đổ vào sông Mê Kông Trên ghềnh đá có Dray Sáp là thác khói Dray Sáp mang dáng dấp như thác Gougah ở dòng Đa Nhim nhưng hùng vĩ hơn, bên dưới thác lại có hồ đá Cách vài cây số là thác Gia Long, cây cầu sắt và nền móng của ngôi biệt thự đổ nát vẫn còn
đó Nay hai thác này đã được Công ty chúng tôi đầu tư hạ tầng phát triển du lịch, trong tương lai gần đây sẽ là khu du lịch nổi bật nhất cả tỉnh Đắk Nông
Cao nguyên Đắk Nông còn là nơi khởi nguồn của nhánh mang tên Đắk R’tih
và Đắk R'Lấp xuống hợp nên dòng sông Bé của miền Đông Thác Đắk R’tih nằm giáp ranh thị xã Gia Nghĩa, còn có tên Lệ Thanh mà người ta gọi trại là Diệu Thanh Thác từ đỉnh đá lao xuống vực sâu 30m Trong ngầm có những hang sâu cùng đá tảng, dưới chân thác là khoảng mênh mông nước, đá nhấp nhô chia dòng chảy ra nhiều ngả Đứng trên cao có thể bao quát cả một vùng cao nguyên Đắk Nông và thị xã Gia Nghĩa nhấp nhô nhà, phố đang xây
Bô xít Đắk Nông xuất lộ ở nhiều vùng Các đoàn khai khoáng, luyện kim của Trung Quốc, Úc, Hà Lan cũng đã đến thăm dò Trung Quốc đang đầu tư dự án hơn một tỉ USD, bao gồm cả việc đầu tư một tuyến đường xe lửa từ Đắk Nông về tới Chơn Thành của tỉnh Bình Phước để theo đường sắt về Dĩ An - Biên Hoà rồi từ đó vận chuyển ra cảng nước sâu Thị Vải ở Bà Rịa Một số mỏ bô xít đã bắt đầu được khai khoáng
Nếu trở thành một tỉnh luyện nhôm, khoảng trời tỉnh lỵ Gia Nghĩa lại càng thêm giá trị Không xa thác Diệu Thanh là cầu Đắk R’Tih Theo quy hoạch, cầu Đắk R’tih sẽ là tâm điểm của thị xã Cầu lớn, cong mình trên cao, dưới là dòng nước chảy Một hồ nước nhân tạo kiểu hồ Xuân Hương - Đà Lạt cũng đã được quy hoạch gần đó
Trang 11650 550
550
650 650
TRÍCH éO é?A CHÍNH KHU é? T D? ỏn: Khỏch s?n Cao Nguyờn é?a di?m: éu?ng 23/3,phu?ng Nghia Trung, th? xó Gia Nghia, t?nh é?k Nụng
đơn vị đo đạc Đơn vị sử dụng đơn vị kiểm tra
Ngày Tháng Năm 20 Ngày Tháng Năm 20 Ngày Tháng Năm 20
- é?t cú m?c dớch cụng c?ng(CCC): 1840 m2
P Nghĩa Trung
Diện tích quy hoạch xin mở rộng 1840m2
CCC18401
- é?t tr? s? co quan cụng trỡnh s? nghi?p nhà nu?c(TSC): 15953 m2
1.2.3 Hiện trạng khu đất xõy dựng Dự ỏn
Vị trớ địa lý:
Khu đất Dự ỏn cú vị trớ như sau:
+ Phớa Bắc : Giỏp đường 23/3
+ Phớa Nam : Giỏp đường đất hiện trạng
+ Phớa Đụng : Giỏp đường đất hiện trạng (Cụng ty VNPT)
+ Phớa Tõy : Giỏp đường lộ giới quy hoạch 64m
Tổng diện tớch khu đất quy hoạch khoảng 1.78 ha (cú sơ đồ vị trớ kốm theo) thuộc địa phận: Đường 23/3, thị xó Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nụng Diện tớch thực tế sẽ căn cứ vào diện tớch đo đạc thực tế được thẩm định và giấy phộp quy hoạch được cấp cú thẩm quyền phờ duyệt
Trang 13CHƯƠNG 2 SỰ CẦN THIẾT VÀ MỤC TIÊU DỰ ÁN
2.1 Định hướng phát triển của du lịch
2.1.1 Định hướng phát triển ngành du lịch Quốc gia:
Bắt nhịp cùng sự nghiệp đổi mới của đất nước hơn 20 năm qua, ngành Du lịch
đã có nhiều tiến bộ và đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Những chỉ tiêu về lượng khách, thu nhập, tỷ trọng GDP và việc làm đã khẳng định vai trò của ngành
Du lịch trong nền kinh tế quốc dân
Không thể phủ nhận, ngành Du lịch đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, xoá đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, bảo vệ môi trường và giữ vững an ninh, quốc phòng Bên cạnh những thành tựu đạt được, ngành Du lịch còn bộc lộ nhiều hạn chế và bất cập; nhiều khó khăn, trở ngại vẫn chưa được giải quyết thoả đáng; chưa có bước phát triển đột phá
để khẳng định thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn; hiệu quả phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của đất nước, phát triển nhưng vẫn ẩn chứa nhiều yếu tố thiếu bền vững Xu hướng hội nhập, hợp tác, cạnh tranh toàn cầu, giao lưu
mở rộng và tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ trong nền kinh tế tri thức trên thế giới đang tạo những cơ hội to lớn đồng thời cũng là thách thức đối với phát triển Du lịch Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch (ITDR) cho thấy, bài học rút ra từ những thành công và hạn chế, bất cập thời gian qua cần xác định bước đột phá căn bản cho giai đoạn tới là:
Thứ nhất, phải lấy hiệu quả về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường là mục tiêu tổng thể của phát triển
Thứ hai, chất lượng và thương hiệu là yếu tố quyết định
Thứ ba, doanh nghiệp là động lực đòn bẩy cho phát triển
Thứ tư, cần phân cấp mạnh về quản lý và phi tập trung về không gian là phương châm ưu tiên hàng đầu
Điểm đột phá trong định hướng phát triển Du lịch Việt Nam thập kỷ tới là tập trung phát triển du lịch theo hướng có chất lượng, có thương hiệu, chuyên nghiệp, hiện đại; khai thác tối ưu nguồn lực và lợi thế quốc gia; phát huy tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa vai trò động lực của các doanh nghiệp Định hướng cơ bản đối với các lĩnh vực trọng yếu là:
Đối với phát triển sản phẩm và định hướng thị trường sẽ tập trung xây dựng
hệ thống sản phẩm, loại hình du lịch đặc trưng và chất lượng cao trên cơ sở phát huy giá trị tài nguyên du lịch độc đáo, đặc sắc, có thế mạnh nổi trội
Ưu tiên phát triển du lịch biển là thế mạnh nổi trội quốc gia; phát triển du lịch văn hóa làm nền tảng, phát triển du lịch sinh thái, du lịch xanh, du lịch có trách nhiệm; liên kết phát triển sản phẩm khu vực gắn với các hành lang kinh tế
Trang 14Xác định thị trường mục tiêu với phân đoạn thị trường theo mục đích du lịch
và khả năng thanh toán; ưu tiên thu hút khách du lịch có khả năng chi trả cao, có mục đích du lịch thuần tuý, lưu trú dài ngày Phát triển mạnh thị trường nội địa, chú trọng khách nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, nghỉ cuối tuần, công vụ, mua sắm Đối với thị trường quốc tế tập trung thu hút phát triển mạnh thị trường khách quốc
tế gần: Đông Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc), Đông Nam Á và Thái Bình Dương (Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Australia); tăng cường khai thác thị trường khách cao cấp đến từ Tây Âu (Pháp, Đức, Anh, Hà Lan, Ý, Tây Ban Nha, Scandinavia), Bắc Mỹ (Mỹ, Canada) và Đông Âu (Nga, Ucraina);
mở rộng thị trường mới từ Trung Đông
Phát triển du lịch theo vùng lãnh thổ cần định hướng và tổ chức phát triển du lịch trên các vùng lãnh thổ phù hợp với đặc điểm tài nguyên du lịch gắn với vùng kinh tế, vùng văn hóa, vùng địa lý, khí hậu và các hành lang kinh tế; trong đó có các địa bàn trọng điểm du lịch tạo thành các cụm liên kết phát triển mạnh về du lịch Vùng phát triển du lịch có không gian và quy mô phù hợp, có đặc điểm thuần nhất về tài nguyên, địa lý và hiện trạng phát triển du lịch; tăng cường khai thác yếu
tố tương đồng và bổ trợ trong vùng, yếu tố đặc trưng của vùng và liên kết khai thác yếu tố liên vùng để phát triển mạnh sản phẩm đặc thù, tạo các thương hiệu du lịch vùng Tập trung ưu tiên phát triển các địa bàn trọng điểm, điểm đến nổi bật trong mỗi vùng, có mối tương quan bổ trợ liên kết nội vùng và liên vùng
Lĩnh vực đầu tư phát triển du lịch cần tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm nâng cao năng lực và chất lượng cung ứng du lịch, tăng cường đầu tư cho kết cấu hạ tầng, xúc tiến quảng bá và xây dựng thương hiệu du lịch Các chương trình
ưu tiên cần tập trung đầu tư:
- Chương trình đầu tư hạ tầng du lịch
- Chương trình phát triển nguồn nhân lực du lịch
- Chương trình xúc tiến quảng bá du lịch
- Chương trình phát triển thương hiệu du lịch
- Đề án phát triển du lịch biển, đảo và vùng ven biển
- Đề án phát triển du lịch biên giới
- Đề án phát triển du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái
- Chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu
- Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch cả nước, quy hoạch phát triển du lịch theo vùng và khu du lịch quốc gia
- Chương trình điều tra, đánh giá, phân loại và xây dựng cơ sở dữ liệu về tài nguyên du lịch và tài khoản vệ tinh du lịch
Để hiện thực hóa những định hướng phát triển nêu trên cần có giải pháp triệt
để từ phía Nhà nước Trước hết cần hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng khuyến khích phát triển; tăng cường hợp tác giữa khu vực công và khu vực tư nhân, phân cấp mạnh về cơ sở, khai thác tốt tính chủ động, năng động của doanh
Trang 15nghiệp, cộng đồng và vai trò kết nối của hội nghề nghiệp; tăng cường kiểm soát chất lượng, bảo vệ và tôn vinh thương hiệu; huy động tối đa nguồn lực về tài nguyên, tri thức, tài chính trong và ngoài nước, tăng cường hợp tác quốc tế và ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là trong phát triển thương hiệu và xúc tiến quảng bá
Về tổ chức quản lý cần có giải pháp tăng cường năng lực và hiệu quả quản lý
ở mỗi cấp và liên ngành, liên vùng, nâng cao nhận thức, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến quốc gia; hình thành những tập đoàn, tổng công ty du lịch có tiềm lực mạnh, thương hiệu nổi bật
2.1.2 Thực trạng, thách thức và cơ hội đối với kinh doanh lưu trú và du lịch
2.1.4.1 Thực trạng các cơ sở lưu trú du lịch
Cùng với hội nhập kinh tế quốc tế, sự cạnh tranh trong nước ngày càng quyết liệt, các khách sạn đang và sẽ phải đương đầu với nhiều đối thủ nước ngoài rất mạnh ngay trên địa bàn truyền thống của mình
a/.Thực trạng số lượng, cơ cấu của các cơ sở kinh doanh lưu trú tại Việt Nam
Ngành kinh doanh khách sạn và lưu trú ở Việt Nam chỉ bắt đầu phát triển mạnh từ đầu thập kỷ 90 khi Việt Nam mở cửa, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế đa phương và bước vào nền kinh tế thị trường Nếu như 20 năm trước, Việt Nam mới chỉ có vài trăm cơ sở kinh doanh lưu trú du lịch (CSLTDL) với khoảng 20 nghìn phòng, chủ yếu phục vụ nhu cầu nghỉ dưỡng hàng năm của công đoàn các ngành, một số ít chuyên gia nước ngoài và khách du lịch quốc tế, thì cùng với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ và hội nhập sâu của ngành Du lịch, tổng số cơ sở lưu trú được xếp hạng và số lượng phòng tính đến năm 2012 đã lên tới 15,381 CSLTDL với 277,661 phòng đạt tiêu chuẩn
Đáng chú ý là nhiều dự án kinh doanh khách sạn cao cấp thuộc các thương hiệu lớn như Hilton, Accor (Sofitel), Intercontinental, Sol Melia, Hyatt, Sheraton
đã triển khai tại Việt Nam theo hình thức đầu tư trực tiếp, liên doanh hoặc nhượng quyền thương hiệu, hợp đồng quản lý tại các điểm du lịch nổi tiếng của Việt Nam Tại các tỉnh, thành phố lớn như TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Vũng Tàu, Nha Trang, Hội An đã có hàng chục khách sạn đạt tiêu chuẩn 5 sao hoạt động kinh doanh tốt
Ngoài ra, các loại hình lưu trú khác như khách sạn nghỉ dưỡng, biệt thự cho thuê, căn hộ du lịch, nhà nghỉ, bungalow, resort, phòng trọ cũng phát triển mạnh
mẽ tại các điểm du lịch trọng điểm
b/.Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực quản lý của các khách sạn Việt Nam
Số cơ sở kinh doanh lưu trú (CSKDLT) có quy mô dưới 50 phòng chiếm tới 93% phản ánh phần nào chất lượng và năng lực cạnh tranh thấp của doanh nghiệp kinh doanh lưu trú (KDLT) của Việt Nam Hầu hết các khách sạn dưới 50 phòng là các khách sạn đạt tiêu chuẩn xếp hạng 1 - 2 sao, cơ sở vật chất kỹ thuật chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng đi du lịch của khách, hệ thống sản phẩm mới chỉ cung
Trang 16cấp các sản phẩm dịch vụ cơ bản liên quan đến chuyến đi của khách Các cơ sở này tập trung chủ yếu vào thị trường khách du lịch nội địa với khả năng thanh toán thấp
và dễ tính Đội ngũ nhân viên và cán bộ quản lý của các cơ sở kinh doanh này hầu hết chưa được đào tạo bài bản chuyên nghiệp; trang thiết bị, kỹ năng phục vụ và khả năng giao tiếp ngoại ngữ của nhân viên còn yếu và thiếu, đặc biệt là các khách sạn tại các vùng, miền không phải là các trọng điểm du lịch Có thể nói, việc đầu tư
cơ sở vật chất kỹ thuật và đào tạo nhân lực của các khách sạn quy mô nhỏ nhà nghỉ
du lịch nội địa chưa được chú trọng Các khách sạn này thường gặp khó khăn trong việc phục vụ các đoàn khách lớn, trong quảng bá, xúc tiến, thu hút khách, trong đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực và thực hiện các chương trình hành động của Ngành Các khách sạn có quy mô nhỏ chưa chú ý đến công tác xúc tiến quảng bá tiếp thị, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động bán toàn cầu (các mạng phân phối và đặt chỗ toàn cầu – GDS) nên khả năng thu hút khách du lịch quốc tế còn hạn chế
Các cơ sở kinh doanh lưu trú thứ hạng cao (4 - 5 sao) do các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư đều có cơ sở vật chất, trang thiết bị tiện nghi hiện đại, dịch vụ phong phú hơn Đặc biệt, các khách sạn 4 - 5 sao thường do các nhà quản lý nước ngoài quản lý nên tính chuyên nghiệp cao, chú trọng đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực
về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề, ngoại ngữ và giao tiếp nên đạt được chuẩn mực quốc tế Các cơ sở kinh doanh này thường được các tập đoàn khách sạn lớn quản lý nên phong cách phục vụ, chiến lược kinh doanh và công tác quảng bá marketing đạt trình độ quốc tế Nhìn chung, công tác huấn luyện đào tạo nhân viên, nâng cao chất lượng dịch vụ còn hạn chế Đặc biệt, ngày càng có nhiều dự án đầu
tư khách sạn và cơ sở kinh doanh lưu trú vào Việt Nam nên các cơ sở này đang gặp phải vấn đề trong thu hút lao động có kỹ năng cao vào làm việc
Những CSLT quy mô nhỏ gặp nhiều hạn chế trong đầu tư đổi mới trang thiết
bị, áp dụng công nghệ quản lý hiện đại, nghiên cứu thị trường và quảng bá sản phẩm Bên cạnh đó, thị trường vốn ở nước ta chưa phát triển, lãi suất tiền cho vay cao và cơ chế để tiếp cận các nguồn tín dụng ngân hàng hạn chế đã khiến nhiều khách sạn gặp khó khăn khi muốn mở rộng quy mô xây dựng, nâng cấp tiện nghi,
mở mang dịch vụ Các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh như: thiếu đất và mặt bằng để mở rộng quy mô phòng ngủ, phòng hội nghị và các dịch vụ hỗ trợ; khó tiếp cận các nguồn thông tin thị trường đáng tin cậy để phục vụ việc đề ra các chiến lược kinh doanh sát với tình hình thực tế; hạn chế về kinh nghiệm, kỹ năng quản lý và các mối quan hệ làm ăn trên thương trường Chi phí đầu vào: điện, nước, viễn thông, thực phẩm còn cao và thiếu ổn định, ảnh hưởng không nhỏ đến lợi thế cạnh tranh Nguồn nhân lực làm việc trong lĩnh vực quản lý
và phục vụ ở các khách sạn còn yếu về nghiệp vụ, năng suất không cao; thiếu kỹ năng quản lý, ngoại ngữ và khả năng sử dụng cũng như kiến thức, hiểu biết về máy tính, internet, thương mại điện tử Nhiều khách sạn cũng chưa thật chú trọng công tác tiếp thị, dẫn đến hiệu quả kinh doanh thấp
c/.Thực trạng về đội ngũ lao động trong khách sạn
Trang 17Nhìn chung, chất lượng nguồn nhân lực trong ngành kinh doanh khách sạn, đặc biệt là lao động trực tiếp tại các khách sạn Việt Nam hiện nay đều chưa đáp ứng được nhu cầu và hoàn toàn chưa đạt chuẩn mực quốc tế
So với các nước có du lịch phát triển trong khu vực, lao động trong CSLTDL
ở Việt Nam yếu về trình độ chuyên môn, giao tiếp và ngoại ngữ (nhất là các CSLTDL quy mô nhỏ, chất lượng thấp, ở vùng sâu, vùng xa) Hiện nay, một số dự
án đào tạo và phát triển nguồn nhân lực như Dự án EU, Dự án Luxembour đang tập trung đào tạo đội ngũ giảng viên (train of trainers) và nâng cấp cơ sở vật chất
kỹ thuật cho các trường nghề du lịch nhằm chuẩn hóa năng lực nghề nghiệp cho học viên các dự án này, đang bước đầu cung cấp đội ngũ lao động có năng lực nghề nghiệp cho ngành kinh doanh khách sạn Tuy nhiên, do tốc độ phát triển nhanh của các cơ sở kinh doanh lưu trú, một bộ phận xã hội vẫn còn định kiến với lao động nghề trong khách sạn đã ảnh hưởng đến việc thu hút các lao động giỏi và tâm huyết gắn bó với nghề lâu dài Trong khi các khách sạn quy mô lớn (3 - 4 sao) tại các thành phố lớn, các trung tâm du lịch tập trung nâng cao chất lượng lao động cho đội ngũ lao động của mình như là một yếu tố cạnh tranh, thì tại các khách sạn hạng thấp hơn, do quy mô hạn chế, lượng khách không nhiều, chưa được chủ đầu
tư chú trọng nên việc tuyển dụng và đào tạo lao động gặp nhiều khó khăn, tay nghề yếu Đối với loại hình cơ sở lưu trú du lịch khác (ngoài khách sạn), nguồn nhân lực đang là vấn đề thách thức Cụ thể, đối với nhà nghỉ du lịch, nhà dân có phòng cho khách du lịch thuê, biệt thự du lịch, bãi cắm trại du lịch đang rất cần thu hút nhiều lao động được đào tạo chuyên ngành để ngành Du lịch thực hiện đồng bộ hóa về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
2.1.4.2 Thách thức và cơ hội
a/.Cơ hội
Hiện nay, lượng khách du lịch đến Việt Nam tăng, tạo ra nguồn cung cho các khách sạn, đặc biệt là lượng khách có khả năng chi trả cao từ các quốc gia phát triển Hơn nữa, việc cải cách chính sách quản lý trong nước để đáp ứng đòi hỏi của WTO sẽ tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, giúp thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện cho nhiều tập đoàn khách sạn nổi tiếng thế giới tiếp tục đầu tư vào hoạt động kinh doanh lưu trú ở Việt Nam, tạo công ăn việc làm cho người lạo động, nâng cao cơ sở hạ tầng và chất lượng phục vụ của hệ thống lưu trú
du lịch, khắc phục tình trạng thiếu phòng chất lượng cao phục vụ khách du lịch trong những thời điểm diễn ra sự kiện lớn của đất nước
b/.Thách thức
Xu hướng du lịch của khách quốc tế hiện nay là hướng tới các sản phẩm du lịch “xanh” Trong khi đó phần lớn khách sạn chưa quan tâm hoặc ngại đầu tư thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, tiết kiệm năng lượng Đặc biệt, hệ thống khách sạn có quy mô nhỏ phát triển ồ ạt không theo quy hoạch có thể dẫn đến những tác động tiêu cực tới môi trường tự nhiên, xã hội, tình trạng cạnh tranh trở nên khốc liệt hơn, nảy sinh tiêu cực trong khi công tác quản lý nhà nước về du lịch cũng như các cơ quan chức năng liên quan chưa đủ mạnh để đáp ứng yêu cầu thực
Trang 18tế Mức độ cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh lưu trú sẽ tăng lên, nhất là với các cơ sở lưu trú du lịch thuộc sở hữu nhà nước; ngoài ra còn có nhiều hạn chế về nguồn nhân lực, trình độ quản lý… Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực phục vụ của một số khách sạn xa trung tâm và khách sạn có quy mô nhỏ chưa đảm bảo tiêu chuẩn, chưa đáp ứng được nhu cầu của hội nhập
Tình trạng không có hoặc có quá ít các đường bay từ các nước châu Âu tới Việt Nam cũng có thể khiến cho khách du lịch ở lại các thành phố cửa ngõ của các nước trong khu vực lâu hơn ở Việt Nam Hiện nay, công tác quảng bá, xúc tiến tạo hình ảnh về Việt Nam nói chung và từng khách sạn nói riêng còn yếu Hoạt động manh mún, chưa có chương trình cụ thể theo từng thời điểm, từng đợt, chưa thu hút được khách du lịch, chưa tạo được sức mạnh tổng hợp để cạnh tranh trên thị trường quốc tế Còn thiếu tiếng nói “tự nguyện” của các khách sạn cho một chương trình quảng bá xúc tiến chung cho cả hệ thống khách sạn Việt Nam
Với nhiều hồ, thác, cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, truyền thống văn hoá giàu bản sắc của các dân tộc bản địa và nhiều di tích lịch sử là điều kiện thuận lợi để Đắk Nông phát triển nhiều loại hình du lịch như: Du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, nghĩ dưỡng, leo núi… Vì vậy, trong định hướng phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh đến năm 2020, du lịch được xem là một trong những ngành có vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần đẩy nhanh tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
2.1.3 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
Hoàn thiện các văn bản hướng dẫn, tạo môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh khách sạn, triển khai hướng dẫn những điều quy định về kinh doanh lưu trú du lịch trong “Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Du lịch”; Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành du lịch trong đó có chiến lược kinh doanh khách sạn để xác định dự báo và hướng dẫn thực hiện; Hoàn thiện tiêu chuẩn quốc gia để quản lý chất lượng sản phẩm khách sạn nhằm đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới Trong đó chú trọng tới áp dụng tiêu chuẩn khách sạn xanh và các tiêu chuẩn vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm; Xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn chức danh cho hệ thống cơ sở lưu trú
du lịch; Nâng cao chất lượng đào tạo nghiệp vụ, tay nghề ngoại ngữ và khả năng giao tiếp cho đội ngũ lao động
Tăng cường hoạt động quảng bá, xúc tiến chung cho ngành du lịch và khách sạn Việt Nam Tăng cường hoạt động của Hiệp hội Du lịch, thành lập Hiệp hội Khách sạn (như TPHCM) nhằm tạo nên sức mạnh chung để cạnh tranh lành mạnh, hiệu quả; Mở rộng và khai thác có hiệu quả các dịch vụ vui chơi giải trí mang tính văn hóa, tính dân tộc, bảo đảm sinh thái, môi trường, an toàn; Hiện đại hóa cơ sở lưu trú du lịch; Chuyên nghiệp hóa công tác quản lý; Tăng cường chất lượng, hiệu quả kinh doanh; Quan tâm đến công tác đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực, nâng cao tính chuyên nghiệp trong phục vụ đối với lao động làm việc trong cơ sở lưu trú du lịch; Hướng tới hình thành các tập đoàn hoặc chuỗi khách sạn ở Việt Nam, tạo sức cạnh tranh và giảm chi phí quảng bá xúc tiến; Thúc đẩy nhan quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp kinh doanh lưu trú du lịch thuộc sở hữu Nhà nước
Trang 19Các doanh nghiệp cần xây dựng kế hoạch kinh doanh, chính sách về sản phẩm phù hợp với từng thời kỳ, phân khúc thị trường, giá và chính sách nhân sự Nghiên cứu ứng dụng công nghệ quản lý tiên tiến, tận dụng những kinh nghiệm hay về quản lý khách sạn ở trong và ngoài nước phù hợp với từng cơ sở lưu trú du lịch nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh và phát triển bền vững
Đứng trước cơ hội tăng trưởng mới nhưng cạnh tranh cao, việc hoàn thiện nội dung văn bản quản lý và cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành có liên quan tạo động lực phát triển cho ngành du lịch Việt Nam là một yêu cầu cấp thiết Cần phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, các bộ, ngành trong việc xây dựng chính sách thông thoáng hơn, kịp thời xử lý những khó khăn vướng mắc trong hoạt động kinh doanh của cơ sở lưu trú du lịch; Nâng cao năng lực của bộ máy quản lý Nhà nước về du lịch từ Trung ương đến địa phương, phân cấp hợp lý và phối hợp nhịp nhàng trong hoạt động kiểm tra, quản lý hỗ trợ cho cơ sở lưu trú du lịch
2.1.4 Du lịch và lưu trú Đắk Nông
2.1.4.1 Giới thiệu du lịch và lưu trú Đắk Nông
Nằm ở độ cao trung bình 500m so với mặt nước biển, Đắk Nông có khí hậu
ôn hòa, mát mẻ quanh năm Nhờ lợi thế về địa hình nhiều thung lũng sâu xen kẽ những cánh rừng bạt ngàn, đã hình thành nên nhiều thắng cảnh đẹp, hoang sơ như: Khu bảo tồn thiên nhiên Nâm Nung, Tà Đùng, thác Bảy tầng, Đắk G’Lung, Đray Sáp - Gia Long, Trinh Nữ…cùng 120 hồ nước lớn nhỏ nằm rải rác khắp cả tỉnh…Tất cả là điều kiện lý tưởng để phát triển loại hình du lịch sinh thái kết hợp nghỉ dưỡng Do đó, trong thời gian qua, Đắk Nông đã tiến hành Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch giai đoạn 2005 - 2015, tầm nhìn đến năm 2025 Đồng thời, tập trung đầu tư 12 điểm khu du lịch và thu hút được 12 dự án đầu tư với tổng kinh phí trên 783 tỷ đồng
Hiện nay toàn tỉnh đã có nhiều khu điểm du lịch đã đi vào hoạt động, thu hút đông đảo lượng khách đến tham quan Trong đó, Khu du lịch cụm thác Đray Sáp – Gia Long đã tổ chức nhiều dịch vụ như cưỡi voi, ăn uống, vận chuyển khách tham quan và hiện nay khu du lịch cũng đang xây dựng vườn thú để phục vụ khách tham quan, đã có một số loài động vật hoang dã đang được chăm sóc bảo vệ như: Voi,
Sư tử trắng, Hổ Châu Phi, Gấu, Hươu, Nai, Khỉ và các loài bò sát , Điểm du lịch sinh thái thác Lưu Ly được tập trung đầu tư là nơi tổ chức Hội Xuân hàng năm vào ngày 15 tháng giêng, đây là một trong những điểm kết nối với Thiền Viện Trúc Lâm Đạo Nguyên (du lịch tâm linh); Khu Di tích lịch sử kháng chiến B4 trong quần thể Khu Du lịch Văn hóa, sinh thái, lịch sử Nâm Nung là khu du lịch trọng điểm của tỉnh; Điểm du lịch sinh thái Thác - rừng Đắk G’Lung đã triển khai thử nghiệm bán vé và tổ chức các dịch vụ phục vụ khách, đây cũng là nơi kết nối với khu di tích lịch sử người anh hùng dân tộc M'Nông N'Trang Lơng Ngoài ra, một
số Khu, điểm du lịch, thắng cảnh tự nhiên cũng thu hút lượng khách đến tham quan đáng kể như: Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng, Công viên vui chơi giải trí Liêng Nung, Điểm du lịch Hồ Tây, điểm du lịch sinh thái thác Len Gun Đây được xem
là điểm dừng chân lý tưởng của du khách trong chuyến hành trình tìm hiểu về
Trang 20“Con đường xanh Tây Nguyên,” có thể kết nối với các tour du lịch của các tỉnh Lâm Đồng, Bình Phước, Đắk Lắk, Tp Hồ Chí Minh và Mondulkri (Campuchia)
Để phục vụ khách du lịch đến tham quan, Đắk Nông đã và đang tập trung đầu
tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng Ngày nay, hệ thống các dịch vụ về khách sạn, nhà hàng có những bước phát triển mạnh Toàn tỉnh hiện có 02 khách sạn đạt tiêu chuẩn 3 sao, 03 khách sạn đạt tiêu chuẩn 2 sao; có hơn 2.000 phòng đủ điều kiện phục vụ các Hội nghị, Hội thảo, các cuộc giao lưu văn hóa thể thao khu vực
và toàn quốc Đồng thời, tỉnh cũng mở nhiều lớp tập huấn bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ phục vụ phòng, buồng, bồi bàn cho các nhà hàng, khách sạn
Bên cạnh lĩnh vực du lịch tự nhiên, Đắk Nông cũng chú trọng phát triển ngành du lịch nhân văn, đặc biêt là công bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa dân tộc Trong thời gian qua, tỉnh đã tiến hành nhiều hoạt động về khảo sát, kiểm
kê di sản văn hóa vật thể và phi vật thể; xác định được số lượng, thể loại, số nghệ nhân cồng chiêng hát sử thi, dệt thổ cẩm, làm cây nêu đã sưu tầm được hàng chục ngàn hiện vật có giá trị lịch sử văn hóa…Ngoài “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” nổi tiếng khắp trong và ngoài nước, tỉnh đang lập hồ sơ đề xuất Unesco công nhận sử thi M'nông là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại Với sự nỗ lực này, hiện trên địa bàn toàn tỉnh đã có 08 di tích lịch sử được công nhận là di tích cấp quốc gia và 01 di tích được công nhận cấp tỉnh; phục dựng được
40 Lễ hội và xây dựng 79 đội văn nghệ dân gian Cấp 122 bộ chiêng cho nhà văn hóa cộng đồng và mở 16 lớp chế tác nhạc cụ, hát dân ca, dệt thổ cẩm cho gần 5.000 lượt học viên là người dân tộc bản địa
Nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch, từng bước đưa du lịch trở thành ngành kinh tế động lực, góp phần vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội Trong thời gian tới, Đắk Nông tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp phát triển ngành du lịch giai đoạn 2012-2015 Theo đó, tiếp tục đầu tư vào cơ sở hạ tầng, sản phẩm du lịch sinh thái, văn hóa, du lịch Mice, du lịch khám phá, vui chơi giải trí;
Du lịch kết hợp tham quan làng nghề, các công trình kinh tế, các khu nông nghiệp chất lượng cao của tỉnh; Đẩy mạnh công tác xúc tiến, quảng bá du lịch; Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực và nâng cao nhận thức về du lịch…Riêng trong năm
2014, đẩy mạnh công tác tổ chức các chương trình, hoạt động nhằm hưởng ứng Năm du lịch Quốc gia, Tây Nguyên – Đà Lạt 2014; điều chỉnh bổ sung quy hoạch
và triển khai kêu gọi đầu tư tại Khu lịch sinh thái – Văn hóa – lịch sử Nâm Nung
và Khu lịch sinh thái - Văn hóa Tà Đùng; chú trọng và triển khai có hiệu quả công tác quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng, giới thiệu tiềm năng du lịch Đắk Nông đến với bạn bè trong và ngoài tỉnh
2.1.4.2 Định hướng phát triển du lịch và cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn
tỉnh Đắk Nông
a/.Định hướng phát triển các loại hình du lịch:
Các loại hình du lịch được xác định trên cơ sở tiềm năng tài nguyên du lịch của lãnh thổ bao gồm tài nguyên du lịch nhân văn và tài nguyên du lịch tự nhiên
Trang 21Tỉnh Đắk Nông là một lãnh thổ có tiềm năng tài nguyên du lịch phong phú, cả
về tài nguyên du lịch tự nhiên lẫn tài nguyên du lịch nhân văn nhân văn Căn cứ vào tiềm năng tài nguyên du lịch và các điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật trên địa bàn lãnh thổ, những loại hình du lịch chủ yếu của Đắk Nông có thể tổ chức được bao gồm:
- Du lịch nghỉ dưỡng núi (du lịch tham quan kết hợp nghỉ dưỡng ở các vùng núi có phong cảnh đẹp, khí hậu ôn hòa, mát mẻ)
- Du lịch tham quan, nghiên cứu (du lịch tham quan kết hợp với tìm hiểu thực tiễn và nghiên cứu một số vấn đề đặc trưng của địa danh du lịch)
- Du lịch sinh thái (du lịch đưa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương)
- Du lịch thể thao, mạo hiểm (du lịch gắn với các sự kiện thể thao và các hoạt động thể thao, mạo hiểm)
- Du lịch hội nghị, hội thảo (tổ chức hội nghị, hội thảo kết hợp tham quan du lịch) Đây là loại hình mới phát triển nhưng cần được đầu tư bởi khách tham quan tham dự thường có địa vị xã hội nhất định và khả năng chi trả tương đối cao, mặt khác hội nghị hội thảo là những dịp rất tốt để tuyên truyền cho
du lịch của tỉnh
- Du lịch văn hóa (du lịch gắn với việc tìm hiểu các giá trị văn hóa hoặc trực tiếp tham gia vào các hoạt động văn hóa
b/ Định hướng về đa dạng hóa các sản phẩm du lịch
Thời gian qua, sự phát triển du lịch đã dẫn đến hậu quả là các nguồn tài nguyên du lịch khai thác quá tải, thiếu sự đầu tư bảo vệ, tôn tạo, nâng cấp và phát triển Đây là một trong những lý do chính làm cho sản phẩm du lịch Việt Nam nói chung và của Đắk Nông nói riêng ngày càng trở đơn điệu cùng với sự xuống cấp nghiêm trọng của nhiều điểm du lịch
Để khắc phục hạn chế trên, cần thiết phải có những biện pháp nhằm đa dạng hóa các sản phẩm du lịch và nâng cao chất lượng của các sản phẩm đó Một số hướng cơ bản để giải quyết vấn đề trên đây cần được xem xét bao gồm:
- Tiến hành điều tra đánh giá về hiện trạng (số lượng và chất lượng) các sản phẩm du lịch chính của Đắk Nông và những tiềm năng còn chưa được khai thác Kết quả khảo sát sẽ làm cơ sở cho việc xây dựng một kế hoạch có tính khả thi cao để tạo ra những sản phẩm du lịch có chất lượng, có khả năng cạnh tranh với sản phẩm du lịch của các địa phương khác, của các nước trong khu vực và trên thế giới
- Cần tiến hành nhanh chóng việc đánh giá phân loại khách sạn và hệ thống dịch vụ theo tiêu chuẩn quốc tế và có những quy định chặt chẽ về tiện nghi
và chất lượng dịch vụ trong hệ thống khách sạn, nhà hàng Trên cơ sở những quy định đã thống nhất cần tiến hành kiểm tra thường xuyên để đảm bảo
Trang 22chất lượng các sản phẩm dịch vụ không bị xuống cấp Trong hệ thống khách sạn- nhà hàng, cần khuyến khích mở rộng nhiều loại hình dịch vụ bổ sung để tạo ra sự đa dạng và hấp dẫn hơn của các sản phẩm du lịch trong lĩnh vực này
- Khuyến khích việc đầu tư nâng cấp mở rộng với nhiều loại hình và nhiều điểm vui chơi giải trí Ở mỗi điểm vui chơi giải trí, cần nghiên cứu để tạo ra sản phẩm độc đáo có bản sắc riêng, tránh sự trùng lặp trong thiết kế các hình thức vui chơi giải trí Để giải quyết vấn đề này, cần thiết phải có sự kết hợp chỉ đạo chung giữa các doanh nghiệp Có như vậy mới có có thể tạo ra được một bức tranh đa dạng của những sản phẩm độc đáo có tính hấp dẫn lớn trên phạm vi toàn tỉnh Đây sẽ là một trong những yếu tố quan trọng để kéo dài ngày lưu trú của khách du lịch trên địa bàn Đắk Nông
- Tiến hành quy hoạch một số điểm trình diễn văn nghệ, ca múa nhạc dân tộc với những chương trình biểu diển độc đáo, đặc sắc mang tính nghệ thuật và dân tộc cao, đây sẽ là những điểm du lịch hấp dẫn và thu hút một lượng khách du lịch không nhỏ bởi mục đích du lịch của phần lớn khách quốc tế đến Việt Nam nói chung và Đắk Nông nói riêng để tìm hiểu đời sống văn hóa của dân tộc Việt Nam Từ trước đến nay, sản phẩm du lịch này chưa được quan tâm đầu tư nâng cấp chất lượng nên còn đơn điệu và chất lượng thấp
- Tiến hành phân loại, hệ thống hóa và tổ chức chu đáo các lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh để có thể phục vụ khách du lịch và có chính sách xúc tiến, quảng cáo đối với loại sản phẩm này
- Tiến hành quy hoạch và đầu tư cho các làng nghề truyền thống phục vụ khách du lịch Cần đặc biệt lưu ý đến quyền loại của người dân địa phương
để họ có thể yên tâm đầu tư thời gian và công sức tạo ra sản phẩm du lịch độc đáo Khuyến khích mở các điểm trưng bày và bán các sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ, hàng lưu niệm có chất lượng cao, giá cả hợp lý trên địa bàn Nên có những quy định đối với các cơ sở tư nhân buôn bán các loại hàng này cho khách du lịch
- Cần tiến hành hợp tác chặt chẽ với các địa phương khác, đặc biệt là Bình Thuận, Khánh Hòa, Lâm Đồng, thành phố Hồ Chí Minh để tạo nhiều hơn nữa các sản phẩm du lịch có chất lượng cao thông qua các tuyến, điểm du lịch liên vùng Ở đây, cần có sự tổ chức thống nhất về giá cả, tránh tình trạng cạnh tranh thiếu lành mạnh đẫn đến sự phiền hà đối với du khách
c/.Định hướng phát triển không gian du lịch
Tổ chức không gian du lịch
Phát triển không gian du lịch Đắk Nông trước hết căn cứ vào vị trí chức năng
du lịch của tỉnh đối với tiểu vùng du lịch Tây Nguyên và tiếp đến là mối quan hệ với trung tâm du lịch thành phố Hồ Chí Minh và vùng phục cận, cũng như trung tâm du lịch Nha Trang - Ninh Thuận - Ninh Chữ - Đà Lạt, các địa phương trong
Trang 23vùng Du lịch Nam Trung Bộ và Nam bộ, các tỉnh Đông Bắc Campuchia và Đông Nam Lào Bên cạnh đó, không gian du lịch, cũng phải phù hợp với không gian phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của tỉnh đến năm 2020 vì hoạt động du lịch luôn đan xen với các ngành du lịch khác và là yếu tố cấu thành trong cơ cấu kinh tế - văn hóa - xã hội của địa phương, chịu ảnh hưởng của nhịp độ phát triển đô thị và
sự ra đời của trung tâm sản xuất hàng hóa và dịch vụ
Trung tâm phát triển du lịch
Với quan điểm trên, quy hoạch phát triển không gian du lịch Đắk Nông lấy đô thị Gia Nghĩa, là động lực đầu tàu phát triển du lịch của cả tỉnh Trung tâm du lịch Gia Nghĩa là điểm dừng quan trọng trên hành lang du lịch Tây Nguyên và là điểm đầu mối của các hoạt động du lịch nội tỉnh, là nơi điều hành mọi hoạt động du lịch của toàn tỉnh
Đô thị Đắk Nông là nơi có hệ thống giao thông thuận lợi, có nguồn tài nguyên
du lịch tương đối phong phú sẽ là trọng tâm phát triển du lịch ở khu vực trung tâm tỉnh Từ đô thị Đắk Nông có thể là đầu mối các hoạt động du lịch ở khu vực tập trung tài nguyên du lịch của các huyện Đắk R’Lấp, Đắk Nông, Đắk Song Thị trấn Ea T’Ling, điểm dân cư lớn phía Đông Bắc, nằm trên trục đường 14 liên
hệ thuận tiện với Buôn Ma Thuột và Vườn Quốc Gia Yok Đôn cũng là khu vực Đông Bắc tỉnh
Không gian thuận lợi phát triển du lịch
Các trục không gian thuận lợi phát triển du lịch là hành lang nối các trọng tâm
du lịch, dựa theo các trục đường quốc lộ: 14; 14C và 28 trong đó trục không gian
từ Buôn Ma Thuột qua Đắk Mil, Gia Nghĩa và xuống Bình Phước là trục không gian phát triển chỉ đạo Ngoài ra, trục không gian du lịch từ đô thị Gia Nghĩa theo Quốc lộ 28 tới Di Linh, Lâm Đồng cũng có vị trí rất quan trọng, Ngoài ra, trong tương lai, khi giai đoạn 2 đường Hồ Chí Minh hoàn tất và cửa khẩu BuPrăng (huyện Đắk R’Lấp) được nâng cấp thành cửa khẩu quốc tế sang Campuchia thì không gian du lịch bao trùm khu vực của khẩu, huyện lỵ Đắk Buk So và một số tài nguyên du lịch quan trọng của khu vực sẽ là một không gian thuận lợi phát triển du lịch quan trọng nữa của Đắk Nông
Không gian ưu tiên phát triển du lịch
Nằm trong không gian thuận lợi nhưng có nhiều ưu thế về tài nguyên du lịch
và kết cấu hạ tầng đảm bảo là tiền đề cho sự nghiệp phát triển du lịch khu vực Vì vậy, không gian ưu tiên phát triển du lịch ngoài không gian ở các trọng tâm du lịch còn có không gian ở các điểm tài nguyên du lịch có giá trị nhưng nằm riêng lẽ bảo đảm nếu đầu tư khai thác sẽ thu hút khách du lịch và mang lại hiệu quả nhất định
Du lịch tỉnh Đắk Nông xác định các không gian ưu tiên phát triển du lịch tập trung
ở Đô thị Gia Nghĩa và phụ cận, thị trấn Đắk Mil và phụ cận và trị trấn EaT’Ling và phụ cận
Điểm du lịch
Trang 24Đối với hệ thống tài nguyên của Đắk Nông có thể phân thành hai nhóm điểm
du lịch chủ yếu sau
Nhóm điểm du lịch tự nhiên:
Các điểm du lịch tự nhiên là thế mạnh đặc biệt của Đắk Nông Hệ thống các điểm du lịch tự nhiên bao gồm các thác nước, đỉnh núi và khu bảo tồn thiên nhiên của Đắk Nông chủ yếu gắn với hai hệ thống sông chính là Sê Rê Pốc và sông Đồng Nai của tỉnh
Đắk Nông có nhiều thác nước có thể khai thác du lịch hiệu quả, trong đó điển hình là: thác Trinh Nữ (Cư Jút), thác Đray Sáp, thác Gia Long (Krông Nô), thác Gấu, thác Ba Tầng, Thác Liêng Nung (huyện Đắk Nông) và hệ thống các thác Đắk G’Lung, Đăm Bri, Phi Nao 2, Gầm Gì Ngoài ra còn nhiều thác nhỏ khác có thể khai thác du lịch quy mô nhỏ, hoặc kết hợp khai thác du lịch với các mục đích thủy lợi, thủy điện nhỏ
Ngoài các thác nước, Đắk Nông còn có hệ thống hồ phong phú có thể phát triển du lịch là các hồ: Eas Nô (huyện Krông Nô), hồ Tây (Đắk Mil), hồ Doãn Văn (Đắk R’Lấp), trong tương lai, khai đã hoàn thành, Hồ trung tâm Gia Nghiã sẽ là điểm nghỉ ngơi, thư giản và vui chơi giải trí quan trọng của nhân dân trong tỉnh cũng như khách du lịch
Đắk Nông có hai khu bảo tồn tự nhiên có thể khai thác du lịch sinh thái có chất lượng cao là khu bảo tồn tự nhiên Nam Nung và Tà Đùng Trước mắt có thể dựa vào khai thác ngay khu Nam Nung, khu vực Tà Đùng, do điều kiện hạ tầng còn chưa thuận lợi có thể được khai thác trong giai đoạn sau
Một sự bổ sung quan trọng của hệ thống các điểm du lịch tự nhiên của Đắk Nông là nguồn nước khoáng nóng Đắk Mol Hiện tại đây mới chỉ tổ chức khai thác nước khoáng Tuy nhiên khi được đầu tư, đây có thể trở thành một sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh quan trọng của Đắk Nông nói riêng và Tây Nguyên nói chung
Nhóm, điểm du lịch nhân văn:
Đắk Nông có hệ thống các điểm du lịch nhân văn tương đối phong phú Đó là các điểm du lịch gắn với truyền thống văn hóa của cộng đồng các dân tộc thiểu số cũng như truyền thống đấu tranh cách mạng của tỉnh
Các điểm du lịch nhân văn của Đắk Nông có thể gắn với các làng nghề truyền thống (thổ cẩm, rượu cần) của đồng bào M’Nông, Ê Đê (tại thôn 3, xã Quảng Khê, huyện Đắk Nông và khu vực phụ cận Ea T’Ling, huyện Cư Jút)
Ngoài ra các điểm du lịch nhân văn gắn với truyền thống đấu tranh cách mạng của Đắk Nông là ngục Đắk Mil, đồi Mậu Thân, Bon Choah (Krông Nô), Bon Bu Nơr (Đắk R’Lấp), khu căn cứ Tỉnh ủy (Nam Nung, huyện Đắk Nông Các điểm du lịch nhân văn quan trọng khác của Đắk Nông là bộ sưu tập pho sử thi Ót N’Rông (huyện Đắk Song), Trống đồng (Đắk Mâm, huyện Krông Nô), chùa Gia Nghĩa
Trang 25Các làng dân tộc thiểu số còn là nơi diễn ra các lễ hội truyền thống (đâm trâu ) nơi tập trung các kiến trúc truyền thống của các dân tộc, đặc biệt các buôn làng M’Nông và đàn đá vv Cũng là những tài nguyên du lịch quan trọng của tỉnh 2.2 Sự cần thiết đầu tư Dự án
Qua phân tích về thực tế và tiềm năng phát triển du lịch cho thấy việc đầu tư
Dự án là hướng đi đúng đắn, phù hợp với chủ trương của UBND tỉnh Đắk Nông và Đường lối định hướng phát triển của UBND thị xã Gia Nghĩa
Dự án đầu tư sẽ đẩy mạnh được chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang nền “công nghiệp không khói”, nhằm giảm bớt vấn nạn ô nhiễm môi trường do công nghiệp hóa gây ra, tạo sự phát triển bền vững, lâu dài
Góp phần giải quyết một phần công ăn việc làm trên địa bàn thị xã, đẩy mạnh tăng trưởng của thị xã Gia Nghĩa và tận dụng được những thế mạnh chưa được khai thác hết trên địa bàn
Góp phần xây dựng cơ sở lưu trú du lịch hiện đại khang trang tại Đắk Nông, tạo cơ hội cho du lịch tại Đắk Nông nói chung và thị xã Gia Nghĩa nói riêng phát triển
Mặt khác, theo các chuyên gia du lịch, du khách trên thế giới đang chuyển dần sang khu vực Đông Á - Thái Bình Dương và Đông Nam Á với xu hướng yêu thích du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và du lịch trải nghiệm Đắk Nông đang có các thế mạnh rất lớn vì các loại hình du lịch này Tuy nhiên, các cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn hiện chưa đáp ứng được nhu cầu lưu trú của khách du lịch Đặc biệt là khách lưu trú nước ngoài Chính vì thế, Dự án được đem vào hoạt động sẽ thúc đẩy các lạo hình du lịch của tỉnh nhà
Việc đầu tư Dự án là cần thiết để tận dụng được thế mạnh, và cơ hội phát triển của thị xã Gia Nghĩa cũng như của Đắk Nông, nhằm đưa Đắk Nông phát triển bền vững lâu dài và có bước tiến xa trên con đường hội nhập
Trang 26CHƯƠNG 3 PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH
3.1 Cơ sở pháp lý của Dự án
- Căn cứ Luật Đất đai số 45/2013/QH13
- Căn cứ Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005
- Căn cứ Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003
- Căn cứ Luật Du lịch số 44/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005
- Căn cứ Luật Bảo vệ Môi trường ngày 29 tháng 11 năm 2005
- Căn cứ Luật Quy hoạch đô thị số 30/2009/QH12 của Quốc hội khóa 12
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 08 năm 2006 của Chính phủ về việc Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường
- Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 04 năm 2011 của Chính phủ Quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường
- Quyết định số 2162/QĐ-TTg ngày 11/11/2013 phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Tây Nguyên đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”
- Tiêu chuẩn TCVN 4391:2009 ngày 15 tháng 6 năm 2009 của Tổng cục Du lịch Quy định tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn
- Nghị định số 92/2007/NĐ-CP ngày 01 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch về lưu trú du lịch
- Nghị định số 92/2007/NĐ-CP ngày 01 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch về lưu trú du lịch
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai 2013
- Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất
- Nghị định 180/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 sửa đổi Nghị định
Trang 27việc Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường
- Nghị định số 37/2010/NĐ-CP, ngày 07 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ Về lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch đô thị
- Nghị định số 38/2010/NĐ-CP ngày 07 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ về Quản lý không gian, kiến trúc cảnh quan đô thị
- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ về Quản lý chất thải rắn
- Văn bản hợp nhất 4699/VBHN-BVHTTDL ngày 25/12/2013 (Hợp nhất Nghị định số 92/2007/NĐ-CP và Nghị định số 180/2013/NĐ-CP) Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch
- Thông tư số 01/2011/TT-BXD của Bộ Xây dựng ngày 27 tháng 01 năm 2011 Hướng dẫn đánh giá môi trường chiến lược trong đồ án quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị
- Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 18 tháng 7 năm 2011 Quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-
CP ngày 18 tháng 04 năm 2011 của Chính phủ quy định đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường
- Thông tư số 05/2006/TT-BTNMT ngày 08/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về Hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường
- Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT, ngày 18 tháng 12 năm 2006 của Bộ trưởng
Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc Bắt buộc áp dụng Tiêu chuẩn Việt Nam
sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại
- Thông tư 04/2010/TT-BXD ngày 26 tháng 05 năm 2010 về Hướng dẫn lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình
- Quyết định số 957/QĐ-BXD ngày 29 tháng 09 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về việc Công bố định mức chi phí quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng công trình
- Quyết định số 439/QĐ-BXD ngày 26 tháng 04 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về việc Công bố Tập suất vốn đầu tư xây dựng công trình năm 2012
- Tiêu chuẩn TCVN 4391:2009 Khách sạn - Xếp hạng; ban hành theo Quyết định
số 217/QĐ-TCDL 15 tháng 6 năm 2009 của Tổng cục Du lịch
- Tiêu chuẩn TCVN 5065:1990 Khách sạn – Tiêu chuẩn thiết kế
Trang 28- Quyết định số 21/2011/QĐ-UBND của UBND tỉnh Đắk Nông ngày 08 tháng 07 năm 2011 về việc Ban hành Quy định chính sách khuyến khích, hỗ trợ đầu tư phát triển thương mại, công nghiệp, du lịch và dịch vụ trên địa bàn tỉnh Đắk Nông
- Quyết định số 16/2011/QĐ-UBND của UBND tỉnh Đắk Nông ngày 21 tháng 04 năm 2011 về việc Ban hành Quy định về hạn mức giao đất, cho thuê đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình và cá nhân; diện tích đất được phép tách thửa đối với tổ chức, hộ gia đình và các nhân trên địa bàn tỉnh Đắk Nông
- Công văn số 2555/UBND-KTTC ngày 24/06/2014 của UBND tỉnh Đắk Nông
về việc: Thuận chủ trương đầu tư khách sạn Cao Nguyên
- Công văn số 672/SXD-KTQH ngày 30/07/2014 của sở Xây dựng tỉnh Đắk Nông
về việc hướng dẫn thủ tục thực hiện Quy hoạch, đầu tư xây dựng dự án Khách sạn Cao Nguyên
- Công văn số 855/SXD-KTQH ngày 17/09/2014 của sở Xây dựng tỉnh Đắk Nông
về việc thỏa thuận quy mô diện tích Quy hoạch đầu tư xây dựng dự án Khách sạn Cao Nguyên
- Căn cứ một số văn bản mà Chủ đầu tư sau khi trình các Sở Ban Ngành chủ trương đầu tư sẽ được cập nhật vào hồ sơ Dự án và một số văn bản mà Chủ đầu
tư sau khi trình các Sở Ban Ngành chủ trương đầu tư sẽ được cập nhật vào hồ sơ
3.3 Giải pháp quy hoạch
3.3.1 Quan điểm quy hoạch
- Công trình khu khách sạn 5 sao đều tuân thủ theo mẫu thiết kế thống nhất, phù hợp với các yêu cầu sử dụng và mỹ quan nội khu, tạo sự hài hòa với tổng thể Dọc theo các con đường nội khu và khu tập trung đều được trồng cây xanh Các nội dung được quy hoạch như sau:
Tạo môi trường sống văn minh, phù hợp với xu hướng phát triển của Thị xã Xây dựng khu lưu trú du lịch sang trọng, hiện đại
Xây dựng công viên cây xanh, nâng cao hệ số sử dụng đất trong khu vực Triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng, giảm giá thành sản phẩm
Trang 29Quan tâm đến các giải pháp về quy hoạch và kiến trúc sao cho nâng cao giá trị cuộc sống, cải thiện môi trường, tạo điều kiện sống có chất lượng tốt, đầy đủ tiện nghi, an lành
Sử dụng đất hợp lý và phát huy hiệu quả các lợi thế của khu quy hoạch
Tuân thủ theo hệ thống giao thông khu vực trong đồ án quy hoạch sử dụng đất
Khai thác tốt nhu cầu tất yếu của khu vực, giải quyết hợp lý giữa Dự án với các khu vực chung quanh và hướng phát triển trong tương lai của khu vực 3.3.2 Quy hoạch cơ cấu tổng mặt bằng và phân khu chức năng
- Diện tích khu đất 1.83 ha Mục đích của Dự án là xây dựng một khu dịch vụ – du lịch với đầy đủ các điều kiện về tiện nghi sinh hoạt, đạt yêu cầu về vệ sinh môi trường, thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí, ăn uống, các nhu cầu về dịch vụ lưu trú du lịch khác Tổ chức hệ thống giao thông đối nội, đối ngoại với hệ thống kỹ thuật hạ tầng hoàn chỉnh, từ đó phân khu chức năng
sử dụng các khu đất hợp lý, giải pháp quy hoạch kiến trúc và xây dựng mới, có sắc thái riêng nhưng vẫn hòa quyện với quy hoạch kiến trúc cảnh quan toàn khu Tiêu chí của khu lưu trú du lịch này phải thể hiện được nhiều điểm mới,hiện đại, sang trọng và hấp dẫn du khách, có định hướng tồn tại và phát triển lâu dài, hạn chế những nhược điểm phát sinh trong quá trình hoạt động
- Dựa theo tính chất sử dụng và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật ta chia làm 06 loại đất
cơ bản sau đây:
+ Đất công viên, cây xanh: Được bố trí diện tích khoảng 7,517 m2 để xây dựng hạ tầng và cây xanh tạo bóng mát, an lành khí hậu kết hợp trong các hạng mục công trình, sân bãi để xe trên phần diện tích đầu tư các công trình, dọc lối đi
sẽ có những chòi nghỉ, ghế đá để du khách nghỉ ngơi, thư giãn, phần diện tích còn lại sẽ được giữ nguyên phần cây xanh, trồng thêm những cây ở chỗ trống, tạo một phần diện tích rộng lớn dành cho tham quan, nghỉ ngơi, đi dạo
+ Đất xây dựng khu khách sạn cao cấp: Khu khách sạn cao cấp được xây dựng tại trung tâm với diện tích bố trí hơn 1,342 m2, các hạng mục xây dựng hiện đại cao 13 tầng (bao gồm cả tầng hầm, tầng trệt, tầng lửng) đạt chuẩn khách sạn cao cấp 5 sao Trong khu khách sạn cao tầng sẽ sử dụng một số diện tích để làm nhà hàng Á –Âu; phòng hội nghị; bar – ca fe; phòng máy vi tính, hồ bơi, và các hạng mục nhỏ như: Quầy báo, bưu điện, đổi tiền, tiểu cảnh, với mật độ xây dựng thấp theo đúng tiêu chuẩn và yêu cầu của khách sạn 5 sao
+ Đất xây dựng khu nhà nghỉ bungalow: Khu nhà nghỉ bungalow được bố trí trên khu đất 240 m2 gồm 06 căn, diện tích mỗi căn khoảng 36-44 m2 với mặt độ xây dựng thấp; được bố trí đầy đủ khép kín với cảnh quan sân vườn xung quanh, tạo nên một không gian hài hòa với lối đi bộ, cây xanh thoáng mát, yên tĩnh
+ Đất xây dựng khu nhà hàng tiệc cưới, hội nghị: Trên khu đất Dự án sẽ xây dựng 1 nhà hàng tiệc cưới hội nghị phục vụ khoảng 1,600 chỗ ngồi với 3 sảnh