TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Đề tài TÁC ĐỘNG CỦA TÁI ĐỊNH CƯ ĐẾN NHÀ Ở VÀ ĐIỀU KIỆN SINH HOẠT CỦA NGƯỜI DÂN SAU DỰ Á
Trang 1TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đề tài
TÁC ĐỘNG CỦA TÁI ĐỊNH CƯ ĐẾN NHÀ Ở
VÀ ĐIỀU KIỆN SINH HOẠT CỦA NGƯỜI DÂN SAU
DỰ ÁN CẢI THIỆN VỆ SINH VÀ NÂNG CẤP ĐÔ THỊ
KÊNH TÂN HÓA - LÒ GỐMChuyên ngành : XÃ HỘI HỌC
Giảng viên hướng dẫn : Th.S NGUYỄN THỊ NGÂN HOA Sinh viên thực hiện : LƯU THỊ LAN ANH
MSSV : 063609X
Lớp : 06XH1D
Khoá : 10
TP Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn đến Th.S Nguyễn Thị Ngân Hoa, người trực tiếp hướng dẫn khoa học đã giúp tôi thực hiện Luận văn Xin cảm ơn thầy cô trong khoa KHXH và NV trong thời gian học tập đã truyền đạt về kiến thức môn học cũng như những kỷ năng để tôi hoàn thành bài Luận văn Và cũng xin cảm ơn Hội đồng phản biện đã xem xét, thông qua bài Khóa luận này
Cuối cùng, cảm ơn những ý kiến quý báu và thiết thực của các bạn sinh viên cùng lớp trong quá trình tôi thực hiện luận Lăn này
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Tất cả số liệu nghiên cứu là trung thực Luận văn này chưa từng được công bố
Lưu Thị Lan Anh
Trang 4NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 5
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
Trang 6
DANH MỤC CÁC CHỬ CÁI VIẾT TẮT
Q.6
Quận 6
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU STT Số bảng/ biểu đồ
Tên bảng/ biểu đồ
1 Bảng 2.1 Giới tính
2 Biểu đồ 2.1 Độ tuổi
3 Bảng 2.2 Trình độ học vấn
4 Bảng 2.3 Số thành viên trong gia đình trước dự án
5 Bảng 2.4 Số thành viên trong gia đình sau dự án
6 Biểu đồ 2.2 Loại hình nhà trước dự án
7 Bảng 2.5 Loại hình nhà sau dự án
8 Bảng 2.6 Diện tích nhà ở trước đây
9 Bảng 2.7 Diện tích nhà ở hiện nay
10 Bảng 2.8 Nguồn nước sinh hoạt trước dự án
11 Bảng 2.9 Nguồn nước sinh hoạt sau dự án
12 Bảng 2.10 Loại hình cung cấp điện trước dự án
13 Bảng 2.11 Loại hình cung cấp điện sau dự án
14 Bảng 2.12 Đánh giá về điều kiện sinh hoạt sau dự án
15 Bảng 2.13 Nhà vệ sinh trước dự án
16 Bảng 2.14 Nhà vệ sinh sau dự án
17 Bảng 2.15 Phương thức thu gom rác trước dự án
18 Bảng 2.16 Phương thưc thu gom rác sau dự án
19 Bảng 2.17 Hệ thống thoát nước trước dự án
20 Bảng 2.18 Hệ thống thoát nước sau dự án
21 Bảng 2.19 Tình trạng ngập nước trước dự án
22 Bảng 2.20 Tình trạng ngập nước sau dự án
23 Bảng 2.21 Đánh giá về đường, hẻm hiện nay
24 Bảng 2.22 Đánh giá về mức độ cây xanh
25 Bảng 2.23 Mức độ diễn ra tệ nạn xã hội sau dự án
26 Bảng 2.24 Mức độ ô nhiễm về mùi hôi
27 Bảng 2.25 Mức độ ô nhiễm bụi bẩn
28 Bảng 2.26 Mức độ ô nhiễm tiếng ồn
29 Bảng 2.27 Đánh giá về mức độ ô nhiễm về rác thải
30 Bảng 2.28 Mức độ hài lòng về chính sách nhà ở
31 Bảng 2.29 Mức độ hài lòng về đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng
32 Bảng 2.30 Đánh giá những thông tin truyền đạt
33 Bảng 2.31 Đánh giá về việc nhận thông tin từ ban quản lý dự án
34 Bảng 2.32 Đánh giá về việc nhận thông tin từ UBND phường
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
DANH MỤC CÁC CHỮ CÀI VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tài liệu 2
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng, phạm vi và thời gian tiến hành nghiên cứu 7
5.Phương pháp nghiên cứu 7
6 Giả thuyế nghiên cứu 9
7 Khung phân tích 10
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN 11
1.1Các khái niệm liên quan 11
1.1.1 Đô thị 11
1.1.2 Đô thị hóa 11
1.1.3 Quy hoạch 12
1.1.4 Chính sách, chương trình, dự án 12
1.1.5 Tái định cư 12
1.1.6 Các hình thức tái định cư 13
1.1.7 Nhà ở 13
1.1.8 An ninh trật tự 13
1.1.9 Tệ nạn xã hội 14
1.2 Lý thuyết tiếp cận 14
Trang 91.2.1 Lý thuyết cấu trúc lựa chọn hợp lý 14
1.2.2 Lý thuyết tương tác 15
CHƯƠNG II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 17
2.1 Mô tả khu vực nghiên cứu 17
2.1.1 Tổng quan về dự án 17
2.1.2 Khu vực F11, Q6 18
2.1.3 Khu F BHH, quận Bình Tân 18
2.2 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 19
2.2.1Giới tính 19
2.2.2 Độ tuổi … 19
2.2.3 Trình độ học vấn 19
2.2.4 Số thành viên trong gia đình 20
2.3 Nhà ở và điều kiện sinh hoạt của các hộ dân sau dự án 22
2.3.1 Nhà ở 22
2.3.1.1 Loại hình nhà ở 22
2.3.1.2 Diện tích và tình trạng pháp lý 24
2.3.2 Điều kiện sinh hoạt 26
2.3.2.1 Cơ sở vệ sinh hạ tầng nhà ở 26
2.3.2.1.1 Hệ thống điện, nước 26
2.3.2.1.2 Hệ thống điện nhà vệ sinh 30
2.3.2.1.3 Hệ thống thu gom rác 31
2.3.2.2 Cơ sở hạ tầng vệ sinh công cộng 32
2.3.2.2.1 Hệ thống điện, nước 32
2.3.2.2.2 Khuôn viên, an ninh trật tự 35
2.3.2.2.3 Vấn đề ô nhiễm tiếng ồn, bụi bẩn, mùi hôi và rác thải 38
2.4 Các yếu tố tác động đến nhà ở và điều kiện sinh hoạt 41
2.4.1 Chính sách tái định cư 41
2.4.2 Sự tham gia của người dân trong quá trình dự án 44
PHẦN KẾT LUẬN
Trang 10Kết quả 48Khuyến nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1 Phụ lục định lượng
2 Phụ lục định tính
3 Bảng câu hỏi
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những thành phố hiện đại hóa nhanh nhất tại Đông Nam Á Đây cũng là một trong những khu vực với một trong những nền kinh tế phát triển nhanh và cách mạng công nghiệp tốc độ nhanh nhất trong lịch sử Do sự phát triển kinh tế nhanh chóng, TP.HCM phải đương đầu với những thách thức quan trọng về kiểm soát sự phát triển đô thị
TP.HCM có một hệ thống sông và kênh rạch lớn, phức tạp nối liền với nhau với tổng chiều dài gần 100km Tất cả các sông và kênh có chức năng thoát nước và cũng là hệ thống giao thông thủy, môi trường và cảnh quan đô thị nói chung Kênh Tân Hóa – Lò Gốm nằm ở phía Tây, là một trong những dòng kênh
ô nhiễm nặng nề nhất của TPHCM Hai bờ kênh và khu vực chung quanh là nơi
ở của những cư dân nghèo nhất của thành phố Lưu vực bị ô nhiễm rộng 19 km2 với 700,000 dân
Sự đương đầu lớn nhất mà thành phố phải thực hiện gấp rút là đưa ra những kế hoạch quy hoạch đô thị đối với các dân cư ven các bờ kênh ô nhiễm trong thành phố nói chung và kênh Tân Hóa – Lò Gốm nói riêng
Tháng 6 năm 1997 Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Bỉ ký kết hiệp định hợp
tác phát triển song phương (ODA) với dự án “Cải thiện vệ sinh và nâng cấp đô thị lưu vực kênh Tân Hóa – Lò Gốm” Là một trong những dự án được tài trợ để
giải quyết ô nhiễm kênh rạch tại TP.HCM và cải thiện cuôc sống của người dân ven kênh dự án do UBND TP.HCM và Cơ quan Hợp tác kỹ thuật Bỉ cùng hợp tác thực hiện
Dự án cải tạo kênh Tân Hóa-Lò Gốm đã kết thúc từ năm 2006 Đến nay cuộc sống của những hộ dân di dời cũng phần nào ổn định Đã xuất hiện những thay đổi lớn về mặt kinh tế, văn hóa cũng như việc làm, học hành, và các thói quen trong sinh hoạt hằng ngày của ngưới dân nơi đây
Nếu mục tiêu ban đầu của dự án là cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân ven kênh thì sau khi dự án hoàn thành một thời gian liệu mục tiêu đó có còn được đảm bảo hay không? Đã có nhiều bài báo, bài viết và báo cáo khoa học đề cập đến đời sống của những hộ gia đình sống trong vùng dự án Nhưng các tác giả chỉ đề cập đến một số khía cạnh của các vấn đề như kinh tế, việc làm…mà ít quan tâm đến điều kiện sinh hoạt và nhà ở của người dân chính tại nơi dự án thực hiện đã được sự cải thiện hay chưa, hay còn những bất cập nào đang ảnh hưởng đến cuộc sống người dân sau khi dự án kết thúc? Do vậy, tác giả quyết định
nghiên cứu đề tài “Tác động của tái định cư đến nhà ở và điều kiện sinh hoạt của
Trang 12người dân sau dự án cải thiện vệ sinh và nâng cấp đô thị lưu vực kênh Tân Hóa –
Lò Gốm” để có thể tìm hiểu xem ảnh hưởng thực tế của dự án lên nhà ở và sinh
hoạt của các người dân TĐC, và những trở ngại đối với cuộc sống của họ để từ
đó đề xuất những bài học kinh nghiệm cho các dự án tái định cư sau này
2 Tổng quan tài liệu liên quan đến đề tài:
Tác giả Phương Nam trong bài “ Nhà tái định cư: thiếu nhưng vẫn
thừa”(2010) viết về ảnh hưởng của các dự án, công trình xây dựng lên đời sống
người dân Theo bài báo, người dân chấp nhận giải tỏa để có đất xây dựng dự án
họ đã phải chịu rất nhiều thiệt thòi Khi rời bỏ nơi ở quen thuộc của mình, mọi sinh hoạt hằng ngày, việc ăn học của trẻ em, việc kinh doanh buôn bán của gia đình họ đều bị đảo lộn Trong khi những hộ dân TĐC đa phần có thu nhập thấp, nên mặc dù có được chỗ ở mới khang trang hơn, nhưng gia đình họ lại bị xáo trộn về công ăn việc làm dẫn đến cuộc sống khó khăn Nhiều người dân cho biết, tại nơi ở cũ họ có những việc làm quen thuộc, dù ít hay nhiều cũng có đủ tiền chi tiêu hằng ngày Nhưng từ ngày họ dọn về nơi ở mới, họ rất khó tìm việc làm mới Đây cũng là lý do khiến nhiều người được giao nhà nhưng không muốn dọn về ở Bài báo cũng chỉ ra, thực tế là việc di dời dân trong một số dự án không những không đạt được mục đích là phải đem lại mức sống tối thiểu và sinh hoạt như trước khi TĐC cho người dân, mà còn có thể dẫn đến nguy cơ làm "bần cùng hóa" một bộ phận dân cư Đa số người dân TĐC không có khả năng tìm một việc làm mới và nhiều người trong số họ lại quay trở về nơi ở cũ làm những công việc từng làm trước đây để mưu sinh
Cũng như một số bài báo khác, đây tác giả chỉ ra vấn đề người dân sau tái định cư gặp rất nhiều khó khăn trong sinh hoạt cũng như kinh doanh, nhưng chưa nêu được khó khăn sinh hoạt cụ thể về môi trường sinh hoạt và vấn đề nhà ở ra sao? Tác giả cũng chỉ xem xét việc tổ chức thực hiện các dự án nhà tái định cư
đã thực sự đúng quy trình và chất lượng hay chưa?
Các tác giả Thanh Thúy và Hoài Giang trong bài: “ nhà ổ chuột: nổi trôi những số phận ( II)” (2002) đã viết về cuộc sống của những người dân lao
động ngheò ven các bờ kênh quận 6 và quận 4( Bến Vân Đồn) với những nội dung: thiếu nhà vệ sinh thừa nhân khẩu, thất học đi kèm tệ nạn và làm gì để xóa nhà ổ chuột Cuộc sống khu nhà lụp xụp của những người dân nhập cư nghèo cái
gì cũng thiếu, từ điện, nước đến vật dụng sinh hoạt Hơn hết cả là sự ô nhiểm môi trường với mùi hôi thối bốc lên từ bờ kênh mà họ đã sống ở đây hàng chục năm, đồng hành với họ là những chứng bệnh hô hấp mắc phải rất nguy hiểm Nhà ở của những hộ dân trong khu ổ chuột này được tác giả nói đến là “khu ổ chuột”,
Trang 13bởi nơi mà những con người nghèo khổ hàng ngày nghĩ ngơi, sinh hoạt hàng này
là những ngôi nhà tạm bợ che chắn bằng tôn lá với kiểu kiến trúc tự thiết kế thô
sơ sống cho qua ngày Đời sống khó khăn nên chuyện học hành của con em trong các hộ bị hạn chế, nhận thức kém nên người dân ở những nơi này theo nhận định của tác giả sẽ dễ sa vào tình trạng phạm pháp như ma túy, mại dâm, trôm cắp…Trong bài viết tác giả đã đưa ra nhận xét “ những khu nhà ổ chuột như thế vẫn tồn tại ngay giữa khu vực trung tâm làm cho bộ mặt thành phố ngày càng
“sẫm màu” hơn Điều đáng nói cũng trong bài viết này, tác giả cũng chỉ ra những biện pháp làm gì để xóa nhà ổ chuột và cải thiện cuộc sống cho họ:
- Kế hoạch di dời, giải tỏa các căn nhà ổ chuột cần được cơ quan chức năng quan tâm và thúc đẩy tiến độ nhanh hơn
- Thành phố ngăn chăn việc hình thành các khu nhà ổ chuột mới bằng việc giải tỏa các căn nhà trọ tồi tàn
- Người dân khu ổ chuột khi hữu sự cần đến tiền hầ như phải nhờ đến tín dụng đen bên ngoài, trường hợp con bị bệnh nặng không có tiền chữa trị phải nhờ đến báo chí giúp đỡ
- Quản lý tính hình an ninh trật tự những nơi này bằng cáchquan tâm đến đời sống người dân khu ổ chuột trước khi đến nơi ở mới tốt hơn
Qua bài viết này cho thấy tác giả đã có đi sâu tìm hiểu đến đời sống người dân nghèo ven kênh, tuy nhiên chỉ dừng lại ở mức tổng quát có những con số cụ thể để nói lên được sự thiếu thốn, tồi tàn của họ để từ đó đưa ra những giải pháp thiết thực hơn
Tác giả Anh Phương trong bài “Chính sách hổ trợ tái định cư: “Có lợi
hơn cho người dân”(2009) đã đăng các ý kiến của ông Đào Trung Chính- Vụ
trưởng Vụ Chính sách pháp chế Tổng cục Quản lý Đất đai - Bộ TN-MT về chính sách hỗ trợ tái định cư cho hay Nghị định 69/2009/NĐ –CP quy định rõ phần được bồi thường và phần được hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi, đồng thời tăng mức hỗ trợ trên cơ sở Nhà nước điều tiết phần lợi ích từ việc thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất cho người bị thu hồi đất Theo quy định mới, địa phương phải xây dựng đa dạng loại nhà ở tái định cư, bố trí nhiều mức đất ở trong khu tái định cư, có suất tái định cư tối thiểu cho phù hợp với nhu cầu, khả năng và tập quán sinh hoạt của người có đất bị thu hồi Nếu tiền bồi thường không đủ để mua suất tái định cư tối thiểu thì ngân sách Nhà nước phải hỗ trợ khoản tiền chênh lệch đó cho người dân Ông nhấn mạnh thêm: “Điểm quan trọng và có lợi hơn cho người dân là quy định về hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm Theo đó, hỗ trợ bằng tiền từ 1,5 - 5 lần giá đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện
Trang 14tích đất nông nghiệp bị thu hồi Mức hỗ trợ trước đây cho mỗi hộ gia đình, cá nhân di chuyển nhà trong phạm vi tỉnh là 3 triệu đồng, sang tỉnh khác là 5 triệu đồng là quá thấp, Nghị định đã đổi mới là giao cho UBND cấp tỉnh quy định cho phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương.”, Tuy nhiên, ông vẫn chưa chỉ ra
cụ thể chính sách hỗ trợ tái định cư có lợi hơn cho người dân như thế nào, nhất là với chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm Ông Đào Trung Chính đã chỉ ra 2 trường hợp dự án bị chậm bồi thường là do người dân và do phía cơ quan quản lý Nhà nước, với 2 trường hợp đó có cách giải quyết như từ phía người dân thì người dân phải chịu hoàn toàn trách nhiệm và không xem xét lại, còn với phía cơ quan quản lý Nhà nước thì phải xem xét lại giá bồi thường đã phù hợp, thỏa đáng chưa, đã đáp ứng được thời giá tại thời điểm đã bồi thường cho dân chưa
Trịnh Duy Luân trong cuốn sách“Xã hội học đô thị” (2004) đề cập đến
vấn đề nổi cộm trong đô thị Việt Nam hiện nay là nhà ở và nêu ra những lưu ý cần thiết đối với khía cạnh này: cải thiện điều kiện nhà ở, tạo điều kiện dễ dàng cho các khả năng chi trả, ổn định sản xuất, kinh doanh Đó là những yếu tố cần thiết, tạo điều kiện cho quá trình quy hoạch và nâng cấp đô thị Bên cạnh đó tác giả cũng cung cấp những thông tin về tâm lý, nhu cầu, nguyện vọng về nhà ở của
cư dân đô thị như tâm lý kiếm nhà gần mặt đường, gần chợ…cũng như tâm lý ngại nhà chung cư do hình ảnh những khu chung cư được xây dựng từ những năm 60-70 đã xuống cấp nặng nề Ngoài ra tác giả cũng mở ra một số hướng nghiên cứu đáp ứng cho nhu cầu của xã hội hiện đại: nghiên cứu hình ảnh của các khu chung cư trong suy nghĩ của người dân và nhu cầu ăn ở, đi lại, giải trí của các tầng lớp dân cư vừa dọn đến khu ở mới
Tác giả Trịnh Duy Luân “tái định cư trong phát triển đô thị và một số
vấn đề xã hội”(2009) cho rằng việc tái định cư không phải là một hoạt động dịch
chuyển đơn thuần, mà là nhằm đảm bảo sự đồng thuận xã hội và phát triển bền vững Để đạt được điều đó thì đòi hỏi những chủ thể quản lý phải có những chính sách, những quy tắc đối với sự cơ động, chuyển đổi nơi ở và nhà ở trong điều kiện tái định cư Tuy nhiên, trong điều kiện Việt Nam hiện nay, vấn đề tái định
cư đang gặp những khó khăn không phải là vấn đề kỷ thuật mà là vấn đề xã hội Tức là những vấn đề liên quan đến lợi ích, tâm lý, sự đồng thuận của người dân với các đối tác trong hoạt động này Bởi trên thực tế đối với những người có thu nhập thấp thì cụm từ “giải tỏa, di dời, tái định cư” không chỉ dừng lại ở việc dichuyển chỗ ở từ nơi này tới nơi khác mà còn liên quan đến hàng loạt vấn đề như việc làm, nhà ở, học hành, y tế, điều kiện sinh sống và cả các quan hệ xã hội…Giải pháp cho vấn đề này đó là sự can thiệp hợp lý, một chính sách hợp tình
Trang 15và một công nghệ thích hợp Ngoài ra bài viết cũng có một số gợi ý định hướng chính sách đó là kết hợp giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội và quản lý trong các mô hình và chính sách tái định cư
Tác giả Tô Mỹ Linh với đề án “ Tìm hiểu chính sách đền bù thiệt
hại, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong thời gian qua ở Việt Nam”
(2009) đã nhìn có một cách tổng quát về các chính sách đền bù thiệt hại của nước
ta qua các chặng đường phát triển, đặc biệt là Nghị định 22/1998/NĐ – CP Tác giả đã chỉ ra những yếu tố tác động đến công tác đền bù giải phóng mặt bằng và tái định cư khi thực hiện Nghị định 22/1998/ NĐ- CP và thực trạng công tác đền
bù giải phóng mặt bằng ở Việt Nam Cũng trong đề án này, tác giả đã chỉ ra Nghị định 22/1998/NĐ – CP đã đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của xã hội trong thời kỳ phát triển nền kinh tế theo hướng XHCN, phù hợp với tiêu chí quản lý nhà nước về đất đai, phù hợp với người dân trong công tác giả phóng mặt bằng và tái định cư Nhưng bên cạnh các kết quả đạt được, trong quá trình thực hiện còn nhiều hạn chế: giá đền bù thấp so với chuyển nhượng thực tế, không cong bằng trong các đối tượng, không đảm bảo chính sách cho người dân phải di chuyển, tình trạng khiếu kiện tố cáo phức tạp kéo dài…Chính sách đền bù thiệt hại trong thời gian qua còn nhiều hạn chế gây mất lòng tin trong nhân dân, làm chậm tiến độ dự án, gây thất thoát cho Nhà Nước
Trong phần thực trạng công tác đền bù giải phóng mặt bằng ở Việt Nam,
đề án cũng nêu lên được việc thu hồi đất ảnh hưởng đến tập quán sinh hoạt của người dân, đất giao mới có quy mô diện tích như hiện nay không đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của người và sản xuất của người dân: nhà phải có sân chơi, gần gũi
họ hàng, thuận tiện đi lại…qua đó đề xuất cần quy định rõ thêm dự án nào có khu tái định cư và quá trình thẩm định kế hoạch tái định cư cụ thể giúp cho người dân
bị thu hồi đất không thiệt hại và ổn định cuộc sống sau khi giải tỏa Điều đáng chú ý trong đề án đã có nhận định phần lớn người dân quan tâm đến chính sách đền bù thiệt hại trong giải phóng mặt bằng nhưng công tác tuyên truyền chính sách còn hạn chế Tuy nhiên, nhìn chung đề án đã đi sâu phân tích rõ các chính sách đền bù giải phóng mặt bằng và nhận định ảnh hưởng của chính sách đó đến tập quán của người dân, nhưng chưa phân tích cụ thể các ảnh hưởng như thế nào đến đời sống người dân cụ thể như là điều kiện sinh hoạt và nhà ở Cũng như với phần công tác tuyên truyền của dự án còn hạn chế mà chưa chỉ rõ
Tác giả Lê Văn Thành trong nghiên cứu về: “Thực trạng đời sống kinh tế
xã hội các hộ gia đình sau tái định cư: vấn đề và giải pháp” (2006)đã sử dụng
Trang 16các số liệu thống kê và những kết quả điều tra xã hội học để đi đến một số nhận xét sau:
- Điều kiện nhà ở của người dân sau tái định cư được cải thiện rất nhiều, người dân được ở trong những ngôi nhà kiên cố hơn, với tình trạng nhà ở tốt hơn
và tỷ lệ nhà tạm bợ giảm đáng kể
- Về các điều kiện sinh hoạt khác, đa số hộ dân cho rằng các điều kiện sinh hoạt trong khu vực cư trú mới của họ tốt hơn nơi ở cũ Tình trạng vệ sinh môi trường tốt hơn, tiếng ồn giảm nhiều, tỷ lệ hộ bị ngập nước vào mùa mưa giảm Hệ thống đường giao thông trong khu vực cũng tốt hơn và tình hình an ninh trong khu vực cũng được bảo đảm
- Về việc tiếp cận các dịch vụ đô thị, chưa có đủ các cơ sở y tế trong các khu tái định cư của người dân và các cơ sở y tế cũng chưa tạo được niềm tin đối với người dân, điều này thể hiện ở gần 1/2 số hộ dân không lựa chọn khám bệnh tại các cơ sở y tế gần nhà
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Điệp (2006) trong:“Báo cáo giám sát tổng
quan về tác động tái định cư” thuộc dự án Nâng cấp đô thị và làm sạch kênh
Tân Hóa-Lò Gốm, TP HCM, Việt Nam, giai đoạn mở rộng (VIE/01/006) đã cung cấp thông tin một cách chi tiết về tình hình đời sống người dân trước và sau khi tái định cư Báo cáo đã đánh giá chất lượng của dự án, chất lượng nhà ở cũng như suy nghĩ của người dân sau khi tái định cư Đa số người dân hài lòng về những lợi ích mà dự án đem lại về những khía cạnh: nhà ở, môi trường sống xanh
và sạch, an ninh…đặc biệt là chương trình giáo dục cộng đồng trong vấn đề xử lý rác thải và xây dựng những hành vi, thói quen bảo vệ môi trường
Điểm mạnh của báo cáo là so sánh cuộc sống của người dân ở hai khu vực tương ứng với hai hình thức tái định cư: tái định cư theo dự án (mua nhà chung cư) và tái định cư tại nơi mới ( phường Bình Hưng Hòa) về các mặt: chi tiêu sinh hoạt, sự hài lòng trong việc lựa chọn tái định cư, quan hệ làm ăn, họ hàng…
Ngoài ra báo cáo cũng nêu rõ những hạn chế của dự án trong việc đền bù, tái định cư ở khía cạnh như thiếu sự phối hợp giữa các ban ngành, thiếu sự quản
lý chặt chẽ đối với các hộ tự tái định cư cũng như chủ động trong vấn đề hỗ trợ phục hồi thu nhập cho người dân sau tái định cư
Các tác giả Thái Thị Ngọc Dư và Phạm Gia Trân (2000) với khảo sát:
“Đặc điểm kinh tế-xã hội và ước muốn tái định cư của các hộ thuộc diện di dời tại phường 11, Q6 (T7/2000) Kết quả sơ khởi” cung cấp thông tin tổng
quan về những hộ gia đình thuộc diện di dời tại phường 11, Q6: tình hình cư trú, thời gian cư trú, tình trạng pháp lý của căn nhà đang ở, hoạt động kinh tế, việc
Trang 17làm-thu nhập Bên cạnh đó là những ước muốn tái định cư của các hộ Đa số chọn tái định cư tại chung cư phường11, Q6 Rất nhiều hộ chọn nhà chung cư nhưng chỉ chọn tầng trệt để thuận lợi kinh doanh, sinh hoạt Các hộ có nhu cầu lớn về việc xây dựng chợ tại nơi tái định cư do đa phần các hộ sống bằng buôn bán nhỏ cũng như hỗ trợ dạy nghề và hỗ trợ vay tín dụng làm ăn…
Điểm nổi bật của báo cáo này là đã khai thác, phân tích những vướng mắc mâu thuẫn trong nhiều nhóm dân cư về: tính pháp lý của căn nhà đang ở, vị trí căn nhà mong muốn, diện tích nhà ở, giá đất đền bù…Tuy nhiên, kết quả khảo sát vẫn chưa đề cập nhiều đến những hộ gia đình tái định cư tại khu vực khác, do
đó vẫn chưa cung cấp thông tin một cách toàn diện, giúp xây dựng kế hoạch tái định cư thích hợp về mặt kinh tế-xã hội
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát: Tìm hiểu thực trạng nhà ở và điều kiện sinh hoạt
của các hộ dân sau dự án cải tạo kênh Tân Hóa – Lò Gốm Qua đó tìm hiểu những tác động của dự án tái định cư đến điều kiện sinh hoạt và nhà ở và đưa ra giải pháp cho các dự án tái định cư
4 Đối tượng, phạm vi và thời gian tiến hành nghiên cứu
4.1 Đối tượng: Tác động của tái định cư đến nhà ở và điều kiện sinh hoạt
của người dân sau dự án cải tạo kênh Tân Hóa – Lò Gốm
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Các hộ dân thuộc diện giải tỏa, đền bù, tái định cư tại Kênh Tân Hóa -Lò Gốm phường 11 quận 6 và phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân: tái định cư
tại chổ và tái định cư tại nền
4.3 Thời gian tiến hành nghiên cứu
Trang 18thế đề tài sử dụng chung các kỹ thuật: chọn mẫu, điều tra bằng bảng hỏi, quan sát, xử lý thông tin
5.1 Kỹ thuật chọn mẫu:
Theo cuộc nghiên cứu đã tiến hành chọn mẫu với số lượng là 200 hộ dân
- Đối với các hộ tái định cư lên chung cư hoặc nhận nền đất: lấy mẫu toàn
bộ do số lượng hộ lên chung cư và nhận nền đất không nhiều (khoảng 70
hộ lên chung cư và 30 hộ nhận nền đất)
- Đối với hộ nâng cấp, cải tạo tại chỗ: chọn mẫu ngẫu nhiên 70 hộ
- Đối với các hộ nhận tiền tự lo chỗ ở: tối thiểu 35 hộ (dùng phương pháp
chọn mẫu lũy tiến)
Tuy nhiên trong quá trình thu thập thông tin từ cuộc nghiên cứu để phục vụ cho đề tài tác giả đã nhận thấy số lượng mẫu chọn bị khuyết đi, nhất là mẫu tái định cư nhận tiền không tiếp cận được nên trong đề tài này, tác giả chỉ sử dụng kết quả kỹ thuật chọn mẫu đối với hộ tái định cư tại chỗ
và tái định cư nhận nền
Cụ thể với số lượng mẫu như sau: 143 hộ Trong đó 123 hộ tái định cư tại chỗ, 41 lên chung cư , 82 nâng cấp tại chỗ và 20 hộ nhận nến
5.2 Các kỹ thuật thu thập thông tin:
5.2.1 Điều tra bằng bảng hỏi: theo các tiêu chí
+Đời sống kinh tế +Điều kiện nhà ở, sinh hoạt, các dịch vụ cơ bản +Giáo dục, đào tạo, văn hóa
+Chăm sóc sức khỏe +Quan hệ xã hội +Những khó khăn, thuận lợi, những cái được, những cái mất +Nguyện vọng hoặc đề xuất của người dân
5.2 2 Phỏng vấn sâu: 18 người:
o dưới 18 tuổi: 6 người (15 tuổi trở lên): 2 lên chung cư (1nam, 1
nữ), 2 nhận nền (1 nam, 1 nữ), 1 nâng cấp tại chỗ, 1 nhận tiền tự lo chỗ ở
o từ 18-50 tuổi: 6 người: 2 lên chung cư (1 nam, 1nữ), 2 nhận nền (1
nam, 1 nữ), 1 nhận tiền đền bù tự lo chỗ ở, 1 nâng cấp tại chỗ
o trên 50 tuổi: 6 người: 2 lên chung cư (1nam, 1 nữ), 2 nhận nền (1 nam, 1 nữ), 1 nâng cấp tại chỗ, 1 tự lo chỗ ở
Tiến hành phỏng vấn người dân khác nhau về tuổi và giới tính vì mỗi giới và các
độ tuổi khác nhau có cách nhìn nhận khác nhau về tái định cư Đối với những
Trang 19người trẻ tuổi hỏi nhiều về ý thức bảo vệ, giữ gìn môi trường, học hành, việc làm, vui chơi, giải trí…và so sánh, cảm nhận về nơi ở mới và cũ Đối với những người lớn tuổi tác giả hỏi tất cả các vấn đề, những khó khăn, thuận lợi, nguyện vọng…
5.2.3 Thảo luận nhóm tập trung: thảo luận 6 nhóm, mỗi nhóm từ 6-8
5.2.4 Quan sát: 10 cuộc (chợ, trường học, nơi ở, khu ở….điều kiện sinh
hoạt, cơ sở vật chất nơi ở của người dân cũng như xem xét sự thuận lợi trong việc đi lại làm việc, kinh doanh, học tập và vui chơi, giải trí của họ
5.2.5 Thu thập dữ liệu thứ cấp từ các nguồn như: các bài viết, các công
trình nghiên cứu liên quan đến di dời, tái định cư, tài liệu của dự án…
5.3 Xử lý thông tin:
Các dữ liệu định lượng sau khi thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS 11.5:
- Xử lí các phân tổ liên quan đến hộ gia đình: các phân tổ chính như hình
thức tái định cư, nghề nghiệp chính của chủ hộ, học vấn, giới tính, tuổi, thu nhập bình quân hộ, sự tham gia vào các hoạt động của dự án…
- Các thông tin có được từ các hoạt động phỏng vấn, thảo luận nhóm sẽ
được phân tích theo phương pháp phân tích đề mục Đồng thời kết hợp với việc phân tích các tài liệu sẵn có
6 Giả thuyết nghiên cứu:
- Nhà ở và điều kiện sinh hoạt của những người dân sau dự án tái định được
cải thiện hơn trước đây
- Chính sách tái định cư của dự án ( nhà ở và đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng)
có tác động tốt đối với điều kiện sinh hoạt và nhà ở của người dân
- Sự tham gia của người dân trong quá trình dự án tiến hành có tác động đến
việc cải thiện điều kiện sinh hoạt và nhà ở của họ
Trang 21NỘI DUNG CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN
1.1 Các khái niệm liên quan
1.1.1 Đô thị
Định nghĩa về đô thị thì khác nhau tại các quốc gia khác nhau Ở Mỹ, một khu cư trú chính thức được gọi là đô thị nếu có số dân từ 2.500 người trở lên, còn một vùng được gọi là đô thị hóa là một đô thị với số dân không dưới 50.000 người Ở Brazil thì quy mô dân số không dùng để xác định đô thị, chỉ có thủ đô mới là đô thị
Theo nghị định số 72/2001/NĐ-CP[1] ngày 5 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ Việt Nam về việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị thì đô thị là khu dân cư tập trung có những đặc điểm sau:
- Về cấp quản lí, đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập;
- Về trình độ phát triển, đô thị phải đạt được những tiêu chuẩn sau: Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ như vùng liên tỉnh, vùng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc vùng trong tỉnh, trong thành phố trực thuộc Trung ương; vùng huyện hoặc tiểu vùng trong huyện Đối với khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn tỉ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu phải đạt 65% tổng số lao động; cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn thiết kế quy hoạch xây dựng quy định cho từng loại đô thị, quy mô dân số ít nhất là 4000 người và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2000 người/km²
Theo hướng tiếp cận của đề tài thì đô thị là nơi tập trung dân cư đông đúc tạo thành một kết cấu xã hội ổn định Đại bộ phận dân cư làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp (công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ) Là môi trường tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển cá nhân
1.1.2 Đô thị hóa
Trong lich sử cận đại, đô thị hóa trước hết là hệ quả trực tiếp của quá trình công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa, và sau này là hệ quả của quá trình cơ cấu lại các nền kinh tế theo hướng hiện đại hóa: tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp
và dịch vụ, giảm tỷ trọng của các ngành nông nghiệp trong cơ cấu và khối lượng GDP
Trang 22Đô thị hóa hiểu theo nghĩa rộng nhất còn là sự thay đổi phương thức hay hình thức cư trú của nhân loại Có nghĩa là không chỉ thay đổi phương thức sản xuất, tiến hành các hoạt động kinh tế, mà còn là sự thay đổi lớn trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và cá nhân, trong đó có các quan hệ xã hội, các mô hình hành vi và ứng xử tương ứng với điều kiện sống công nghiệp hóa, đô thị hóa
và hiện đại hóa.(Trịnh Duy Luân, 2002)
1.1.3 Quy hoạch
Quy hoạch là sự phân bố và sắp xếp các hoạt động và các yếu tố sản xuất, dịch vụ và đời sống trên một địa bàn lãnh thổ (quốc gia, vùng, tỉnh, huyện ) cho một thời kì trung hạn, dài hạn (có chia các giai đoạn) để cụ thể hoá chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trên lãnh thổ, theo thời gian và là cơ sở để lập các kế hoạch phát triển Phải dựa trên cơ sở tính toán và khai thác hợp lí, khoa học, có hiệu quả cao các điều kiện thiên nhiên, kinh tế, xã hội, các yếu tố của lực lượng sản xuất toàn xã hội nhằm đạt được mục tiêu chiến lược đã đề ra
Chất lượng của quy hoạch phụ thuộc vào công tác điều tra cơ bản, dự đoán phát triển kinh tế và khoa học, kỹ thuật và khả năng mở rộng sự hợp tác kinh tế với nước ngoài
1.1.4 Chính sách, dự án, chương trình
Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ; được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tuỳ thuộc tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Muốn định ra chính sách đúng phải căn cứ vào tình hình thực tiễn trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn, phải vừa giữ vững mục tiêu, phương hướng được xác định trong đường lối, nhiệm vụ chung, vừa linh hoạt vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể
Dự án là văn bản do tổ chức, cơ quan hoặc cá nhân trình ra cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định về một vấn đề nào đó như dự án đầu tư, dự án pháp luật, dự án nghiên cứu khoa học, vv Các dự án đó phải được trình bày một cách có căn cứ khoa học và có tính khả thi, làm rõ nội dung, mục tiêu, cách triển khai thực hiện, điều kiện vật chất và con người, thời gian thực hiện
Chương trình là toàn bộ nói chung những dự kiến hoạt động theo nột trình
tự nhấy định và trong một thời gian nhất ddinhjm nêu một cách vắn tắt
1.1.5 Tái định cư: là chương trình hỗ trợ cuộc sống bằng việc cung cấp cho cộng
đồng một chỗ ở mới với những điều kiện sống tốt hơn nơi ở cũ
Trong phạm vi của cuộc nghiên cứu, chương trình tái định cư là một phần của dự án 415-dự án Cải thiện vệ sinh và Nâng cấp đô thị kênh Tân Hóa – Lò
Trang 23Gốm Trong quá trình tiến hành dự án, cộng đồng dân cư đang sống ở khu vực kênh Tân Hóa – Lò Gốm sẽ được hỗ trợ để sinh sống ở khu vực mới với môi trường sống xanh và sạch hơn, đồng thời mang lại cho đô thị bộ mặt mới: văn minh và hiện đại
1.1.6 Các hình thức tái định cư: là những phương án mà cộng đồng sẽ lựa chọn
tái định cư Có 4 hình thức tái định cư theo dự án 415:
- Tái định cư vào các khu chung cư thấp tầng do dự án thiết kế và xây dựng gần nơi ở cũ
- Nhận tiền và nâng cấp nhà ở tại chỗ
- Tái định cư và khu đất có hạ tầng cơ bản cách nơi ở cũ 8km tại F.Bình Hưng Hòa, Q.Bình Tân để tự xây nhà mới với sự hỗ trợ của dự án
Thứ 2: Nó có tính cố định về hình dáng kiến trúc và kết cấu cấu cũng như thiết bị nên nó khó có thể thay đổi Muốn cải tạo, nâng cấp thay đổi kiến trúc cũng khó khăn và tốn kém
Thứ 3: Nhu cầu về nhà ở rất phong phú tùy thuộc vào sở thích cũng như khả năng của từng đối tượng Hơn thế nhu cầu này còn thay đổi theo sự phát triển của nền kinh tế - xã hội
Thứ 4: đối với các khu tái định cư thì nhà ở là một bộ phận quan trọng và chủ yếu nằm trong cơ sở hạ tầng mà cụ thể là cơ sở hạ tầng xã hội Do vậy mặc dù là sản phẩm phục vụ cho cá nhân nhưng nhà ở lại có tác động trở lại đô thị như: giao thông, hệ thống cấp thoát nước, điện, thông tin liên lạc…ảnh hưởng đến cuộc sống và điều kiện sinh hoạt của những người trong ngôi nhà
Trong đề tài này, các yếu tố liên quan đến nhà ở được chú ý đến là loại hình, diện tích hay là tình trạng pháp lý của những căn nhà họ đang sống Bênh cạnh đó , tác giả cũng nghiên cứu những điều kiện sinh hoạt như: nguồn nước, điện…
1.1.8.An ninh trật tự
Trang 24Theo hướng tiếp cận của đề tài thì an ninh trật tự là sự đảm bảo an toàn trong khu vực người dân sinh sống để họ yên tâm trong nơi ở của mình, đảm bảo một cuộc sống bình yên với những hình thức cụ thể để người dân không bị quấy nhiễu hay bị xâm phạm dưới bất kì hình thức nào
1.1.9 Tệ nạn xã hội
Theo định nghĩa của xã hội học tội phạm là hiện tượng xã hội thể hiện những hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội mang tính nguyên tắc phổ biến Cụ thể
là sự vi phạm về lối sống, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục, sự vi phạm
về truyền thống, lối sống văn hóa, quy tắc được thể hiện thông qua pháp luật Theo hướng tiếp cận của đề tài tệ nạn là sự diễn ra nhiều đối tượng ma túy, trộm cắp, mại dâm, cờ bạc, nhậu nhẹt, đánh nhau tại khu vực sinh sống của người dân tái định cư sau khi di dời khỏi nơi ở cũ phức tạp
1.2 Lý thuyết tiếp cận
1.2.1 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý
Thuyết lựa chọn hợp lý trong xã hội học có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhân học thế kỷ XVIII- XIX Lý thuyết này dựa vào tiền đề cho rằng con người luôn hành động có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách có duy lý nhằm đạt đến một kết quả tối đa với chi phí tối
thiểu.Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính
toán để quyết định sử dụng loại phương tiện tối ưu trong số những điều kiện hiện
có để đạt được mục tiêu trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực
Theo nhà xã hội học Jane S.Coleman (Vũ Quang Hà, 2001, Các lý thuyết
Xã hội học) các chủ thể hành động khi hành động đều hướng tới một mục tiêu
được định hình bởi các giá trị, hoặc các sở thích Chủ thể hành động sẽ tối đa hoá các lợi ích hay sự thoả mãn các nhu cầu, mong muốn của mình, theo mỗi chủ thể hành động có nhiều tiềm năng và cách thức sử dụng tiềm năng khác nhau Điều
đó ảnh hưởng đáng kể đến việc đạt được mục đích, hoạt động của họ Ngoài các tiềm năng, chủ thể còn chịu ảnh hưởng của các thiết chế xã hội Tất cả những nhân tố đó đều quy định hành vi của các cá nhân, quy định sự lựa chọn hành vi của họ.Với ý nghĩa đó, trong thực tế trong các hoạt động xã hội hay hành động kinh tế thì bất cứ ai cần có một sự lựa chọn sao cho phù hợp với sở thích, mục tiêu và những điều kiện kiện hiện có của mình đề ra các quyết định mang lại hiệu quả nhất
Trang 25Trong dự án cải tạo kênh Tân Hóa – Lò Gốm xuất phát từ thực tế cuộc sống của người dân hàng ngày chịu sự ô nhiễm môi trường từ bờ kênh và sự thiếu thốn điều kiện sinh hoạt : điện, nước dự án đã đưa ra những chính sách hỗ trợ cho từng đối tượng mong muốn cải thiện cuộc sống Đa số người dân ở đây là những người lao động nghèo, chính vì vậy các hộ phải cân nhắc, tính toán để lựa chọn hình thức tái định cư trên cơ sở điều kiện của gia đình và sự hỗ trợ của dự
án
Áp dụng lý thuyết này giúp chúng ta nhận biết những khía cạnh tác động tới các lựa chọn hình thức tái định cư phù hợp điều kiện sống của các hộ Đồng thời khi họ đã cân nhắc lựa chọn rồi, sau khi thực hiện dự án mang lại cho họ những hiệu quả nào ? Các hệ quả đó có phù hợp với mong muốn của người dân
và ban quản lý dự án như ban đầu hay không ?
qua hệ thống tri giác, biểu tượng, tưởng tượng về người khác ( Lê Ngọc Hùng,2002)
Simmel (Vũ Quang Hà, 2001, Các lý thuyết Xã hội học) cho rằng xã hội
được tạo thành từ vô số các “nguyên tử xã hội” và có mối tương tác xã hội giữa các cá nhân Theo ông, tương tác xã hội phụ thuộc vào số lượng các thành viên của nhóm Mối tương tác của hai cá nhân trong một nhóm hai người, một cặp phụ thuộc vào từng cá nhân thành viên Điều đó có nghĩa là chỉ cần một trong hai người từ chối không tiếp tục quan hệ thì nhóm có nguy cơ bị tan vỡ Nhưng khi nhóm xuất hiện thành viên thứ ba thì tình hình khác hẳn Lúc đó trong nhóm lập tức hình thành “cái xã hội”, tức là cái gì đó chung của cả nhóm không phải của bất kỳ một cá nhân nào nữa như trong trường hợp nhóm hai người.Trong trường hợp này nhóm đã có áp lực đối với các thành viên thông qua sự nảy sinh mối tương tác giữa hai thành viên của nhóm Khi đó thành viên thứ ba của nhóm phải lựa chọn một trong ba khả năng: thứ nhất là trở thành một mình một phe để tương tác với phe kia gồm hai người, thứ hai là làm vật trung gian giữa hai người kia và thứ ba là cố tình tạo mâu thuẫn giữa hai người kia để hưởng lợi theo kiểu
Trang 26“tạo sơn quan hổ đấu” để thu lợi về mình Qua đó Simmel chỉ ra ý nghĩa xã hội của số lượng mà cụ thể là nhóm gồm ba người trở nên mới tạo thành xã hội có sức mạnh của “đa số, đại đa số” chi phối hành động cá nhân
Luận điểm gốc của thuyết này cho rằng xã hội được tạo thành từ sự tương tác của vô số các cá nhân; bất kỳ hành vi và cử chỉ nào cũa con người đều có vô
số các ý nghĩa khác nhau; hành vi và hoạt động của con người không những phụ thuộc mà còn thay đổi cùng với các ý nghĩa biểu trưng Do đó, để hiểu được tương tác giữa cá nhân, giữa con người với xã hội cần phải nghiên cứu tương tác
xã hội, cần phải lý giải được các ý nghĩa của các biểu hiện các mối tương tác đó
Cụ thể trong đề tài này chính là nghiên cứu sự tương tác giữa các hộ gia đình tái định cư với ban quản lý dự án, với chính quyền địa phương Sự tương tác
đó được thể hiện thông qua sự quan tâm hỗ trợ bằng các chính sách của dự án đối với người dân trong diện tái định cư, hay sự tham gia đong góp ý kiến của người dân trong quá trình dự án tiến hành
Trang 27CHƯƠNG II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 2.1 Mô tả khu vực dự án
2.1 1 Tổng quan về dự án cải thiện vệ sinh và nâng cấp đô thị kênh Tân Hóa – Lò Gốm
Dự án “Cải thiện vệ sinh và nâng cấp đô thị lưu vực kênh Tân Hóa – Lò Gốm”
tại thành phố Hồ Chí Minh là dự án hợp tác phát triển song phương(ODA) giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Bỉ được ký kết vào tháng 6 năm 1997 Dự án chính thức bắt đầu vào cuối tháng 4 năm 1998 Thời gian dự án ban đầu kéo dài trong 3 năm với tổng ngân sách là 5,5 triệu đô la, và trong giai đoạn này một số
dự án thí điểm đã được thực hiện Dự án bao gồm hàng loạt các hoạt động gắn liền với nhau phản ánh các vấn đề liên quan để đáp ứng các mục tiêu chung của
dự án:
- Cải thiện chất lượng sống tại khu vực kênh Tân Hóa –Lò Gốm
- Tăng cường năng lực cộng đồng và chính quyền trong lĩnh vực chống
ô nhiễm và chống nghèo đô thị
Dự án làm việc thông qua sự tham gia của cộng đồng và hợp nhất các chiến
lược sau :
- Quản lý rác thải
- Xử lý nước thải
- Cải tạo kênh
- Xây dựng năng lực và tăng cường thể chế
- Nâng cao nhận thức và tham gia của cộng đồng
- Nâng cấp đô thị và tái định cư
- Hỗ trợ kinh tế – xã hội
Những căn nhà lụp xụp lấn chiếm dọc kênh Tân Hóa – Lò Gốm bị ô nhiễm nặng nề Dân cư đã sống lâu năm ở khu vực này phần lớn làm các nghề lao động không có chuyên môn Dân cư tại P.11 phần lớn rất nghèo và phải đối mặt với các vấn đề xã hội như ma túy, mại dâm Điều kiện nhà ở rất kém và ngay sát bên cạnh kênh Cải thiện điều kiện sống dọc kênh đòi hỏi phải tái định cư một số hộ Chính vì vậy dự án đã đưa ra các phương pháp tái định cư cho các hộ bị ảnh hưởng bởi dự án:
- Tái định cư vào các chung cư thấp tầng do dự án thiết kế và xây dựng gần nơi ở cũ trên khu đất của xưởng bị di dời
- Tái định cư vào khu đất có hạ tầng cơ bản cách xa nơi ở cũ 8km tại Quận Bình Tân đề tự xây nhà với sự hỗ trợ của dự án
Trang 28- Cấp tiền đền bù để các hộ tự di dời
2.2.2 Khu vực F.11, Q.6
Khu vực P.11 Q.6 Tp HCM Việt Nam là một trong những địa bàn triển khai dự án Cả khu vực bao quanh bởi những khu phố dân cư đông đúc gồm dân lao động thu nhập thấp, nghề tự do, trình độ học vấn thấp Tại đây có nhiều tệ nạn xã hội với các nhóm tội phạm như mãi dâm, mua bán ma tuý, hút chích trong giới thanh thiếu niên, trộm cướp, chửi bới nhau hàng ngày vì nhiều lí do Một khảo sát trước đây của dự án cho biết dân cư ở P.11 Q.6 đã sống và làm việc lâu năm tại khu vực chủ yếu làm những nghề lao động giản đơn Người dân cũng rất nghèo Điều kiện nhà ở đặc biệt tồi tệ, các ngôi nhà dựng ở gần và sống ngay trên mặt kênh rạch bị ô nhiễm trầm trọng
Đối với các hộ dân ở đây, dự án tiến hành phương án hỗ trợ nâng cấp cơ
sở hạ tầng điện, nước cho đối tượng thuộc diện nâng cấp tại chỗ Còn với một số
hộ khác sống ven kênh thì xây chung cư và tạo điều kiện cho các hộ dân mua lại nhà chung cư với đầy đủ điều kiện sinh hoạt
2.2 3 Khu vực F Bình Hưng Hòa, Q Bình Tân
Khu phân lô TĐC được tạo lập từ một hồ sen rất lớn gần con kênh Nước Đen có vị trí tại phường Bình Hưng Hòa quận Bình Tân Tuy nhiên, đây là một khu vực kém phát triển về cơ sở hạ tầng, điện, cấp nước Nhà đất có giá trị thương mại thấp vì bị hạn chế cấp chủ quyền nhà đất cộng thêm với tình trạng đăng ký nhân hộ khẩu, nhập cư phức tạp và có đủ các loại tệ nạn xã hội
Các khu phố từ 1 đến 17 được xem là cộng đồng dân tiếp nhận TĐC.Tại đây dự án cũng có chính sách hỗ trợ thích đáng cho những người dân TĐC nhận nền và tạo điều kiện cơ sỡ hạ tầng cho những người dân tại địa phương sinh sống trong khu vực như: nâng cấp đường xá, điện đường, trường trạm, khu công viên vui chơi giãi trí
Nhìn nhận lại dự án, chúng ta thấy Ban Quản Lý Dự Án đã lựa chọn các phương án sao cho phù hợp với tình hình thực tế của hộ dân để triển khai dự án
Họ đã so sách điều kiện, môi trường sinh hoạt tại nơi người dân sinh sống trên kênh và nơi nhận nền phân lô để có chinh sách hỗ trợ thích đáng
Trang 292.2 Đặc điễm mẫu nghiên cứu
Như vậy, 72% hộ nghiên cứu là nam chứng tỏ là những người dân lao
động tại nơi nghiên cứu đa số là nam Tại các khu TĐC đông lao động nam dễ bị
tác động của tệ nạn xã hội hay vấn đề trật tự an ninh
( Nguồn: dữ liệu khảo sát đề tài – tháng 5/2010)
Từ biểu đồ trên chúng ta có thể nhận thấy, trong mẫu nghiên cứu được
khảo sát phần lớn độ tuổi từ 35 đến 60 chiếm tỉ lệ cao 83,2% Những độ tuổi trên
71 chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ với 2,8% số hộ Điều này cho thấy, kết quả thu được từ
nghiên cứu đa số là từ ý kiến nằm trong độ tuổi lao động Đồng thời phản ánh,
nhà ở có diện tích rộng hơn sẽ tạo thuận lợi cho việc chứa một số lượng lao động
nhiều hơn
2.2.3 Trình độ học vấn
Đối với cấp tiểu học và trung học cơ sở tỉ lệ các hộ ngang nhau Trình độ
học vấn ở cấp trung học phổ thông chỉ có 16,8% số hộ
Trang 30( Nguồn: dữ liệu khảo sát đề tài – tháng 5/2010)
Như vậy, trình độ học vấn của các hộ dân trong nghiên cứu này không
cao Là các hộ lao động nghèo, chính vì vậy mà họ không có đủ điều kiện đề theo
học hết phổ thông Trình độ học vấn của các hộ dân còn có ảnh hưởng rất lớn đối
với cơ chế tha giam của người dân trong khi dự án tiến hành
Tóm lại, nghiên cứu trình độ học vấn chưa hẳn là cao như thế đồng nghĩa
các cơ quan chức năng hay dự án TĐC cần quan tâm đặc biệt và có biện pháp cải
thiện vấn đề giáo dục cho họ
2.2.4 Số thành viên trong gia đình
Nhân khẩu trong gia đình của các hộ dân TĐC trước và sau dự án được
thể hiện qua bảng 3 và 4 dưới đây:
( Nguồn: dữ liệu khảo sát đề tài – tháng 5/2010)
Cho dù là trước hay sau dự án, gia đình với thành viên từ 1 đến 5 người
luôn chiếm ưu thế Tuy nhiên, có một sự thay đổi đó là: tỉ lệ số thành viên này
giảm đi từ : 53,1% hộ trước dự án còn 58% hộ sau dự án
Số liệu cũng cho thấy, số thành viên trong gia đình từ trên 10 người khá
cao (9,8% hộ), nhưng sau dự án giảm (5,6% hộ)
Trang 31Bảng 4: Số thành viên sau dự án
Số thành viên
Phần trăm (%)
( Nguồn: dữ liệu khảo sát đề tài – tháng 5/2010)
Như vậy, tỉ lệ số lượng thành viên trong gia đình càng đông người đồng
nghĩa với nhu cầu của các hộ về nhà ở rộng rãi hơn càng cao
2.3 Nhà ở và điều kiện sinh hoạt của các hộ dân sau dự án
2.3.1 Nhà ở
Phần trình bày ở trên đã thao tác khái niệm nhà là nơi che mưa, che nắng,
chống lại ảnh hưởng thời tiết khắc nghiệt của thiên nhiên đối với con người Tại
đây con người được sinh ra nuôi dưỡng tồn tại và phát triển Đó là một trong
những nhu cầu căn bản đồng thời là quyền của mỗi người
Nhà ở đô thị luôn là một vấn đề lớn có ý nghĩa kinh tế - chính trị và xã hội
quan trọng trong sự phát triển của một đô thị và mỗi quốc gia Đồng thời là một
tài sản có giá trị đặc biệt đối với đời sống mỗi con người, mỗi gia đình
Với những người dân hàng ngày sống tại khu ổ chuột ven kênh Tân Hóa
có một căn nhà kiên cố là mơ ước với họ Đó cũng là một niềm mơ ước của bao
người dân lao động nghèo khác
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ chú ý tới vấn đề diện
tích, loại hình nhà ở và giấy tờ chủ quyền căn nhà của người dân sau dự án có gì
thây đổi so với trước đây hay không
Trang 3251.00%
Nhà bán kiên cố Nhà vách lá, gỗ
( Nguồn: dữ liệu khảo sát đề tài – tháng 5/2010)
Trước dự án, người dân sống chủ yếu xung quanh bờ kênh nên những căn nhà của họ là loại nhà bán kiến cố, nhà vách lá, gỗ Đó là những nhà được xây dựng bằng các vật liệu có chất liệu bình thường như nhà tường xây tạm bợ hay bằng khung gỗ mái tôn, thậm chí có những căn nhà với kết cấu vật liệu đơn giản như các loại tranh, tre…
Các số liệu ở biểu đồ trên cho thấy nhà bán kiến cố chiếm 51%, nhà vách
lá gỗ 26,6% trong khi đí chỉ có 22,4 % là nhà kiên cố Rất nhiều bài báo viết về cuộc sống của những người dân sống ven kênh Tân Hóa trước đây cũng đều cho
rằng đây là khu nhà ổ chuột chứ không hẳn là nhà: ““Khó có thể gọi những nơi như thế là nhà được bởi chúng chẳng khác ổ chuột là bao nhiêu Sống trong
cảnh tăm tối cà về vật chất, lẫn tinh thần…” (Thanh Thúy và Hoài Giang,2002)
( Nguồn: dữ liệu khảo sát đề tài – tháng 5/2010)
Sau khi dự án tiến hành nhà ở của các hộ dân cư có cải thiện hơn phần nào Con số về nhà kiến cố tăng lên đáng kể từ 22,4% lên 50,3% trong khi đó là nhà bán kiên cố giảm đi còn 49,7% Loại hình nhà vách lá, gỗ lại không có nữa
Trang 33Một điều đáng mừng cho bà con ven kênh Đây là những con số cho thấy loại hình nhà ở của các hộ dân cư đã thay đổi theo chiều hướng tốt lên
Sau đây là những thông tin thu được từ các cuộc phỏng vấn sâu với người dân của các hộ chung cư:
“Chứ hồi đó nó làm là nhà suốt luôn vậy nè đâu có ngăn gì, tức là bán
nhà thô, nhà cấp 4”( Phỏng vấn sâu số 6)
“Nhà ở trước kia là bằng cây, vách ví dầu Nay nhà cấp bốn Đường
trước kia bằng đường đá nhưng không được tốt như nay”( Phỏng vấn sâu số 8)
Những hộ dân được phân nền ở Bình Hưng Hòa cho hay:
“ Nhờ dự án mà người dân có nhà của khang trang, sạch đẹp” (Phỏng vấn sâu số 4)
“ Nhà cửa mình ở đây là thoải mái hơn rồi đó” (Phỏng vấn sâu số 5)
Như vậy, có thể thấy điều kiện nhà ở của người dân đã thay đổi nhiều Những căn nhà vách lá lụp xụp hay những căn nhà tạm bợ trên ven kênh của người dân cho đến nay là không còn nữa, thay vào đó là những căn nhà kiên cố hơn Những hộ được nhận căn hộ ở chung cư Lò Gốm nơi là những người dân lao động nghèo, họ đã được đáp ứng tâm tư nguyện vọng từ dự án về một nơi che mưa che nắng chắc chắn, thoáng mát Cũng như các hộ nhận lô nhà được xây tại Bình Hưng Hòa A, họ hầu như không con lo ngại vào những ngày mưa như trước đây nữa
Nhưng đây chỉ là những thay đổi về diện mạo bên ngoài của một căn nhà, của các hộ dân sau dự án Vấn đề đặt ra ở đây là diện tích căn nhà có đảm bảo cho từng thành viên trong gia đình sinh hoạt hay không? Đối với người dân, vấn đề
họ có thể có đủ giấy tờ để sở hữu căn nhà cũng đặc biệt quan trọng
2.3.1.2 Diện tích và tình trạng pháp lý nhà ở của các hộ dân sau tái định cư
Để có thể có cách nhìn chính xác về những thay đổi trong diện tích nhà ở của người dân sau khi dự án hoàn thành chúng ta cần phải xem xét nhà ở của họ trước đây rộng hẹp ra sao? Số liệu cho thấy một số lượng lớn các hộ dân có diện tích nhà từ 6m2 – 30m2 chiếm 44,8 % Số hộ diện tích từ 50m2 trở lên chiếm tỉ
lệ rất nhỏ
Bảng 6: Diện tích nhà trước đây
Diện tích nhà trước đây
Phần trăm (%)
Trang 34Trên 100 8 5,6
( Nguồn: dữ liệu khảo sát đề tài – tháng 5/2010)
Nhìn chung với diện tích nhà ở của các hộ như trên thì có lẽ sẽ rất khó
khăn cho họ trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày Thử hình dung nếu một gia
đình có 4 người 2 vợ chồng và 2 đứa con thì ít nhất với diện tích trên 50m2 có thể
đảm bảo cho không gian sinh hoạt Phòng vệ sinh, phòng ăn, phòng ngủ và
phòng khách…với diện tích chỉ có 20m2 thì quá chật hẹp, chưa kể có nhà chưa
đến 10m2
Bảng 7: Diện tích nhà hiện nay
Diện tích nhà hiện nay
Phần trăm (%)
( Nguồn: dữ liệu khảo sát đề tài – tháng 5/2010)
Các số liệu trong bảng 3.4 cho thấy những thay đổi trong diện tích nhà của
các hộ dân sau khi dự án thực hiện Các số liệu này cho thấy số hộ có diện tích
nhỏ giảm từ 44,8% xuống còn 30,1%
Các cuộc phỏng vấn sâu cũng xác nhận thông tin này: “Bây giờ là 44m2
còn hồi trước chỉ hơn 13m2 à Nếu tính luôn diện tích cái gác thì bây giờ khoảng
hơn 70m2 ” (Pphỏng vấn sâu số 6)
- “Khá hơn là, chẵng hạn như hồi đó người ta ở trên nhà có 9m vuông,
người ta đi xích lô về rồi người ta dựng xích lô trước cửa nhà rồi trãi chiếu ra
ngủ, còn bây giờ thì rộng hơn, thoáng hơn, có không gian để người ta sinh hoạt
hằng ngày Nói chung từng ngày người ta có nhiều thay đổi ” (Phỏng vấn sâu số
11)
Tình trạng pháp lý của căn nhà là nổi niềm trăn trở của bao người dân
Cho dù có một căn nhà kiên cố rộng rãi thoáng mát nhưng căn hộ đó không thuộc
sở hữu của chính họ thì quả là một điều không mấy thuyết phục Việc sở hữu
pháp lý căn nhà là niềm mong muốn lớn lao nhất của người dân, khi được hỏi về
tình trạng pháp lý của căn nhà hầu họ đều thể hiện quan điễm của họ một cách
thẳng thắn
Trang 35Đối với những người dân lên ở chung cư, một số người dân cho hay là họ chưa có giấy tờ liên quan đến nhà đất chỉ vì họ chưa hoàn tất số tiền khi mua nhà
“Còn qua đấy tất cả những người ở đây chưa ai nhận được chủ quyền nhà Tại vì nguyên tắc là phải trả hết tiền thì mới có giấy tờ Toàn chung cư này chưa ai có chủ quyền nhà, cả những người trả hết ngay từ đầu Chắc người ta định đưa luôn một lần luôn Cái đó là cách làm của trên dịch vụ công ích hay sao mình không biết chứ nhiều người trả hết tiền rồi mà cũng chưa có, chưa ai
có hết ” (Phỏng vấn sâu số 6)
Hộ Bình Hưng Hòa cho biết:
“Khi mới chuyển về trong giấy tờ pháp lý về nhà chưa có, chính quyền nơi mình đến cũng chưa nhận khẩu vì bên dự án chưa bàn giao gì cả vì vậy vấn đề
thủ tục pháp lý gặp khó khăn”(Phỏng vấn sâu số 4)
“ Tại hồi đó mới về đây lu bu lắm Họ nói mình biết vậy, giờ đưa giấy
xuống mới biết Những người trả nợ nhà nước hết thì có sổ hồng Mình chưa trả
được bị giữ sổ hồng”(Phỏng vấn sâu số 3)
Những thông tin này cho thấy, mặc dù các hộ dân đã có được căn nhà
kiên cố theo đúng ý nguyện, nhưng điều đáng tiếc là họ vẫn chưa có trong tay một giấy tờ nào liên quan công nhận họ là chủ của căn hộ Nguyên nhân dẫn đến tình trạng là do họ chưa trả hết tiền mua nhà Sở dĩ, có tình trạng này vì trong quá trình thực hiện dự án, cơ sở pháp lý về quyền sở nhà ở chỉ là một hợp đồng mua bán các căn hộ chọn lên chung cư Lò Gốm hoặc các lô đất ở Bình Hưng Hòa của các bên liên quan Những gia đình này có được quyền sở hữu chính thức cho căn nhà của họ khi các khoản vốn vay có liên quan đã được hoàn trả đầy đủ Dự án kết thúc đã hơn 5 năm rồi, mặc dù là nhà ở của người dân có được cải thiện nhưng cho đến nay sự thay đổi đó vẫn còn những bất cập không làm cho họ hài lòng hơn
2.3.2 Điều kiện sinh hoạt
Một trong những mục tiêu của dự án cải tạo kênh Tân Hóa – Lò gốm là cải thiện chất lượng cuộc sống tại lưu vực kênh Tân Hóa - Lò Gốm bao gồm cải thiện môi trường, nhà ở cho người dân
Dự án đã thực hiện cải tạo cơ sỡ vệ sinh hạ tầng nhà ở: như hệ thống điện, nước, nhà vệ sinh và cơ sở vệ sinh công cộng bao gồm hệ thống nước thải, ngập nước, rác thải, ô nhiễm môi trường, khuôn viên Đề tài sẽ khảo sát vấn đề này
2.3.2.1 Cơ sở vệ sinh hạ tầng nhà ở
2.3.2.1.1 Hệ thống điện, nước
Trang 36Trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta không thể thiếu ánh sáng và
nước uống Đó như là điều tất nhiên mà không ai có thể phủ nhận Để có một
nguồn nước sạch hay nguồn điện chiếu sáng theo hệ thống nhằm phục vụ nhu cầu
sinh hoạt cho một khu dân cư quả thực không đơn giản chút nào đối với các cơ
quan chức năng
Dự án cải thiện chất lượng cuộc sống người dân kênh Tân Hóa Lò Gốm
trong đó có cải thiện nguồn nước và điện sinh hoạt kết thúc gần 5 năm nay Khi
chưa tiến hành dự án, nguồn nước sinh hoạt của những người dân quận 6 ven
kênh Tân Hóa được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 8: Nguồn nước sinh hoạt trước dự án
( Nguồn: dữ liệu khảo sát đề tài – tháng 5/2010)
Đại đa số các hộ dân phải chịu cảnh đi câu lại nước của nhà hàng xóm
(42,7% số hộ) và thậm chí một số hộ còn phải đi mua nước bên ngoài với giá
cao Hầu hết các hộ dân thuộc các diện tái định cư trước dự án đều với tình trạng
khan hiếm về nguồn nước sạch cho sinh hoạt hàng ngày
Cũng không hẳn là các hộ gia đình không có nguồn nước phụ vụ sinh
hoạt, một số gia đình họ cũng có giếng khoan 1,4%, bể chứa 2,8% nhưng cái điều
đáng nói ở đây là hệ thống nguồn nước của họ chưa thực sự đồng bộ, chưa có
một sự quản lý về chất lượng nguồn nước Khi được hỏi về nguồn nước sinh hoạt
của người dân trước đây và sau này những người dân sống ở khu Bình Hưng Hòa
cho biết: “Nói chung là thay đổi nhiều lắm… trước kia không có nước máy phải
xài nước giếng, nước giếng thì hôi không chụi nổi nên chú phải về quận 6 mua
nước, mỗi ngày sử dụng hết 80 lít, hôm nào trời mưa thì hứng để xài tạm, khổ
lắm, nhưng giờ thì có đầy đủ hết rồi, không còn thiếu thốn gì nữa” ( Phỏng vấn
sâu số 1)
“…Nhưng mà được cái là nước ở đây nó dễ dàng hơn tại vì ở dưới thì ở
dưới mé sông nó không có được dô nước, rồi câu lại người ta nên nó phải mắc
Lên đây thì nước nó về thoải mái hơn, ngon hơn Mới nằm trong dự án đưa lên
Trang 37đây thì nó ngon hơn những người cũ ở trong đó Chỗ cũ người ta giờ vẫn còn xài
nước giếng không chứ chưa có dô được nước”( Phỏng vấn sâu số 5)
Những người lên sống chung cư cho hay: “có đồng hồ riêng, còn trước dự
án phải đi câu lại của người ta 15000đ/m3” ( Phỏng vấn sâu số 6)
Những người lên sống ở chung cư là những người được hưởng lợi nhiều
hơn so với những người nhận nền Đối với họ, nguồn nước của họ được cải thiện
tốt hơn so với những người được dự án giúp đỡ nâng cấp tại chổ
Các hộ được dự án nâng cấp tại chổ chủ yếu hưởng lợi nhiều cơ sở hạ
tầng: điện, nước…: “Tôi thấy trước kia điện nước chúng tôi xài là câu và mua
lại, nhưng sau khi chung cư được xây và có con đường này thì nhà chúng tôi
không phải câu điện nữa mà dùng theo đồng hồ riêng” (Phỏng vấn sâu số 14)
“Thì từ hồi dự án 415 đó thì bắt đầu ở đây người ta làm đường ống nước
với lại vô điện vô nước luôn cho tất cả khu này luôn chứ ngày xưa thì câu lại của
người ta” Và người dân cũng cho biết thêm cách thức câu nước lúc trước: “ thì
kiểu như là một hộ có đồng hồ cho 3-4 hộ khác câu, ít lắm Câu thì người ta lấy
tiền mắc hơn Rồi dự án 415 hỗ trợ thì hỗ trợ được bao nhiêu còn người dân
đóng góp vô” (Phỏng vấn sâu số 15)
Sau khi dự án kết thúc, hiện trạng sử dụng nước của các hộ dân được thể
hiện như sau:
Bảng 9: Nguồn nước sinh hoạt sau dự án
( Nguồn: dữ liệu khảo sát đề tài – tháng 5/2010)
Các số liệu trong bảng trên cho thấy sự cải thiện vượt bậc trong việc cung
cấp nước sạch cho các hộ dân cư Đại đa số các hộ dân đã có đồng hồ nước riêng:
con số này tăng từ 38,5 % lên 96,5% và số hộ phải đi câu nước giảm từ 42,7%
xuống còn 2,1% Không còn hộ nào phải đi mua nước sinh hoạt nữa Điều này
phản ánh mục tiêu mà dự án đã thực hiện và thỏa mãn nguyện vọng của người
dân Các hộ không những cải thiện chất lượng nguồn nước sạch dùng cho hộ mà
còn có hệ thống đồng hồ điện riêng tính đồng bộ theo mức giá của nhà nước Giờ
đây người dân không còn lo lắng về nguồn nước sinh hoạt của mình nửa, phần
nào ổn định cuộc sống và sức khỏe gia đình họ
Trang 38Cung cấp nguồn điện chiếu sáng cho mỗi hộ dân đảm bảo theo một hệ thống cũng là một trong những mục tiêu của dự án
Giống như nguồn nước, trước đây đa số người dân lại cũng phải đi câu điện lại nhà hàng xóm (43,4% số hộ) Bảng sau đây cung cấp tình hình nguồn điện chiếu sáng của các hộ dân trước dự án
Trang 39Bảng 10: Loại hình cung cấp điện trước dự án
( Nguồn: dữ liệu khảo sát đề tài – tháng 5/2010)
Các số liệu cho thấy, có một tỉ lệ khá lớn các hộ vẫn phải đi câu điện của
hàng xóm ( 43,4% số hộ) chỉ có 51,0% số hộ là có đồng hồ riêng
Qua đây, cho thấy tình trạng câu điện hay nước lại của các gia đình khác
cũng chịu ảnh hưởng bởi giấy tờ pháp lý của căn nhà Một khi có đầy đủ các giấy
tờ liên quan đến quyền sở hữu nhà đất thì tất nhiên việc có đồng hồ điện, nước
riêng sẽ rất thuận tiện cho người dân Cuộc sống với những người dân lao động
nghèo đã vật vã nay còn khó khăn hơn khi họ câu lại điện nước với giá cao
Nhưng, sau khi tiến hành dự án có sự thay đổi khá lớn trong việc cung
cấp điện cho người dân: 97,2% là người dân có đồng hồ riêng trong khi đó số gia
đình câu lại hàng xóm giảm mạnh từ 43,4% xuống còn 2,1% Bảng sau đây cung
cấp thông tin này
Bảng 11: Loại hình cung cấp điện sau dự án
( Nguồn: dữ liệu khảo sát đề tài – tháng 5/2010)
Như vậy, hệ thống điện nước sau dự án là có sự thay đổi theo chiều hướng
tốt hơn Các hộ gia đình đã có một hệ thống cung cấp điện, nước tốt và đảm bảo
chất lượng sinh hoạt của gia đình họ Điều này có thể thấy qua sự đánh giá của
chình người dân về điều kiện sinh hoạt của họ từ sau dự án kết thúc 74,8% số hộ
cho là tốt hơn trước Chỉ 18,9% các hộ cho rằng không thay đổi; vẫn còn 6,3 %
hộ dân cho rằng là xấu đi Sở dĩ, như vậy do dự án kết thúc đã lâu cho đến nay
nên không thể tránh khỏi tình trạng xuống cấp Hơn nữa còn có các ảnh hưởng từ
Trang 40các cơ quan quản lý điện lực thành phố, hay do chất lượng nguồn nước của thành
phố nói chung cũng có lúc sẽ có tình trạng điện, nước bị cúp hay nước không
được trong
Bảng 12: Đánh giá về điều kiện sinh hoạt sau dự án
Đánh giá về điều kiện sinh hoạt sau dự án Tần số Phần trăm
Nhà vệ sinh trên kênh, mương 41 28,7
( Nguồn: dữ liệu khảo sát đề tài – tháng 5/2010)
Các số liệu trong bảng trên cho thấy tỉ lệ số hộ không có nhà vệ sinh và
dùng nhà vệ sinh kênh, mương là khá lớn Đối với những hộ nghèo trong khu
vực này, việc có một căn nhà ở sạch sẽ là một vấn đề rất khó khăn do đó việc họ
không có nhà vệ sinh là một điều dễ hiểu
Tìm hiểu tình trạng nhà vệ sinh trước đây của các hộ dân theo số liệu từ “
kết quả điều tra kinh tế xă hội 400 hộ” thuộc dự án Tân Hóa Lò Gốm (1998) cho
biết hơn 70% số hộ dùng nhà vệ sinh trên kênh mương, 15,5% số hộ có nhà vệ
sinh nối thẳng ra cống, cống dẫn ra mương Đây là loại nhà vệ sinh này góp phần
ô nhiễm kênh
Sau khi dự án tiến hành, tình hình nhà vệ sinh của các hộ đã được cải
thiện Bảng sau cung cấp những thông tin về điều này