1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Chủ đề 1 giáo án giáo dục địa phương lớp 7 Chủ đề 1: CAO BẰNG TỪ THẾ KỈ XI ĐẾN THẾ KỈ XVI

14 524 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 400,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ đề 1 giáo án giáo dục địa phương lớp 7 Chủ đề 1: CAO BẰNG TỪ THẾ KỈ XI ĐẾN THẾ KỈ XVIChủ đề 1 giáo án giáo dục địa phương lớp 7 Chủ đề 1: CAO BẰNG TỪ THẾ KỈ XI ĐẾN THẾ KỈ XVIChủ đề 1 giáo án giáo dục địa phương lớp 7 Chủ đề 1: CAO BẰNG TỪ THẾ KỈ XI ĐẾN THẾ KỈ XVIChủ đề 1 giáo án giáo dục địa phương lớp 7 Chủ đề 1: CAO BẰNG TỪ THẾ KỈ XI ĐẾN THẾ KỈ XVIChủ đề 1 giáo án giáo dục địa phương lớp 7 Chủ đề 1: CAO BẰNG TỪ THẾ KỈ XI ĐẾN THẾ KỈ XVIChủ đề 1 giáo án giáo dục địa phương lớp 7 Chủ đề 1: CAO BẰNG TỪ THẾ KỈ XI ĐẾN THẾ KỈ XVICHỦ ĐỀ 1 CAO BẰNG TỪ THẾ KỈ XI ĐẾN THẾ KỈ XIV Ngày soạn 11 09 2022 Tiết TKB Lớp Ngày dạy (Chiều) Tiết theo PPCT Sĩ số Học sinh vắng mặt Ghi chú 7 17102022 1 12 17102022 2 17102022 3 17102022.

Trang 1

CHỦ ĐỀ 1: CAO BẰNG TỪ THẾ KỈ XI ĐẾN THẾ KỈ XIV

Ngày soạn: 11/ 09/ 2022

Tiết

TK

B

Lớ

p

Ngày dạy (Chiều)

Tiết theo PPCT

Sĩ số Học sinh

vắng mặt

Ghi chú

17/10/2022 2 17/10/2022 3 17/10/2022 4

I MỤC TIÊU

1 Về kiến thức:

- Trình bày được sơ lược về sự thay đổi địa giới, tên gọi vùng đất Cao Bằng từ thế kỉ

XI đến thế kỉ XIV

- Trình bày được những nét chính về tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Cao Bằng từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV

- Nêu được khái quát các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm bảo vệ vùng biên giới phía bắc của nhân dân Cao Bằng từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV

2 Về năng lực: Giải quyết vấn đề, tự học, quan sát, vận dụng, sử dụng ngôn ngữ sinh

học

3 Phẩm chất: Tự hào về truyền thống lịch sử của quê hương.

II THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU

1 Đối với giáo viên:

- KHDH, máy tính, TV, Bải giảng PPT, video tư liệu về sự thay đổi địa giới, tên gọi vùng đất Cao Bằng từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV; Tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá,

xã hội Cao Bằng từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV; Các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm bảo

vệ vùng biên giới phía bắc của nhân dân Cao Bằng từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV

- Sách Lịch sử tỉnh Cao Bằng (chương III – Cao Bằng thế kỷ XI đến XIV)

- Bảng nhóm, phiếu học tập

2 Đối với học sinh:

- Sưu tầm thông tin, tài liệu về vị trí địa lý, về sự thay đổi địa giới, tên gọi vùng đất Cao Bằng từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV; Tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Cao Bằng từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV; Các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm bảo vệ vùng biên giới phía bắc của nhân dân Cao Bằng từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV

III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC

TIẾT 1: SƠ LƯỢC VỀ SỰ THAY ĐỔI ĐỊA GIỚI, TÊN GỌI VÙNG ĐẤT CAO BẰNG TỪ THẾ KỶ XI ĐẾN THẾ KỶ XIV

A - Hoạt động: KHỞI ĐỘNG

- GV chiếu hình ảnh bản đồ hành chính tỉnh CB, phát phiếu học tập

+ Trình bày những hiểu biết của em về vị trí địa lý, diện tích của tỉnh CB trên bản đồ hành chính?

- HS tiếp nhận câu hỏi, theo tư liệu đã chuẩn bị trả lời

- Dự kiến sản phẩm:

Trang 2

+ Cao Bằng là tỉnh miền núi, biên giới nằm ở vùng Đông Bắc, phía Bắc và Đông Bắc giáp Quảng Tây (Trung Quốc), đường biên giới dài trên 333 km, phía Tây giáp 2 tỉnh

Hà Giang và Tuyên Quang, phía Nam giáp 2 tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn Theo chiều Bắc – Nam 80 km (từ xã Đức Hạnh, huyện Bảo Lâm đến xã Quang Trọng, huyện Thạch An) Theo chiều Đông – Tây 170 km (từ xã Lý Quốc, huyện Hạ Lang đến xã Thạch Lâm, huyện Bảo Lâm)

+ Cao Bằng có diện tích tự nhiên 6.703,42 km2; là cao nguyên đá vôi xen với đất, có

độ cao trung bình trên 200m, vùng sát biên có độ cao từ 600 – 1.300 so với mặt nước biển Núi rừng chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh, đất bằng để canh tác chỉ có gần 10%

- GV: Non nước Cao Bằng đậm đà bản sắc văn hoá các dân tộc Từ khi thành lập tỉnh đến nay đã trả qua những giai đoạn lịch sử hình thành và phát triển mang dấu ấn sâu sắc Chúng ta cùng nhau tìm hiểu sự thay đổi địa giới, tên gọi vùng đất Cao Bằng từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV

B - Hoạt động hình thành kiến thức mới:

1 Hoạt động 1: Sự thay đổi địa giới, tên gọi vùng đất Cao Bằng từ thế kỉ XI đến thế

kỉ XIV

GV chia nhóm HS tổ chức thảo luận theo nhóm tìm hiểu sự thay đổi địa giới, tên gọi vùng đất Cao Bằng từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV, qua tư liệu các đầu sách “Dư địa chí”;

“Việt kiều thư”; "Phương Đình địa chí" và "Đại Việt địa dư toàn biên" của Nguyễn Văn Siêu;

ND phiếu học tập

PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1

Bằng qua ghi chép lịch sử để lại.

Trang 3

Thời kỳ đầu dựng nước Trước CN

Sách "Dư địa chí" của Nguyễn Trãi

biên soạn

1435

Sách "Việt kiệu thư" của Lý Văn

Phượng (nhà Minh – Trung Quốc)

1540

PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2

kỳ phong kiến

Thời vua Lê Thánh

Tông trị vì (1460 –

1497)

Năm Quang Thuận thứ 7 (1466) Năm Quang Thuận thứ 10 (1469) Năm Hồng Đức thứ 3 (1472) Năm Hồng Đức thứ 4 (1473) Đời vua Lê Hiến

Tông

Năm Cảnh Thống thứ 2 (1499)

ĐÁP ÁN PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1 Nội dung Năm Minh chứng về tên gọi Cao Bằng qua ghi chép

lịch sử để lại.

Thời kỳ đầu dựng nước Trước

CN

Từ thời kỳ đầu dựng nước, vùng Cao Bằng đã có

cư trú của người Việt cổ, minh chứng là qua các

di chỉ khảo cổ, di tích đã được khai quật ở Hồng Việt, (Hòa An), Cần Yên (Thông Nông), Lũng Ỏ (Quảng Uyên)… cùng truyền thuyết về Pú Luông - Giả Cải, Cẩu chủa cheng vùa

Sách "Dư địa chí" của

Nguyễn Trãi biên soạn

1435 "Cao Bằng xưa là ngoại địa của bộ Vũ Định;

Đông Bắc tiếp giáp Lưỡng Quảng; Tây Nam tiếp giáp Thái Nguyên, Lạng Sơn Có 1 lộ, 4 châu,

273 làng xã Đấy là nơi phên dậu thứ tư về phương Bắc vậy"

Sách "Việt kiệu thư" của

Lý Văn Phượng (nhà

Minh – Trung Quốc)

1540 Mục "Châu quận diên cách" ghi tên các đạo,

phủ, châu, huyện nước ta hồi đầu nhà Lê, có tên phủ Cao Bằng

ĐÁP ÁN PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2 Mốc thời

gian

Năm Sự thay đổi địa giới thời kỳ phong kiến

Thời vua Lê

Thánh Tông

trị vì (1460 –

1497)

Năm Quang Thuận thứ

7 (1466)

Nhà vua đã chia cả nước thành 12 đạo thừa tuyên (Thanh Hoá, Nghệ An, Thuận Hoá, Thiên Trường, Nam Sách, Quốc Oai, Bắc Giang, An Bang, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn) Cao Bằng lúc đó gọi là phủ Bắc Bình thuộc thừa tuyên Thái Nguyên

Năm Quang Thuận thứ

Lê Thánh Tông cho định bản đồ của 12 thừa tuyên, trong nước có 49 phủ, 163 huyện, 50 châu Đồng thời đổi tên 6 thừa tuyên Thừa tuyên Thái Nguyên được đổi tên gọi là

Trang 4

10 (1469) thừa tuyên Ninh Sóc.

Năm Hồng Đức thứ 3 (1472)

Lê Thánh Tông đặt thêm thừa tuyên Quảng Nam, nước

ta khi đó gồm 13 thừa tuyên, tổng cộng 52 phủ, 178 huyện, 50 châu, 36 phường Phủ Cao Bằng thuộc thừa tuyên Ninh Sóc, phủ Cao Bằng có 4 châu

Năm Hồng Đức thứ 4 (1473)

Thừa tuyên Ninh Sóc lại được đổi tên thành thừa tuyên Thái Nguyên, phủ Bắc Bình được đổi thành phủ Cao Bằng vẫn trực thuộc thừa tuyên Thái Nguyên

Đời vua Lê

Hiến Tông

Năm Cảnh Thống thứ

2 (1499)

Nhà vua đã tách một số thừa tuyên thành các trấn mới, tại các trấn đó đã thiết lập bộ máy mới có chức năng quản lý hành chính và có trách nhiệm với triều đình Trung ương như các đạo thừa tuyên Thừa tuyên Thái Nguyên được tách thành trấn Thái Nguyên và trấn Cao Bằng, theo "Phương Đình địa chí" và "Đại Việt địa dư

toàn biên" của Nguyễn Văn Siêu thì: Năm Cảnh thống thứ hai 1499 Cao Bằng được tách làm trấn riêng, sách

ấy ghi rõ "Năm Cảnh Thống thứ 2 mới đặt riêng làm trấn Cao Bằng"; khi mới thành lập Cao Bằng gồm 1 phủ, 4 châu: phủ Cao Bình, châu Thái Nguyên (Thạch Lâm), châu Lộng Nguyên, châu Thượng Lang, châu Hạ Lang Trấn lỵ đặt tại Hòa An

GV nhận xét, bổ sung hoàn thiện các mốc thời gian, chiếu slide đáp án phiếu học tập

và đưa ra kết luận:

=> Như vậy từ năm 1499, Cao Bằng được tách khỏi Thái Nguyên thành lập một trấn riêng không lệ thuộc vào Thái Nguyên như trước Đây là sự kiện có ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn Lần đầu tiên trong lịch sử, trấn Cao Bằng xuất hiện Đó là một niên đại quan trọng, một bước ngoặt trong tiến trình lịch sử Cao Bằng, chứng tỏ vùng đất này

đã phát triển đến mức trở thành một đơn vị hành chính trực thuộc chính quyền Trung ương Từ khi tách, Cao Bằng có bộ máy riêng để quản lý lãnh thổ, bộ máy đó chịu sự quản lý điều hành của chính quyền nhà nước Trung ương (triều đình – nhà vua), bình đẳng với các trấn khác

- HS tập trung lắng nghe, ghi chép

TIẾT 2

* Hoạt động khởi động:

GV kiểm tra sự chuẩn bị của HS

+ Cao Bằng được tách khỏi Thái Nguyên thành lập một trấn riêng từ năm nào?

+ Sử sách ghi chép lại minh chứng về tên gọi địa danh Cao Bằng là của những tác giả nào?

2 Hoạt động 2: Tình hình KT, chính trị, văn hóa, XH Cao Bằng từ thế kỉ XI đến thế

kỷ XIV

GV tổ chức trò chơi “Ai nhanh hơn” bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm:

Trang 5

A – Lĩnh vực kinh tế

Câu 1: Từ thế kỉ X-XV, em hãy cho biết chính sách tiến bộ nhất của Nhà nước phong kiến thời Lý – Trần để phát triển nông nghiệp?

A Hệ thống thủy lợi được mở mang: Nhà nước chăm lo việc đào kênh, đắp đê phục vụ tưới tiêu

B Giảm thu thuế nông nghiệp

C Công cuộc khai hoang phát triển Nhà nước còn đặt phép Quân điền

D Cả A và C

Câu 2: Những hạn chế trong chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp thời Lý – Trần?

A Là thời kì đất nước phải tiến hành các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm với quy

mô lớn

B Ruộng đất ngày càng tập trung trong tay địa chủ, quan lại, quý tộc, đặc biệt dưới triều Trần.

C Tăng thuế nông nghiệp

D Chưa có chiến lược phát triển nông nghiệp phù hợp

Câu 3 Thế mạnh về vị trí địa lý để tỉnh CB khai thác phát triển kinh tế ở thời Lý – Trần?

A Điều kiện tự nhiên thuận lợi

B Nhiều mỏ khoáng sản trữ lượng lớn

C Hệ thống giao thông đường bộ thuận lợi

D Hình thành những điểm trung chuyển hàng hóa vùng biên giới Việt- Trung

B - Lĩnh vực chính trị

Câu 4: Em hãy cho biết tên của vị thủ lĩnh cải quản đất Quảng Nguyên (sau này là Quảng Uyên) trong giai đoạn cuộc đấu tranh giữa 2 vương triều Lý – Tống lần 1?

A Nùng Trí Phồn

B Mai Thúc Loan

C Nùng Trí Cao.

D Triệu Sứ Đán

Câu 5: Giai đoạn nhà Trần suy vong, nhà Hồ thay thế, cải cách bất thành, năm 1360 nhà Minh (Trung quốc) xâm chiếm nước Đại Việt, đóng quân cai trị ở CB tại địa phương nào?

A Quảng Nguyên

B Giao Chỉ

C Phong Châu

D Gò Đống Lân và thành Nà Lữ

Câu 6: Vào thời nhà Lê, người tù trưởng dân tộc Tày đứng lên khởi nghĩa đánh đuổi giặc Minh rút khỏi Cao Bằng là ai?

A Bế Khắc Thiệu.

B Mạc Kính Khoan

C Nông Đắc Thái

C Mạc Ngọc Liễn

C- Lĩnh vực văn hóa - XH

Trang 6

Câu 7: Chất liệu vải làm nên trang phục truyền thống của người Tày, Nùng.

A Vải chàm B Vải lụa C Tơ nhân tạo D Vải kaki

Câu 8: Nghề truyền thống nổi tiếng của đồng bào các dân tộc ở Quảng Nguyên (Nay là Quảng Uyên)?

A Nghề dệt vải thổ

cẩm

B Nghề rèn C Nhuộm vải D Thêu tranh

Câu 9: Đặc sắc nhất trong số những loại hình dân ca, được người Tày coi là điệu hát của thần tiên

A Lượn B Đàn tính C Hat then – Đàn tính d Dá hai

3 Hoạt động 3: Thuyết trình giới thiệu về bản sắc văn hóa các dân tộc ở tỉnh CB

- GV giao nhiệm vụ cho các nhóm tự lựa chọn chủ đề trong lĩnh vực VHXH, thực hiện bài thuyết trình

- HS: Tiếp nhận nhiệm vụ, hoàn thành bài thuyết trình

- GV: Gọi HS các nhóm báo cáo sp

- HS: Đại diện nhóm thuyết trình

- SP dự kiến:

Cao Bằng không chỉ nổi tiếng “gạo trắng, nước trong”, đây còn là một vùng văn hoá

đa dạng, phong phú với sự giao hòa văn hóa của nhiều dân tộc anh em, mỗi dân tộc đều có những di sản văn hóa truyền thống độc đáo của riêng mình Điều khiến cho du khách dễ bị cuốn hút và muốn khám phá khi đến Cao Bằng đó là về trang phục

- Trang phục phổ biến nhất là sắc chàm, tự dệt, tự nhuộm của đồng bào Tày, Nùng, nhưng đa sắc màu nhất lại là của người Dao, Mông, cùng với bộ vòng, xà tích quanh

cổ, tay và thắt lưng luôn tạo ra âm thanh mỗi khi di chuyển

- Lễ hội văn hóa độc đáo của người Cao Bằng Nhìn chung các lễ hội ở đây đều nhằm tưởng nhớ tổ tiên; cầu trời ban điều an lành cho dân bản, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, gia súc không bị dịch bệnh, đời sống ấm no, hạnh phúc Mỗi lễ hội đều

có những nét độc đáo riêng, gắn liền với bản sắc văn hóa từng địa phương, từ lâu đã trở thành một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng không thể thiếu của người dân

- Những làn điệu dân ca đằm thắm mượt mà, như: Lượn slương, Lượn cọi, Lượn ngạn, hát Then - đàn tính, Hèo phươn, Nàng ới, Dá hai, Páo dung đi cùng với nó là những điệu múa sluông, múa chầu, múa quạt, múa khăn, múa chuông, múa trống, múa ô, múa khèn Thế nhưng, đặc sắc nhất trong số những loại hình dân ca kể trên là hát then - đàn tính, một hình thức sinh hoạt có vị thế quan trọng trong tín ngưỡng của người Tày, được người Tày coi là điệu hát của thần tiên

- Nghề truyền thống của đồng bào các dân tộc Cao Bằng Mỗi làng nghề đều gắn với văn hóa, truyền thống, với đời sống sinh hoạt của nhân dân trong vùng, như nghề rèn Phúc Sen (Quảng Uyên)

- Nghề dệt thổ cẩm là nghề thủ công đã có từ lâu, nó không chỉ phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân mà còn là sản phẩm du lịch nổi tiếng Thổ cẩm cũng giữ vai trò rất

Trang 7

quan trọng trong đời sống tâm linh của đồng bào các dân tộc Cao Bằng, như những tấm trướng che bàn thờ, các chi tiết cấu thành những tấm áo, mũ, khăn, túi đựng đồ nghề, đệm ngồi của các thầy cúng Nguyên liệu để dệt thổ cẩm là sợi bông nhuộm chàm và tơ tằm nhuộm màu Dệt thổ cẩm hoàn toàn bằng thủ công Trên tấm thổ cẩm của người Tày thường có 6 màu chủ đạo, gồm: xanh, đỏ, vàng, tím, trắng, đen Từ các màu chủ đạo đó, người dệt đã pha chế các gam màu đậm, nhạt phù hợp theo ý tưởng cho từng sản phẩm Các họa tiết thường được người Tày đưa vào thổ cẩm là hình ảnh của những loài hoa, chim muông, thú quý , thân thiện với đời sống, hòa quyện cùng mây trời, non nước thường ngày Đây là nét riêng tạo nên thổ cẩm của người Tày Cao Bằng không thể lẫn được với thổ cẩm của người Tày ở những địa phương khác

Còn rất nhiều những nét văn hoá đặc sắc, thú vị đang chờ đón du khách gần xa đến tìm hiểu và chiêm ngưỡng

TIẾT 3

* Hoạt động khởi động:

GV kiểm tra sự chuẩn bị của HS

+ Các họa tiết thường được người Tày đưa vào dệt thổ cẩm là những hình ảnh nào?

- Các họa tiết thường được người Tày đưa vào thổ cẩm là hình ảnh của những loài hoa, chim muông, thú quý , thân thiện với đời sống, hòa quyện cùng mây trời, non nước thường ngày.

+ Bộ vòng, xà tích trong trang phục của người Mông, Dao có ý nghĩa như thế nào?

- Tạo ra âm thanh mỗi khi di chuyển, cho thấy họ muốn báo với muôn loài rằng họ đang đến và họ đang là chủ nhân nơi họ sống

3 Hoạt động 3: Khái quát các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm bảo vệ vùng biên giới phía bắc của nhân dân Cao Bằng từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV

- GV giao nhiệm vụ cho HS, nghiên cứu tài liệu khái quát các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm bảo vệ vùng biên giới phía bắc của nhân dân Cao Bằng từ thế kỉ XI đến thế

kỉ XIV

- HS hoạt động nhóm thảo luận theo nội dung gợi ý trên phiếu học tập

PHIỂU HỌC TẬP (ĐÁP ÁN CHUẨN CỦA GV)

Các cuộc kháng

chiến từ TK X

đến XIV

Diễn biến

Cuộc kháng

chiến chống

quân Tống

- Năm 1009 triều Lý lên ngôi, biên giới phía Bắc nước Đại Việt dần dần được xác định rõ ràng và là yêu cầu bức xúc của cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước lúc đó Cuộc đấu tranh giữa 2 vương triều

Lý - Tống diễn ra ngày càng gay gắt (1039 - 1050)

- Năm 1041, cuộc kháng chiến chống quân Tống lần 1 do thủ lĩnh

người Tày Nùng Trí Cao cầm quân xông trận Tại các vùng chiến

trận, quân của Nùng Trí Cao đã giết tướng sĩ nhà Tống hơn 3000 tên, bắt sống đến hàng vạn binh lính Lực lượng của Nùng Trí Cao được mở rộng thêm địa bàn hoạt động chiếm thêm các châu: Hạ

Trang 8

Châu, Thiểm Châu…

- Năm 1075, cuộc kháng chiến chống quân Tống lần 2 do Lưu Kỷ

và một số thủ lĩnh như Nùng Trí Xuân, Hoàng Lục… chỉ huy

từ các khe động đánh trả quyết liệt và kéo dài 2 năm (1075-1077) Bằng thế trận chiến tranh nhân dân rộng lớn với nhiều lớp, nhiều tầng, đánh cả trước mặt lẫn sau lưng, thiết lập hệ thống phòng ngự

có chính diện rộng, có chiều sâu vững chắc, đã đánh tan kế hoạch đánh nhanh, tiến nhanh của giặc

- Năm 1079 nhà Tống trả lại đất Quảng Nguyên cho nhà Lý

Cuộc kháng

chiến chống

quân Nguyên

Mông

- Thời kỳ chuyển giao giữa các triều đại phong kiến Đại Việt diễn

ra các cuộc đấu tranh xong đột dàn xếp nội bộ của các triều Ngô, Đinh, Lý, Trần… tạo nhiều kẽ hở để các thế lực bên ngoài xâm lược

- Đến triều đại nhà Trần, Năm 1258, quân Nguyên Mông sau khi đánh chiếm được Trung Quốc, chúng kéo sang xâm lược Đại Việt Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông bùng nổ, thủ lĩnh

châu Thượng Lang là Hoàng Thắng Hứa trực tiếp lãnh đạp quân

sỹ đánh địch ngay tại biên giới, góp phần ngăn bước tiến quân của chúng

Cuộc kháng

chiến chống

quân nhà Minh

- Năm 1360, nhà Trần suy vong, nhà Hồ thay thế, nhà Minh đem quân xâm chiếm nước ta Quân Minh đông áp đảo, nhà Hồ thua, nước Đại Việt rơi vào tay nhà Minh, nhân dân chịu ách đô hộ hà khắc của giặc Ở CB, nhà Minh đóng quân ở gò Đống Lân, và thành Nà Lữ, đặt các chức quan thái thú cai trị Dưới ách đô hộ của giặc Minh, đời sống của người dân CB bị đói khổ cùng cực Sau

khi nhà Hồ suy vong, đến triều đại phong kiến nhà Lê, Bế Khắc Thiệu là tù trường dân tộc Tày đã chiêu mộ quân lính ở địa

phương đứng lên khởi nghĩa Bế Khắc Thiệu chỉ huy quân xây thành đắp lũy, luyện tập binh sĩ trên núi Khắc Thiệu (phía tây thành Nà Lữ) sát nách căn cứ của giặc Minh

- Bế Khắc Thiệu dựng cờ khởi nghĩa với khẩu hiệu "Khắc Thiệu Vi Vương" liên kết với Nông Đắc Thái "Vi Thần" đem

quân ra đánh phá thành Nà Lữ căn cứ của giặc Minh Trận đánh lớn nhất là trận Nà Khuổi (Chân núi Khắc Thiệu) giết chết 4000 tên địch, khiến cho giặc Minh hoang mang tìm đường rút khỏi CB

- Cuộc khởi nghĩa của Bế Khắc Thiệu đã góp phần cùng nhà Lê đánh đuổi giặc Minh ra khỏi đất nước, bảo vệ nền độc lập cho dân tộc

4 Hoạt động 4: Giới thiệu về anh hùng, thủ lĩnh người Tày - Nùng Trí Cao

- GV chiếu hình ảnh, thuyết trình:

Trang 9

Trên đất Cao Bằng đền thờ Nùng Trí Cao được nhân dân lập ở nhiều nơi, như ở các huyện Hòa An, Hà Quảng, Thông Nông, Quảng Uyên , suy tôn ông như một vị anh hùng dân tộc và được thần thánh hóa như một vị thần nông Đây là ảnh chụp đền thờ Nùng Trí Cao ở xóm Cốc Vường, xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng

Đền được xây trên một gò đất cao, dựa vào dãy núi Phja Mạ vững chắc tựa bức tường thành, trước mặt trông ra sông Tả Cọn - một nhánh thượng nguồn sông Bằng Theo người dân địa phương núi Phja Mạ có hình một con ngựa hướng về phía đền, vì thế khi làm lễ cầu khấn, linh hồn thần vương Nùng Trí Cao sẽ phi ngựa từ trên trời về

để phù hộ thần dân được an lành

Nùng Trí Cao (1025-1053) là nhân vật lịch sử đại diện cho ý chí và sức mạnh của các dân tộc vùng cao chống lại các thế lực thống trị phong kiến Tên tuổi, hình ảnh Nùng Trí Cao được ghi lại rất sâu đậm trong sử sách cũng như trong tâm thức của người dân địa phương, không những chỉ ở địa bàn các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang mà còn ở một số nước láng giềng như Trung Quốc, Thái Lan và Myanma Năm 1041 Nùng Trí Cao được nhà Lý phong làm châu mục Quảng Nguyên (Cao Bằng ngày nay), cai quản một vùng đất rộng lớn bảo vệ sự bình yên cho nhân dân Năm

1043 ông được nhà Lý ban tước Thái Bảo (một trong ba chức quan cao nhất thời Lý)

và ban Đô ấn Ông đã nhiều lần tổ chức lực lượng chống lại quân Tống bảo vệ biên giới quốc gia Đại Việt Khi Nùng Trí Cao tử trận, vua Lý rất mực thương xót, truyền cho nhân dân lập đền thờ và đặc chiếu báo phong làm Khâu Sầm Đại Vương Các triều

về sau đều gia phong cho ông mỹ tự “Khâu Sầm tế thế, an dân án ngoại, ninh thùy trấn dịch, anh nghị quả đoán hiển ứng thùy hưu, hộ quốc an dân đại vương”

Ngày giỗ Nùng Trí Cao là ngày 9 tháng giêng âm lịch cũng là ngày lễ hội Sóc Giang (huyện Hà Quảng)

Đền thờ Nùng Trí Cao được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh theo quyết định số 2821/QĐ- UBND-VX ngày 26/12/2011

TIẾT 4:

* Hoạt động khởi động:

+ Kể tên những vị thủ lĩnh đã lập nhiều chiến công trong các cuộc kháng chiến chống quân Tống, quân Nguyên Mông và giặc Minh?

Trang 10

+ Sự chuyển giao giữa các triều đại phong kiến Đại Việt từ thế kỷ X - XIV diễn ra qua các triều đại nào? (Lý, Trần, Hồ, Lê)

GV kiểm tra sự chuẩn bị của HS

C - Hoạt động: Luyện tập – Thực hành (30') – Hoạt động nhóm

a) Mục tiêu:

- Khái quát được các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ vùng biên giới phía Bắc của nhân dân Cao Bằng từ TK XI đến thế kỉ XIV

- Sơ lược những nét chính về tình hình kinh tế xã hội và văn hóa Cao Bằng từ TK XI – thế kỉ XIV

- Những đóng góp của nhân dân Cao Bằng trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ( Từ TK XI- TKXIV)

b) Tổ chức thực hiện:

Hoạt động của thầy và trò Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập (5 Phút)

- GV chia lớp làm 3 nhóm thảo luận

- GV yêu cầu học sinh dựa vào những thông tin và kiến thức đã được tìm hiểu trong 3 tiết học trước để hoàn thành nhiệm vụ GV giao

+ Nhóm 1: Vẽ sơ đồ tư duy thể hiện được các cuộc đấu tranh của nhân dân Cao Bằng

từ thế kỉ XI-XIV?

+ Nhóm 2: Phát phiếu học: Lập bảng thống kê những nét chính về tình hình kinh tế xã hội và văn hóa Cao Bằng từ TK XI – thế kỉ XIV

Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ học tập (Thời gian : 15 phút) - HĐ theo nhóm,

Cá nhân.

- GV giám sát Hs, thảo luận xây dựng phương án trả lời

- GV theo dõi, hỗ trợ HS nếu cần thiết

+ Vẽ sơ đồ tư duy gồm 3 nhánh : mỗi nhánh thể hiện rõ 1 cuộc kháng chiến?

 Nhánh 1: Cuộc kháng chiến chống Tống lần 1, 2 ( TK X - XI)

 Nhánh 2 : Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên ( Năm 1258)

 Nhánh 3 : Cao Bằng trong cuộc bảo vệ vùng Biên giới phía Bắc

+ Điền thông tin vào bảng thống kê theo 3 lĩnh vực : Kinh tế ; Văn hóa ; Xã hội

Phiếu học tập :

( Học sinh thực hiện cá nhân )

Kinh tế

Xã hội

Văn hóa

+ Giới thiệu ngắn gọn những đóng góp của nhân dân Cao Bằng trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm giai đoạn TK XI – XIV

Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và thảo luận ( 5 Phút)

- GV gọi đại diện nhóm, HS trình bày kết quả thảo luận

- GV gọi HS, nhóm khác nhận xét, bổ sung

Bước 4: Kết luận và nhận định ( 5 Phút)

Ngày đăng: 30/10/2022, 10:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w