Chính xác hơn, nói đến chính sách tài khóa có nghĩa là chúng ta nóiđến quá trình xây dựng thuế khóa và chi tiêu công cộng nhằm hạn chếnhững dao động của chu kỳ kinh doanh và góp phần duy
Trang 1Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
1
A- KHÁI NIỆM VỀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH
I – KHÁI NIỆM NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC & THÂM HỤT NGÂN SÁCH
1 Ngân sách nhà nước:
a) Khái niệm:
Chính phủ sử dụng ngân sách để lập kế hoạch và kiểm soát các hoạt
động tài khóa của mình Một ngân sách, trong một năm nhất định, cho
biết các khoản chi theo kế hoạch của các chương trình chính phủ và thu
dự kiến từ hệ thống thuế Ngân sách thường bao gồm một danh mục cácchương trình cụ thể (giáo dục, phúc lợi, quốc phòng…) cũng như cácnguồn thuế (thuế thu nhập cá nhân, thuế bảo hiểm xã hỗi…)
b) Chức năng:
Ngân sách của chính phủ phục vụ 3 chức năng kinh tế chính:
Thứ nhất, nó là một công cụ mà theo đó sản lượng quốc gia được
phân chia giữa tiêu dùng, đầu tư tư nhân và công cộng
Thứ hai, thông qua chi tiêu trực tiếp và các khuyến khích gián tiếp
về thuế, ngân sách của chính phủ tác động đến cung các đầu vào nhưlao động, vốn và tác động đến đầu ra của các khu vực từ ô tô chođến đàn vĩ cầm
Thứ ba, chính sách tài khóa của chính phủ hay ngân sách có vai
trò trong việc tác động đến những mục tiêu vĩ mô then chốt
Chính xác hơn, nói đến chính sách tài khóa có nghĩa là chúng ta nóiđến quá trình xây dựng thuế khóa và chi tiêu công cộng nhằm hạn chếnhững dao động của chu kỳ kinh doanh và góp phần duy trì một nềnkinh tế tăng trưởng, có mức hữu nghiệp cao, tránh được lạm phát lớnhay lạm phát không ổn định
2 Thâm hụt ngân sách nhà nước:
Thâm hụt ngân sách xảy ra khi chi vượt quá nguồn thu từ thuế.Khi lâm vào thâm hụt ngân sách, chính phủ phải đi vay công chúng để trảcho những khoản nợ của mình Để vay, chính phủ phát hành trái phiếu,
đó là hình thức ghi nợ (IOU) cam kết trả lại tiền tại một thời điểm trongtương lai
3 Phân loại thâm hụt ngân sách nhà nước:
Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành hai
loại: thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ.
Trang 2a) Thâm hụt cơ cấu:
Thâm hụt cơ cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những
chính sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấpbảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu chogiáo dục, quốc phòng,
b) Thâm hụt chu kỳ:
Thâm hụt chu kỳ là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng
của chu kỳ kinh tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản
lượng và thu nhập quốc dân Ví dụ khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thấtnghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chingân sách cho cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên
Giá trị tính ra tiền của thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ được tính toán như
sau:
Ngân sách thực có: liệt kê các khoản thu, chi và thâm hụt tính bằng
tiền trong một giai đoạn nhất định (thường là một quý hoặc một năm)
Ngân sách cơ cấu: tính toán thu, chi và thâm hụt của chính phủ sẽ là
bao nhiêu nếu nền kinh tế đạt mức sản lượng tiềm năng
Ngân sách chu kỳ: là chênh lệch giữa ngân sách thực có và
ngân sách cơ cấu.
Việc phân biệt giữa ngân sách cơ cấu và ngân sách chu kỳ phản ánh sự khác nhau giữa chính sách tài chính: chính sách ổn định tùy biến và chính sách ổn định tự động.
Việc phân biệt hai loại thâm hụt trên đây có tác dụng quan trọng trong việcđánh giá ảnh hưởng thực sự của chính sách tài chính khi thực hiện chính sách tàichính mở rộng hay thắt chặt sẽ ảnh hưởng đến thâm hụt ngân sách như thế nàogiúp cho chính phủ có những biện pháp điều chỉnh chính sách hợp lý trong từnggiai đoạn của chu kỳ kinh tế
II
– NGUYÊN NHÂN GÂY THÂM HỤT NGÂN SÁCH
Thâm hụt ngân sách do rất nhiều nguyên nhân, và có sự ảnh hưởng khácnhau đến sự cân đối vĩ mô của nền kinh tế Về cơ bản, tình trạng thâm hụtngân sách nhà nước gồm các nguyên nhân chính sau:
1 Thất thu thuế nhà nước
Trang 3Thuế là nguồn thu chính và bền vững nhất cho ngân sách nhà nước bêncạnh các nguồn thu khác như tài nguyên, doanh nghiệp nhà nướcvay, nhậnviện trợ…tuy nhiên, do hệ thống pháp luật ta còn nhiều bất cập, sự quản líchưa chặt chẽ đã tạo kẻ hở cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế,gây thất thu một lượng đáng kể cho ngân sách nhà nước…điển hình, trongnăm 2008 lượng thuốc lá nhập lậu vào nước ta đã làm thất thu thuế, lấy đicủa ngân sách nhà nước 2.500- 3000 tỉ đồng Ngoài ra, lượng thuốc lá nhậplậu còn làm chảy máu ngoại tệ của đất nước khoảng 200 triệu USD/năm, làmgia tăng thất nghiệp, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế.
Bên cạnh đó, việc giãn thuế, giảm thuế và miễn thuế một mặt giúp cácdoanh nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì và mở rộng sản xuất Tuynhiên,việc miễn thuế, giảm thuế hoặc chậm thu làm ảnh hưởng tới các khoảnchi ngân sách khác gây thâm hụt ngân sách nhà nước
2 Đầu tư công kém hiệu quả
Trong 2 năm 2007 và 2008, nước ta đã tiếp nhận một lượng vốn rất lớn từbên ngoài Nhằm đẩy mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và các côngtrình trọng điểm quốc gia phục vụ lợi ích phát triển của đất nước Tuy nhiên,trên thực tế, tình trạng đầu tư dàn trải gây lãng phí ở các địa phương vẫnchưa được khắc phục triệt để, tiến độ thi công những dự án trọng điểm quốcgia còn chậm và thiếu hiệu quả, đã gây lãng phí nguồn ngân sách nhà nước
và kiềm hãm sự phát triển của các vùng miền, là nguyên nhân chính dẫn đếnthâm hụt ngân sách nhà nước
Bên cạnh đó, nền hành chính công - dịch vụ công của chúng ta quá kémhiệu quả Chính sự kém hiệu quả này làm cho tình trạng thâm hụt ngân sáchcàng trở nên trầm trọng
3 Nhà nước huy động vốn để kích cầu
Chính phủ kích cầu qua 3 nguồn tài trợ chính là: Phát hành trái phiếu
Chính phủ, miễn giảm thuế và sử dụng Quỹ dự trữ nhà nước Sử dụng gói giải
pháp kích cầu một mặt làm kích thích tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế Tuynhiên, sẽ làm mức thâm hụt ngân sách tăng rất cao khoảng 8-12%GDP
4 Chưa chú trọng mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên
Đây là một trong những nguyên nhân gây căng thẳng về ngân sách áp lựcbội chi ngân sách (nhất là ngân sách các địa phương) Chúng ta có thể thấy,thông qua cơ chế phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngânsách và cơ chế bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới Ngânsách
Trang 4địa phương được phân cấp nguồn thu ứng với các nhiệm vụ chi cụ thể vàđược xác định cụ thể trong dự toán ngân sách hằng năm Vì vậy, khi các địaphương vay vốn để đầu tư sẽ đòi hỏi bảo đảm nguồn chi thường xuyên để bốtrí cho việc vận hành các công trình khi hoàn thành và đi vào hoạt động cũngnhư chi phí duy tu, bảo dưỡng các công trình, làm giảm hiệu quả đầu tư.Chính điều đó luôn tạo sự căng thẳng về ngân sách.Để có nguồn kinh phíhoặc phải đi vay để duy trì hoạt động hoặc yêu cầu cấp trên bổ sung ngânsách, cả hai trường hợp đều tạo áp lực bội chi NSNN.
5 Quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn.
Tăng chi tiêu của chính phủ một mặt giúp nền kinh tế tăng trưởng tạm thờitrong ngắn hạn, nhưng lại tạo ra những nguy cơ bất ổn lâu dài như lạm phát
và rủi ro tài chính do sự thiếu hiệu quả của các khoản chi tiêu công và thiếu
cơ chế giám sát đảm bảo sự hoạt động lành mạnh của hệ thống tài chính Lýthuyết kinh tế không chỉ ra một cách rõ ràng về hướng tác động chi tiêu củachính phủ đối với tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên đa số các nhà kinh tếthường thống nhất rằng chi tiêu của chính phủ một khi vượt quá một ngưỡngnào đó sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế do gây ra phân bổ nguồn lực mộtcách không hiệu quả dẫn tới thâm hụt ngân sách nhà nước và cuối cùng làgây ra lạm phát
6 Bên cạnh đó, sự thiếu hụt ngân sách trong những năm qua còn được sử dụng như một công cụ trong chính sách tài khóa để kích thích sự tăng trưởng kinh tế
Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra điều này thông qua cân đối NSNN hằngnăm Về nguyên tắc, sau khi lấy tổng thu trừ đi tổng chi trong năm sẽ xácđịnh được số thặng dư hoặc thiếu hụt ngân sách trong năm Tuy nhiên, khicân đối ngân sách chúng ta thường xác định số bội chi trước (thông thườngtương đương với mức Quốc hội cho phép) và nguồn còn lại được Quốc hộicho phép chuyển nguồn sang năm sau Đây là chính sách ngân sách thậntrọng khi áp dụng lý thuyết bội chi một cách chủ động và điều đó không gâyxáo trộn trong chính sách kinh tế vĩ mô, nhưng phải cân nhắc và kiểm traxem toàn bộ số bội chi có được sử dụng để chi đầu tư phát triển cho các dự
án trọng điểm và hiệu quả qua đó tạo thêm công ăn việc làm, tạo đà cho nềnkinh tế phát triển, tăng khả năng thu NSNN trong tương lai hay không
Ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách nhà nước đối với nền kinh tế:
1 Thâm hụt ngân sách và vấn đề thoái lui đầu tư:
Trang 5Các biện pháp của chính sách tài khoá chủ động gây nên thâm hụt cơcấu và kéo theo hiện tượng tháo lui đầu tư.
* Thoái lui đầu tư và thị trường tiền tệ
Cơ chế thoái giảm là: Khi Chính phủ tăng chi tiêu cho các dự án củamình trong ngắn hạn, theo mô hình số nhân, nếu không có thay đổi nàotrong thị trường tài chính thì GDP sẽ tăng lên ΔG x Số nhân của nền kinhtế
Nhưng khi GDP tăng lên, nhu cầu về tiền giao dịch cũng tăng lên Mức GDPcao hơn có chiều hướng đi đến thắt chặt tiền tệ (đặc biệt là trong trường hợpNHTW quan tâm đến lạm phát) Lãi suất tăng và thắt chặt tín dụng sẽ có chiềuhướng bóp nghẹt hay “thoái lui” đầu tư và những chi tiêu có nhạy cảm với lãisuất Kết quả là dẫn đến tổng cầu giảm, sản lượng và công ăn việc làm giảmxuống
Tuy nhiên, cơ chế thoái giảm này chỉ áp dụng cho thâm hụt cơ cấu Không
áp dụng cho thâm hụt chu kỳ (thâm hụt tăng do suy thoái) vì suy thoái gây ragiảm cầu tiền và dẫn đến lãi suất giảm Thoái lui không được áp dụng trong cáccuộc đại suy thoái là một nhắc nhở: không có liên hệ nghiễm nhiên nào giữathâm hụt và đầu tư
* Tác động của thâm hụt cơ cấu
Hầu hết các nhà kinh tế học vĩ mô đều đồng ý rằng: Thoái lui thực sự chỉ làmột hiệu ứng phụ của chi tiêu Chính phủ Tuy nhiên, vẫn có tranh luận trongvấn đề đầu tư bị giảm đi bao nhiêu và những khu vực nào chịu tác độngnhiều nhất
Thoái lui hoàn toàn, đây là trường hợp cực đoan nhất của thoái lui khi
mà phản ứng tiền tệ là quá mạnh
Trang 6Giả sử rằng, khi mà NHTW xác định bất kỳ sự tăng lên nào trong sản lượngcũng đều có nguy cơ gây ra lạm phát Bởi vậy, NHTW sẽ tăng lãi suất lên đủ
để bù lại mọi tác động mở rộng của các chương trình Chính phủ
Tuy nhiên, do có phản ứng tiền tệ, nên lãi suất tăng lên, làm giảm đầu tư vàxuất khẩu ròng Vậy, trong trường hợp cực đoan thoái lui 100%, phản ứng nàymạnh đến nỗi đường chi tiêu (tổng cầu) mới dịch chuyển xuống quay trở lại vịtrí của đường tổng cầu ban đầu Nói cách khác là thắt chặt tiền tệ đã làm triệttiêu toàn bộ sự mở rộng tài khóa
Trang 7Chi tiêu Chính phủ làm tăng tổng cầu, nhưng lãi suất cao hơn dẫn đến sựgiảm sút của đầu tư và xuất khẩu ròng (do việc tăng tỷ giá hối đoái của đồngnội tệ) Cuối cùng lãi suất phải tăng đủ mạnh để giảm đầu tư và xuất khẩu ròngđúng bằng lượng G đã tăng lên.
Tóm lại, trong trường hợp cực đoan của phản ứng tiền tệ mạnh, đầu tư bịthoái lui 100% do sự tăng lên trong chi tiêu của Chính phủ Thoái lui có thể
Trang 8xảy ra khi NHTW có hành động nhằm triệt tiêu tác động mở rộng tài khóathông qua thắt chặt tiền tệ Từ đồ thị trên ta có thể thấy 2 bước:
Bước 1: Tăng chi tiêu bằng tiền cho hàng hóa và dịch vụ làm dịc chuyể đườngtổng cầu (C+I+G+NX) lên đến đường tổng mới (C+I+G’+NX)
Bước 2: Phản ứng của tiền tệ làm tăng lãi suất và làm giảm những bộ phậnnhạy cảm với lãi suất, dẫn đến tổng cầu giảm xuống đường (C+I”+G’+NX”) vàđiểm cân bằng mới là điểm E”, đúng với điểm cân bằng lúc ban đầu tại điểm
E Trong trường hợp này đầu tư và xuất khẩu ròng bị chi tieeucuar Chínhphủ làm thoái lui hoàn toàn
Mục đích của việc nghiên cứu cơ chế này là giúp ta có giải pháp để phối hợpgiữa các chính sách kinh tế trong việc ổn định hóa nền kinh tế
Nghịch lý của khuyến khích đầu tư: Một trường hợp ực đoan lien quan đến
nghịch lý của tiết kiệm, xảy ra khi đầu tư trên thực tế được khuyến khích bằngnhững thâm hụt lớn Lập luận này có cơ sỏ như sau: Lãi suất cao khôngkhuyến khích đầu tư Mặt khác sản lượng cao hơn kích thích đầu tư (theonguyên tắc gia tốc) do các doanh nghiệp mua nhiều vốn hơn và nhà xưởnghiện tại được tận dụng nhiều hơn Từ đó đầu tư có thể được chính sách tài khóakích thích khi năng lực sản xuất còn chua được sử dụng hết
Trang 9Đầu tư có thể được khuyến khích bằng thâm hụt cao hơn khi còn các nguồnlực chưa được sử dụng hết và khi đầu tư phản ứng lại với mức sản lượng tăngcao hơn.
Khi thực hiện chính sách tài khóa mở rộng (tăng mua sắm hàng hóa và dịchvụ), chi tiêu của Chính phủ tăng từ G lên G’ thì tổng cầu dịch chuyển lên trêntới đường tổng cầu mới là AD’= C+I+G’+NX, sản lượng cân bằng tăng lên Mứcsản lượng cao hơn lại kích đầu tư cao hơn, đầu tư tăng từ I lên I’ Điểm cânbằng cuối cùng được kết thúc ở E’, chính là giao điểm của đường tổng cầuAD”=C+I’+G’+NX với đường 450
Nghịch lý này có thể xuất hiện khi nguồn lực chưa được sử dụng hết và sảnlượng được quyết định bởi tổng cầu chứ không phải bởi phía cung
Trang 102 Thâm hụt ngân sách-Một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát:
Giả định rằng, chia chi tiêu Chính phủ làm hai phần:
- Chi tiêu hàng hóa và dịch vụ của Chính phủ (G)
- Chi trả lãi
(i.B) Trong đó:
i: lãi suất danh nghĩa về trái phiếu của Chính phủ
B: giá trị danh nghĩa của các trái phiếu mà chính phủ chưa thanh toán.Những nguồn thu nhập chính của Chính phủ gồm:
- Thuế thu nhập (T) chưa khấu trừ các khoản thanh toán chuyển nhượng
- ΔB là lượng trái phiếu phát hành thêm
- Phát hành thêm công nợ bằng tiền của Chính phủ (ΔH)-bộ phận này gọi là
cơ sở; ký hiệu là H gồm:
+ Tiền mặt do Chính phủ nắm giữ
+ Tiền dự trữ trong các ngân hàng
Như vậy cả B và H đều là công nợ của Chính phủ nhưng khác biệt duy nhấtgiữa B và H là các trái phiếu (B) thì được trả lãi, còn lượng tiền cơ sở (H) thìkhông Từ đây ta có thiết lập một phương trình như sau:
(G – T) + (i*B)/P = ΔB/P + ΔH/P
Trang 11Trong phương trình trên, (G – T) được gọi là số thâm hụt cơ bản tức làthâm hụt mà Chính phủ phải trang trải, không kể những khoản lãi phải trảcho những trái phiếu chưa đến hạn thanh toán Do G và T được biểu hiệnbằng số tiền thực tế vì vậy để đảm bảo tính thống nhất thì ta chia các số hạngcòn lại cho mức giá chung (P).
Qua đây, ta cũng có thể thấy 2 phương pháp có thể dùng để tài trợ thâmhụt ngân sách của Chính phủ đó là: Phát hành thêm trái phiếu của Chínhphủ, được biểu thị bằng ΔB và phát hành thêm khối lượng tiền cơ sở, được
biểu thị bằng ΔH Vì vậy, phương trình trên còn được gọi là phương trình biểu thị tài trợ thâm hụt ngân sách của Chính phủ.
Ta sẽ xem xét tác động của lạm phát đến thâm hụt ngân sách Nhà nước.Lạm phát làm tăng lãi suất danh nghĩa (i), như vậy các nhân tố trongphương trình trên sẽ có sự biến động Tuy nhiên, với tác động phân phốilại của cải một cách ngẫu nhiên, thì lạm phát cũng làm dễ dàng hơn choChính phủ Để làm rõ vấn đề này ta sẽ đi từ phương trình biểu thị tài trợthâm hụt ngân sách ở trên:
o (G – T) + (i*B)/P = (ΔB/P)*(B/B) + (ΔH/P)*(H/H)
o (G – T) + (i*B)/P = (ΔB/B)*(B/P) + (ΔH/H)*(H/P)
Ở đây, trong phương trình này ta có:
• (ΔB/B)*(B/P): là tích số giữa tỷ lệ % thay đổi trong trái phiếu (ΔB/B)với giá trị thực tế của những trái phiếu chưa đến hạn thanh toán(B/P)
• (ΔH/H)*(H/P): là tích số giữa tỷ lệ % thay đổi trong lượng tiền cơ sở
Trang 12(ΔH/H) với giá trị thực tế của lượng tiền cơ sở (H/P).
Trang 13Nếu ta giả định (B/P) và (H/P) là ổn định và tuân theo quy luật về trạngthái đều đều của mô hình cơ bản Solow về tăng trưởng, thì mức % tăng củatrái phiếu (B) giả sử biểu thị bằng chữ (b) và mức % tăng của H biểu thịbằng chữ (h) sẽ phải bằng mức tỉ lệ lạm phát (gp) Nói cách khác, ta sẽ biểuthị các ký hiệu như sau:
ΔB/B = bΔH/H = hΔP/P = gpTrong đó thì: b = h = gpThay (gp) vào phương trình và chuyển (i*B)/P sang vế phải ta được:
G – T = (gp) * (H/P) – (i – gp) * (B/P)
(gp) * (H/P) biểu thị tích số của mức lạm phát với lượng tiền cơ sở thực tế
Số thu nhập mà Chính phủ thu được từ lạm phát gọi là thuế lạm phát Nhưnglạm phát không thể xóa bỏ trách nhiệm mà Chính phủ là phải trả lãi chonhững trái phiếu chưa đến hạn thanh toán còn đang nằm trong tay côngchúng
Trong phương trình vừa biến đổi trên thì Chính phủ chỉ phải lo chi trả tiềnlãi thực tế của dịch vụ trái phiếu Biểu thức (i*B/P – gp*B/P) cho biết khiChính phủ chi trả cho những người có trái phiếu với lãi danh nghĩa (i) – đồngthời người có trái phiếu lại giao lại cho Chính phủ một phần của (i) để muanhững trái phiếu bổ xung đủ để giữ cho những tài sản trái phiếu thực tế(B/P) của họ không thay đổi (vì chúng ta đã giả định ở trên là B/P ổn định).Kết luận:
Khi nền kinh tế có lạm phát, Chính phủ được hai cái lợi:
Trang 14Một là: Chính phủ có thêm một nguồn thu nhập đó là thuế lạm phát.
Hai là: Chính Phủ có thể được lợi nếu lạm phát làm cho lãi suất danh nghĩa
tăng ít hơn bản thân mức tăng của lạm phát
Bội chi ngân sách nhà nước (hay còn gọi là thâm hụt ngân sách nhànước) có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nền kinh tế một nước tùytheo tỉ lệ thâm hụt và thời gian thâm hụt Nói chung nếu tình trạng bội chingân sách nhà nước với tỷ lệ cao và trong thời gian dài sẽ gây ảnh hưởngtiêu cực
❖ Thâm hụt ngân sách cao và kéo dài còn làm xói mòn niềm tin đối vớinăng lực điều hành vĩ mô của chính phủ Nó cũng làm tăng mức lạm phát kỳvọng của người dân và của các nhà đầu tư vì họ cho rằng Chính phủ trướcsau gì cũng sẽ phải in thêm tiền để tài trợ thâm hụt
❖ Thâm hụt ngân sách cao và lâu dài tất yếu dẫn tới việc nhà nước buộcphải phát hành thêm tiền để tài trợ thâm hụt, và điều này đến lượt nó dẫntới lạm phát
❖ Gia tăng thâm hụt ngân sách sẽ làm tăng nợ quốc gia, khiến sựtăng trưởng của sản lượng tiềm năng chậm lại
❖ Thâm hụt còn làm cho các nhà hoạt động chính sách không thểhoặc không sẵn sàng sử dụng các gói kích thích tài chính đúng thời điểm
❖ Để bù lại các khoản thâm hụt chính phủ buộc phải tăng thuế hoặc vay
nợ thông qua phát hành trái phiếu Thuế làm méo mó nền kinh tế, gây ratổn thất vô ích về phúc lợi xã hội và các doanh nghiệp phải chịu chi phí lớnhơn, làm giảm động lực sản xuất và khả năng cạnh tranh Đồng thời mức tiêudùng cũng giảm->giảm tổng cầu
❖ Tóm lại: Thâm hụt ngân sách cao, kéo dài đe dọa sự ổn định vĩ mô.