Đề tài này tập trung làm sáng tỏ khái niệm hành động xã hội trong nghiên cứu xã hội học, nhận thức lý thuyết hiện đại hóa trong nghiên cứu giải thích sự phát triển của các xã hội, làm sá
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài 1
II Tổng quan tài liệu 1
III Mục tiêu, mục đích nhiệm vụ nghiên cứu 2
1) Mục tiêu nghiên cứu 2
2) Nhiệm vụ nghiên cứu 2
IV Đối tượng khách thể nghiên cứu 3
V Phương pháp nghiên cứu 3
VI Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn 3
1) Ý nghĩa khoa học 3
2) Ý nghĩa thực tiễn 3
VII Điểm mới của đề tài 3
VIII Giới hạn, thuận lợi của đề tài nghiên cứu 4
1) Giới hạn đề tài 4
2) Thuận lợi 4
B PHẦN NỘI DUNG Chương 1: SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI HỌC Ở MỸ 5
I Lịch sử hình thành nước Mỹ 5
1) Đặc điểm giai đoạn thời cận đại 5
2) Lịch sử hình thành nước Mỹ 7
2.1 Đặc điểm kinh tế, chính trị 7
2.2 Sự hình thành dân tộc Mỹ 8
II Sự phát triển xã hội học ở Mỹ 12
1) Xã hội học thế kỷ XX 12
2) Xã hội học ở Mỹ 13
2.1 Thời kỳ tiên phong 13
2.2 Xã hội học Mỹ hiện đại 17
3) Trường phái xã hội học Mỹ 18
3.1 Trường phái Chicago 18
3.2 Sự xuất hiện xu hướng nghiên cứu mới 20
Chương 2: CÁC Ý TƯỞNG CỦA GEORGE HERBERT MEAD I Tóm tắt tiểu sử của George Herbert Mead 24
II Nguồn gốc tri thức trong tác phẩm của Mead 25
1) Chủ nghĩa thực dụng (pragmatism) 25
2) Chủ nghĩa hành vi 26
III Các ý tưởng của George Herbert Mead 27
1) Sự ưu tiên của tính chất xã hội 27
2) Hành động 27
2.1 Giai đoạn đầu tiên 28
2.2 Giai đoạn thứ hai 28
2.3 Giai đoạn thứ ba 29
2.4 Giai đoạn thứ tư 29
3) Các điệu bộ 30
4) Biểu tượng có ý nghĩa 31
Trang 26.1 Tri thức 34
6.2 Ý thức 36
6.3 Các hình ảnh tinh thần 36
6.4 Ý nghĩa 37
6.5 Trí tuệ 38
6.6 Bản ngã 38
Chương 3 SỰ HÌNH THÀNH THUYẾT TƯƠNG TÁC BIỂU TƯỢNG I Khả năng tư duy 49
II Khả năng tư duy và tương tác 50
III Việc tìm hiểu các ý nghĩa của các đối tượng 52
IV Hành động và sự tương tác 53
V Thực hiện các lựa chọn 54
VI Bản ngã 55
VII Các nhóm và xã hội 63
Chương 4 LÝ THUYẾT NỮ QUYỀN Ở KHÍA CẠNH VI MÔ I Thuyết nữ quyền nói chung 65
II Các vấn đề cơ bản của thuyết nữ quyền 67
III Lý thuyết xã hội học nữ quyền 68
1) Hành động phản ứng chống hành động có mục đích 70
2) Tương tác gián đoạn chống tương tác tiếp diễn 71
3) Giả thiết về sự bất bình đẳng chống giả thiết về sự bình đẳng 72
4) Các ý nghĩa được phân tầng chống các ý nghĩa chung 73
5) Sự kìm hãm chống sự lựa chọn trong các vị trí tạo ra ý nghĩa 74
6) Tính chủ quan 75
7) Việc nắm lấy vai trò và kiến thức của người khác 75
8) Quá trình chủ quan hóa của các tiêu chí cộng đồng 75
9) Bản chất của bản ngã như là một actor xã hội 76
10) Bản chất của ý thức về cuộc sống hàng ngày 77
CHƯƠNG 5 LÝ THUYẾT TỘI PHẠM I Lý thuyết tội phạm theo góc độ tâm lý xã hội 79
1) Ảnh hưởng của nhóm đến hành vi cá nhân 79
1.1 Áp lực nhóm và sự tuân thủ 80
1.2 Quyền uy của người lãnh đạo và sự tuân lệnh 80
2) Quan hệ liên nhân cách trong nhóm và những hành vi liên quan đến hoạt động lao động 81
3) Ảnh hưởng của văn hóa đối với hành vi 82
II Lý thuyết hiệp hội dị biệt (differential association) của Edwin H Sutherland (1942) 84
III Lý thuyết của Cleward và Ohlin (1960) 87
IV Lý thuyết về việc gán ghép (Becker, 1971) 89
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Xã hội học là một khoa học về xã hội, vì thế những yếu tố như phương pháp luận, lý thuyết xã hội học được xem là một trong những cơ sở chủ đạo giúp tạo ra những tri thức cho ngành khoa học này
Vịêc hiểu rõ một lý thuyết xã hội là một trong những việc làm đầu tiên cần thiết cho công tác nghiên cứu, lý thuyết đóng vai trò quan trọng trong việc định hình nhà nghiên cứu sẽ phải xem xét khía cạnh nào trong một vấn đề tổng quát hay một hiện tượng xã hội Tuy nhiên thực tế phần khâu này lại bị xem nhẹ hoặc không được chú
ý đến Cuộc nghiên cứu xã hội học đôi khi được hiểu là cuộc nghiên cứu thực nghiệm đơn thuần Chính vì vậy rất cần thực hiện những tìm hiểu xoay xung quanh
lý thuyết xã hội học Đó chính là lý do tôi chọn làm lý thuyết đơn thuần
Tại sao lại là Mead và lý thuyết tương tác biểu tượng? Theo thuyết này để giải thích hành động con người thì phải hiểu được ý nghĩa của hành động đó, tức là phải biết được ý nghĩa mà actor gán cho đối tượng của mình là gì? Cũng bằng cách đó, tôi cũng lý giải cho hành động chọn lý thuyết tương tác biểu tượng của tôi vì tôi thấy ý nghĩa quan trọng mà thuyết tương tác biểu tượng đóng góp trong việc phân tích mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội ở hiện tại và tương lai Thế nhưng với vai trò là một sinh viên, tôi không dự báo tương lai của thuyết tương tác mà chỉ dừng lại mức độ làm rõ lý thuyết Việc làm rõ lý thuyết hôm nay sẽ là cơ
sở cho việc mở rộng lý thuyết ngày mai
II Tổng quan tài liệu
Luận văn “Khái niệm hành động xã hội và lý thuyết hiện đại hóa trong nghiên cứu quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa của Việt Nam hiện nay” của sinh viên Nguyễn Công Bình Đề tài này tập trung làm sáng tỏ khái niệm hành động xã hội trong nghiên cứu xã hội học, nhận thức lý thuyết hiện đại hóa trong nghiên cứu giải thích sự phát triển của các xã hội, làm sáng tỏ những các yếu tố của văn hóa truyền thống ảnh hưởng đến hành động xã hội của con người - của xã hội ta như là những tác nhân tác động tích cực hoặc tiêu cực đến quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Trang 4Luận văn “Lý thuyết cấu trúc chức năng của Talcott Parsons và lý thuyết tân chức năng trong cách nhìn so sánh” của sinh viên Nguyễn Thị Quỳnh Nguyên tập trung nghiên cứu sự hình thành, phát triển và so sánh mối quan hệ giữa lý thuyết cấu trúc chức năng của Talcott Parsons và lý thuyết tân chức năng của J Alexander
và P Colomy Tác giả của đề tài này làm rõ sự giống và khác nhau giữa hai lý thuyết thông qua việc tìm hiểu điều kiện kinh tế - xã hội tác động đến sự hình thành
lý thuyết cấu trúc chức năng của Talcott Parsons, các yếu tố nào là nguyên nhân chính cho sự hình thành, phát triển và tồn tại đó Tiếp đến, tác giả tìm hiểu nội dung của lý thuyết này, đồng thời nêu rõ những hạn chế của lý thuyết - nguyên nhân gần nhất dẫn đến sự ra đời lý thuyết tân chức năng Cuối cùng, tác giả so sánh hai lý thuyết để có cái nhìn đúng đắn về những mặt tích cực, phù hợp và khiếm khuyết, những điểm tích cực và hạn chế Qua đó có cách nhìn rõ hơn về sự mở rộng của lý thuyết tân chức năng đối với lý thuyết cấu trúc chức năng như thế nào
III Mục tiêu, mục đích nhiệm vụ nghiên cứu
1) Mục tiêu nghiên cứu
_ Nắm được các ý tưởng cơ bản của Mead
_ Hiểu được các nguyên tắc cơ bản của thuyết tương tác biểu tượng
_ Từ thuyết tương tác biểu tượng xem xét các lý thuyết có liên quan: lý thuyết xã hội học nữ quyền và lý thuyết về tội phạm
_ Đưa ra những nhận định về thuyết tương tác biểu tượng
2) Nhiệm vụ nghiên cứu
_ Trình bày những hoàn cảnh xã hội, điều kiện kinh tế, chính trị trong giai đoạn
hình thành thuyết tương tác biểu tượng.thuyết tương tác biểu tượng
_ Trình bày các khái niệm cơ bản trong lý thuyết Mead để thấy được các ý tưởng này
_ Thuyết tương tác biểu tượng được nhiều nhà xã hội học phát triển, chính vì thế lý thuyết tương tác phải được trình bày dựa trên sự tổng hợp các kết quả nghiên cứu của các lý thuyết gia để đưa ra các nguyên tắc cơ bản
_ Lý thuyết xã hội học nữ quyền và lý thuyết về tội phạm phân tích theo khía cạnh của thuyết tương tác biểu tượng Từ đó thấy được sự phát triển mở rộng của thuyết tương tác biểu tượng
Trang 5_ Thay lời kết bằng việc đưa ra nhận xét về lý thuyết tương tác biểu tượng
IV Đối tượng khách thể nghiên cứu
_ Các ý tưởng của Mead
_ Thuyết tương tác biểu tượng
_ Sự phát triển của lý thuyết tương tác biểu tượng: thuyết nữ quyền và lý thuyết tội phạm
V Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích tài liệu sẵn có bao gồm phương pháp phân tích thứ cấp, phân tích tư liệu thống kê hiện có, phương pháp lịch sử và phân tích nội dung Trong đề tài này, phương pháp phân tích tài liệu chính xác là phương pháp lịch sử
và phân tích nội dung
Trong phương pháp này, tôi đề cao tính hiệu lực và độ tin cậy của tư liệu
Phương pháp luận: xem xét lý thuyết trên quan điểm duy vật biện chứng và quan điểm duy vật lịch sử
VI Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn
1) Ý nghĩa khoa học
_ Giúp cho nhìn nhận vai trò quan trọng của lý thuyết xã hội học trong nghiên cứu
_ Có cái nhìn tồng quát lý thuyết tương tác biểu tượng vốn dĩ khá dàn trải về ý tưởng
_ Có ý nghĩa nhận thức luận khi xem xét các lý thuyết khác trên cơ sở thuyết tương tác biểu tượng
2) Ý nghĩa thực tiễn
_ Là cơ sở để có thể sử dụng lý thuyết tương tác trong nghiên cứu thực nghiệm cũng như là cơ sở để thực hiện tiếp các cuộc nghiên cứu để kiểm chứng lại lý thuyết này
_ Bằng dự báo về sự phát triển của thuyết tương tác biểu tượng trong tương lai giúp
mở rộng những nghiên cứu lý thuyết mới
VII Điểm mới của đề tài
Đề tài không theo hướng phân tích truyền thống là chia nhánh của thuyết tương tác biểu tượng Xã hội học vi mô có hai biến thể chính: tương tác luận biểu trưng và phương pháp luận thực hành (có nguồn gốc từ hiện tượng luận) Hướng phân tích
Trang 6mới trong đề tài là bên cạnh việc làm rõ nội dung thuyết tương tác biểu tượng, còn nêu ra dự báo tương lai của thuyết tương tác biểu tượng thông qua những lý thuyết được xây dựng trong những lĩnh vực khác: thuyết nữ quyền, lý thuyết tội phạm
VIII Giới hạn, thuận lợi của đề tài nghiên cứu
1) Giới hạn đề tài
Trước hết là giới hạn về thời gian nên nhiều vần đề trong nghiên cứu không thể
đi sâu hơn nữa
Thứ hai, giới hạn về tài liệu Phải nói rằng những tài liệu về lý thuyết xã hội học chủ yếu là sách nước ngoài nên đây là giới hạn lớn nhất trong việc hiểu ngôn ngữ, đặc biệt đây là những ngôn ngữ khoa học
Thứ ba, do đây là nghiên cứu lý thuyết thuần nên để hiểu những khái niệm trừu tượng là không dễ đối với bản thân Do đó những phân tích còn mang tính chủ quan
và có thể chưa sát với ý tưởng của các lý thuyết gia xã hội học
2) Thuận lợi
Được sự cung cấp tài liệu cũng như được sự chỉ dẫn của giáo viên có kinh nghiệm nhiều năm trong nghiên cứu lý thuyết
Trang 7B PHẦN NỘI DUNG Chương 1: SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI HỌC Ở MỸ
I Lịch sử hình thành nước Mỹ
1) Đặc điểm giai đoạn thời cận đại
Thời cận đại trong lịch sử thế giới bắt đầu từ năm 1640 và kết thúc vào năm
1900 Giai đoạn này chủ yếu là lịch sử thăng tiến và phát triển của chủ nghĩa tư bản Thật vậy, thời kỳ thăng tiến của chủ nghĩa tư bản không thể tách rời được với việc cướp bóc ở những vùng đất thuộc địa bên ngoài và sự bóc lột đối với nhân dân lao động trong nước Do vậy, nó có mặt tiêu cực của nó Tuy nhiên, nếu đem so sánh với chế độ phong kiến trong thời trung cổ, thì nói cho cùng nó vẫn là một bước tiến to lớn trong lịch sử “Sự sáng tạo sức sinh sản của giai cấp tư sản trong khoảng thời gian họ thống trị chưa đến 100 năm, vẫn nhiều hơn so với toàn bộ sự sáng tạo sức sản xuất của tất cả những thời đại trước.” (Marx – Engels : “Tuyên ngôn đảng cộng sản và Marx – Engels tuyển tập) “Đó là công lao và thành tích vĩ đại của giai cấp tư sản Hơn nữa, về mặt văn hóa tinh thần trong giai đoạn này như triết học, văn học, sử học, nghệ thuật và tư tưởng chính trị xã hội đều có những thành tựu sáng chói Kế đó, trong quá trình lâu dài chống lại chế độ phong kiến của giai cấp tư sản, chẳng những họ lật đổ được chế độ phong kiến mà còn phá tan được sự thống trị thần quyền và chủ nghĩa mông muội đã xiềng xích tâm linh con người; lật đổ được chế độ quân chủ tuyệt đối và chủ nghĩa chuyên chế bóp chết tự do cá nhân và mầm sống của xã hội; xây dựng một chế độ dân chủ của giai cấp tư sản thích ứng với sự phát triển xã hội, kinh tế và văn hóa Sau hết, do sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa đã dần dần xóa bỏ được trạng thái ngăn cách giữa các khu vực, làm cho cả thế giới trở thành một khối hoàn chỉnh
Lịch sử cận đại của thế giới có thể chia thành hai thời kỳ chủ yếu Thời kỳ thứ nhất bắt đầu từ năm 1640 đến năm 1870 Thời kỳ thứ hai bắt đầu từ năm 1871 đến năm 1900 Thời kỳ thứ nhất chính là thời kỳ chủ nghĩa tư bản xác lập và giành được thắng lợi ở những nước tiên tiến Âu Mỹ, cũng tức là thời kỳ chủ nghĩa tư bản “tự do” Thời kỳ thứ hai là thời kỳ chủ nghĩa tư bản “tự do” chuyển sang chủ nghĩa tư bản lũng đoạn
Trang 8Sự xác lập và sự thắng lợi của chủ nghĩa tư bản ở các nước Âu Mỹ được hoàn thành qua hàng loạt những cuộc cách mạng và cải cách của giai cấp tư sản
Cuộc cách mạng của giai cấp tư sản tại Anh, lần đầu tiên đã lật đổ được chế độ phong kiến của một nước lớn ở Châu Âu, xác lập được chủ nghĩa tư bản Nó đã thúc đẩy những phong trào cách mạng của giai cấp tư sản Pháp và một số nước khác ở Châu Âu phát triển lên
Cuộc chiến tranh giành độc lập xảy ra ở nước Mỹ vào cuối thế kỷ thứ 18 là cuộc cách mạng thứ hai của giai cấp tư sản trong lịch sử cận đại Nó đã lật đổ được sự thống trị của thực dân Anh tại vùng Bắc Mỹ, xây dựng được nước hợp chủng quốc Hoa Kỳ, từ đó đảm bảo cho sự phát triển thuận lợi của chủ nghĩa tư bản ở nước Mỹ Cuộc đại cách mạng ở Pháp bùng nổ vào cuối thế kỷ 18 đã mở ra một con đường cho chủ nghĩa tư bản ở Châu Âu phát triển và giành được thắng lợi Cuộc đại cách mạng ở Pháp là cuộc cách mạng của giai cấp tư sản có ảnh hưởng tương đối lớn trong thời đại chủ nghĩa tư bản “tự do” Sau cuộc đại cách mạng ở Pháp, phong trào đấu tranh mang tính chất dân chủ và dân tộc của giai cấp tư sản tại nhiều quốc gia ở Châu Âu, cũng như phong trào quần chúng nhân dân chống chế độ phong kiến
đã liên tiếp xảy ra không bao giờ chấm dứt Dưới tình trạng chia năm xẻ bảy ở nước Đức và Ý; dưới sự thống trị chuyên chế phong kiến ở Tây Ban Nha; dưới chế độ nông nô ở Nga; cũng như tại Hy Lạp đang chịu sự thống trị của Thổ Nhĩ Kỳ, những phong trào cách mạng đã liên tục xảy ra Tại các vùng đất thực dân của Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha ở Châu Mỹ cũng bùng nổ những cuộc đấu tranh giành độc lập trong trào lưu chung của thời kỳ cách mạng này, đồng thời, họ đã giành được nhiều thắng lợi to lớn
Sự thắng lợi qua những cuộc cách mạng của giai cấp tư sản đã dọn đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển, tạo điều kiện cho sự bùng nổ một cuộc cách mạng công nghiệp Cuộc cách mạng công nghiệp bùng nổ trước tiên ở Anh (vào cuối thể kỷ thứ 18) Đến đầu thế kỷ thứ 19, tại các nước Pháp, Mỹ và Đức đã lần lượt tiến vào thời đại cách mạng công nghiệp Cuộc cách mạng công nghiệp chẳng những có nghĩa là nền thủ công tư bản chủ nghĩa đã bước sang nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa,
mà nó còn làm thay đổi một cách sâu sắc và rộng rãi cục diện xã hội, trong đó có sự hình thành giai cấp vô sản và đã phát triển thành một lực lượng chính trị độc lập
Trang 9mạnh mẽ, to lớn Cuộc khởi nghĩa lớn của công nhân xảy ra tại Lyon ở nước Pháp vào những thập niên 30 và 40 của thế kỷ thứ 19, cũng như cuộc khởi nghĩa của công nhân tại Silesia ở Đức và phong trào Hiến Chương ở Anh, đã thể hiện rõ giai cấp vô sản có thể bước lên vũ đài chính trị một cách độc lập
Theo đà phát triển của những cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, đến thập niên 40 của thế kỷ thứ 19, chủ nghĩa xã hội không tưởng đã phát triển thành chủ nghĩa xã hội khoa học; chủ nghĩa Marx – lý luận cách mạng của giai cấp
vô sản đã xuất hiện Tháng 2 năm 1848, bản Tuyên ngôn Đảng Cộng Sản do Marx
và Engels cùng soạn thảo đã được công bố Đó là một văn kiện có tính cương lĩnh đầu tiên trong phong trào cách mạng của giai cấp vô sản Nó đã dẫn giải một cách khoa học và toàn diện quy luật phát triển của xã hội và nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa cộng sản; vạch rõ quy luật khách quan của sự phát triển là tiêu diệt chủ nghĩa
tư bản; vạch rõ sứ mệnh lịch sử vĩ đại của giai cấp vô sản và luận chứng về tính tất nhiên một cuộc cách mạng của giai cấp vô sản
2) Lịch sử hình thành nước Mỹ
2.1 Đặc điểm kinh tế, chính trị
Nước Mỹ trước khi độc lập, là 13 vùng đất thực dân do nước Anh xây dựng trên
bờ biển Đại Tây Dương thuộc vùng Bắc Mỹ Mười ba vùng đất này lần lượt được xây dựng từ đầu thế kỷ thứ 17 cho đến giữa thế kỷ thứ 18 Người da trắng cư trú trên những vùng đất thực dân này đến từ châu Âu, chủ yếu là những người di dân từ Anh, đại đa số đều là nhân dân lao động Người da đen trong số cư dân này được chở từ châu Phi sang bán để làm nô lệ Người Indians là cư dân sống từ lâu ở Bắc
Mỹ Tuy nhiên những người trong số họ, hoặc bị đuổi đến vùng hoang mạc khô cằn, một số khác bị chém giết thẳng tay, ruộng của họ đều bị người da trắng cướp lấy Chế độ xã hội tại những vùng nguồn đất thực dân ở Bắc Mỹ, ngoài chế độ tư bản chủ nghĩa còn có chế độ tá điền nửa phong kiến và chế độ nô lệ Chế độ phong kiến tá điền được mang từ Anh sang, đồng thời nó liên hệ chặt chẽ với chế độ sở hữu đất đai lớn Do đó để bảo vệ ruộng đất của đại địa chủ, tại nhiều vùng đất thực dân còn thực hiện chế độ con cả thừa kế Tại vùng trung bộ và vùng nam bộ có một
số khu vực thực dân còn thi hàng cái gọi là luật thừa kế có hạn định, tức là những người có địa vị nhất định mới có quyền thừa kế tài sản và ruộng đất Chế độ trưởng
Trang 10nam thừa kế cũng như luật thừa kế có hạn định đều thể hiện sự tàn dư của chế độ phong kiến Tuy nhiên, chế độ tá điền nửa phong kiến không phải là phổ biến và phát triển ra khắp các vùng thực dân, mà nó chỉ giới hạn ở một số khu vực thuộc những vùng đất thực dân ở trung bộ Chế độ sở hữu ruộng đất tiểu nông là một hiện tượng rất phổ biến Dưới chế độ này, người nông dân là sở hữu chủ của một mảng đất nhỏ và cũng là người lao động Nhưng trên thực tế họ vẫn bị những thương nhân lớn bóc lột Vì các nông sản dư thừa của họ đều phải bán cho các thương gia, để các người này chuyển ra bán ở các thị trường Trong khi đó, các đại thương gia luôn phải ép giá để mua rẻ và bán rẻ với một giá cao Trong các mối quan hệ bóc lột tiền
tư bản chủ nghĩa ở vùng đất thực dân Anh này, dã man nhất phải kể đến là chế độ
nô lệ Nó được các nhà địa chủ và các nhà tư bản tại các vùng đất thực dân xây dựng lên Chế độ nô lệ có thể chia làm hai loại: một loại là chế độ nô lệ có khế ước của người da trắng và một loại khác là chế độ nô lệ của người da đen Tại những nông trại ở phía nam, người nô lệ da đen bị áp bức hết sức thê thảm Đời sống của
họ còn thua cả trâu ngựa, họ luôn luôn phải lao động dưới roi vọt của những tên giám công Chủ nô có thể tuy tiện ngược đãi nô lệ Cứ vi phạm một tí gì đó thì người nô lệ bị hình phạt trên nhục thể, thậm chí người nô lệ có thể bị giết chết mà không ai làm gì được chủ nô Vì pháp luật luôn bảo vệ quyền lợi của chủ nô Đến thế kỷ thứ 18, chế độ nô lệ da đen có khuynh hướng thay thế dần chế độ khế ước của người da trắng
Chế độ kinh tế xã hội phức tạp trên các vùng đất thực dân, cũng quyết định mối quan hệ giai cấp phức tạp như thế Những cuộc đấu tranh giai cấp đã quán xuyến cả thời đại thực dân ở đây
Tuy nhiên, cư dân sống tại các vùng thực dân ở Bắc Mỹ về mặt chính trị vẫn được hưởng một chế độ dân chủ hội nghị nhất định
2.2 Sự hình thành dân tộc Mỹ
Giai cấp thống trị Anh khai thác vùng đất thực dân tại Bắc Mỹ biến vùng đất này trở thành đối tượng bóc lột, thị trường tiêu thụ hàng hóa công nghiệp và là nơi cung ứng nguyên liệu với giá rẻ
Cuối thế kỷ thứ 17 đầu thế kỷ thứ 18, các nhà công nghiệp Anh cảm thấy công nghiệp ở các vùng đất thực dân có xu thế sẽ cạnh tranh với hàng hóa tại mẫu quốc
Trang 11Anh Chính vì vậy chính phủ Anh lại bắt đầu thực hành chính sách hạn chế công nghiệp ở các vùng thuộc địa Nhưng từ năm 1763 trở về trước, nước Anh do bận rộn theo đuổi những cuộc chiến tranh với Pháp tại các vùng đất thực dân ở các vùng đất thực dân ở Bắc Mỹ cũng như ở một số khu vực khác trên thế giới, nên không đủ người để lo kiểm soát việc thi hành những chính sách trên Nhờ đó, các nhà công thương nghiệp tại vùng đất thực dân Anh ở Bắc Mỹ hầu hết không ai chú ý đến những quy định nói trên Họ vẫn sản xuất ra những mặt hàng mà nước Anh có lệnh cấm, đồng thời, tiến hành buôn lậu một cách đại quy mô không kể gì pháp luật Anh Nhờ đó, sự phát triển công thương nghiệp ở Bắc Mỹ không gặp trở lực bao nhiêu Đến thập niên 60 của thế kỷ thứ 18 nền kinh tế tại vùng đất thực dân ở Bắc Mỹ đã tương đối phồn vinh Mặc dù sản xuất thủ công trong gia đình nông dân vẫn còn chiếm ưu thế tuyệt đối, nhưng cũng đã xuất hiện một số công trường thủ công phân tán
Mặc dù trong cả nền kinh tế nông nghiệp vẫn còn chiếm ưu thế, việc mậu dịch đối ngoại vẫn còn nhập siêu, nhưng sự phát triển của ngành công thương nghiệp tại vùng đất thực dân này đã phát triển đến mức có thể uy hiếp tới chính quốc Đi đôi với sự phát triển của nông nghiệp, công nghiệp và thương nghiệp, giữa các vùng đất thực dân trước đây nguyên ở vào trạng thái cách bức, nay mối liên hệ về mặt kinh tế giữa họ cũng được tăng cường Việc xây dựng những công lộ cũng như việc xác lập
hệ thống bưu chính, đã xúc tiến những mối quan hệ nói trên Giữa 13 vùng đất thực dân đã hình thành một thị trường thống nhất Đi đôi với việc hình thành một thị trường thống nhất đó, về mặt văn hóa giữa các vùng đất thực dân cũng bắt đầu giao lưu và ngày càng sôi nổi hơn Một nền văn hóa cộng đồng cũng đã bắt đầu hình thành Trên cơ sở đó, giữa các cư dân trên các vùng đất thực dân bắt đầu có cảm giác lờ mờ về quyền lợi chung Do vậy, đến giữa thế kỷ thứ 18 các vùng đất thực dân tại Bắc Mỹ đã xuất hiện một dân tộc mới vươn lên – dân tộc Mỹ
Đi đôi với sự hình thành dân tộc Mỹ, sự tự giác về mặt dân tộc cũng bắt đầu tăng trưởng Điều đó thể hiện qua tư tưởng của nhà tư tưởng kiệt xuất Thomas Jefferson và Benjamin Franklin Jefferson cho rằng tôn giáo thuần túy là việc riêng của con người, chống lại việc quốc gia can thiệp vào sự tín ngưỡng tôn giáo, đòi hỏi phải được tự do tín ngưỡng Ông là người theo thuyết “tín bản thiện”, thừa nhận
Trang 12trong ý thức của con người khi sinh ra đã sẵn có nguyên tắc đạo đức Ông cho rằng con người sở dĩ trở thành ác, là do xã hội xấu và do sự ngu muội tạo ra Cho nên ông chủ trương phải dùng giáo dục để gợi mở “ tính bản thiện” mà con người vốn
có Ngoài mặt tư tưởng chính trị do chịu ảnh hưởng của các nhà tư tưởng tại Pháp, ông đã phát huy tư tưởng “ chủ quyền thuộc về nhân dân” Ông cho rằng tất cả quyền lực của chính phủ đều do nhân dân ủy thác Do vậy, mỗi khi chính phủ trở thành quyền lực bạo ngược và làm cho nhân dân bất mãn, thì nhân dân có quyền dùng phương thức cách mạng để lật đổ nó và thay vào đó bởi một chính phủ mới
Tư tưởng này của Jefferson đã trở thành một thứ vũ khí có sức mạnh của nhân dân
Mỹ dùng để chống lại sự thống trị của thực dân Ông còn tin rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, đều tự do và cho rằng đó là quyền lợi tự nhiên của con người, bất cứ chính phủ nào cũng không thể tước đoạt và can thiệp vào những quyền lợi đó của nhân dân Đối với những người dân thông thường ông có một thái độ tín nhiệm vô hạn Ông chủ trương tất cả các vấn đề đều phải thông qua sự bỏ phiếu để biểu quyết của nhân dân, vì ý kiến của đa số người bao giờ cũng đúng Jefferson phản đối chế
độ nô lệ, cho rằng đó là một thứ tội ác, chống lại quyền lợi tự nhiên của con người Ông yêu cầu phải xóa bỏ chế độ đáng xấu hổ đó Trong thời kỳ chiến tranh giành độc lập Jefferson đã trở thành một trong những nhân vật đại biểu chủ yếu của phái dân chủ thuộc giai cấp tư sản Một nhà tư tưởng, một nhà chính trị có tiếng ngang hàng với Jefferson là Benjamin Franklin Ông xuất thân từ tầng lớp dưới, ngay từ lúc nhỏ phải đấu tranh với sự nghèo khó, nên ông luôn ca ngợi sự lao động và khinh miệt những người suốt ngày ăn no mà không dùng vào đâu được Ông đặt câu hỏi: “
Sự nghèo khó trong xã hội do đâu tạo ra?” Ông cho rằng chủ yếu là do những người yêu thích lao động buộc phải đem thành quả lao động đầu tiên của mình chia cho –
đó là điều bất đắc dĩ đối với họ - những người ăn bám và lười biếng Franklin tán tụng nông nghiệp và chống lại công thương nghiệp Nhưng về sau ông lại thay đổi thái độ, bắt đầu hiểu được sự trao đổi trong thương nghiệp có tính tất yếu Đồng thời ông cũng tán thành chủ trương tự do trong thương nghiệp của Adam Smith Điều đó làm ông cảm thấy rất gai mắt trước sự hạn chế thương nghiệp của nước Anh đối với các vùng đất thực dân Nhưng có điều khác hơn những học giả của giai cấp tư sản khác, ông cho rằng “ Hạnh phúc của cá nhân chính là mục đích cuối cùng
Trang 13của xã hội và chính trị” Ông phản đối chế độ tiền lương để cho công nhân chịu đói,
vì đó là sự phá hoại hạnh phúc của cá nhân Franklin phản đối chế độ nô lệ, đòi hỏi phải xóa bỏ nó Ông cũng căm ghét sự kỳ thị chủng tộc Ông là một người theo chủ nghĩa dân chủ của giai cấp tư sản
Từ sự mâu thuẫn tồn tại giữa vùng đất thực dân và mẫu quốc Anh ngày càng trở nên gây gắt, các phong trào đấu tranh ở Bắc Mỹ lên cao, nhiều tổ chức được thành lập khiến cho chính quyền Anh thực sự bị lúng túng Họ đã dựng nên nhiều âm mưu, biện pháp nhằm đàn áp cuộc đấu tranh của những người dân tuy nhiên cũng không làm giảm tinh thần đấu tranh cách mạng của nhân dân Bắc Mỹ Các sự kiện tiêu biểu: ngày 4 tháng 7 năm 1776, công bố trên toàn thế giới bản “ Tuyên ngôn độc lập”, trận đại thắng của quân Mỹ tại Sagatora Lợi dụng mâu thuẫn giữa thực dân Anh và các nước như Pháp, Tây Ban Nha và Hà Lan v.v…để tranh thủ sự viện trợ từ các nước này và thúc đẩy cho cuộc chiến tranh cách mạng đi đến thắng lợi Ngày 3/9/1783, Mỹ và Anh đã ký kết hòa ước tại Paris Nước Anh nhìn nhận nền độc lập của nước Mỹ, đồng thời cắt vùng đất nằm về phía tây của dãy núi Appalachian và phía đông sông Missisippi cho Mỹ
Nhân dân Mỹ đã đấu tranh cho nền chính trị dân chủ Trong thời kỳ chiến tranh giành độc lập, nhân dân Mỹ chẳng những tiến hành một cuộc chiến đấu sống chết với quân Anh, mà còn tiến hành một cuộc chiến đấu hết sức gian khổ để tranh thủ một nền chính trị dân chủ ở trong nước
Nhân dân Mỹ đã đấu tranh vì sự cải cách dân chủ và xã hội – kinh tế Thứ nhất
họ đã tấn công vào chế độ ruộng đất lớn và những hiện tượng tàn dư của chế độ phong kiến, tức đấu tranh để giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân Thứ hai, họ đấu tranh để xóa bỏ chế độ nô lệ người da đen Trong thời kỳ chiến tranh giành độc lập, cuộc đấu tranh của nhân dân Mỹ chống sự thống trị của thực dân Anh cũng đã
đề cao sự giác ngộ của người da đen Thứ ba, đấu tranh để dùng phương thức dân chủ giải quyết vấn đề đất đai ở phía tây vì trước khi nước Mỹ được độc lập, tại nước
Mỹ chỉ có mười ba vùng đất thực dân Những vùng đất thực dân này đều nằm về phía đông của dãy núi Appalachian
Sự đấu tranh giai cấp sau chiến tranh Cuộc chiến tranh giành độc lập đã mang đến một cơ hội phát tài to cho giai cấp tư sản Bọn gian thương tán tận lương tâm đã
Trang 14lợi dụng hoàn cảnh khó khăn trong thời chiến, dùng mọi thủ đoạn để bóc lột nhân dân Ngoài ra, còn rất nhiều thương gia không kể gì đến quyền lợi của dân tộc, đã buôn bán với quân xâm lược Anh và từ đó kiếm được nhiều món béo bở Tương phản với việc giai cấp tư sản nhờ chiến tranh mà phát tài to, còn nhân dân lao động
vì chiến tranh mà đời sống càng thêm nghèo khó Trước tình hình đó đã nổ ra cuộc khởi nghĩa Daniel Shays Ông là một trong những người trắng tay sau chiến tranh Tuy nhiên cuộc khởi nghĩa này bị thất bại
Cuộc chiến tranh giành độc lập ở Bắc Mỹ là một sự kiện lịch sự vĩ đại sau cuộc cách mạng của giai cấp tư sản ở Anh Đó vừa là cuộc cách mạng của giai cấp tư sản, vừa là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vì nó đã lật đổ sự thống trị thực dân Anh, mở một con đường phát triển cho chủ nghĩa tư bản tại Mỹ
II Sự phát triển xã hội học ở Mỹ
Sự xuất hiện và phát triển hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa đã phá vỡ trật tự xã hội phong kiến châu Âu nói chung và dân tộc Mỹ nói riêng, gây ra những biến đổi sâu rộng trong đời sống xã hội Cụ thể như, quan hệ, tương tác và cấu trúc xã hội trở nên phức tạp, mất ổn định gây ra những hậu quả khó lường Vấn đề đặt ra là làm sao lặp lại trật tự, ổn định xã hội? Làm sao giải thích các hiện tượng, các quá trình kinh tế xã hội và giải quyết các vấn đề của thời kỳ khủng hoảng xã hội lúc bấy giờ? Việc trả lời những câu hỏi trên đó chính là nhiệm vụ xã hội học Xã hội học đã ra đời một cách tất yếu
1) Xã hội học thế kỷ XX
Xã hội học thế kỷ XIX, như người ta thường gọi là xã hội học cổ điển Mục tiêu của nó là nêu rõ mục đích và phương pháp của môn học mới, chứng minh hiệu quả của nó trong sự phân tích giải thích các hiện tượng xã hội Tuy nhiên vẫn chưa có
sự phân biệt với các khoa học xã hội khác
Xã hội học thể kỷ XX chủ yếu là xã hội học Mỹ Xã hội học Mỹ bắt nguồn từ những trào lưu tư tưởng của châu Âu, lại ảnh hưởng nhiều tới các nhà xã hội học châu Âu Điều đó không có nghĩa là ở các nơi khác, xã hôi học đã bị đình đốn, thoái hóa hoặc không có ảnh hưởng gì nữa Thế nhưng xã hội học ở các nước châu Âu vẫn nằm trong tình trạng tách rời lẫn nhau, cho tới cuộc chiến tranh thế giới thứ hai vẫn có ít những sự trao đổi tư tưởng
Trang 15Xã hội học Mỹ vào thế kỷ XX có thể chia thành hai thời kỳ Thời kỳ tiên phong bắt đầu với những công trình của các nhà dân tộc học và nhân bản học vào cuối thế
kỷ trước và tiếp tục với những công trình của các nhà xã hội học vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX
Những nhân vật xuất sắc trong thời kỳ này là Frane Boas và L.H.Morgan
Boas là nhà khoa học đầu tiên sống với người da đỏ, học tiếng họ và nghiên cứu lối sống của họ Morgan nêu ra mặt lý luận mới và tiến hóa xã hội Morgan nhấn mạnh tầm quan trọng của những nhân tố kỹ thuật và đã có ảnh hưởng rộng lớn đối với người đọc Giống như Comte và Spencer, ông chia lịch sử loài người thành ba giai đoạn lớn: mông muội, dã man và văn minh, và mỗi giai đoạn ấy lại chia thành
ba giai đoạn nhỏ, tất cả đều được đánh dấu bằng những phát sinh kỹ thuật chủ yếu Đồng thời với việc nghiên cứu các xã hội thời cổ, sự phát triển mạnh mẽ của xã hội hiện đại Mỹ cũng lôi cuốn sự chú ý của nhiều nhà bác học Xã hội học Mỹ bắt đầu
từ thời kỳ ấy
Đặc điểm của xã hội học Mỹ, lúc đầu nó phỏng theo các trào lưu tư tưởng của châu Âu và mang tính chất chiết trung, dần dần xã hội học Mỹ đã mang đặc điểm riêng dưới sự tác động của các ảnh hưởng Thứ nhất, truyền thống cũ của đời sống nông thôn bị thay thế dần bằng sự phát triển của đời sống đô thị và tổ chức công nghiệp trên quy mô lớn khiến của cải quốc gia tăng nhanh Thứ hai, giai đoạn mới của chủ nghĩa tư bản công nghiệp đã đẻ ra một thái độ thực dụng đối với các vấn đề
xã hội Sự kết hợp hai nhân tố ấy đặt ra vấn đề hệ thống giá trị mà các nhà xã hội học phải tuân theo Sự phân hóa của xã hội đã khiến cho xã hội học nhấn mạnh đến những nhóm xã hội nhỏ như là những đơn vị của xã hội Ảnh hưởng thứ ba, di dân
từ khắp nơi tới Vấn đề đặt ra là họ phải thích nghi với những tiêu chuẩn và giá trị của một xã hội khác Từ đó ta thấy tư tưởng và sự điều chỉnh đã đóng một vai trò nhất định trong xã hội học Mỹ
2) Xã hội học ở Mỹ
2.1 Thời kỳ tiên phong
Những người tiên phong trong trường phái xã hội học Mỹ chịu ảnh hưởng của lý luận đang thịnh hành vì chọn lọc tự nhiên và tư tưởng về sự tiến hóa (quan điểm giống như những người châu Âu cùng thời)
Trang 16William Graham Sumner (1840 – 1910) Tác phẩm Phong tục (Folkways) của
ông là cột mốc trong xã hội học Mỹ Đối với ông, sự phát triển của sinh vật là mù quáng, máy móc và không đảo ngược được Mọi ý đồ can thiệp vào sự vận động ấy, chẳng hạn hành động của chính phủ đều vô ích và chống lại trật tự tự nhiên của sự vật Hành vi xã hội phải thích hợp với cuộc đấu tranh để sống còn Hành vi xã hội
có hai loại: Loại thứ nhất là hành vi tập quán, vô ý thức, do quy ước thông thường
và tôn giáo quy định khiến cho cá nhân rất khó, nếu không nói là không thể, chống lại Loại thứ hai là hành vi đạo đức, khi người ta bắt đầu suy nghĩ nó một cách ý thức Đạo đức kết hợp các nhóm xã hội lại với nhau và quyết định cái xấu và cái tốt, cái đúng và cái sai
F.L Ward (1841 – 1913) lại đi theo một khuynh hướng khác Điều đáng chú ý nhất trong xã hội học của ông là vị trí gán cho quá trình xung đột và đối lập xã hội Nếu quá trình có tính chất cố hữu thì phải giải quyết chúng Xã hội không thể hoạt động nếu không có hoạt động thỏa hiệp hay hợp tác Trong một xã hội phát triển, có một quá trình tác động hai mặt: phân biệt và đồng nhất Hai mặt này sẽ giúp điều chỉnh xã hội hoàn hảo
A.W Small (1856 – 1926) có đóng góp nhiều trong việc xây dựng xã hội học thành một môn học ở Mỹ Ông sáng lập ra khoa xã hội học đầu tiên ở trường
Chicagô, sáng lập ra Tạp chí Xã hội học Mỹ (1845) và góp phần sáng lập Hội xã hội học Mỹ Quan điểm lúc đầu ông cho rằng xã hội học là sự nghiên cứu và phân tích
các cơ cấu và các chức năng xã hội, theo tư tưởng xã hội học tĩnh của Comte Ông sớm từ bỏ quan điểm đó để có một quan điểm động hơn nhằm tới một sự nghiên cứu có tính chất lịch sử mà mục tiêu của nó là nhận thức quá trình phát triển và biến đổi xã hội Trong đó những mối tương quan giữa các nhóm xã hội khác nhau và đấu tranh giai cấp giữ vị trí nổi bật Ông cũng coi nhóm xã hội như là một đơn vị mà xã hội học phải tập trung chú ý vào
F.H Giddings (1855 – 1931) Ông đã phát triển lý luận của mình về “ý thức loài” Nhờ nhân tố ấy, người ta nhận ra mình cùng một loài và kết thành một đơn vị
so sánh có tổ chức Tin vào những so sánh có tính chất tiến hoá và sinh hoạt thời đó, ông muốn vạch ra các giai đoạn phát triển từ những thời kỳ bản năng của tuổi trẻ thơ giống nòi đến những tiêu chuẩn xã hội đòi hỏi phải tuân theo và thích nghi Đối
Trang 17với ông, cũng như với Ward, xã hội phải đi qua các giai đoạn tranh đua và đấu tranh
để sống còn, tới sự dung thứ và hợp tác Kỷ luật là cần thiết để duy trì đời sống xã hội Điều đó lập tức dẫn đến quan niệm cho rằng trong xã hội thường xuyên hình thành ra một lớp ưu đẳng mà ông gọi là “protocracy”, bao gồm những cá nhân mà
có những ưu thế được thừa nhận và hành động như những lãnh tụ của xã hội Ông là một trong những người đầu tiên cho rằng xã hội học là một khoa học phải dùng phương pháp thống kê, cũng như xã hội học phải có tính chất tâm lý nhưng không được trở thành tâm lý học
Từ quan niệm đó, “tâm lý học xã hội” về sau phát triển thành một ngành xã hội học mà ba người tiêu biểu cho phương hướng mới ấy là E.A.Ross (1866 – 1951), C.H.Cooley (1864 – 1929) và C.A.Ellsworth (1873 – 1946) Ross là người đầu tiên dùng thuật ngữ “tâm lý học xã hội” trong một tác phẩm của ông Trong những tác phẩm xã hội học đầu tiên của mình, ông đưa ra khái niệm “sự kiểm soát xã hội” - một khái niệm cơ sở trong xã hội học Nhưng khác với phần lớn các nhà xã hội học khác, họ dùng khái niệm này để chỉ sự trừng phạt mà xã hội dùng để cưỡng chế cá nhân Ross tin rằng mỗi cá nhân do những cảm giác bẩm sinh sẽ tự kiểm soát lấy mình Tâm lý học xã hội là sự nghiên cứu về sự kiểm soát ấy Trong xã hội học, theo ông, đối tượng chủ yếu là “quá trình xã hội” Đó không phải là sự phát triển của xã hội mà là nhân tố nguyên nhân trong mọi liên hệ của con người
Tính chất tâm lý học của xã hội học còn rõ hơn trong tác phẩm của Cooley
Trong tác phẩm Bản chất con người và trật tự xã hội, Cooley cho rằng con người
chỉ có thể phát triển cá tính của mình, “bản chất” của mình giữa xã hội Mỗi “ego”
là một “tấm gương soi”, nó chỉ tự nhìn thấy mình như nó hiện ra với những người
khác và trong những cách nhìn của người khác Trong tác phẩm “Tổ chức xã hội”,
Cooley đưa ra và phát triển một khái niệm khác: “nhóm ban đầu” Đó là nhóm có những liên hệ chặt chẽ và thân thiết như gia đình, láng giềng, Những kinh nghiệm
do các nhóm ban đầu thu nhận được là những kinh nghiệm quan trọng nhất, căn bản nhất của con người và mọi lý tưởng lớn lao về đời sống chỉ có thể có được và mạnh lên do sự tồn tại của các nhóm ấy Cooley tin tưởng sâu sắc rằng xã hội học trước hết phải nghiên cứu hiện tượng nhóm, mà để hiểu nó, cần phải có trực giác của
Trang 18nghệ sĩ và sự quan sát của nhà khoa học Ông nghi ngờ sự thâm nhập ngày càng tăng của thống kê học vào những nghiên cứu xã hội học
Giống như Cooley, Ellwood cho rằng tâm lý học và xã hội học phải kết hợp với nhau, không chỉ vì sự thuận tiện mà là do sự tất yếu Nhưng Ellwood chú ý đến một phạm vi rộng hơn Ông cũng cho rằng những phương pháp của khoa học tự nhiên
và của thống kê học không đủ để đưa lại một sự hiểu biết riêng về đời sống xã hội
Cá nhân trong xã hội có một vai trò trong việc sản sinh ra ý thức xã hội Vai trò ấy chỉ được hiểu theo quan điểm nguồn gốc lịch sử và văn hóa của xã hội mà cá nhân
là thành viên Ông cũng tin vào sức mạnh của truyền thống nào mà những nhóm ban đầu là phương tiện truyền thụ Mọi biến đổi xảy ra trong xã hội là kết quả của những tác động lẫn nhau giữa những thành viên của các nhóm với nhau; những tác động ấy gọi là những “giao lưu” và đó là những yếu tố quan trọng nhất trong sự phát triển xã hội
Có lẽ G.H.Mead (1883 – 1930) là người có ảnh hưởng nổi bật nhất đối với xã hội học Mỹ Trước và sau Mead, không có ai đã tổng hợp được cá nhân, trong mọi trạng thái sinh vật và tâm lý của nó với xã hội Trong khi phương pháp của ông là phương pháp của chủ nghĩa hành vi, theo nghĩa hành vi con người có thể được coi
là những sự phản ứng đối với môi trường, nhưng khác với những người theo chủ nghĩa hành vi, ông coi những nhân tố xã hội quyết định ý thức cá nhân Mọi kích thích và cố gắng về mặt sinh vật của con người (ông không bao giờ nói đến bản năng) đều được nhào nặn bởi sức ép xã hội Như vậy, mỗi hành vi tức thời của cá nhân bao gồm những ý nghĩ của nó, đều bị vai trò xã hội của nó khống chế
Với những nhà tiên phong ấy, xã hội học Mỹ đã xây dựng vững chắc với những đặc điểm và phương hướng riêng Có thể nói vắn tắt là nó có tính chất từng mảnh và
đó là mặt mạnh cũng như mặt yếu của nó Nó tránh được tình trạng tư biện của xã hội học châu Âu Nó không bám rễ sâu vào lịch sử mà chủ yếu là hướng về phía trước
Giai đoạn đầu Xã hội học Mỹ mang đặc điểm trào lưu tư tưởng của châu Âu (chủ yếu là tư tưởng sinh học), sau đó có hướng phát triển riêng theo “tâm lý học
xã hội” Tuy nhiên nhìn chung xã hội học Mỹ thời kỳ này mang tính triết học của chủ nghĩa thực dụng Đối với quan điểm triết học thực dụng, mọi ý định đi tới chân
Trang 19lý tuyệt đối đều vô ích, chỉ có vấn đề thực nghiệm và đổi mới là tiêu chuẩn để đo mọi bước tiến của nhận thức Vì thế trong thời kỳ này các nhà xã hội học không bao giờ băn khoăn về những nguyên tắc cơ sở lý luận của nó, mà chỉ tin vào việc đi tới một mức độ quyền lực mang tính ứng dụng lớn hơn
2.2 Các nhà xã hội học Mỹ tiêu biểu
Vào đầu những năm hai mươi của thế kỷ XX, xã hội học Mỹ đã vượt qua thời
kỳ đầu tiên với những nhà tiên phong mạnh mẽ của nó Thời kỳ tiếp theo – thời kỳ
trưởng thành diễn ra hết sức gập ghềnh
Những bước trưởng thành trong xã hội học Mỹ hiện đại: nhấn mạnh sự cần thiết phải có một cơ sở vững chắc để xã hội học trở thành một khoa học W.I.Thomas (1863 -1947) khẳng định sự cần thiết tuyệt đối của việc dùng những phương pháp khoa học trong xã hội học, nhưng đồng thời ông không coi nhẹ những khó khăn của việc nghiên cứu xã hội theo lối thực nghiệm Kế đến sự phát triển trong xã hội học
Mỹ được đánh dấu bằng các công trình nghiên cứu ở cấp độ vĩ mô Các nhà xã học đại diện: P.A.Sorokin, Vilfredo Pareto, T.Parsons, R.K.Merton Các quan điểm này lấy cấu trúc vĩ mô làm trung tâm, góp phần phát triển xã hội học Mỹ Các quan điểm đó sẽ được phân tích trong phần bài kế tiếp
Sự phát triển theo một hướng khác này tạo ra cho xã hội học hiện đại Mỹ một sự phức tạp với nhiều khuynh hướng nghiên cứu khác nhau
Nhìn chung lại, cho đến Chiến tranh thế giới thứ hai, xã hội học ở Mỹ đã bị phá sản, rời rạc và quá nhiều tham vọng trong khi nó thiếu cơ sở lý luận và nhận thức triết học Những dấu hiệu âm ĩ của một sự đối lập trong xã hội học Mỹ đã bắt đầu nổi rõ lên, đó là sự đối lập giữa thực nghiệm và lý luận, giữa xã hội học vi mô và xã hội học vĩ mô Sự đối lập ấy mang nhiều hình thức
Chiến tranh thế giới thứ hai làm cho sự đối lập ấy mạnh hơn Việc nghiên cứu
xã hội học được tiến hành cả trong lẫn ngoài các cơ quan khoa học Không những các cơ quan chính phủ, đặc biệt là bộ quốc phòng mở rộng phạm vi nghiên cứu, mà
cả các công ty cũng mở ra con đường nghiên cứu mới Công nghiệp dùng một phần lợi nhuận khổng lồ của mình để đầu tư cho việc nghiên cứu xã hội học Tuy nhiên quan niệm về nghiên cứu xã hội học cũng có những vấn đề đối lập như người thì coi
xã hội học là một khoa học chỉ trong trường hợp nó có tính chất số lượng, người thì
Trang 20tin rằng sự lý giải về chất lượng là điều chủ yếu trong xã hội học Người này coi xã hội học là sự nghiên cứu chật hẹp, hạn chế về những đề tài từng mảng ít có ý nghĩa, người khác lại nhìn xã hội học theo một quan điểm triển vọng rộng lớn mà đối tượng của nó là nhận thức những mối liên hệ giữa các bộ phận của cái toàn thể Người này cho xã hội học là một khoa học thực tiễn mà các mô hình khoa học về toán học là cần thiết, người khác coi đó là một khoa học nhân văn
3) Trường phái xã hội học Mỹ
3.1 Trường phái Chicago
Phân khoa xã hội học ở trường Đại học Tổng hợp Chicago được sáng lập năm
1892 bởi Albion Small Tác phẩm của Small đương thời không quan trọng bằng vai trò chủ chốt của ông trong việc thể chế hóa xã hội học Mỹ Ông là người sáng lập ra phân khoa xã hội học ở Chicago, mà sau đó trở thành một trung tâm của bộ môn trong nhiều năm Small cộng tác trong việc soạn các sách giáo khoa xã hội học đầu tiên năm 1894 Năm 1895 ông sáng lập tạp chí xã hội học Mỹ, một tờ tạp chí vẫn còn là một lực lượng hàng đầu của bộ môn Năm 1905, Small cũng đồng sáng lập Hiệp hội xã hội học Mỹ, một tổ chức nghề nghiệp của các nhà xã hội học Mỹ cho đến nay
Phân khoa đầu tiên ở Chicago có nhiều đặc điểm riêng biệt Trước hết nó có quan hệ mật thiết với tôn giáo Một vài thành viên cũng là mục sư, một số khác là con cái các mục sư Small tin rằng mục tiêu cuối cùng của xã hội học về bản chất phải là đạo Thiên chúa Ý kiến này đưa tới quan điểm cho rằng, xã hội học phải chú
ý tới cải cách xã hội, và quan điểm này kết hợp niềm tin rằng xã hội học phải có tính khoa học Xã hội học với đối tượng là cải cách xã hội phải được thực hành tại thành phố mới Chicago – nơi đang bao phủ bởi các ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của sự đô thị hoá và công nghiệp hóa
Sự đóng góp đầu tiên của khoa xã hội học Chicago, W I Thomas (1863- 1947) Năm 1895, Thomas trở thành thành viên của khoa xã hội học Chicago, nơi ông đã công bố luận án tiến sĩ vào năm 1896 Ảnh hưởng lâu dài của Thomas là ở sự đề cao của ông vào việc cần thiết thực hiện nghiên cứu khoa học trong các vấn đề xã
hội học Điều này được đánh dấu vớí sự xuất bản cuốn Nông dân Ba Lan ở châu Âu
và Mỹ, cuốn mà Thomas là đồng tác giả với Florian Znaniecky Cuốn sách là sản
Trang 21phẩm của tám năm nghiên cứu ở châu Âu và Mỹ Đó là một cuộc khảo sát về sự vô
tổ chức của người dân di cư Ba Lan Mặc dù nghiên cứu này không cho dữ liệu có tầm quan trọng lâu dài nhưng tác phẩm đã cung cấp một phương pháp luận quan trọng Martin Bulmer xem đây là một nghiên cứu có tính chất “bước ngoặt” vì nó tách xã hội học ra khỏi “lý thuyết trừu tượng, nghiên cứu hàn lâm và hướng tới nghiên cứu thế giới thực nghiệm tạo ra một nền tảng lý thuyết tiện ích” Nobert Wiley coi tác phẩm này giữ vai trò chủ chốt đối với việc thành lập khoa xã hội học theo nhận thức “sàng lọc khối tri thức hợp nhất mà chỉ có bộ môn này có thể nhìn thấy và khám phá” Trong quãng đời sự nghiệp của mình, Thomas nghiêng về định hướng tâm lý – xã hội (trong một cuốn sách đồng tác giả với Dorothi Thomas): “ Nếu người ta xác định các hoàn cảnh như là thực tại, chúng là thực tại trong bối cảnh của chúng” Sự nhấn mạnh vào tầm quan trọng của cái mà mọi người và ảnh hưởng của nó tới việc làm của họ ra sao Tiêu điểm về một thứ tâm lý – xã hội vi
mô này trái ngược với cấu trúc – xã hội vĩ mô và viễn cảnh xã hội – văn hóa của các học giả Âu châu như Marx, Weber và Durkheim Nó trở thành một trong các đặc điểm xác định sản phẩm lý thuyết của trường phái Chicago - thuyết tương tác biểu tượng
Một đóng góp tiếp theo cho trường phái Chicago là Robert Park (1864 – 1944), Park đã đến Chicago như một giáo viên thỉnh giảng năm 1914 và nhanh chóng giữ vai trò trung tâm ở phân khoa Giống như Small, tầm quan trọng lâu dài của Park không đơn giản do những đóng góp tri thức của ông Sự quan trọng đó nằm ở nhiều lĩnh vực Thứ nhất ông trở thành nhân vật hàng đầu của phân khoa Chicago Thứ hai Park đã học ở châu Âu và ông đã mang các tư tưởng tới các nhà xã hội học Chicago Park đã theo khóa giảng của Simmel, và tư tưởng của Simmel, là sự tập trung của ông vào hành động và tương tác Đây là định hướng lý thuyết trường phái Chicago Thứ ba ông thể hiện trách nhiệm đối với khoa học xã hội và sự nghiên
cứu, khảo sát trên một diện rộng các hiện tượng xã hội thông qua tác phẩm “Một giới thiệu về khoa học xã hội học” do ông và Ernest W Burgess xuất bản năm
1921 Điều này được hiểu bởi vì trước khi trở thành nhà xã hội học, Park đã từng là một báo cáo viên, kinh nghiệm này tạo cho ông một nhận thức về tầm quan trọng của các vấn đề đô thị và sự cần thiết phải đi sâu vào lĩnh vực này để thu thập các dữ
Trang 22liệu qua các quan sát cá nhân Bên cạnh đó Park đóng vai trò chủ yếu trong việc hướng dẫn các nghiên cứu sinh và giúp họ phát triển một “chương trình tích lũy các khảo sát tốt nghiệp”
Xã hội học Chicago lên tới đỉnh cao trong những năm 1920, nhưng tới đầu những năm 1930, sau cái chết của Mead và sự ra đi của Park, phân khoa bắt đầu mất đi vị trí quan trọng trung tâm trong xã hội học Mỹ Fred Matthews vạch ra nhiều lý do cho sự suy sụp này, trong đó có hai lý do có vẻ quan trọng nhất
Thứ nhất, phân khoa ngày càng bị xâm chiếm bởi khoa học, đó là việc sử dụng các phương pháp phức tạp và khai thác các phân tích thống kê Tuy nhiên, trường phái Chicago được coi là đề cao các nghiên cứu mô tả dân tộc học, thường tập trung vào các định hướng cá nhân (các định nghĩa hoàn cảnh) về đề tài Park đã tiến dần đến chỗ bất chấp các số liệu thống kê Ông cho rằng dường như các số liệu thống kê ngăn cản việc phân tích đề tài, đặc tính, sự riêng biệt Phương pháp định lượng được thực hiện ở Chicago có xu hướng bị phớt lờ do bị lấn áp bởi các phương pháp định tính
Thứ hai, ngày càng có nhiều nhà xã hội học bên ngoài trung tâm Chicago phản
đối sự thống trị của Chicago ở cả Hiệp hội xã hội học Mỹ và tờ Tạp chí xã hội học
Mỹ Hiệp hội xã hội học miền Tây được thành lập năm 1930 và các nhà xã hội học
miền Tây ngày càng phản đối mạnh mẽ hơn về sự thống trị của khu vực giữa miền Tây nói chung và của Chicago nói riêng Năm 1935, sự phản kháng lại Chicago chuyển sang công kích một thư ký hiệp hội không phải là người Chicago và sự
thành lập một tờ báo chính thức mới, tờ Điểm tin xã hội học Mỹ Theo Wiley, “
trường phái Chicago đã ngã xuống như một gốc sồi già”
Thay vào đó là sự phát triển của các trường phái khác, đáng chú ý là trường phái Harvard và Ivy League nói chung
3.2 Sự xuất hiện xu hướng nghiên cứu mới
Chúng ta có thể theo dõi sự ra đời của xã hội học ở Harvard vào năm 1930 với những nhà xã hội học tiêu biểu như Pitirim Sorokin và Talcolt Parson
Pitirim Sorokin (1889 – 1968) viết rất nhiều và phát triển một lý thuyết đồ sộ
về độ phức tạp và phạm vi Điều này được thể hiện trong tác phẩm Các động lực xã hội và văn hóa gồm 4 tập được xuất bản giữa năm 1937 và 1941 Trong đó, Sorokin
Trang 23đưa ra một loạt dữ liệu thực nghiệm để phát triển một loạt các lý thuyết chung về các thay đổi xã hội và văn hóa Ông giải thích về sự biến đổi xã hội dựa vào lý thuyết chu kỳ, điều này trái với lý thuyết tiến hóa Ông xem các xã hội dao động
trong ba kiểu trạng thái tâm lý: cảm giác, hình tượng, duy tâm Rõ ràng đây là
những khái niệm rất trừu tượng và lý thuyết này rất phức tạp Tuy nhiên các tác phẩm của ông ngày nay ít được trích dẫn Lý thuyết của ông không đứng vững trước thử thách của thời gian Vai trò lớn nhất của Sorokin không phải nằm ở lý thuyết mà ở chỗ ông đã sáng lập ra phân khoa xã hội học Harvard và phát hiện ra Talcott Parsons
Talcott Parsons (1902 – 1979) đóng góp chính của Parsons trong thời kỳ đầu là
ảnh hưởng của ông đối với các nghiên cứu sinh mà những người này về sau là những lý thuyết gia xã hội học đáng chú ý
Một ảnh hưởng lớn đến xã hội học Mỹ lúc bấy giờ, cũng như trường phái
Harvard là tác phẩm Cấu trúc của hành động xã hội Tư tưởng cơ bản của lý luận
này là hành động xã hội phải được coi như một hệ thống hành vi Đó là một hệ thống thích hợp bao gồm nhiều bộ phận khác nhau có thể nghiên cứu trong mối tương quan của chúng Trong mỗi hệ thống hành vi, chúng ta có “ người hành động” và sẽ được hướng dẫn bởi những biểu trưng, giá trị Theo ông trong mỗi hệ thống hành vi có những nhân tố như: người hành động, hoàn cảnh và phương hướng của người hành động Trong đó phương hướng gồm phương hướng động cơ và phương hướng giá trị Trên cơ sở đó, Parsons xây dựng ba hệ thống phân tích: hệ thống xã hội, hệ thống cá nhân và hệ thống văn hóa Trong xã hội học của Parsons, thể chế là tiêu điểm của nó, bởi vì sự hoạt động có hiệu quả của các thể chế là một điều kiện của sự ổn định xã hội Do đó lý luận xã hội phải nghiên cứu sự thể chế hoá Thể chế hoá tạo nên quan hệ giữa một bên là xã hội và văn hoá và một bên kia
là cá nhân và động cơ Parsons còn nêu lên những sự lựa chọn của các cá nhân và trạng thái tiêu chuẩn của đời sống xã hội
Mới đầu Parsons được xem là một lý thuyết gia hành động Ông dường như tập trung các tác nhân hành động và các ý nghĩ, hành động của họ Nhưng, cùng với tác phẩm năm 1937 và các tác phẩm sau đó, Parson tỏ ra là một nhà lý thuyết chức năng - cấu trúc hơn, tập trung vào các hệ thống xã hội và văn hóa vĩ mô
Trang 24Các công bố chính của Parsons về lý thuyết chức năng - cấu trúc từ những năm
1950 trong nhiều tác phẩm, đáng chú ý nhất là Hệ thống xã hội (1951) Parsons có
xu hướng tập trung vào cấu trúc xã hội và mối liên quan giữa chúng với nhau Hơn thế nữa là Parson đi theo một quan điểm tân tiến hóa về biến đổi xã hội Ông không chỉ tập trung vào bản thân hệ thống xã hội mà cả quan hệ của nó đối với hệ thống hành động khác, đặc biệt là các hệ văn hóa và hệ tư tưởng
Tuy nhiên, tác phẩm của ông cũng có một số ảnh hưởng tiêu cực Trước hết, ông đưa ra những diễn giải về các lý thuyết gia châu Âu nhưng hình như lại phản ánh định hướng lý thuyết của riêng ông hơn là của họ Nhiều nhà xã hội học Mỹ do đó tiếp xúc với các công trình của các bậc thầy châu Âu một cách sai lầm về cơ bản Thứ hai, Parsons ngay từ đầu hoàn toàn không chú ý đến lý thuyết của Marx, kết quả là lý thuyết Marx trong nhiều năm nằm ngoài lề xã hội học Thứ ba, lý thuyết của chính ông sau khi phát triển nhiều năm đã có một số yếu điểm nghiêm trọng
Vilfredo Pareto (1848 – 1923) Tư tưởng trung tâm của Pareto là quan niệm của
ông coi xã hội như một hệ thống nằm trong trạng thái thăng bằng bao gồm những
bộ phận lệ thuộc nhau Sự thay đổi của bộ phận này sẽ đụng tới bộ phận khác và tới toàn bộ Ông dùng thuật ngữ vật lý và sinh học để mô tả các lực lượng xã hội tác động đến các cá nhân trong xã hội Quan điểm của ông về các lực lượng hoạt động trong xã hội là dựa trên sự phân biệt giữa hành động logic và hành động không logic Hành động logic là một hành động được quy định một cách khách quan, đạt được bằng một sự hiểu biết khoa học đúng nhất Mọi hành động khác đều là không logic và chúng chiếm ưu thế trong đời sống xã hội Khuynh hướng của người ta trong xã hội là biện bạch những hành động của mình bằng việc đề ra những lý luận không logic mà người ta coi là logic Theo Pareto, không phải con người suy nghĩ
và đề ra lý luận trước, rồi sau đó mới hành động, hoàn toàn ngược lại, người ta hành động trước rồi sau đó mới hợp lý hóa Lý luận của Pareto thu hút, được sự ủng hộ của George Homans - một nhân vật trong trường phái Harvard Theo Homans lý luận của Pareto là một thứ tự vệ cho bản thân ông
Ở đây điểm chủ yếu là trường Đại học Tổng hợp Harvard và sản phẩm lý thuyết chủ yếu của nó, thuyết chức năng - cấu trúc trở thành cái nổi bật nhất trong xã hội
Trang 25học cuối những năm 1930, thay cho trường phái Chicago và thuyết tương tác biểu tượng
Tóm lại: Với sự khái quát các thời kỳ và các trường phái xã hội học Mỹ, cho ta thấy được vị trí lịch sử của tư tưởng G.H.Mead và của thuyết tương tác biểu tượng
Trang 26Chương 2: CÁC Ý TƯỞNG CỦA GEORGE HERBERT MEAD
I Tóm tắt tiểu sử của George Herbert Mead
Phần lớn các lí thuyết gia đạt được sự thừa nhận lớn nhất trong cuộc đời vì những tác phẩm đã công bố của họ Tuy nhiên, George Herbert Mead quan trọng trong cuộc đời của ông, vì sự nghiệp giáo dục cũng như trước tác của ông Tác phẩm của ông có một sức tác động mạnh mẽ đến nhiều người, về sau trở nên những nhà xã hội học quan trọng trong thế kỷ XX Như một trong những sinh viên của ông nói, “Đối thoại chính là phương tiện truyền đạt tốt nhất của ông, việc viết lách chỉ đứng hàng thứ hai” Chúng ta hãy xem một học trò khác của ông, bản thân cũng là một nhà xã hội học nổi tiếng - Leonard Cottrell - diễn tả cung cách giáo sư của ông:
Đối với tôi, khóa học với Giáo sư Mead là một kinh nghiệm duy nhất và không thể nào quên được… Giáo sư Mead là một người to lớn, hòa nhã, dễ nhìn, có một bộ ria tuyệt diệu và một hàm râu kiểu Vandyke Tính cách ông nhân từ, có một nụ cười hơi e thẹn cùng với ánh lấp lánh trong đôi mắt như thể ông đang thú vị với một trò đùa bí mật ông ngầm chơi với đám khán giả của ông…
Khi ông giảng, luôn luôn không có sổ ghi chú, Giáo sư Mead thường cầm một viên phấn và nhìn nó một cách đăm chiêu… Khi ông giảng tới một điểm đặc biệt tế nhị trong bài, ông thường thoáng nhìn lên và gửi qua đầu chúng tôi một nụ cười e thẹn, hầu như hối lỗi, chứ chả bao giờ nhìn vào một ai
cả Bài giảng của ông trôi chảy và chúng tôi sớm hiểu rằng các câu hỏi hay nhận xét trong lớp không được hoan nghênh Thật ra, nếu có ai đó can đảm đặt một câu hỏi, liền có ngay một chuỗi lầm bầm phản đối của đám sinh viên Họ phản đối bất cứ cái gì cắt ngang dòng chảy quý như vàng đó
Kỳ vọng của ông vào đám sinh viên rất khiêm tốn Ông không bao giờ ra bài thi Công việc chính của chúng tôi là ghi chép những gì hiểu được vào một
tờ giấy nếu có thể Những tờ này được giáo sư Mead đọc một cách cẩn thận, và những gì ông nghĩ về tờ giấy của bạn chính là thứ hạng của bạn trong khóa giảng Người ta có thể cho rằng những sinh viên có thể đọc tư liệu để làm bài chứ không cần dự lớp nhưng không phải như thế Sinh viên luôn luôn đến Họ chẳng bao giờ thấy đủ với Mead
Trang 27Qua nhiều năm, nhiều tư tưởng xã hội học của Mead được xuất bản, đặc biệt là
cuốn Trí tuệ, Bản ngã và Xã hội Cuốn sách này và nhiều tác phẩm khác của Mead
đã có một ảnh hưởng mạnh mẽ đến xã hội học đương thời
Ra đời ở Nam Hadley, Massachusetts ngày 27/2/1863, Mead được đào tạo chủ yếu về triết học và các ứng dụng của nó đối với tâm lí học xã hội Ông nhận bằng
cử nhân từ trường Cao đẳng Oberlin (nơi bố ông làm giáo sư) năm 1833, và sau một vài năm làm giáo viên trung học phổ thông, giám thị cho các công ty hỏa xa, gia sư, Mead bắt đầu làm nghiên cứu sinh ở Trường Đại học Harvard năm 1887 Sau vài năm nghiên cứu ở Trường Đại học Harvard, cũng như ở Trường Đại học Leipzig và Berlin, Mead được đề nghị một chức trợ giảng ở Trường Đại học Michigan năm
1891 Năm 1894, với lời mời của John Dewey, ông chuyển tới Trường Đại học Chicago và ở lại đó đến cuối đời Ngoài việc dạy học và các hoạt động học giả, Mead rất tích cực về chính trị, đặc biệt trong phong trào cải cách ở Chicago
George Herbert Mead qua đời ngày 26/4/1931
II Nguồn gốc tri thức trong tác phẩm của Mead
G.H.Mead là một trong những nhà xã hội học tiên phong thời kỳ đầu của xã hội học
Mỹ Đặc điểm tri thức của ông mang đặc điểm xã hội học thời kỳ này, triết học chủ
nghĩa thực chứng và khẳng định chủ nghĩa hành vi theo hướng “tâm lý học xã hội” 1) Chủ nghĩa thực dụng (pragmatism)
Những người theo chủ nghĩa thực chứng hiện thực chân chính không tồn tại “ở ngoài kia” trong thế giới hiện thực mà nó được sáng tạo một cách chủ động khi chúng ta hành động trong và hướng về thế giới
Người theo chủ nghĩa thực chứng nhớ và đặt cơ sở cho kiến thức của họ về thế giới trên cái đã được chứng minh là có ích cho họ Họ có khuynh hướng muốn thay đổi cái không còn “ hiệu quả” nữa
Người theo chủ nghĩa thực chứng xác định các “đối tượng” xã hội và vật lý mà
họ bắt gặp trên thế giới theo công dụng của chúng đối với họ
Do đó để hiểu được các actor, chúng ta phải đặt các cơ sở nhận thức đó trên cái
mà các actor thật sự thực hiện trên thế giới
Tuy nhiên trong khái niệm chủ nghĩa thực chứng được David Lewis và Richard Smith phân biệt chủ nghĩa hiện thực triết học (gắn với Mead) và “chủ nghĩa thực
Trang 28dụng duy danh” (gắn liền với Dewey và James) Lập trường duy danh là mặc dù các hiện tượng cấp độ vĩ mô tồn tại, tuy nhiên chúng không có “các ảnh hưởng độc lập
và quyết định lên ý thức, hành vi của các cá thể” Một cách thực chứng hơn, quan điểm này nhận thức bản thân các cá thể như là các chức năng tự do tồn tại, chấp nhận, từ chối, bổ sung hay bằng cách khác, “xác định các tiêu chí, vai trò, niềm tin, v.v… của tập thể, theo các quan tâm và kế hoạch cá nhân của chính họ vào thời điểm đó” Trái lại, đối với các nhà hiện thực xã hội, sự nhấn mạnh là ở xã hội và cách thức nó thiết lập và kiểm soát các quá trình tinh thần cá thể ra sao Các chức năng tự do, các actor và ý thức, hành vi của họ được kiểm soát bởi cộng đồng lớn
sở của chủ nghĩa hành vi, Mead không muốn chỉ đơn giản triết lý về các hiện tượng ngấm ngầm này Đúng hơn ông tìm cách mở rộng khoa học mang tính thực nghiệm
về chủ nghĩa hành vi đối với chúng Và như vậy, khái niệm hành động trong lý luận của Mead bao gồm các khía cạnh công khai của hành động cũng như các khía cạnh ngấm ngầm (sự chú ý, sự nhận thức, sự tưởng tượng, suy lý, cảm xúc, v.v…)
Trong khi các nhà hành vi học cấp tiến có xu hướng không thấy có gì khác biệt
về hành vi giữa loài người và loài thú Mead lý luận rằng, có những khác biệt quan trọng về phẩm chất Sự khác biệt này chủ yếu là do con người có tính chiếm hữu và năng lực tinh thần, cho phép họ sử dụng ngôn ngữ giữa sự kích thích và sự phản ứng để quyết định cách thức phản ứng
Charles Morris, trong lời giới thiệu cuốn Trí tụê, Bản ngã và Xã hội đã liệt kê ba
khác biệt cơ bản giữa Mead và Watson
Trang 29Mead coi lý luận của Watson về hành vi là quá đơn giản khi tách hành vi ra khỏi bối cảnh xã hội rộng lớn, trong khi Mead muốn xử lý hành vi như là một bộ phận nhỏ của thế giới xã hội lớn
Mead cho rằng Watson về việc không sẵn sàng mở rộng thuyết hành vi vào các quá trình tinh thần Watson không nhận thức được về các quá trình ý thức và tinh thần của các actor Mead đối lập viễn cảnh của ông với của Watson: “ Nó có tính chất hành vi luận, nhưng không giống như hành vi chủ nghĩa của Watson, nó nhận
ra các thành phần của hành động không biểu hiện ra cho sự quan sát bên ngoài” Cụ thể hơn, Mead xem nhiệm vụ của ông là mở rộng các nguyên tắc của thuyết hành vi của Watson để bao gồm cả các quá trình tinh thần
Mead tán thành một hình ảnh năng động và sáng tạo của các actor trong khi thực hiện hành động của bản thân, chính vì điều này mà Mead không đồng ý với Watson khi Watson đưa ra hình ảnh thụ động của các actor và chối bỏ trí tuệ của các actor
III Các ý tưởng của George Herbert Mead
1) Sự ưu tiên của tính chất xã hội
Đối với Mead, xã hội hay nói rộng hơn là tính chất xã hội được coi là ưu tiên trong phân tích của Mead
Theo quan điểm của Mead, tâm lý học xã hội truyền thống bắt đầu với tâm lý học cá nhân nhằm giải thích những kinh nghiệm xã hội Trái lại, Mead luôn tạo ưu tiên cho thế giới xã hội trong việc nhận thức kinh nghiệm xã hội Mead giải thích quan điểm ưu tiên cho tính xã hội của ông trong việc làm rõ khái niệm hành vi của nhóm xã hội Hành vi của nhóm xã hội không phải là hành vi của một số cá thể tách biệt trong nhóm mà ở đây hành vi nhóm được xem xét trong tổng thể xã hội Tổng thể xã hội đến trước trí tuệ cá thể cả về mặt logic và về mặt thời gian Trong lý thuyết của Mead không thể có một cá thể tự ý thức, tư duy nếu không có một nhóm
xã hội có trước Nhóm xã hội đến trước, và nó dẫn tới sự phát triển của các trạng thái tinh thần tự ý thức
2) Hành động
Trang 30Mead coi hành động là “đơn vị cơ bản” nhất trong lý thuyết của ông Trong việc phân tích hành động, Mead đi đến gần nhất cách tiếp cận hành vi các tiêu điểm về kích thích và phản ứng của actor
Mead nhận dạng bốn giai đoạn cơ bản và có tính chất tương hỗ nhau trong hành động: bốn giai đoạn này có quan hệ biện chứng với nhau
2.1 Giai đoạn đầu tiên là sự thôi thúc, bao gồm một “kích thích tức thời mang tính
cảm giác”, và phản ứng của các actor đối với kích thích, nhu cầu làm một việc gì đó
về nó Sự đói là một ví dụ Actor (cả người và thú) có thể phản ứng ngay lập tức và không suy nghĩ về sự thôi thúc, trong trường hợp này là sự đói Tuy nhiên các actor con người sẽ nghĩ về phản ứng thích hợp Trong việc suy nghĩ về một phản ứng, cá nhân sẽ xem xét không chỉ hoàn cảnh trước mắt mà cả các kinh nghiệm quá khứ và hậu quả dự đoán ở tương lai của hành động
Sự thôi thúc có thể xuất phát từ trạng thái nội tại của actor hay sự thôi thúc này
có được là do điều kiện tác động bên ngoài Ví dụ như là sự đói có thể xuất phát từ bản thân actor hoặc có thể bị khơi gợi do sự hiện diện của thức ăn trong môi trường hoặc do cả hai yếu tố đó dẫn đến sự thôi thúc Sự đói này ảnh hưởng đến những vấn
đề liên quan đến môi trường mà các actor cần giải quyết đó là sự thiếu thức ăn Vậy sự thôi thúc không chỉ là phản ứng kích thích của các actor mà nó còn liên quan đến môi trường xung quanh để cho phản ứng đó tồn tại
2.2 Giai đoạn thứ hai của hành động là sự nhận thức Vấn đề có thể tưởng tượng
như sau: khi một kích thích xuất hiện (không kể kích thích này xuất phát từ các actor hay môi trường), lúc này xuất hiện sự thôi thúc nhằm đáp ứng kích thích đó Trong quá trình này có hai quá trình nhận thức: Nhận thức các kích thích Mọi người có khả năng để cảm giác hoặc nhận thức được sự kích thích qua nghe, ngửi, nếm, v.v…Sự nhận thức bao gồm các kích thích xâm nhập cũng như các hình ảnh tinh thần chúng tạo ra Từ đó, con người có sự đánh giá đối với những kích thích
đó Mọi người không chỉ đơn giản chịu các kích thích ngoại vi; họ cũng chủ động chọn lọc các đặc tính của một kích thích và chọn các tập hợp kích thích Nghĩa là, một kích thích có thể có nhiều hướng và actor có thể lựa chọn trong số đó Hơn nữa mọi người thường phải chạm trán với nhiều kích thích khác nhau, và họ có khả
Trang 31năng chọn cái nào để tiếp nhận, cái nào để bỏ qua Đây có thể xem là quá trình nhận thức đối tượng
2.3 Giai đoạn thứ ba là sự thao tác Khi xuất hiện sự thôi thúc, đồng thời cũng đã
nhận thức, xác định đối tượng cần thiết cho sự thôi thúc đó, bước kế tiếp là làm rõ đối tượng hay còn là thao tác đối tượng Ở quá trình này, con người chúng ta có nhiều thuận lợi hơn loài vật về mặt tinh thần cũng như cấu trúc cơ thể (con người có tay, chân giúp cho việc thao tác dễ dàng hơn) Theo Mead, để thao tác được mọi người phải liên hệ với những kinh nghiệm có được trong quá khứ và những hệ quả
có thể xảy ra trong tương lai Từ đó cho phép họ dự liệu được nhiều phản ứng khác nhau Tiếp tục ví dụ về sự đói Một người đói bụng nhìn thấy một cây nấm nhưng trước khi ăn nó, anh ta ắt hẳn phải nhổ nó lên trước đã, kiểm tra nó, và có thể còn kiểm lại trong sổ tay xem nó có thể ăn được hay không Trong việc suy nghĩ xem có
ăn cây nấm hay không, cả quá khứ và tương lai đều có liên quan Mọi người có thể nghĩ về các kinh nghiệm quá khứ họ hoặc những người thân quen đã ăn các loại nấm cụ thể nào khiến họ bị ốm và nghĩ tới tương lai ốm yếu, thậm chí là cái chết có thể xảy ra nếu ăn nhầm một nấm độc Còn đối với loài thấp hơn, sự thao tác đơn giản hơn, thậm chí không thao tác, điều này dẫn đến kết quả là loài thú có xu hướng
dễ chết hơn cho phương pháp thử và sai
2.4 Giai đoạn thứ tư là sự tiêu thụ Sự tiêu thụ được hiểu đơn giản là việc thực
hiện hành động nhằm thỏa mãn thôi thúc ban đầu Trường hợp ở đây là tiêu thụ nấm nhằm thỏa mãn sự đói Sự tiêu thụ này có quan hệ chặt chẽ với hai giai đoạn trên, nhờ nhận thức và thao tác nấm một cách có hiệu quả nên con người có thể tiêu thụ nấm một cách an toàn Ngược lại, việc tiêu thụ này cũng cung cấp cho các actor những kinh nghiệm cần thiết để cho các giai đoạn trên trong những sự thôi thúc khác
Bốn giai đoạn trên có mối quan hệ biện chứng với nhau Giai đoạn này có thể góp phần hỗ trợ hoặc kìm hãm giai đoạn khác Ví dụ như sự thao tác thức ăn có thể dẫn cá thể tới sự thôi thúc của cái đói và nhận thức rằng anh ta đang đói và rằng đã
có sẵn thức ăn để thỏa mãn nhu cầu Thực tế, bốn giai đoạn không tách biệt ra theo hành động trước sau theo trình tự mà thực tế chúng đan xen nhau Như John Balwin nói: “ Dù bốn hành động của đôi khi có vẻ được nối kết theo những trình tự tuyến
Trang 32tính, thực ra chúng thâm nhập vào nhau để tạo ra một quá trình thực thể, các mặt của mỗi bộ phận hiện diện trong mọi lúc, từ đầu cho đến cuối hành động, mỗi một
bộ phận ảnh hưởng đến các bộ phận khác.”
3) Các điệu bộ
Theo quan điểm của Mead, điệu bộ là cơ cấu căn bản trong hành động xã hội và quá trình xã hội nói chung Vậy hành động xã hội khác với hành động như thế nào? Hành động thì chỉ liên quan đến cá nhân trong khi đó hành động xã hội liên quan tới hai hay nhiều cá nhân Do đó, điệu bộ còn được hiểu là các cử động của hành động xã hội của thực thể thứ nhất Các cử động này sẽ tạo ra những kích thích rất cụ thể Chính những kích thích này lại gây ra (về mặt xã hội) các phản ứng tương ứng của thực thể thứ hai
Cả loài vật và loài người đều có khả năng về điệu bộ theo ý nghĩa là hành động của một cá thể gợi ra một cách đơn giản và tự động một phản ứng từ một cá thể khác Dưới đây là một ví dụ nổi tiếng của Mead về một cuộc đấu chó theo nghĩa các điệu bộ
Hành động của mỗi con chó trở thành các kích thích đối với con kia để nó phản ứng lại…Chính sự kiện con chó sẵn sàng tấn công đối thủ trở thành một kích thích đối với con kia để nó thay đổi thái độ hay vị trí Nó thực hiện điều này ngay khi sự thay đổi của con chó thứ hai tới lượt lại làm cho con chó thứ nhất thay đổi thái độ của nó
Mead gọi cái đang diễn ra trong hoàn cảnh này là “một cuộc đối thoại bằng điệu bộ” Điệu bộ của một con chó tự động gây ra một điệu bộ từ con thứ hai; không có các quá trình suy nghĩ diễn ra đối với hai con chó
Con người đôi khi thực hiện những điệu bộ đơn giản Mead đưa ra những ví dụ
về nhiều hành động và phản ứng diễn ra trong đấu quyền anh và đấu kiếm, ở đó một đấu thủ điều chỉnh “một cách bản năng” đối với hành động của đối thủ thứ hai Mead gọi những hành động vô ý thức là những điệu bộ “vô ý nghĩa”
Cái phân biệt con người là khả năng sử dụng các điệu bộ “có ý nghĩa”, hoặc là đòi hỏi sự suy nghĩ về phần của actor trước khi hành động
Các loại điệu bộ bao gồm: điệu bộ bằng âm thanh, điệu bộ thân thể, trong đó điệu bộ bằng âm thanh có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển các điệu bộ có ý
Trang 33nghĩa Một trong những sự phát triển đó là hình thức ngôn ngữ, là sự phát triển cao nhất của điệu bộ âm thanh, là yếu tố quan trọng nhất trong việc tạo ra khả năng phát triển riêng biệt của cuộc sống con người Chính ngôn ngữ đã giúp cho xã hội ngày càng tăng trưởng, con người ngày càng tích lũy được nhiều kiến thức và tăng sự kiểm soát của mình lên tự nhiên và lên môi trường bằng các thành tựu khoa học
Sở dĩ điệu bộ âm thanh tạo ra sự phát triển này là do đặc tính âm thanh của nó Khi con người sử dụng âm thanh trong tương tác đối với người khác thì không những người khác nhìn nhận điệu bộ đó mà ngay cả chính bản thân con người cũng đang tiếp nhận và chịu ảnh hưởng từ điệu bộ âm thanh Điều này không xảy ra đối với điệu bộ thân thể Chính vì điều này mà con người có khả năng kiểm soát điệu
bộ âm thanh tốt hơn so với điệu bộ thân thể Sự tự kiểm soát bản thân, xem xét điệu
bộ của chính bản thân đã giúp con người điều chỉnh trong tương tác, từ đó tạo ra những khả năng riêng biệt khác của loài người Tóm lại “chính điệu bộ âm thanh đã cung cấp một cách xuất sắc sự liên lạc của tổ chức xã hội trong xã hội loài người”
4) Biểu tượng có ý nghĩa
Điệu bộ được thực hiện trong quá trình tương tác giữa con người với nhau, nhờ
có điệu bộ, một người mới nhận ra mình đang tương tác với người khác hay người khác đang tương tác với mình Điệu bộ là dấu hiệu của sự tương tác, còn để duy trì
sự tương tác cần nhờ một khái niệm khác
Ở phần trên, chúng ta biết rằng trong các loại điệu bộ, có những điệu bộ đơn giản, “vô ý nghĩa” Những điệu bộ này thường xuất hiện ở các loài động vật, con người cũng có những điệu bộ này Tuy nhiên đối với loài người, điệu bộ vô ý nghĩa thường nằm ở mức bản năng và hầu hết những điệu bộ của con người thường có ý nghĩa và được suy nghĩ trước khi hành động Điều này mang lại hiệu quả cao trong tương tác của con người
Mead đã tách khái niệm “điệu bộ có ý nghĩa” để đi đến khái niệm “biểu tượng
có ý nghĩa” vì giữa chúng có liên hệ với nhau Một biểu tượng có ý nghĩa là một loại điệu bộ mà chỉ có loài người mới có thể thực hiện, các điệu bộ trở thành biểu tượng có ý nghĩa khi chúng gợi ra ở cá thể thực hiện chúng một phản ứng giống như (không cần phải đồng dạng) phản ứng gây ra ở những người mà điệu bộ này hướng
Trang 34tới, tức là các loại điệu bộ mà gây ra những phản ứng tương tự nhau đối với những
cá thể khác nhau thì điệu bộ đó mang một biểu tượng có ý nghĩa
Vậy những điệu bộ nào có khả năng là những biểu tượng có ý nghĩa hơn cả? Các điệu bộ thân thể có thể là các biểu tượng có ý nghĩa, nhưng như chúng ta đã thấy, chúng không thích hợp một cách lý tưởng để là các biểu tượng có ý nghĩa vì mọi người không thể dễ dàng nhìn thấy hay nghe thấy các điệu bộ thân thể của chính họ Ngược lại các điệu bộ âm thanh không những khiến cho người khác nghe được dễ dàng mà chính bản thân người phát ngôn cũng có thể nghe được Như vậy, chính các phát biểu âm thanh mới có khả năng hơn để trở thành các biểu tượng có ý nghĩa
Tuy nhiên không phải mọi sự phát âm đều là những biểu tượng có ý nghĩa Thành tựu lớn nhất của điệu bộ âm thanh là ngôn ngữ Ngôn ngữ là tập hợp các điệu
bộ âm thanh tạo ra những biểu tượng cụ thể, thống nhất Chính vì vậy ngôn ngữ là biểu tượng có ý nghĩa
Trong một cuộc đối thoại, nếu tất cả bằng điệu bộ thì chỉ có điệu bộ được thông tin, trong khi đó nếu sử dụng ngôn ngữ thì không chỉ có điệu bộ được thông tin mà những ý nghĩa của ngôn ngữ cũng được nắm bắt Hơn thế nữa, ngôn ngữ gợi ra cùng một phản ứng trong cá thể đang nói cũng như đối với các cá thể khác
Ví dụ: từ ngữ lá cờ gợi ra cùng một hình ảnh tinh thần ở cá nhân phát ra từ đó cũng như ở cá nhân mà nó được gửi tới, đồng thời lá cờ cũng được các cá thể khác
nhau hiểu là đại diện của một quốc gia, một dân tộc
Ngôn ngữ không chỉ kích thích cá nhân đang nói mà nó còn kích thích lên các cá nhân khác
Ví dụ: người hét lên “cháy” trong một rạp hát đông người ít nhất cũng bị thôi thúc rời khỏi rạp như những người mà tiếng hét được gửi tới
Trang 355) Chức năng của điệu bộ, của biểu tượng có ý nghĩa
Chức năng của điệu bộ là tạo ra một kích thích đến đối tượng hành động có liên quan Như vậy một tiếng hét bất chợt sẽ có thể ngăn một đứa bé đang chạy từ trong nhà ra ngoài đường vì trong nhiều trường hợp, trẻ em thường bị kiểm soát bởi tiếng
la mắng của phụ huynh và đứa bé đang chạy ra đường ít nhiều cũng nhận thức được điều này Điệu bộ vô ý nghĩa cũng có hiệu quả, song biểu tượng có ý nghĩa tạo ra nhiều thuận lợi lớn lao cho một sự điều chỉnh và tái điều chỉnh như thế hơn là một điệu bộ vô ý nghĩa, bởi vì nó gợi ra trong cá thể việc thực hiện nó giống như thái độ hướng về nó, dựa vào thái độ đó cá thể điều chỉnh hành vi kế tiếp
Điệu bộ có ý nghĩa cung cấp một thái độ mà hành động muốn hướng tới một cách rõ ràng hơn là điệu bộ vô ý nghĩa, dựa vào thái độ đó mà cá thể liên quan đến hành động có thể điều chỉnh và tái điều chỉnh hành vi của mình
Điệu bộ có ý nghĩa không chỉ có tác dụng điều chỉnh đối với cá thể có liên quan đến hành động đó mà bản thân người thực hiện điệu bộ cũng được điều chỉnh, tương tự điệu bộ có ý nghĩa sẽ giúp điều chỉnh tốt hơn điệu bộ vô ý nghĩa Ví dụ như việc thể hiện sự bất mãn của chúng ta với những người khác thường được chúng ta biểu lộ dưới hai điệu bộ: điệu bộ thân thể và dùng ngôn ngữ Khi dùng điệu bộ thân thể để biểu lộ sự bất mãn, cá thể thường không ý thức về ngôn ngữ thân thể và do đó có vẻ không thể điều chỉnh các hành động sau đó một cách có ý thức khi cá thể khác phản ứng đối với ngôn ngữ thân thể của họ Trong khi đó sự bất mãn được biểu lộ dưới dạng ngôn ngữ thì người phát ngôn sẽ hiểu được phản ứng của người khác khi tiếp nhận và sẽ có sự điều chỉnh Đó chính là cơ sở để điều chỉnh vì người nói có thể nghĩ về việc cá nhân kia có thể phản ứng ra sao và có thể chuẩn bị phản ứng của mình đối với phản ứng đó
Lý thuyết Mead nhận thấy rằng chức năng điều chỉnh của các điệu bộ (thường là điệu bộ có ý nghĩa) sẽ thúc đẩy quá trình tư duy của con người Từ điều này Mead
đã tìm ra một chức năng khác của biểu tượng có ý nghĩa là chúng làm cho quá trình trí tụê, tinh thần có thể xảy ra Chỉ duy nhất thông qua các biểu tượng có ý nghĩa đặc biệt là ngôn ngữ, mà tư duy con người là điều khả dĩ (theo Mead, loài vật thì không thể suy nghĩ) Mead xác định sự tư duy “đơn thuần là một đối thoại chủ quan hay ngấm ngầm của cá thể với chính bản thân bằng phương tiện của các điệu bộ
Trang 36như thế” Thậm chí, Mead lý luận mạnh mẽ hơn: “Tư duy cũng giống như với việc nói chuyện với những người khác” Nói cách khác, sự suy nghĩ bao gồm việc trò chuyện với chính mình Tư duy được Mead khái niệm dựa trên thuyết hành vi khi cho rằng tư duy có được cũng chính do sự tương tác với chính bản thân mình Những sự đối thoại bao gồm hành vi (trò chuyện), và hành vi đó cũng diễn ra bên trong cá thể; khi nó hoạt động, sự suy nghĩ diễn ra Đây là một định nghĩa tư duy có tính chất hành vi quyết định luận
Biểu tượng có ý nghĩa đóng vai trò quan trọng trong lý thuyết của Mead, nó giúp cho quá trình tương tác giữa con người diễn ra thuận lợi hơn là điệu bộ hay nói cách khác mọi người có thể tương tác với nhau không chỉ qua các điệu bộ mà cả qua các biểu tượng có ý nghĩa Chính từ khả năng này đã tạo ra một thế giới khác nhau và tạo ra nhiều khuôn mẫu tương tác phức tạp và các hình thức tổ chức xã hội phức tạp hơn là chỉ bằng các điệu bộ
Chính vì vai trò quan trọng này của biểu tượng có ý nghĩa mà định hướng nghiên cứu của Mead là làm rõ những biểu tượng trong cuộc sống “Những nhận thức nội quan sâu sắc nhất của Mead bao hàm trong việc hiểu thấu biểu tượng có ý nghĩa, biểu tượng ngôn ngữ, bao gồm một điệu bộ mà ý nghĩa của nó ở cả hai phía người thực hiện điệu bộ và người mà điệu bộ hướng tới Ông dành phần lớn đời tri thức của mình để làm sáng tỏ các ẩn hàm của nhận thức này”
6) Các quá trình tinh thần và trí tuệ
Khi nghiên cứu các khái niệm trong lý thuyết của Mead, chúng ta cần quay trở lại hai nguồn gốc tri thức quan trọng: nguồn gốc thực chứng và nguồn gốc hành vi Thuyết hành vi là nêu ra diễn tiến giữa một kích thích và phản ứng lại, tiếp tục chính phản ứng đó lại là một kích thích khác cho một phản ứng Như vậy thuyết hành vi nhấn mạnh đến quá trình hơn là các cấu trúc hay nội dung
6.1 Tri thức
Các quá trình tinh thần là tất cả những có liên quan đến yếu tố nội tâm Tri thức
cũng thế nhưng đối với Mead, tri thức không phải là tư duy mà như là một sự điều chỉnh đa dạng các hành động của thực thể Như vậy con người được coi là có tri thức khi con người có thể thích ứng với người khác bằng cách sử dụng các biểu tượng vô ý nghĩa (ví dụ: các cau mặt bất giác) và các loài vật thấp hơn cũng có tri
Trang 37thức vì trong một cuộc đối thoại bằng điệu bộ, chúng cũng điều chỉnh thích ứng lẫn nhau (ví dụ về cuộc đấu chó) Như thế, tri thức con người khác với tri thức loài vật như thế nào? Vấn đề cốt yếu ở đây là con người có thể kiểm soát tri thức hay sự thích nghi đa dạng, thông qua việc sử dụng các biểu tượng có ý nghĩa Con người nhờ có được các biểu tượng có ý nghĩa mà có thể kiểm soát được quá trình tương tác với người khác, họ có thể tương tác bằng cách này hay cách khác Điều này không có ở các loài vật thấp hơn
Mead lý luận rằng, loài vật có một “tri thức phi lý tính” Trái lại con người có “
lý tính”, mà Mead xác định theo cung cách mang đặc điểm của hành vi luận: “Khi bạn chỉ ra cho bản thân các đặc tính có thể gợi ra các phản ứng cụ thể và đó là tất cả những gì bạn đang làm” Nói cách khác, các cá thể đang thực hiện các cuộc đối thoại với bản thân
Cái có tính cốt lõi trong tri thức phản ánh của con người là khả năng của họ để hạn chế hành động tạm thời, trì hoãn lại các phản ứng của họ đối với một kích thích Như Mead xác định: “Phản ứng bị trì hoãn là hành động cần thiết đối với tri thức”
Sự tổ chức, sự kiểm tra ngấm ngầm và sự chọn lựa cuối cùng…sẽ không thể có nếu các phản ứng công khai hay các hành vi phản ứng không ở trong các tình thế bị trì hoãn đó” Ở đây có ba thành tố Thứ nhất, loài người, vì khả năng trì hoãn phản ứng của họ, có thể tổ chức trong trí óc họ một dãy các phản ứng có thể có đối với một tình thế Loài người sỡ hữu trong trí óc họ các cách thức chọn lựa để hoàn tất một hành động xã hội trong đó họ có liên quan Thứ hai, con người có thể kiểm tra về mặt tinh thần một lần nữa, bằng một cuộc đối thoại với bản thân, các chuỗi hành động khác nhau Thứ ba loài người có khả năng lựa ra một kích thích trong một tập hợp kích thích hơn là chỉ đơn giản phản ứng lại một kích thích mạnh nhất Ngoài ra loài người có thể chọn trong một loạt các hành động có thể thay thế, trong khi loài vật chỉ đơn giản hành động Như Mead nói:
Đó là sự thâm nhập của các khả năng lựa chọn phản ứng tương lai vào sự quyết định hành động ở hiện tại trong bất cứ hoàn cảnh môi trường nào được đưa ra, và
sự vận hành của chúng thông qua các cơ cấu của hệ thần kinh trung ương, như một
bộ phận của các nhân tố hay các điều kiện quyết định hành vi hiện tại, đối lập một
Trang 38cách dứt khoát giữa hành động tri thức – hành vi với hành động có tính phản ánh, bản năng, tập tính hay phản ứng trì hoãn hành vi với phản ứng ngay lập tức
Tri thức theo định nghĩa của Mead chỉ đơn giản là sự điều chỉnh, sự thích nghi với cá thể khác Phân biệt tri thức giữa con vật và con người, Mead phân tích dựa vào hành vi luận Quá trình trì hoãn này liên quan đến việc sử dụng các biểu tượng
có ý nghĩa, tự đối thoại bản thân, chọn ra một kích thích và hành động phù hợp nhất
6.2 Ý thức
Mead cũng thảo luận về ý thức, ý thức gồm hai ý nghĩa phân biệt Thứ nhất là ý
nghĩa mà actor tự hoàn toàn thâm nhập vào, hoàn toàn có tính chủ quan Mead ít chú ý đến ý nghĩa này mà chú ý đến nghĩa thứ hai, về cơ bản có quan hệ mang tính phản ánh với tri thức Như vậy Mead ít quan tâm đến cách thức mà trong đó chúng
ta trải nghiệm ngay lập tức sự đau đớn hay vui sướng cho bằng ông quan tâm đến cách thức trong đó chúng ta suy nghĩ về thể giới xã hội Chính vì vậy ý thức được giải thích trong phạm vi quá trình xã hội Nghĩa là, trái với nhiều nhà phân tích, Mead tin rằng ý thức không nằm trong não: “Ý thức về mặt chức năng không tồn tại; và theo bất cứ nghĩa nào trong những nghĩa chủ yếu của thuật ngữ này nó phải được định vị đâu đó trong thế giới khách quan hơn là trong não – Nó thuộc về, hay
là một đặc tính của môi trường mà trong đó chúng ta tìm thấy bản thân Cái được định vị, cái xảy ra trong não, tuy nhiên, là một quá trình tâm lý từ đó chúng ta mất
đi và tìm lại được ý thức
Ý thức không có sẵn trong não, mà do môi trường hình thành, nó là cơ sở giúp cho con người điều chỉnh, thích nghi với người khác, tức là ý thức mang tính phản ánh với tri thức
Để có được tri thức, ý thức thì một khái niệm liên quan nữa nằm trong quá trình
tinh thần, hỗ trợ cho sự hình thành tri thức và ý thức Đó chính là các hình ảnh tinh thần
6.3 Các hình ảnh tinh thần
Theo cung cách tương tự, Mead cũng chối bỏ quan điểm các hình ảnh tinh thần
trong não mà xem chúng như là các hiện tượng xã hội:
Trang 39Cái mà chúng ta gọi là “các hình ảnh tinh thần”… có thể tồn tại trong quan hệ của chúng với thực thể mà không nằm trong một ý thức có thật Các hình ảnh mà, như các biểu tượng, đóng một vai trò khá rộng trong tư duy, thuộc về môi trường
Theo Mead các hình ảnh tinh thần không được hiểu là những ký ức tồn tại trong não, mà được hiểu là quan hệ giữa đối tượng và thực thể, quan hệ này trả lời cho câu hỏi nó (đối tượng, thực thể) là cái gì, chính quan hệ giải thích này sẽ hỗ trợ cho tri thức và ý thức, hỗ trợ chứ không nằm trong nó
Để có được các hình ảnh tinh thần, chúng ta phải tương tác với đối tượng, vận dụng những kinh nghiệm trong quá khứ và xem xét những hình ảnh nào đúng nhất trong nhiều trường hợp
6.4 Ý nghĩa
Ý nghĩa là một khái niệm liên quan khác mà Mead nói tới theo nghĩa hành vi
luận Cụ thể, Mead phản đối ý nghĩa nằm trong ý thức: “Ý thức hay nhận thức không cần thiết sự hiện diện của ý nghĩa trong quá trình kinh nghiệm xã hội” Tức
là một người nhận thức hay ý thức điều gì đó là mà không cần biết những nhận thức
đó có ý nghĩa hay không đối với người khác Tương tự, Mead phản đối ý tưởng rằng ý nghĩa là một hiện tượng “tâm lý” hay một “ý tưởng” Đúng hơn ý nghĩa nằm ngay trong lòng hành động xã hội: “ý nghĩa nảy sinh và nằm trong lãnh địa của mối quan hệ giữa điệu bộ của một thực thể con người được đưa ra và hành vi xảy ra sau của thực thể đó như là biểu thị đối với một thực thể khác bằng điệu bộ đó Nếu điệu
bộ đó thực hiện một biểu thị đối với một thực thể khác như là một hành vi hệ quả của thực thể được đưa ra, khi đó nó có ý nghĩa” Chính phản ứng điều chỉnh của thực thể thứ hai đã đem lại ý nghĩa cho điệu bộ của thực thể thứ nhất Ý nghĩa của một điệu bộ có thể được xem là “khả năng dự báo hành vi có vẻ như xảy ra kế tiếp” Tóm lại: Tri thức không nằm trong tư duy, được hiểu là sự điều chỉnh, sự thích nghi Ý thức là cái cách mà chúng ta suy nghĩ về thế giới xã hội Các hình ảnh tinh thần nằm trong quan hệ của chúng với thực thể Ý nghĩa nằm ngay trong lòng hành động xã hội, ý nghĩa được xác định khi mà có sự phản ứng điều chỉnh Các khái niệm này nằm trong quá trình tinh thần và có mối liên hệ nhất định với nhau
Trang 406.5 Trí tuệ
Tương tự, trí tuệ không phải là một sự vật tồn tại hiện hữu bên trong cá thể,
cũng như không tồn tại trong hộp sọ Trí tuệ là một quá trình, là một hiện tượng xã hội Nó nảy sinh và phát triển trong quá trình xã hội và là bộ phận của quá trình này, quá trình xã hội có trước trí tuệ
Trí tuệ không tồn tại hiện hữu, chính vì vậy để xác định trí tuệ phải dựa vào mặt chức năng Mead đã đưa ra các chức năng của trí tuệ Thứ nhất giúp cho con người
có khả năng tự gọi ra phản ứng họ đang tìm kiếm từ những người khác Thứ hai cung cấp cho con người những hiểu biết đối với những phản ứng không chỉ là của
cá thể đơn giản mà hơn thế nữa là phản ứng của cộng đồng theo nghĩa tổng thể Thứ
ba, giúp cho con người có được một phản ứng có tổ chức cụ thể Từ các chức năng này, Mead phân tích trí tuệ theo nguồn gốc thực dụng đó là trí tuệ liên quan đến các quá trình định hướng tới việc xử lý vấn đề Thế giới thực tiễn đầy những vấn đề , và chức năng của trí tuệ là cố gắng giải quyết các vấn đề đó và cho phép mọi người vận hành một cách hiệu quả hơn trong thế giới
6.6 Bản ngã
Bản ngã về cơ bản là khả năng đối đãi với bản thân như một đối tượng, bản ngã
là khả năng đặc biệt ở cả mặt khách quan và chủ quan
Như các khái niệm khác, Mead xem bản ngã như là một quá trình xã hội: sự thông tin giữa con người Sự thông tin này trong bản ngã đó chính là sự thông tin giữa con người và chính bản thân của anh ta Cơ cấu chung đối với sự phát triển của bản ngã là tính chất phản thân hay khả năng tự đặt bản thân một cách vô thức vào địa vị của những người khác, trả lời câu hỏi: “ nếu là họ thì mình sẽ hành động như thế nào?” Kết quả là hành động trong một khuôn mẫu với những người khác Nhờ điều này, mọi người có thể tự kiểm tra bản thân cũng giống như những người khác kiểm tra họ Như Mead nói:
Chính là bằng phương tiện phản thân - sự quay ngược lại của kinh nghiệm cá thể trên bản thân anh ta – mà tổng thể quá trình xã hội do vậy được đem vào kinh nghiệm của các cá thể liên quan với nó; chính là bằng các phương tiện đó, cho phép cá thể có thái độ của người khác đối với bản thân anh ta, tức cá thể có thể điều chỉnh một cách có ý thức bản thân đối với quá trình đó, bổ sung vào bất cứ