CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2 1 XÁC ĐỊNH CHỦ ĐỀ NGHIÊN CỨU (THÀNH) Trước khi bắt đầu thiết kế cho một nghiên cứu, nhà nghiên cứu cần phải hiểu một số khái niệm quan trọng như ý tưởng ngh.
Trang 1CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. XÁC ĐỊNH CHỦ ĐỀ NGHIÊN CỨU (THÀNH)
Trước khi bắt đầu thiết kế cho một nghiên cứu, nhà nghiên cứu cần phải hiểu một số kháiniệm quan trọng như ý tưởng nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, mục đích & mục tiêunghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu Những khái niệm này không chỉđược định nghĩa mà giữa chúng có mối quan hệ với nhau thể hiện qua hình 2.1 dưới đây
Hình 2.1: Độ rộng của ý tưởng nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi
nghiên cứu
Nguồn: Nguyễn Đình Thọ (2014, tr 46)
Nhìn vào hình 2.1 có thể nhận thấy rằng độ rộng của ý tưởng nghiên cứu là lớn nhất, tiếpđến là vấn đề nghiên cứu, sau đó và mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu và cuối cùng là giảthuyết nghiên cứu Độ rộng ở đây có thể hiểu là rộng về nội dung nghiên cứu
2.1.1 Ý tưởng nghiên cứu (Research ideas)
Theo Nguyễn Đình Thọ (2014) ý tưởng nghiên cứu là những ý tưởng ban đầu về vấn đềnghiên cứu, với cách định nghĩa này chúng ta lại cần phải hiểu vấn đề nghiên cứu là gì,vấn đề nghiên cứu sẽ được định nghĩa và diễn giải chi tiết ở mục 2.1.2
Trang 2Còn theo Mark Saunders, Philip Lewis, and Adrian Thornhill (2009), ý tưởng nghiên cứu(research idea) là ý tưởng ban đầu có thể hình thành 1 dự án nghiên cứu, một dự án cầnphải được bắt đầu bởi ý tưởng nghiên cứu Những học viên ngành kinh tế & quản trịđược kì vọng sẽ nghĩ ra và chắt lọc những ý tưởng nghiên cứu của riêng họ Một số khác,đặc biệt là những sinh viên học ở những khóa học chuyên nghiệp hay đã có kinh nghiệmthì lại được trường học hay tổ chức đó gợi ý hoặc cung cấp cho ý tưởng nghiên cứu Ởgiai đoạn đầu, họ sẽ chắt lọc ý tưởng (refining research idea) này thành một ý tưởng rõràng và khả thi, đáp ứng được yêu cầu của tổ chức xét duyệt.
a. Hình thành ý tưởng nghiên cứu như thế nào?
Những kĩ thuật gì thường được sử dụng để hình thành ý tưởng nghiên cứu?
Đối với những học viên chưa được cung cấp một ý tưởng nghiên cứu ban đầu thì cũngkhông cần quá lo lắng bởi vì theo Mark Saunders & cộng sự (2009) có một loạt những kĩthuật có thể sử dụng để hình thành và chắt lọc các ý tưởng nghiên cứu, xem bảng 2.1dưới đây
Bảng 2.1: Những kĩ thuật thường được sử dụng để hình thành các ý tưởng nghiên cứu
Khảo sát những điểm mạnh và sở thích của
Nguồn: Mark Saunders và cộng sự (2009, tr 25)
Bảng 2.1 cho thấy ý tưởng nghiên cứu được hình thành bởi tư duy hợp lý và tư duy sángtạo Những kĩ thuật chính xác bạn sẽ chọn lựa, và trật tự mà bạn sử dụng chúng hoàn toàntùy thuộc vào bạn Tuy nhiên, giống như Raimond (1993) cho rằng bạn nên sử dụng cảnhững kĩ thuật vừa hợp lý (rational) vừa sáng tạo (creative), chọn lựa những kĩ thuật màbạn cho rằng sẽ hữu ích nhất đối với bạn, và những kĩ thuật mà bạn thích dùng Bằng việc
sử dụng một hay nhiều kĩ thuật sáng tạo, bạn sẽ có thể chắc chắn rằng trí óc và tâm hồncủa bạn sẽ dành cho dự án nghiên cứu Mark Saunders và cộng sự (2009) cho rằng tốthơn nên sử dụng nhiều kĩ thuật Để thực hiện điều này, bạn sẽ cần hiểu biết về những kĩ
Trang 3năng và cách thức tác động của chúng Do đó phần dưới đây sẽ phác thảo chi tiết những
kĩ thuật thường được sử dụng để hình thành và chắt lọc các ý tưởng nghiên cứu
(i) Khảo sát những điểm mạnh và sở thích của bạn
Thật quan trọng là cần phải chọn một chủ đề mà bạn sẽ làm tốt và nếu có thể đã có kiếnthức học thuật nhất định về nó, chẳng hạn như hãy xem những môn học nào mà mình đạtđiểm cao (Jankowicz, 2005) Ngoài ra trong hoạt động đọc tài liệu, bạn có thể tập trungchính xác hơn vào loại ý tưởng mà bạn muốn tiến hành nghiên cứu (Mark Saunders &cộng sự, 2009)
(ii) Nhìn lại những chủ đề đã qua
Xem xét những công trình cũ là một cách hữu hiệu để hình thành những ý tưởng nghiên
cứu Các công trình cũ là những công trình gì? Nó là những dạng sản phẩm nghiên cứu
khoa học mà được viết ở mục 1.4 trong bài giảng học phần này Nhiều nhà nghiên cứukhuyên rằng nên xem xét chất lượng của các công trình dựa trên thể loại và xếp hạng.Chẳng hạn như các bài báo được công bố trên các tạp chí trong hệ thống của Scopus,ABDC thì chắc chắn có giá trị hơn so với các bài báo ở các tạp chí bình thường Khi đọcnhững chủ đề dự án thú vị hay thu hút sự chú ý của bạn nê được đánh dấu, cũng giốngnhư bất cứ một ý tưởng nào bạn có về chủ đề liên quan đến ý tưởng nghiên cứu của bạn.Trong quá trình này, việc chủ đề không được trình bày rõ ràng hay báo cáo dự án nhậnđược điểm thấp không quan trọng mà điều quan trọng ở đây là bạn đã tìm thấy một chủ
đề làm bạn thích thú Dựa vào điều này, bạn có thể nghĩ về những ý tưởng mới trongcùng lĩnh vực, sẽ giúp bạn đưa ra những kiến thức mới mẻ (Mark Saunders & cộng sự,2009)
(iii) Thảo luận
Có nhiều người giúp bạn thảo luận về ý tưởng nghiên cứu như bạn bè, đồng nghiệp vàgiảng viên đại học (Mark Saunders và cộng sự, 2009) Bạn bè học cùng ngành, cùng khoa
là những người có nền tảng (background) khá tương đồng với bạn, đồng nghiệp làm cùngphòng với bạn là những người có chuyên môn giống bạn trong khi giảng viên đại học lànhững người có kiến thức học thuật Đó đều là những nguồn tốt về ý tưởng dự án khả thi.Thường thì giảng viên dự án sẽ có những ý tưởng cho những dự án khả thi của học viên,
Trang 4mà họ hài lòng khi thảo luận với bạn Ngoài ra, ý tưởng có thể được nhận bởi việc nóichuyện với nhà nghiên cứu thực hành (hộ gia đình, doanh nghiệp) và nhóm chuyên gia(Gill & Johnson, 2010) Và cũng chú ý là khi thảo luận các ý tưởng khả thi thì cần ghi lạichúng
(iv) Tìm kiếm tài liệu
Hiện nay có rất nhiều công cụ để tìm kiếm tài liệu học thuật, công cụ có lẽ quen thuộc làtrang web scholar google, đây là một cơ sở dữ liệu khoa học rất lớn với nhiều dạng tàiliệu trong đó phổ biến hơn cả là các bài báo khoa học (research article) và sách (book).Trang web này có nhiều tính năng như lưu trữ (save), trích dẫn (cite), số lượng trích dẫn,các bài báo liên quan Các nhà nghiên cứu cũng có thể sử dụng các chức năng tìm kiếmnâng cao như tính năng tìm kiếm theo năm, sắp xếp theo mức độ liên quan, …
Tìm kiếm những ấn phẩm chỉ có thể thực hiện khi bạn có ý tưởng nào đó về lĩnh vực màbạn muốn tiến hành nghiên cứu Một cách để đạt được điều này là xem xét lại các ghichép bài giảng của bạn, ghi chép từ các cuộc gặp thảo luận, và ghi chép lại những chủ đềthú vị nhất và tên của những tác giả liên quan Điều này sẽ cung cấp cho bạn một cơ sở
để tiến hành một tìm kiếm sơ bộ (preliminary search) Khi bạn đã có được các bài viết,báo cáo và những tài liệu khác, sẽ hữu ích khi tìm kiếm những khẳng định và phát biểuthiếu cơ sở do thiếu nghiên cứu (Raimond, 1993)
*) Tư duy sáng tạo
(i) Lưu sổ các ý tưởng
Một trong những kĩ thuật sáng tạo cái mà chúng ta đều sử dụng là lưu giữ một cuốn sốcác ý tưởng (a notebook of idea) Điều này đơn giản chỉ để viết xuống bất cứ ý tưởngnghiên cứu thú vị nào mà bạn nghĩ đến, và cũng quan trọng không kém, những điều lóelên trong tư duy của bạn Sau đó bạn có thể theo đuổi ý tưởng bằng cách sử dụng những
kĩ thuật tư duy luận lý hơn
(ii) Khám phá các đề tài ưa thích nhờ sử dụng những công trình đã qua
Một cách khác để hình thành ý tưởng đề tài khả thi là khai thác những sở thích cá nhâncủa mình, nhờ sử dụng những báo cáo đề tài trước đây của trường đại học Để thực hiệnđiều này, Raimond (1993) gợi ý rằng:
1. Lựa chọn 6 dự án mà bạn thích
2. Đối với mỗi dự án, hãy ghi lại những suy nghĩ đầu tiên khi trả lời 3 câu hỏi sau: (i) Điều
gì lôi cuốn bạn về đề tài; (ii) Điều gì hay về đề tài; (iii) Tại sao đề tài này hay
3. Lựa chọn 3 đề tài mà bạn không thích
Trang 54. Đối với mỗi đề tài này, hãy ghi lại những cảm nghĩ đầu tiên của bạn khi trả lời 3 câu hỏisau: (i) Bạn không thích gì về đề tài này; (ii) Đề tài kém ở điều gì; (iii) Tại sao đề tài nàylại kém?
Và bây giờ bạn đã có 1 danh sách những điều bạn coi là xuất sắc và những điều bạn coi lànghèo nàn trong những đề tài Danh sách này sẽ không giống danh sách tạo ra bởi bất kìngười nào khác Bằng việc xem xét danh sách này, bạn sẽ bắt đầu hiểu những đặc điểmquan trọng của một đề tài đối với bạn, và những đặc điểm bạn cảm thấy hài lòng Cũngquan trọng không kém là bạn sẽ xác định những đặc điểm bạn cảm thấy không thoải mái
và nên tránh Những đề tài này có thể được sử dụng như những thông số dựa vào đó đánhgiá những ý tưởng nghiên cứu khả thi
(iii) Biểu đồ hình cây tương quan
Biểu đồ hình cây tương quan (relevance trees) có lẽ cũng tỏ ra hữu ích trong việc hìnhthành những chủ đề nghiên cứu, công dụng của chúng cũng tương đương với lập bản đồ
tư duy (mind mapping) (Buzan, 2005), ở đó bạn bắt đầu với một khái niệm rộng để hìnhthành tiếp những chủ đề (thường cụ thể hơn) Mỗi chủ đề này hình thành một nhánh riêng
từ đó bạn có thể hình thành những nhánh chi tiết hơn, xa hơn Khi quyết định đi theonhững nhánh phụ này, những ý tưởng cũng được hình thành thêm và được ghi lại Những
ý tưởng này sau đó có thể được xem xét, và một số ý tưởng được chọn lọc và kết hợp đểcung cấp một ý tưởng nghiên cứu (Peters, Howard, & Sharp, 2012)
3. Ghi lại tất cả những đề xuất
4. Đánh giá lại tất cả những đề xuất và khám phá hàm ý của nó
5. Phân tích danh sách những đề xuất, xác định đề xuất nào là ý tưởng nghiên cứu hấp dẫnnhất đối với bạn và tại sao
b. Nguồn hình thành ý tưởng nghiên cứu đến từ đâu?
Trang 6Ý tưởng nghiên cứu có thể sinh ra từ nhiều nguồn khác nhau Trần Tiến Khai (2012, tr63-65) cho rằng ý tưởng nghiên cứu có thể được tìm thấy từ
(i) Hệ thống quản lý NCKH chính thống của nhà nước (chẳng hạn kế hoạch 5 năm, chiến
lược, chương trình mục tiêu, chương trình hành động, kế hoạch phát triển từng ngành,lĩnh vực, Quỹ NASFOSTECH tài trợ cho các ý tưởng nghiên cứu);
(ii) Tổ chức quản lý, nhà tài trợ quốc tế (CIDA, SIDA, USAID, AusAID, BTC, DFID, JICA)
hoặc các tổ chức khác như WB, ADB, ILO;
(iii) Doanh nghiệp, địa phương – ý tưởng nghiên cứu có thể từ các đề xuất của địa phương,
doanh nghiệp Họ sẽ đặt hàng các vấn đề nghiên cứu;
(iv) Phương tiện truyền thông: lắng nghe tin tức thời sự, đọc báo, hội nghị, hội thảo chuyên
đề và
(v) Bài báo khóa học, báo cáo khoa học Khi đọc (review) kĩ các tài liệu khoa học này, nhà
nghiên cứu có thể phát hiện những khoảng trống nghiên cứu (research gap), chẳng hạnnhư xem phần “Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo” (Limitation and furtherresearch/direction) trong bài báo khoa học -> Nảy sinh những ý tưởng nghiên cứu mớinhằm bổ sung, lấp đầy, phát triển
(vi) Đề xuất của cá nhân có mong muốn nghiên cứu, bằng việc vận dụng kinh nghiệm bản
thân & suy diễn/ tưởng tượng bản thân để phát hiện ra những vấn đề nghiên cứu còn tồntại, chưa được giải quyết thỏa đáng từ đó có ý tưởng mới
c. Chắt lọc những ý tưởng nghiên cứu (Refining research idea)
Có một số cách có thể chắt lọc ý tưởng nghiên cứu như kĩ thuật Delphi, nghiên cứu sơ bộ
và tích hợp các ý tưởng
Kĩ thuật Delphi
Theo Mark Saunders & cộng sự (2009, tr 29), một phương pháp mà sinh viên thấy đặcbiệt hữu ích trong việc chắt lọc các ý tưởng nghiên cứu là kĩ thuật Delphi (The Delphitechnique) Kỹ thuật này bao gồm việc sử dụng một nhóm người tham gia hoặc quan tâm
ý tưởng nghiên cứu, để hình thành và chọn lựa một ý tưởng nghiên cứu cụ thể hơn(Robson, 2002) Để sử dụng kĩ thuật này bạn cần:
1. Thứ nhất, tóm tắt cho các thành viên của nhóm về ý tưởng nghiên cứu (họ có thể ghi chépnếu muốn)
2. Sau khi phổ biến xong, khuyến khích các thành viên nhóm làm sáng tỏ và tìm thêm thôngtin phù hợp
Trang 73. Yêu cầu mỗi thành viên của nhóm, kể cả người khời nguồn ý tưởng nghiên cứu, hìnhthành một cách độc lập 3 ý tưởng nghiên cứu cụ thể, dựa trên ý tưởng đã được mô tả (cóthể yêu cầu họ đưa ra sự biện minh cho những ý tưởng cụ thể của họ)
4. Thu thập những ý tưởng nghiên cứu theo dạng chưa biên tập và chưa có tác giả, và phânphát chúng cho tất cả các thành viên của nhóm
5. Lặp lại chu kì của quá trình (bước 2 đến 4) để các thành viên bình luận về ý tưởng nghiêncứu, và xem lại những đóng góp của họ liên quan điều người khác vừa nói
6. Tiếp tục lặp lại qui trình cho đến khi tất cả đạt được sự đồng thuận Những quá trình nàytuân theo một dạng thức tương tự (bước 2 đến bước 4), hoặc sử dụng biểu quyết hayphương pháp khác
Quá trình này phát huy hiệu quả, đặc biệt vì mọi người thích cố gắng giúp đỡ người khác.Ngoài ra cũng thật hữu ích để kết hợp các thành viên nhóm thành một khối gắn kết
Nghiên cứu sơ bộ
Theo Mark Saunders và cộng sự (2009, tr 30) “Ngay cả khi bạn đã được cung cấp một ý tưởng nghiên cứu, thì vẫn cần thiết phải chắt lọc nó để chuyển thành một đề tài nghiên cứu” Một số tác giả, chẳng hạn như Bennett (1983) gọi đó là nghiên cứu sơ bộ về ý
tưởng nghiên cứu (preliminary study) Đối với một số ý tưởng nghiên cứu, giai đoạn nàychỉ là sự tổng lược một số tài liệu, kể cả tài liệu thời sự
Tích hợp các ý tưởng
Việc tích hợp các ý tưởng từ những kĩ thuật này là thiết yếu, để nghiên cứu của bạn cómột hướng đi rõ ràng, và không chứa đựng sự không cân xứng giữa mục tiêu và báo cáo
đề tài cuối cùng của bạn Jankowicz (2005) đề xuất một quá trình tích hợp mà các sinh
viên của chúng ta thấy hữu ích nhất Ông gọi quá trình này là “phát triển và thu hẹp” Nó
bao gồm đầu tiên là phân loại mỗi ý tưởng nghiên cứu vào lĩnh vực của nó, sau đó vàochuyên ngành, và cuối cùng vào khía cạnh chính xác bạn thích thú Quá trình này mô tảngày càng chi tiết về ý tưởng nghiên cứu Do đó, lĩnh vực ban đầu dựa trên khóa học củabạn, có thể là lĩnh vực kế toán Sau khi xem qua một số tạp chí và thảo luận với nhữngđồng nghiệp, lĩnh vực này trở nên tập trung hơn vào các phương pháp kế toán tài chính.Với việc đọc thêm tài liệu, sử dụng kĩ thuật Delphi và thảo luận với giảng viên hướng dẫn
đề tài, bạn quyết định tập trung vào khía cạnh tính chi phí căn cứ trên hoạt động
2.1.2 Vấn đề nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu và cách thức xác định vấn đề nghiên cứu đóng vai trò quan trọngtrong nghiên cứu khoa học (Jackson, 1980) Một vấn đề nghiên cứu được xác định rõ
Trang 8ràng và đúng đắn là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của dự án nghiên cứu Xácđịnh vấn đề nghiên cứu cũng là khâu đầu tiên trong tất cả các dự án nghiên cứu khoa học(Nguyễn Đình Thọ, 2014, tr 44) Vậy vấn đề nghiên cứu là gì? Xác định vấn đề nghiêncứu như thế nào? Tiêu chí đánh giá một vấn đề nghiên cứu tốt? Đó là những nội dungtrọng tâm trong mục này.
Như đã trình bày ở trên sau khi đã hình thành được ý tưởng nghiên cứu, nhà khoa học sẽchuyển hóa ý tưởng nghiên cứu thành vấn đề nghiên cứu, nếu như ý tưởng nghiên cứuthường khá trừu tượng và rộng thì vấn đề nghiên cứu thường sẽ cụ thể hơn, hẹp hơn
a. Vấn đề nghiên cứu là gì?
Sau khi đã hình thành và chắt lọc được ý tưởng nghiên cứu, nhà nghiên cứu tiếp tục tìm
kiếm khe hổng nghiên cứu để nhận dạng được vấn đề nghiên cứu Vậy vấn đề nghiên cứu
là gì? Theo Trần Tiến Khai (2012, tr 62) vấn đề nghiên cứu là vấn đề mà nhà nghiên cứu
đặt ra như là một bức xúc, một khó khăn, cần được giải quyết Như vậy để tìm được vấn
đề nghiên cứu, ta phải tự hỏi liệu có vấn đề gì gây ra bức xúc, lo ngại, quan ngại cho cánhân hay cho mọi người, hay là cho xã hội Đinh Văn Sơn & Vũ Mạnh Chiến (2015, tr65) đưa ra khái niệm vấn đề nghiên cứu là một vấn đề có thực phát sinh trong cuộc sốngđược nghiên cứu để tìm ra cách thức tốt nhất nhằm giải quyết vấn đề đó Như vậy từ kháiniệm này thì vấn đề nghiên cứu có 2 đặc điểm: (i) vấn đề nghiên cứu phải là một vấn đề
có thực và (ii) giải quyết vấn đề nghiên cứu phải mang lại lợi ích thiết thực cho mọingười
Như thế nào là một vấn đề nghiên cứu tốt? Theo Trần Tiến Khai (2012, tr 68-70) một vấn
đề nghiên cứu tốt khi đáp ứng được các điều kiện như: (i) Cả nhà nghiên cứu lẫn côngchúng đều thích thú với vấn đề đó; (ii) vấn đề nghiên cứu phải có ý nghĩa thực tiễn vàphải có đóng góp đối với cộng đồng khoa học và xã hội; (iii) sự tương thích giữa tầm cỡcủa vấn đề nghiên cứu và khả năng giải quyết của nhà nghiên cứu; (iv) nguồn lực để giảiquyết vấn đề nghiên cứu; (v) vấn đề nghiên cứu phải có tính khả thi; (vi) phải bảo đảm là
có thể rút ra kết luận hoặc bài học từ nghiên cứu của mình
Theo Zikmund (2013, tr.62), “một vấn đề được xác định tốt thì đã giải quyết được mộtnửa vấn đề rồi”
b. Vấn đề nghiên cứu đến từ đâu?
Vấn đề nghiên cứu được xác định từ nhiều nguồn khác nhau bởi vì ý tưởng nghiên cứuđược hình thành từ nhiều nguồn Theo Nguyễn Đình Thọ (2014, tr 48-51) vấn đề nghiêncứu đến từ hai nguồn chủ yếu là từ lý thuyết và từ thị trường
Nguồn thứ nhất là từ lý thuyết (ô bên trái hình 2.1), một vấn đề nghiên cứu được xác định
bằng việc tổng quan tài liệu trước đó (literature review) – Phần này sẽ được trình bày kĩ
Trang 9hơn ở mục 2.2 (Tổng quan nghiên cứu) Điều quan trọng ở đây cần hiểu là tổng quan tàiliệu (hay tổng kết lý thuyết) đóng vai trò quan trọng trong việc tìm ra vấn đề nghiên cứu.Những gì nghiên cứu trước đã làm, những gì chưa làm và những gì chưa được làm hoànchỉnh là nguồn quan trọng trong nghiên cứu khoa học.
Nguồn thứ hai là từ thị trường thực tiễn (ô bên phải hình 2.1) Theo Nguyễn Đình Thọ
(2014) có hàng loạt vấn đề thị trường vướng phải mà nhà nghiên cứu có thể phát triểnchúng thành vấn đề nghiên cứu cụ thể cho mình Các vấn đề này có thể xuất hiện thôngqua các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, truyền hình, các hội thảo kinhdoanh của các tổ chức hiệp hội, của các tổ chức nhà nước về quản lý kinh doanh Nhữngnghiên cứu khám phá sơ bộ với các tổ chức kinh doanh và các thành viên trong chuỗikinh doanh, thảo luận với các nhà nghiên cứu trong cùng ngành cũng giúp chúng ta nhậndạng hàng loạt vấn đề cần được nghiên cứu
Trang 10Theo dõi lý thuyết
+ Phương tiện truyền thông đại chúng
+ Nghiên cứu sơ bộ
Theo dõi thị trường+ Phương tiện truyền thông đại chúng+ Nghiên cứu sơ bộ
VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU+ trong cùng một ngành khoa học+ Liên quan đến nhiều ngành khoa học (liên ngành)
Hình 2.2: Mô hình nhận dạng vấn đề nghiên cứu
Nguồn: Nguyễn Đình Thọ (2014, tr 50)
Vấn đề nghiên cứu nên được xác định từ cả việc theo dõi lý thuyết và theo dõi thị trường.Theo Nguyễn Đình Thọ (2014, tr 45) trong ngành kinh doanh, dù các vấn đề nghiên cứuđược xác định từ thị trường, nhưng chúng không bao giờ tách biệt với cơ sở lý thuyết.Một khi vấn đề nghiên cứu được phát hiện từ thị trường, chúng ta luôn luôn liên hệ với lýthuyết để xác định xem đã có nghiên cứu nào giải quyết vấn đề này chưa và đã giải quyếtđến đâu? Nếu chưa thì đó là cơ hội tốt cho nghiên cứu của mình còn nếu đã có nghiêncứu giải quyết vấn đề này rồi, thì vấn đề tiếp theo của nhà nghiên cứu là cần xem xétnhững nghiên cứu đã có giải quyết vấn đề này đến đâu, trong bối cảnh nào để có thể đánhgiá cho cơ hội nghiên cứu tiếp theo Ngược lại một vấn đề nghiên cứu trong kinh doanh,
dù xuất phát từ lý thuyết, nó cũng không thể tách rời với thị trường Nghĩa là chúng taluôn xem xét vấn đề nghiên cứu này có giúp ích gì cho các hoạt động sản xuất kinhdoanh trên thị trường
c. Xác định vấn đề nghiên cứu như thế nào?
Để xác định được vấn đề nghiên cứu, theo Trần Tiến Khai (2012), bạn cần thực hiện cácbước như sau:
Trang 11Xác định lĩnh vực quan tâmTìm hiểu tầm quan trọng của vấn đềMức độ ảnh hưởng của vấn đề đến xã hộiChọn góc độ tiếp cận
Hình 2.3: Các bước xác định vấn đề nghiên cứu
Nguồn: Trần Tiến Khai (2012, tr 70)
Bước 1: Xác định lĩnh vực quan tâm, hiện tại bạn đang thích lĩnh vực gì?
Bước 2: Tìm hiểu tầm quan trọng của vấn đề: vấn đề có mang tính thời sự hay không?
Vấn đề có được mọi người hay nhóm nào quan tâm, chú ý đến không?
Bước 3: Mức độ ảnh hưởng đến xã hội: tồn tại nhiều vấn đề về chính sách, quản lý, thị
trường, khách hàng không?
Bước 4: Chọn góc độ tiếp cận giải quyết: lựa chọn góc độ tiếp cận nào? Bằng các chính
sách, bằng các quy định luật pháp, bằng các công cụ khác
Tiêu chí nào để đánh giá một vấn đề nghiên cứu
Làm thế nào để đánh giá một vấn đề nghiên cứu có đáng theo đuổi hay không? Theo TrầnTiến Khai (2012, tr 76) chúng ta có thể xem xét có nên theo đuổi một vấn đề nghiên cứu
cụ thể nào đó hay không bằng cách trả lời những câu hỏi sau đây:
Về tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu
- Có phải là một vấn đề quan trọng không?
- Có trùng lặp với đề tài nghiên cứu nào trước đây không?
- Có đủ cụ thể không?
- Có ý nghĩa về chính sách không?
- Có ý nghĩa về lý thuyết không?
- Có ý nghĩa về phương pháp không?
Trang 12- Có phù hợp với chuyên ngành mà chúng ta theo học hay lĩnh vực mà ta có chuyên mônsâu hay không?
Về sở thích cá nhân
- Chúng ta có quan tâm và hứng thú với vấn đề này không?
- Có giúp chúng ta thăng tiến trong học tập/ nghề nghiệp không?
- Có thu hút sự quan tâm của người đọc không?
- Có được chấp nhận trong lĩnh vực mà chúng ta đang học tập/ làm việc không?
Về tính khả thi của đề tài
- Có phù hợp với kiến thức của chúng ta không?
- Có phù hợp với nguồn tài liệu/ dữ liệu mà chúng ta có thể có hoặc thu thập không?
- Có thể được xây dựng dựa trên lý thuyết, kiến thức và kinh nghiệm mà chúng ta cókhông?
- Có thể tiến hành trong điều kiện những hạn chế về thời gian, nguồn lực và tiền bạc củachúng ta không?
Sau khi nhận dạng được vấn đề nghiên cứu, nhà nghiên cứu cần xác định rõ cần nghiêncứu cái gì và đó là mục tiêu nghiên cứu
2.1.3 Mục đích và Mục tiêu nghiên cứu
Khi viết đề cương nghiên cứu, một điều rất quan trọng là làm sao thể hiện được mục đích
và mục tiêu nghiên cứu mà không có sự trùng lặp nhau
Mục đích nghiên cứu (research purposes): Là hướng đến một điều gì hay một công
việc nào đó trong nghiên cứu mà nhà nghiên cứu mong muốn hoàn thành, nhưng thườngthì mục đích khó có thể đo lường hay định lượng Nói cách khác, mục đích là sự sắp đặtcông việc hay điều gì đó được đưa ra trong nghiên cứu Mục đích trả lời cho câu hỏi
“nghiên cứu để làm gì?” hay “để phục vụ cho điều gì?” và mang lại ý nghĩa thực tiễn
của nghiên cứu, nhắm đến đối tượng phục vụ sản xuất, nghiên cứu (Đinh Văn Sơn & VũMạnh Chiến, 2015)
Mục tiêu nghiên cứu (research objective) là các phát biểu cụ thể rõ ràng, xác định điều
mà nhà nghiên cứu mong muốn đạt được (kết quả) của công trình nghiên cứu (MarkSaunders & cộng sự, 2009) Còn theo Trần Tiến Khai (2012, tr 77), mục tiêu nghiên cứu
Trang 13là phát biểu tổng quát về kết quả mà nhà nghiên cứu mong muốn đạt được sau quá trìnhnghiên cứu
Theo Kumar & Phrommathed (2005), mục tiêu nghiên cứu được chia thành mục tiêuchính (main objectives) và mục tiêu phụ (sub-objectives), tuy nhiên thông dụng hơn trongnghiên cứu kinh doanh và quản trị thì mục tiêu nghiên cứu được phân chia thành 2 loại làmục tiêu tổng quát (general/overall objectives) và mục tiêu cụ thể (Specific objectives) Theo Trần Tiến Khai (2012, tr 77) mục tiêu tổng quát là phát biểu về kì vọng mà nhànghiên cứu mong muốn đạt được khi nghiên cứu theo ý nghĩa tổng quát nhất Nói cáchkhác, mục tiêu tổng quát là kì vọng chung về tác động của nghiên cứu Mục tiêu tổngquát được chia ra và cụ thể hóa thành những mục tiêu chi tiết hơn, liên kết với nhau mộtcách hợp lý, được gọi là mục tiêu cụ thể Mục tiêu cụ thể nên chỉ ra một cách hệ thốngcác khía cạnh khác nhau của nghiên cứu, vốn được tìm trong quá trình xác định vấn đềnghiên cứu, và từ mục tiêu nghiên cứu, có thể gợi ý những nhân tố đóng vai trò là nhữngbiến số trong các mô hình nghiên cứu về sau cũng như mối quan hệ (có thể có) giữa cácnhân tố (biến số) này Mục tiêu cụ thể cũng là những mục tiêu mà ta phải đạt được khi kếtthúc quá trình nghiên cứu
Lấy ví dụ, trong đề tài “Nghiên cứu các yếu tố tác động đến chất lượng sống của người học: trường hợp sinh viên chính quy của Đại học Thương mại” của nhóm sinh viên
trường Đại học Thương mại, mục tiêu tổng quát và cụ thể được đưa ra như sau:
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát: nghiên cứu này hướng đến mục tiêu khám phá các yếu
tố chính tác đọng vào kết quả học tập của sinh viên chính quy tại trường Đại học Thươngmại
Mục tiêu cụ thể: Nghiên cứu này xem xét tác động của kiên định học tập, giá trị học tập,
thông qua biến trung gian là động cơ học tập đến chất lượng sống của sinh viên chính quyĐại học thương mại
Những yêu cầu khi xác định mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tốt là mục tiêu cần phải đáp ứng được các yêu cầu khi xác định mụctiêu nghiên cứu Ngoài ra, theo Maylor, Blackmon & Huemann (2016) khuyến nghị cácmục tiêu mang tính cá nhân của nhà nghiên cứu có thể được bổ sung vào danh sách cácmục tiêu Họ cũng gợi ý rằng những mục tiêu cá nhân như thế sẽ tốt hơn nếu chúng đáp
ứng yêu cầu SMART, SMART nghĩa là Specific, Measurable, Achievable, Realistic, Timebound, nghĩa là các mục tiêu đó phải :
- Cụ thể (Specific): Chính xác là bạn mong đợi điều gì từ việc tiến hành nghiên cứu này?
Trang 14- Đo lường được (Measurable): Những biện pháp đo lường nào bạn sẽ sử dụng, để xác
định bạn có đạt được các mục tiêu hay không?
- Có thể đạt được (Achievable): Mục tiêu phải có tính khả thi, các mục tiêu mà bạn tự đặt
ra có khả năng đạt được trong điều kiện ràng buộc không?
- Thực tế (Realistics): Căn cứ vào tất các những yêu cầu khác trong thời gian của bạn, liệu
bạn sẽ có thời gian và năng lượng để hoàn thành nghiên cứu đúng hạn không?
- Hạn định thời gian hợp lý (Timebound): Liệu bạn sẽ có thời gian để hoàn thành tất cả
những mục tiêu của bạn trong khung thời gian mà bạn đặt ra không?
Phát biểu mục tiêu nghiên cứu như thế nào?
Để phát biểu mục tiêu nghiên cứu một cách đúng đắn, ta cần chú ý đến các yếu tố sau củacác phát biểu:
- Bao quát các khía cạnh khác nhau của vấn đề nghiên cứu và các yếu tố đóng góp vào vấn
Ta phải luôn nhớ rằng khi nghiên cứu được đánh giá, kết quả luôn được so sánh với mụctiêu Nếu các mục tiêu không được phát biểu rõ ràng, cụ thể, thì sẽ không thể đánh giánghiên cứu một cách chính xác
2.1.4 Câu hỏi nghiên cứu
a Câu hỏi nghiên cứu là gì?
Theo Mark Saunders & cộng sự (2009), câu hỏi nghiên cứu (research question) là một sốcác câu hỏi then chốt mà quá trình nghiên cứu sẽ trả lời Thường câu hỏi nghiên cứu làtiền đề của các mục tiêu nghiên cứu Tầm quan trọng của câu hỏi nghiên cứu đã đượccông nhận Một trong những tiêu chuẩn then chốt của một nghiên cứu thành công là bạn
có rút ra được những kết luận rõ ràng từ những dữ liệu đã thu thập được hay không Mức
độ mà bạn có thể thực hiện điều đó, sẽ phần lớn được xác định bởi sự rõ ràng trong việc
Trang 15đặt những câu hỏi nghiên cứu ban đầu của bạn Câu hỏi nghiên cứu thực chất là dạngphát biểu của mục tiêu cụ thể (Nguyễn Đình Thọ, 2014).
Chúng ta có thể dễ dàng chuyển đổi mục tiêu cụ thể của nghiên cứu thành dạng câu hỏi
nghiên cứu Chẳng hạn như với mục tiêu cụ thể của đề tài “Nghiên cứu các yếu tố tác động đến chất lượng sống của người học: trường hợp sinh viên chính quy của Đại học Thương mại” đã đưa ra mục tiêu cụ thể là: “Nghiên cứu này xem xét tác động của kiên định học tập, giá trị học tập, thông qua biến trung gian là động cơ học tập đến chất
lượng sống của sinh viên chính quy Đại học thương mại” (Dương Ngọc Diệp, Nguyễn
Thị Hương Trang, & Đặng Hà Trang, 2017)
Chuyển đổi mục tiêu cụ thể thành dạng câu hỏi nghiên cứu đó là:
1. Liệu rằng kiên định học tập có tác động đến chất lượng sống của sinh viên hay không?
2. Liệu rằng giá trị học tập có tác động đến chất lượng sống của sinh viên hay không?
3. Liệu rằng động cơ học tập có tác động đến chất lượng sống của sinh viên hay không?
b Các loại câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu đóng vai trò rất quan trọng trong qui trình nghiên cứu Thực chất cóthể chuyển hóa mục tiêu nghiên cứu cụ thể thành các câu hỏi nghiên cứu Theo Trần TiếnKhai (2012) bản chất của câu hỏi nghiên cứu liên quan đến các hành động sau: khám phá,
mô tả, so sánh, quan hệ, kiểm định, đánh giá tác động,… và từ đó có thể phân loại câu hỏinghiên cứu như sau:
- Loại câu hỏi nhằm mô tả sự vật, hiện tượng nghiên cứu (ví dụ tỉ lệ sinh viên chính quy tạiĐại học Thương mại hài lòng với chất lượng sống là bao nhiêu?)
- Loại câu hỏi nhằm so sánh các sự vật hiện tượng nghiên cứu (ví dụ liệu có sự khác biệt
về giới tính trong mối quan hệ giữa động cơ học tập với chất lượng sống của sinh viên?)
- Loại câu hỏi nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa các yếu tố, biến số của sự vật, hiện tượng?(ví dụ giá trị học tập liệu có ảnh hưởng kiên định học tập của sinh viên hay không?)
Trang 16c. Xác lập câu hỏi nghiên cứu
Hình 2.5: Thang bậc của vấn đề - câu hỏi nghiên cứu
Nguồn: Cooper, Schindler, & Sun (2006)
Hình 2.1 nhằm minh họa cho sự phân chia thang bậc của vấn đề nghiên cứu và câu hỏi
nghiên cứu, áp dụng hệ thống thang bậc ở hình trên nhà nghiên cứu có thể xét đoán
tính lô-gic và nhất quán của đề tài nghiên cứu Đi theo chiều từ bậc thang đầu tiên đến
bậc thang cuối cùng, nhà nghiên cứu triển khai dần ý tưởng nghiên cứu từ tổng quát
đến chi tiết Dựa trên vấn đề nghiên cứu đã xác định, nhà nghiên cứu thiết lập mục
tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu Từ câu hỏi nghiên cứu, nhà nghiên cứu có thể
triển khai chi tiết hơn thành những câu hỏi điều tra rất chi tiết và đa dạng nhằm thu
thập thông tin cho nghiên cứu Câu hỏi điều tra cũng có thể được phân chia chi tiết
hơn nữa thành câu hỏi đo lường, nhằm đo lường các thông tin, dữ liệu mà ta cần thu
thập
6, Hành động nào được khuyến nghị dựa trên
Quyết định Giải pháp
5, Thông tin, dữ liệu cần biết nên được đo lượng như thế nào?
Câu hỏi đo lường
Câu hỏi điều tra
4, Ta cần biết vấn đề gì để trả lời câu hỏi nghiêncứu? Thông tin nào, dữ liệu nào? Biến số nào cần được thu thập, quan sát?
Câu hỏi nghiên cứu
3, Bản chất của vấn đề nghiên cứu là gì? Các quan hệ nội tại của vấn đề nghiên cứu ntn? Điều gì gây ra vấn đề? Hành độngnào có thể giúp giải quyết vấn đề?
Mục tiêu
nghiên cứu
2 Tại sao ta phải thực hiện nghiên cứu này?
Qua nghiên cứu này, ta hi vọng đạt được gì?
Trang 17Ở chiều ngược lại, có thể thấy nếu nhà nghiên cứu thu thập được thông tin nhờ vàocác câu hỏi điều tra thì nhà nghiên cứu mới có thể trả lời được câu hỏi nghiên cứu.Một khi các câu hỏi nghiên cứu đã được trả lời trọng vẹn, nhà nghiên cứu sẽ đạt đượcmục tiêu nghiên cứu cụ thể, và góp phần đạt được mục tiêu tổng quát Đạt được mụctiêu nghiên cứu, vì vậy cũng có ngĩa là nhà nghiên cứu đã giải quyết được vấn đề tồntại
2.1.5 Đối tượng & phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu (Research object)
Trong nghiên cứu khoa học nói chung, nghiên cứu khoa học trong kinh tế và quản trịnói riêng khi xác định vấn đề nghiên cứu chúng ta cần xác định rõ đối tượng nghiêncứu Theo Nguyễn Đình Thọ (2014, tr 51): Đối tượng nghiên cứu (research object)bao gồm 2 dạng: (i) đối tượng thu thập dữ liệu – hay còn gọi đơn vị thu thập dữ liệu/đơn vị quan sát (unit of observation) và (ii) đơn vị/ đối tượng phân tích (unit ofanalysis) là những gì hoặc những ai chúng ta muốn nghiên cứu Cũng theo NguyễnĐình Thọ (2014) trong nghiên cứu khoa học hàn lâm, đối tượng thu thập dữ liệu đểnghiên cứu cũng thường được gọi tắt là đối tượng nghiên cứu
Trong ngành kinh tế và quản trị, đơn vị phân tích và đơn vị thu thập dữ liệu thườngtrùng nhau, đơn vị phân tích thường bao gồm: cá nhân, nhóm, tổ chức hay mối quan
hệ giữa các cá nhân, tổ chức này (Nguyễn Đình Thọ, 2014)
Cũng với ví dụ về đề tài “Nghiên cứu các yếu tố tác động đến chất lượng sống của người học: trường hợp sinh viên chính quy của Đại học Thương mại” Đối tượng
nghiên cứu của đề tài là sinh viên hệ chính quy đang học tập tại Đại học Thương mại
b Phạm vi nghiên cứu (Research scope)
Đối tượng nghiên cứu được khảo sát trong phạm vi nhất định về mặt thời gian, khônggian và lĩnh vực nghiên cứu (Đinh Văn Sơn & Vũ Mạnh Chiến, 2015)
Cũng với ví dụ về đề tài “Nghiên cứu các yếu tố tác động đến chất lượng sống của người học: trường hợp sinh viên chính quy của Đại học Thương mại” Phạm vi
nghiên cứu của đề tài là:
+ Về thời gian: trong năm học 2016 – 2017
+ Về không gian: tại trường Đại học Thương mại – cơ sở Hà Nội
2.1.6 Giả thuyết nghiên cứu
a Giả thuyết nghiên cứu là gì?
Có nhiều định nghĩa về giả thuyết nghiên cứu Kumar and Phrommathed (2005) cho
Trang 18hợp, giả thuyết chỉ ra một quan hệ giữa hai hay nhiều biến Nguyễn Văn Thắng (2015,
tr 142-143) cho rằng giả thuyết nghiên cứu là luận điểm khoa học ban đầu cần được
chứng minh hoặc kiểm định Như vậy ở đây có 3 cụm từ cần hiểu, một là “luận điểm”,
hai là “khoa học” và ba là “cần được chứng minh hoặc kiểm định”
Nói là “luận điểm” vì nó là những nhận định về quy luật khách quan và cụ thể là về
mối quan hệ giữa các nhân tố, giả thuyết có thể coi là câu trả lời sơ bộ cho câu hỏi
nghiên cứu (nếu câu hỏi nghiên cứu được trình bày cụ thể)
Nói là “khoa học” vì luận điểm hay nhận định này được rút ra trên cơ sở khoa học
Thông thường, cơ sở khoa học chính là các trường phái lý thuyết, kết quả nghiên cứu
trước Những nhận định chỉ đơn giản dựa vào suy đoán chủ quan hoặc kinh nghiệm cá
nhân không được coi là giả thuyết trong nghiên cứu khoa học
“Cần được chứng minh hoặc kiểm định” vì giả thuyết mới chỉ là luận điểm ban đầu
hay câu trả lời sơ bộ Luận điểm hay câu trả lời này cần được kiểm định trên cơ sở dữ
liệu khách quan Vì vậy giả thuyết cần được trình bày dưới dạng có thể kiểm chứng
được
Giả thuyết thường gắn liền với khung hoặc mô hình nghiên cứu Thực chất đây là sự
cụ thể hóa mối quan hệ giữa các biến số trong mô hình đó Giả thuyết được viết ra sẽ
cụ thể hóa điều mà nhà nghiên cứu cần phải chứng minh hoặc kiểm định Khi dữ liệu
được thu thập và phân tích một cách chặt chẽ mà không ủng hộ giả thuyết, nhà nghiên
cứu có thể phải loại bỏ giả thuyết này và tìm kiếm các giả thuyết khác Đó cũng chính
là quá trình nghiên cứu khoa học
b Ví dụ về giả thuyết nghiên cứu
Cũng với ví dụ về đề tài “Nghiên cứu các yếu tố tác động đến chất lượng sống của
người học: trường hợp sinh viên chính quy của Đại học Thương mại” Các giả thuyết
nghiên cứu (research hypothesis) được phát biểu là:
Giả thuyết 1: Có mối quan hệ dương giữa kiên định học tập và chất lượng sống của
Phân biệt giả thuyết và giả thiết
Giả thiết (assumption) là những giả định ban đầu trước khi xây dựng một mô hình nghiên cứu chẳng hạn như để xây dựngđược mô hình hồi quy tuyến tính thì cần phải có một số giả thiết cơ bản như phân phối phải là phân phối chuẩn, phươngsai phải đồng đều Trong khi đó, giả thuyết (hypothesis) là những phát biểu thể hiện mối quan hệ giữa các biến số trong
Trang 19mô hình nghiên cứu cần được chứng minh hay kiểm định, ví dụ như động cơ học tập có tác động cùng chiều đến chấtlượng sống của sinh viên
Hộp…: Ví dụ về vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và giả
thuyết nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu Các yếu tố tác động đến chất lượng sống của sinh viên chính
quy của Đại học Thương mại
Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu này hướng đến mục tiêu
khám phá các yếu tố chính tác động vào kết quả học tập củasinh viên chính quy tại trường Đại học Thương mại
Mục tiêu cụ thể: Nghiên cứu này xem xét tác động của kiên
định học tập, giá trị học tập, thông qua biến trung gian làđộng cơ học tập đến chất lượng sống của sinh viên chính quyĐại học thương mại
Câu hỏi nghiên cứu 1 Liệu rằng kiên định học tập có tác động đến chất lượng
sống của sinh viên hay không?
2 Liệu rằng giá trị học tập có tác động đến chất lượng sốngcủa sinh viên hay không?
3 Liệu rằng động cơ học tập có tác động đến chất lượng sốngcủa sinh viên hay không?
Giả thuyết nghiên
cứu
Giả thuyết 1: Có mối quan hệ dương giữa kiên định học tập
và chất lượng sống của sinh viênGiả thuyết 2: Có mối quan hệ dương giữa giá trị học tập vàchất lượng sống của sinh viên
Giả thuyết 3: Có mối quan hệ dương giữa động cơ học tập vàchất lượng sống của sinh viên
2.2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU (Linh – Uyên)
2.2.1 Khái niệm và vai trò của tổng quan nghiên cứu
Trong nội dung này, khi viết có note là trích dẫn cần phải đảm bảo quy tắc trích dẫn
(Không đạo văn) & Phần này có link đến nội dung 5.4.3 và 5.4.3 sẽ giải thích cụ thể
hơn
Trang 20Tổng quan nghiên cứu là một phần công việc nghiên cứu, hiểu đơn giản là viết “nhận xét về các nghiên cứu” hay “nhận xét đánh giá các nghiên cứu” 1 Đây không chỉ là
việc đọc tài liệu liên quan mà còn yêu cầu người nghiên cứu phải đưa ra đánh giá vềgiá trị của mỗi công trình nghên cứu, sau đó tổ chức những ý tưởng, khám phá trongbài viết của người nghiên cứu Tổng quan nghiên cứu là phần quan trọng của một ấnphẩm khoa học, trình bày chuẩn mực tri thức của chủ đề nghiên cứu và tính sáng tạocủa phương pháp tiếp cận khoa học Phần tổng quan nghiên cứu có thể ảnh hưởng đến
sự thành công của không chỉ ấn phẩm khoa học, công trình nghiên cứu mà cả hồ sơxin tài trợ
Tổng quan lý thuyết là khâu đầu tiên và đóng vai trò quan trọng quyết định trong việcxác định vấn đề nghiên cứu Hart (2009) định nghĩa việc tổng kết lý thuyết là [1]
“việc chọn lọc các tài liệu về chủ đề nghiên cứu, trong đó bao gồm thông tin, ý tưởng,
dữ liệu và minh chứng được trình bày trên một quan điểm nào đó để hoàn thành các mục tiêu đã xác định hay diễn tả các quan điểm về bản chất của chủ đề đó cũng như phương pháp xem xét chủ đề đó” và [2] “việc đánh giá một cách hiệu quả các tài liệu này trên cơ sở liên hệ với nghiên cứu chúng ta đang thực hiện.”
Một cách dễ hiểu, đây là quá trình chọn lọc các tài liệu về chủ đề nghiên cứu, trong đóbao gồm các thông tin, ý tưởng, dữ liệu và bằng chứng được trình bày trên một quanđiểm nào đó để hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu đã được xác định, đồng thời đánhgiá một cách hiệu quả các tài liệu này trên cơ sở liên hệ với nghiên cứu đang đượcthực hiện.2 Theo đó:
- Các tài liệu được chọn lọc là những tài liệu được xuất bản hay không xuất bản cócùng chủ đề nghiên cứu với nghiên cứu mà người nghiên cứu đang thực hiện
- Tổng quan lý thuyết là nghiên cứu và làm rõ các thông tin, ý tưởng, dữ liệu, bằngchứng của mỗi tài liệu đã được lựa chọn theo một quan điểm nhất định
- Đánh giá những kết quả đạt được của các tài liệu nghiên cứu trên cơ sở liên hệ và sosánh với nghiên cứu mà chúng ta sẽ thực hiện
• Việc tổng quan lý thuyết có thể chia thành 2 nhóm 3 :
- Nhóm thứ nhất: Tập trung vào tổng quan các nghiên cứu thực tiễn đã thực hiện trong
quá khứ để đưa ra kết luận chung về kết quả của các nghiên cứu này, nhằm mục đíchđúc rút những gì đã làm được (đã tổng quát được) và những gì cần được tiếp tụcnghiên cứu (khe hổng nghiên cứu)
- Nhóm thứ hai: Tập trung vào tổng quan lý thuyết trong đó trình bày các lý thuyết đã
có cùng giải thích một hiện tượng khoa học nào đó và so sánh chúng về mật độ sâu,
1 Saunder - 6
2 Giáo trình DVS - 72
3 Giáo trình DVS - 72