Bản thân là người con đất biển La Gi, là người được học chuyên ngành về du lịch nhận thấy được những tiềm năng phát triển du lịch của thị xã mình nên tôi đã chọn đề tài “Tiềm năng phát t
Trang 1L ỜI TRI ÂN
Trong bốn năm học tại trường Đại học Tôn Đức Thắng, em đã học hỏi được nhiều kiến thức bổ ích không những cho nghề nghiệp chuyên môn của bản thân, mà còn có cơ hội rèn luyện và hoàn thiện nhân cách Để có được những điều đó em xin chân thành cảm ơn sự dạy dỗ, chỉ dẫn và giúp đỡ tận tình của quý thầy cô trong trường mà đặc biệt là khoa Khoa học xã hội và nhân văn
Thành ngữ Việt Nam có câu “không thầy đố mày làm nên”, trải qua bao thế
kỷ, câu nói của người xưa vẫn còn nguyên giá trị cho đến bây giờ và có lẽ còn kéo dài về sau Nhờ sự chỉ bảo của quý thầy cô mà giờ đây, bản thân em đã có đư ợc
những kiến thức chuyên môn cũng như kỹ năng để làm hành trang bước vào đời, để đóng góp sức mình vào sự phát triển chung của xã hội và của gia đình Bên c ạnh
những kiến thức chuyên môn, thầy cô còn chỉ dạy và cho em những lời khuyên bổ ích để em không chỉ hoàn thiện kỹ năng chuyên môn mà còn hoàn thi ện nhân cách
bản thân Và điều đó em thật sự lấy làm cảm kích từ đáy lòng mình Vì như Bác H ồ
đã nói “có tài mà không có đ ức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm
việc gì cũng khó” Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô! Đặc biệt em xin cảm ơn Ths Nguyễn Tấn Phú đã t ận tình hư ớng dẫn và tạo điều kiện cho em hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này
Em cũng xin chân thành cảm ơn những viên chức của UBND thị xã La Gi đã
tận tình chỉ dẫn và cung cấp cho em những số liệu liên quan đến khóa luận tốt nghiệp này
Cuối cùng em cũng xin t ỏ lòng biết ơn đến gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành bài khóa luận Xin trân trọng cảm ơn!
Một lần nữa xin chúc các thầy cô trường Đại học Tôn Đức Thắng, Ths Nguyễn Tấn Phú và tập thể cán bộ UBND thị xã La Gi, các cán bộ hoạt động trong
lĩnh vực du lịch của thị xã La Gi lời chúc sức khỏe và thành đạt
Sinh viên thực hiện
Đỗ Thị Thảo Nhi
Trang 2NH ẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
……Ngày … Tháng… Năm 2011
Xác nhận của GVHD
Trang 3NH ẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
… Ngày … Tháng… Năm 2011
Xác nhận của GVPB
Trang 4M ỤC LỤC
Trang
PH ẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu đề tài 2
3 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 3
6 Bố cục bài khóa luận 3
PH ẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ THỰC TI ỄN PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1.1.1 Khái niệm du lịch 4
1.1.2 Các loại hình du lịch 5
1.1.3 Khách du lịch 1.1.3.1 Khái niệm 7
1.1.3.2 Phân loại 7
1.1.4 Sản phẩm du lịch 1.1.4.1 Định nghĩa 8
1.1.4.2 Đặc tính của sản phẩm 8
1.1.5 Thị trường du lịch 9
1.1.6 Những điều kiện để phát triển du lịch 1.1.6.1 Điều kiện về tài nguyên du lịch 9
1.1.6.2 Điều kiện về tổ chức 13
1.1.6.3 Điều kiện về kỹ thuật 13
1.1.6.4 Điều kiện cung ứng vật tư, hàng hóa, lương thực thực phẩm 13
1.1.7 Vai trò của du lịch 1.1.7.1 Đối với việc định hướng cho sự phát triển của ngành kinh tế 13
1.1.7.2 Đối với việc tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động trong xã hội 14
Trang 51.1.7.3 Đối với việc phát huy truyền thống, văn hóa các dân tộc 14
1.1.7.4 Đối với việc góp phần khai thác, bảo vệ hiệu quả danh lam thắng cảnh, môi trường sinh thái 15
1.1.7.5 Đối với việc phát triển góp phần tăng doanh thu ngân sách 15
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.2.1 Một số xu hướng phát triển du lịch thế giới: 1.2.1.1 Coi trọng chiến lược, kế hoạch và các chính sách thúc đẩy phát triển du lịch 16
1.2.1.2 Chú trọng đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật và đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 18
1.2.1.3 Chiến lược sản phẩm du lịch 19
1.2.1 4 Tăng cường tiếp xúc tiếp thị du lịch 20
1.2.1.5 Phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường tự nhiên và xã hội, đảm bảo phát triển bền vững 22
1.2.2 Kinh nghiệm phát triển Du lịch Việt Nam 22
CHƯƠNG II: 2.1 TI ỀM NĂNG PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG KHAI THÁC DU L ỊCH CỦA THỊ XÃ LA GI 2.1.1 TỔNG QUAN VỀ TỈNH BÌNH THUẬN Điều kiện tự nhiên: 2.1.1.1 Vị trí địa lý 25
2.1.1.2 Địa hình 25
2.1.2 Dân số, hành chính 26
2.1.1.3 Khí hậu 25
2.1.3 2.1.4 Tổng quan về du lịch Bình Thuận 26
2.2 Cơ quan xúc tiến du lịch Bình Thuận 27
2.2.1 T ỔNG QUAN VỀ THỊ XÃ LA GI 2.2.2 Điều kiện tự nhiên thị xã La Gi Lịch sử hình thành thị xã La Gi 28
2.2.2.1 Vị trí địa lý 31
2.2.2.2 Địa hình 32
2.2.2.3 Khí hậu 33
2.2.2.4 Hệ thống sông hồ 33
2.2.2.5 Rừng và hệ sinh thái 34
2.2.2.6 Tài nguyên biển 35
2.2.3 Tình hình kinh tế - văn hóa xã hội 2.2.3.1 Tình hình kinh tế 35
ăn hóa – xã hội 36
Trang 62.2.4 Cơ quan xúc tiến du lịch thị xã La Gi 37
2.3 TI ỀM NĂNG DU LỊCH CỦA THỊ XÃ LA GI 2.3.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 38
2.3.1.1 Những bãi tắm đẹp tại La Gi 38
2.3.1.2 Những tài nguyên thiên nhiên khác 39
2.3.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 2.3.2.1 Di tích lịch sử 43
2.3.2.2 Các lễ hội 46
2.3.2.3 Làng nghề 53
2.3.2.4 Văn hóa ẩm thực 55
2.4 TH ỰC TRẠNG KHAI THÁC KHÁCH VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH LA GI 2.4.1 Thực trạng về nguồn khách 60
2.4.2 Thực trạng về doanh thu 63
2.4.3 Thực trạng về nguồn lao động trong ngành du lịch La Gi 66
2.4.4 Thực trạng về 2.4.4.1 Cơ sở lưu trú 67 cơ sở vật chất kỹ thuật 2.4.4.2 Kết cấu hạ tầng 70
2.4.5 Thực trạng khai thác nguồn tài nguyên du lịch của La Gi 71
2.4.6 Thực trạng đầu tư vào du lịch 72
2.4.7 Đánh giá chung về tình hình hoạt động du lịch của Thị xã La Gi trong những năm qua (2006 – 2010) 2.4.7.1 Đánh giá chung về tình hình hoạt động du lịch của thị xã La Gi trong những năm qua ( 2006 – 2010) 75
2.4.7.2 Những tồn tại của ngành du lịch thị xã La Gi 76
2.4.7.3 Nguyên nhân của những tồn tại 77
CHƯƠNG III: MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG, NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM KHAI THÁC VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH LA GI 3 1 NH ỮNG ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH 3.1.1 Những định hướng phát triển du lịch của Việt Nam và tỉnh Bình Thuận: 3.1.1.1 Định hướng phát triển du lịch Việt Nam 79
3.1.1 2 Định hướng phát triển du lịch của tỉnh Bình Thuận 81
3.1.2 Định hướng phát triển du lịch thị xã La Gi 82
3.2 NH ỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH LA GI 83
3.2.1 Phát triển sản phẩm du lịch 84
Trang 73.2.2 Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, quảng bá sản phẩm du lịch 90
3.2.3 Phát triển thị trường 90
3.2.4 Tăng cường thu hút nguồn vốn đầu tư cho phát triển du lịch 91
3.2.5 Làm tốt công tác quy hoạch và đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng 91
3.2.6 Đào tạo nguồn nhân lực cho du lịch địa phương 92
3.2 7 Nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước 93
3.2.8 Bảo đảm công tác an ninh trật tự, giữ gìn vệ sinh môi trường tại những khu, điểm du lịch 93
K ẾT LUẬN 95
M ỘT SỐ KIẾN NGHỊ 97
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 98
Trang 8DANH M ỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1: Lượt khách đến với tỉnh Bình Thuận 2006 – 2010
Bảng 2.2: Tình hình lượt khách đến với thị xã La Gi 2006 – 2010
Bảng 2.3: Doanh thu du lịch của tỉnh Bình Thuận 2006 -2010
Bảng 2.4: Doanh thu ngành dịch vụ du lịch thị xã La Gi giai đoạn năm 2006 -2010
Bảng 2.5: Số cơ sở lưu trú của thị xã La Gi qua các năm 2006 -2010
Hình 2.13: Cổng Tam quan Dinh Thầy Thím
Hình 2.15: Chánh điện với kiến trúc độc đáo
Hình 2.14: Hắc hổ - Bạch hổ ngồi chầu ngay sau bức án phong
Hình 2.16: Nhà vỏ ca
Hình 2.18: Đài tưởng niệm Dốc Ông Bằng
Hình 2.17: Nét kiến trúc độc đáo trên mái ngói mang biểu tượng rồng của thế kỷ 19
Hình 2.19: Bậc thang lên Đài tưởng niệm
Hình 2.20: Hò Bả Trạo một trong những nét đặc sắc của lễ hội
Hình 2.21: Lễ rước nghinh thần nhập diện
Hình 2.22: Trống hội trong lễ hội
Hình 2.23 Khám và cấp thuốc từ thiện
Hình 2.24: Sân khấu hóa, phục dựng lại lịch sử cuộc đời Thầy Thím
Hình 2.26: Hội thi gánh cá tại làng Tam Tân – Tân Tiến – La Gi
Hình 2.25: Lễ dâng hương lên Thầy - Thím
Trang 9Hình 2.33: Nước mắm trong thời ủ chờ chín
Hình 2.34: Vườn thanh long tới mùa thu hoạch tại xã Tân Tiến
Hình 2.35: Gỏi ốc voi khi hoàn thành
Hình 2.36: Cá bò hòm nướng
Hình 2.38: Chả lụi khi được dọn ra
Hình 2.37: Chả lụi nướng trên than hồng
Hình 2.39: Lò đổ và bánh căn đã chế biến
Hình 2.41: Một tô bánh căn hoàn chỉnh
Hình 2.40: Khi bánh đã “ra lò”
Hình 2.42: Răng mực
Hình 2.43: Biểu đồ lượt khách đến với La Gi năm 2006 – 2010
Hình 2.44: Lượt khách quốc tế và nội địa giai đoạn 2006 – 2010
Hình 2.45: Doanh thu du lịch thị xã La Gi từ năm 2006 đến năm 2010
Hình 2.46: Doanh thu du lịch từ khách quốc tế và khách nội địa của thị xã La Gi
2006 -2010
Hình 2.47: Số cơ sở lưu trú tại La Gi từ năm 2006 - 2010
Hình 2.48: Số cơ sở xếp hạng sao
Hình 2.49: Số giường và số phòng của La Gi giai đoạn 2006 – 2010
Hình 2.51: Phối cảnh Quần thể Du lịch - resort - khách sạn Sài Gòn -
Hình 2.50: Hệ số sử dụng phòng và giường từ năm 2006 – 2010:
Hình 2.52: Phối cảnh biệt thự trong Quần thể du lịch - resort - khách sạn Sài Gòn - Hàm Tân
Hình 2.53: Quy hoạch tổng thể dự án khu nghỉ dưỡng De Lagi, Bình Thuận
Hình 2.54: Phối cảnh dự án khu nghỉ dưỡng De Lagi, Bình Thuận
Hình 2.55: Cảnh quan dự án khu nghỉ dưỡng De Lagi, Bình Thuận
Hình 2.56: Mô hình dự án Eden La Gi Resort
Hình 3.1: Lọ đựng nến trang trí vỏ sò
Hình 3.2: Tranh kết hợp vỏ sò và hoa khô
Hình 3.3: Rèm treo cửa bằng vỏ sò và sao biển
Trang 10PH ẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài:
Ngày nay, trên thế giới du lịch được coi là một trong những ngành kinh tế quan
trọng, phát triển với tốc độ cao thu hút nhiều quốc gia tham gia vì những lợi ích to
lớn về nhiều mặt mà ngành du lịch mang lại Cho đến nay, hầu hết các nước trên thế
giới đều coi du lịch là một ngành kinh tế không thể thiếu được trong đời sống – xã
hội, du lịch như là một phương tiện trao đổi văn hóa, tình c ảm và là một biện pháp
để tăng cường tình đoàn kết, hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc
Trong những năm qua, hòa vào quá trìn h hội nhập kinh tế của đất nước ngành du
lịch của Việt Nam đã đ ạt được những thành tựu đáng kể Từ năm 1990 trở lại đây
du lịch đã có bư ớc phát triển khá mạnh mẽ Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, năm 1990 doanh thu của du lịch Việt Nam mới chỉ đạt con số là 2.180 tỷ đồng nhưng đến nay 2010 thì doanh thu du lịch đã đạt 96.000 tỷ đồng, một sự gia tăng rất đáng kể so với năm 1990 Với những tiềm năng phát triển vô cùng to lớn, thực tế ngành du lịch Việt Nam đang có những bước tiến mạnh mẽ và khá hiệu quả, thu
nhập từ du lịch không ngừng tăng lên, Việt Nam đang ngày càng được biết đến rộng rãi và được xem là một điểm đến an toàn và thân thiện
Đối với tỉnh Bình Thuận, du lịch trong những năm qua cũng có s ự phát triển mạnh
mẽ Theo báo cáo của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Bình Thuận thì lượt khách
du lịch năm 2005 là 1.250.936 đến năm 2010 thì đ ạt 2.500.202 lượt khách, bình quân hàng năm tăng 14,85% Theo đó, doanh thu du lịch năm 2010 đạt 2.539 tỷ đồng tăng 315,3% so với năm 2005 và bình quân hàng năm tăng 32,95% Nếu so
với mức bình quân giai đo ạn trước 2001-2005 thì cao hơn 12,4% Như vậy, có thể nói du lịch Bình Thuận trong năm năm qua đã có bư ớc phát triển khá mạnh mẽ Trong đó, bên cạnh thành phố Phan Thiết, thị xã La Gi ngày một có đóng góp đáng
kể cho du lịch tỉnh nhà Trong tương lai, La Gi hứa hẹn sẽ là điểm đến mới hấp dẫn
bản đồ du lịch, bộ mặt du lịch nơi đây đang được thay đổi từng ngày
Với ưu thế dọc theo bờ biển và cảnh quan thiên nhiên phong phú đa dạng, đồng thời
nằm trong vùng liên hoàn có thể tạo thành tour du lịch giữa các địa phương trong và ngoài tỉnh, vùng biển La Gi đang vươn mình “cất cánh” Với những tín hiệu lạc
Trang 11quan đó, La Gi hứa hẹn trong tương lai gần là điểm du lịch thu hút du khách khắp nơi
Theo báo cáo của UBND thị xã : giá trị tăng thêm ngành dịch vụ du lịch, lượng khách du lịch và số lượng dự án đầu tư du lịch được Tỉnh chấp thuận hàng năm đều tăng một cách đáng kể Điều đó đã khẳng định được thực tế du lịch đang trên đà phát triển mạnh mẽ của thị xã hiện nay
Trong những năm qua tuy đã có những bước phát triển nhưng thị xã La Gi vẫn chưa khai thác tốt hết tiềm năng sẵn có của mình
Bản thân là người con đất biển La Gi, là người được học chuyên ngành về du lịch
nhận thấy được những tiềm năng phát triển du lịch của thị xã mình nên tôi đã chọn
đề tài “Tiềm năng phát triển và thực trạng khai thác du lịch thị xã La Gi tỉnh Bình Thu ận “ để làm rõ thực trạng khai thác du lịch hiện nay của địa phương và
gợi ý một số giải pháp nhằm khai thác, tận dụng hết được những tiềm năng, tài nguyên sẵn có để phát triển du lịch thị xã ngày một lớn mạnh và là điểm đến hấp
dẫn du khách trong tương lai không xa
2 M ục đích nghiên cứu đề tài
Đánh giá những tiềm năng phát triển du lịch của thị xã La Gi Nghiên cứu thực
trạng khai thác du lịch hiện nay của thị xã và đ ề xuất những giải pháp, kiến nghị
nhằm góp phần vào sự phát triển của thị xã La Gi nói riêng và tỉnh Bình Thuận nói chung
3 L ịch sử nghiên cứu đề tài:
Có thể nói thị xã La Gi hiện nay là một địa phương mới thành lập chỉ hơn 5 năm, do
đó về tình hình phát triển du lịch có thể nói là chưa thật sự phát triển, La Gi đang trong giai đoạn hoàn thiện bộ máy và củng cố, xây dựng phát triển kinh tế - xã hội
Nếu so với thành phố Phan Thiết thì du lịch của thị xã La Gi còn non nớt và ít được nhiều người biết đến Nhưng với những tiềm năng phát triển du lịch của mình hứa
hẹn trong tương lai, La Gi sẽ là điểm đến mới, hấp dẫn của tỉnh nhà
Về tài liệu đi sâu nghiên cứu liên quan đến du lịch tại La Gi hiện nay có thể nói là chưa có một tài liệu nghiên cứu nào trước đây, chỉ có một số tài liệu về địa danh, số
liệu hoạt động du lịch của địa phương và một số báo cáo hoạt động của ban du lịch văn hóa của chính quyền địa phương Đây sẽ là những nguồn tư liệu quý giá để em hoàn thành bài khóa luận của mình
Bên cạnh đó, em cũng nghiên cứu một số bài nghiên cứu hoạt động du lịch của một
số địa phương để tìm hiểu, tham khảo cách làm từ đó làm nền tảng và khung sườn cho em thực hiện bài khóa luận
Trang 124 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch của thị xã
La Gi
- Phạm vi nghiên cứu: thị xã La Gi đư ợc thành lập chính thức từ năm 2005,
thời gian đầu mới thành lập còn nhiều cập rập và bộ máy quản lý chưa hoàn chỉnh,
do đó tôi chỉ đi nghiên cứu sự phát triển du lịch của thị xã từ năm 2006 đến năm
2010
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Khóa luận kết hợp sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp, đánh giá các tài liệu, số liệu để đi sâu nghiên cứu du lịch và thực trạng phát triển du lịch
của thị xã La Gi
Nguồn tư liệu của khóa luận được lấy từ nhiều nguồn, bao gồm: Dữ liệu sơ cấp: các
số liệu thống kê liên quan đến du lịch thị xã La Gi Dữ liệu thứ cấp: sách, báo,
những tài liệu kinh tế, xã hội, văn hóa, du lịch của thị xã La Gi
6 B ố cục bài khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận bao gồm ba chương:
Chương I: Tiềm năng phát triển và thực trạng khai thác du lịch của thị
xã La Gi: chương này đề cập đến những tiềm năng có thể phát triển du lịch của thị
xã La Gi, đồng thời dựa trên những số liệu thống kê của du lịch thị xã để phân tích
thực trạng, đánh giá chung về sự phát triển du lịch của La Gi
Chương II: Cơ sở lý luận: chương này trình bày những khái niệm cơ bản
liên quan đến du lịch, tiềm năng du lịch, mô hình phát triển du lịch của Việt Nam và
của tỉnh Bình Thuận
Chương III: Một số định hướng và giải pháp nhằm phát triển du lịch thị
xã La Gi: chương này dựa trên những mô hình, định hướng phát triển du lịch của
Việt Nam và tỉnh Bình Thuận từ đó đưa ra những giải pháp nhằm phát triển du lịch
thị xã La Gi
Trang 13CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1.1.1 Khái ni ệm du lịch
Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ
ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam
Hiện nay, các khái niệm về du lịch trên thế giới vẫn chưa được thống nhất cụ thể
Đứng dưới một góc độ nghiên cứu khác nhau thì có một định nghĩa khác nhau về du
lịch
Theo Liên hiệp Quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International Union
of Official Travel Organization: IUOTO) định nghĩa : “du lịch được hiểu là hành
động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm
m ục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm
ti ền sinh sống…”
Tại hội nghị LHQ về du lịch họp tại Roma - Italia (21/08 – 5/9/1963) các
chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: “du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện
tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay t ập thể ở bên ngoài thường xuyên của họ hay ngoài nước của họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”
Khái niệm du lịch cũng có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, thế nhưng nhìn chung du lịch vẫn có nghĩa là du ngoạn, thưởng lãm Thuật ngữ “du lịch” dịch ra từ
tiếng Anh, từ chữ “tour” trong tiếng Pháp nôm na có nghĩa là đi một vòng hay nói
rộng ra là một “cuộc dạo chơi” Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội và nhân văn rất phức tạp, trong quá trình phát triển của nó không ngừng mở rộng Do vậy,
việc định nghĩa “du lịch” là một vấn đề khó khăn, chỉ có thể hiểu chung chung
Du lịch là gì?
- Hơn 250 đại biểu từ hơn 90 quốc gia tham dự Hội Nghị Quốc Tế về du lịch và lữ hành tổ chức ở Ottawa, Canada vào tháng 6/1991 đã thống nhất đưa ra định nghĩa
mới về du lịch:
“Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú với
mục đích tham quan, khám phá hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích kinh doanh và những mục đích khác nữa trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm ở bên ngoài môi trường sống định cư”
“Tourism comprises the activities of person travelling to and staying in places outside their usual environment for not more than one consecutive year for leisure, business and other purposers (World Tourism Organization)”
- Theo Bộ Du lịch Việt Nam có hiệu lực từ ngày 01/01/2006: “du lịch là các hoạt
động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của
Trang 14mình nh ằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, tìm hiểu, nghỉ dưỡng trong khoảng
th ời gian nhất định”
Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách: du lịch là một trong
những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang vùng khác, từ một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc
Nhìn từ góc độ kinh tế: du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có n hiệm vụ
phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các
hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới WTO (World Tourism Organization) thì:
“Du l ịch là những hoạt động của con người trong lúc họ đi du hành và ở lại một nơi khác v ới nơi cư trú, trong giai đoạn liên tục ít hơn một năm cho việc nghỉ ngơi, kinh doanh ho ặc những mục đích khác”
1.1.2 Các lo ại hình du lịch:
Hoạt động du lịch có thể phân nhóm theo các nhóm khác nhau tuỳ thuộc tiêu chí đưa ra Hiện nay đa số các chuyên gia về du lịch Việt Nam phân chia các loại hình
du lịch theo các tiêu chí cơ bản dưới đây
1.1.2 1 Phân chia theo môi trường tài nguyên
Trang 151.1.2.4 Phân lo ại theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch
- Du lịch người cao tuổi
1.1.2.8 Phân lo ại theo độ dài chuyến đi
Trang 161.1.3 Khách du l ịch:
1.1.3.1 Khái ni ệm:
( Trích t ừ: phần II, chương II, sách Tổng quan du lịch của tiến sĩ Trần Văn Thông)
Khách thăm viếng (Visitor) là một người đi tới một nơi (khác với nơi họ thường trú) với một lý do nào đó, ngoại trừ lý do để hành nghề và lĩnh lương từ nơi đó Định nghĩa này có thể áp dụng cho khách quốc tế ( International Visitor) và du khách trong nước ( Domestic Visitor) Khách thăm viếng được phân chia làm hai
loại:
+ Khách du lịch (Tourist):
Là khách thăm viếng, lưu trú tại một quốc gia hoặc một vùng khác với nơi ở thường xuyên trên 24 giờ và nghỉ qua đêm tại đó với các mục đích như nghĩ dưỡng, tham quan, thăm viếng gia đình, tham dự hội nghị, tôn giáo, thể thao…
+ Khách tham quan (Excursionist): Là loại khách thăm viếng lưu lại ở một nơi nào đó dưới 24 giờ và không lưu trú qua đêm
1.1.3.2 Phân lo ại:
( Trích t ừ: phần II, chương II, sách Tổng quan du lịch của tiến sĩ Trần Văn Thông)
Phân loại theo phạm vi lãnh thổ:
+ Du khách quốc tế (International Tourist): theo điều 20 chương IV Pháp lệnh
Du lịch những người được thống kê là du khách quốc tế phải có các đặc trưng cơ
Được chia làm ba loại cụ thể:
• Khách du lịch sinh thái cảm giác mạnh: thành phần đa số là thanh niên đi
du lịch cá nhân hoặc theo nhóm nhỏ, tổ chức độc lập, ăn uống có tính địa phương, cơ sở lưu trú đơn giản, thích thể thao và du lịch mạo hiểm
• Khách du lịch sinh thái an nhàn: du khách có lứa tuổi trung niên và cao niên, đi du lịch theo nhóm, ở khách sạn hạng sang, ăn uống ở nhà hàng sang trọng, ưa thích du lịch thiên nhiên
Trang 17• Khách du lịch sinh thái đặc biệt: bao gồm những du khách có lứa tuổi từ trẻ đến già, đi du lịch cá nhân, đi tour đặc biệt, thích di chuyển, thích tự nấu ăn
và thu hoạch kiến thức khoa học
+ Du khách du l ịch văn hóa:
Được chia làm hai loại:
• Du khách du lịch văn hóa đại trà, thuộc mọi lứa tuổi, thuộc mọi thành phần
du khách
• Du khách du lịch văn hòa chuyên đề: bao gồm những du khách có trình độ
hiểu biết về các vấn đề văn hóa, lịch sử, mỹ thuật, nghệ thuật, đi du lịch nghiên cứu
Theo điều 4 chương I Luật Du lịch giải thích từ ngữ: “Sản phẩm du lịch là tập
hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du
lịch”
• Khách mua sản phẩm trước khi thấy sản phẩm
Sản phẩm du lịch có nhiều đặc tính riêng biệt, những đặc tính này cũng là đ ặc trưng của dịch vụ du lịch Sau đây là những đặc tính của sản phẩm du lịch:
• Sản phẩm du lịch thường là một kinh nghiệm nên dễ bắt chước
• Khoảng thời gian mua sản phẩm và thấy, sử dụng sản phẩm quá lâu
• Sản phẩm du lịch ở xa khách hàng
• Sản phẩm du lịch do sự tổng hợp của các nhà kinh doanh khác nhau
• Sản phẩm du lịch như: chỗ ngồi ở máy bay, phòng ngủ khách sạn, ghế ngồi nhà hàng không thể để tồn kho
• Trong thời gian ngắn, lượng cung
Trang 181.1.5 Th ị trường du lịch:
( Trích t ừ phần I chương II sách thị trường du lịch của tiến sĩ Nguyễn Văn Lưu)
Thị trường du lịch là một bộ phận cấu thành đặc biệt của thị trường hàng hoá bao gồm toàn bộ những mối quan hệ và cơ chế kinh tế có liên quan tới thời gian, điều kiện và phạm vi thực hiện dịch vụ và đáp ứng các nhu cầu xã hội về du lịch
Thị trường du lịch cũng như các thị trường hàng hoá thông thường đều chịu sự chi
phối của cácqui luật kinh tế như qui luật cung cầu, qui luật cạnh tranh, qui luật giá
cả, nhưng do có những đặc điểm riêng biệt nên thị trường du lịch xuất hiện muộn hơn so với các thị trường hàng hoá khác Thị trường du lịch là tập hợp của cung,
cầu về sản phẩm du lịch (trong đó chủ yếu là dịch vụ) và các mối quan hệ để xác định giá cả giữa chúng
Nói đến thị trường du lịch là nói đến sản xuất trao đổi sản phẩm, dịch vụ du
lịch, là đối thoại giữa người sản xuất và người tiêu dùng trong đó người tiêu dùng được thoả mãn nhu cầu của mình về các sản phẩm hay dịch vụ du lịch, còn ngư ời
sản xuất thông qua tiếp xúc với khách hàng mà định hướng hoạt động kinh doanh
của mình sao cho thu được hiệu quả kinh tế tối đa Nói một cách chi tiết và đầy đủ hơn thì thị trường du lịch là lĩnh v ực cụ thể trong lưu thông hàng hoá, dịch vụ du
lịch, là tổng hợp các điều kiện thực hiện các sản phẩm hàng hoá đó về kinh tế (gồm các yếu tố nhờ cung cấp giá cả ), kỹ thuật và tâm lý xã hội Mỗi yếu tố đều có vai trò nhất định trong việc cấu thành thị trường du lịch Thị trường du lịch mang tính độc lập tương đối so với thị trường hàng hoá nói chung vì nó thực hiện dịch vụ hàng hoá của ngành du lịch
Một đặc điểm tiếp theo của thị trường du lịch đó là thị trường du lịch quốc tế
chịu sự tác động của các điều kiện về kinh tế, điều kiện về giao thông, không khí hoà bình ổn định trong nước, độ an toàn đối với khách Tính ổn định của thị trường
du lịch bị ảnh hưởng rất lớn bới các điều kiện trên
1.1.6 Nh ững điều kiện để phát triển du lịch:
Là những điều kiện cần thiết để phát triển du lịch một quốc gia hay một địa phương Và dựa trên những điều kiện đó, con người tác động tích cực để xây dựng
và phát triển du lịch Những điều kiện đó là:
1.1.6.1 Điều kiện về tài nguyên du lịch:
Tại điều 10 Pháp lệnh Du lịch Việt Nam (1999) định nghĩa: “Tài nguyên du
lịch được hiểu là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm
tạo ra sức hấp dẫn du lịch” Như vậy tài nguyên du lịch được xem như là tiền đề để
Trang 19phát triển du lịch và là điều kiện tiên quyết để phát triển du lịch vì tài nguyên du
lịch là thành phần quan trọng nhất của phát triển du lịch Một quốc gia, một địa phương có tài nguyên du lịch phong phú, ắt hẳn sẽ có lợi thế để phát triển du lịch hơn những quốc gia, địa phương không có hoặc ít tài nguyên du lịch Có thế nói tài nguyên du lịch góp phần rất lớn cho việc phát triển du lịch một nơi nào đó
• Đặc điểm của tài nguyên du lịch:
Tài nguyên du lịch có những đặc điểm chính sau:
• Khối lượng các nguồn tài nguyên và diện tích phân bổ các nguồn tài nguyên là cơ sở cần thiết để xác định khả năng và tiềm năng của lãnh thổ
du lịch, nghỉ ngơi
• Thời gian khai thác xác định tính mùa của du lịch, nhịp điệu của dòng khách
• Tính bất biến về mặt lãnh thổ của đa số các loại tài nguyên tạo nên lực hút
cơ sở hạ tầng và dòng du lịch tới nơi tập trung các loại tài nguyên đó
• Vốn đầu tư tương đối thấp và giá thành chi phí sản xuất không cao cho phép xây dựng tương đối nhanh chóng cơ sở hạ tầng và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cũng như khả năng sử dụng độc lập từng loại tài nguyên
• Tài nguyên du lịch có khả năng sử dụng nhiều lần nếu tuân theo các quy định về sử dụng tự nhiên một cách hợp lý, thực hiện các biện pháp cần thiết
để bảo vệ chung
• Phân lo ại tài nguyên du lịch: có hai loại:
Tài nguyên du l ịch tự nhiên: là tổng thể tự nhiên các thành phần của nó có thể
góp phần khôi phục và phát triển thể lực, trí tuệ con người, khả năng lao động và
sức khỏe của họ và được lôi cuốn vào phục vụ cho nhu cầu cũng như sản xuất dịch
vụ du lịch Các thành phần của tự nhiên với tư cách tài nguyên du lịch có tác động
mạnh nhất đến hoạt động du lịch là: địa hình, nguồn nước và động thực vật
- Địa hình: là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên phong
cảnh và sự đa dạng của phong cảnh nơi đó Đối với du lịch các dấu hiệu bên ngoài
của địa hình càng đa dạng và đặc biệt thì càng có sức hấp dẫn du khách Các đơn vị hình thái chính của địa hình là núi, đồi và đồng bằng, chúng được phân biệt bởi độ chênh cao của địa hình
+ Địa hình đồng bằng tương đối đơn điệu về mặt ngoại hình, ít gây cảm hứng cho khách tham quan du lịch
+ Địa hình vùng đồi thường tạo ra một không gian thoáng đãng, bao la…tác động mạnh đến tâm lý của khách ưa thích dã ngoại, rất thích hợp với loại hình du
lịch, cắm trại, tham quan…
+ Địa hình miền núi thường có nhiều ưu thế đối với hoạt động du lịch vì có
ự kết hợp của nhiều dạng địa hình, vừa thể hiện vẻ đẹp hùng vĩ và thơ mộng của
Trang 20thiên nhiên, vừa có khí hậu mát mẻ, không khí trong lành Ở miền núi có nhiều đối tượng cho hoạt động du lịch Đó là các sông suối, thác nước, hang động, rừng cây
với thế giới sinh vật tự nhiên vô cùng phong phú Miền núi còn là nơi cư trú của đồng bào các dân tộc ít người với đời sống và văn hóa đa dạng đặc sắc Ở miền núi
với sự kết hợp của địa hình, khí hậu, nguồn nước, tài nguyên động thực vật và bản
sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc ít người đã tạo nên tài nguyên du lịch tổng
hợp có thể phát triển được nhiều loại hình du lịch khác nhau và có sức hấp dẫn rất
lớn đối với du khách
Ngoài các dạng địa hìn h trên, địa hình Krast và địa hình ven bờ có ý nghĩa rất lớn cho tổ chức du lịch Địa hình Krast là kiểu địa hình được tạo thành do sự lưu thông
của nước trong các đá dễ hòa tan (đá vôi, đôlômit, đá phấn, thạch cao, muối mỏ…)
ở Việt Nam chủ yếu là đá vôi Kiểu địa hình ven bờ, các kho chứa nước lớn (đại dương, biển, hồ …) có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch Trên phạm vi thế giới, số khách đi du lịch biển thường chiếm số đông
- Ngu ồn nước: tài nguyên nước bao gồm nước chảy trên mặt và nước ngầm
Đối với du lịch thì nước chảy trên mặt có ý nghĩa quan trọng Nó bao gồm nước đại dương, biển, sông, hồ, suối phun, thác nước…tài nguyên nước mặt không chỉ có tác
dụng phục hồi trực tiếp mà còn ảnh hưởng nhiều đến thành phần khác của môi trường sống, đặc biệt nó làm dịu đi khí hậu ven bờ Hiện nay, trên thế giới đã mọc lên nhiều khu du lịch nghỉ dưỡng ven biển, ven hồ…đã thu hút một lượng lớn du khách
Nước ngầm nhìn chung ít có giá trị đối với du lịch, tuy nhiên cần phải nói tới nguồn tài nguyên nước khoáng Đây là nguồn tài nguyên có giá trị du lịch an dưỡng
và chữa bệnh Tính chất chữa bệnh của các nguồn nước khoáng được phát hiện từ
thời đế chế La Mã Những nước có nhiều tài nguyên nước khoáng là Nga, Đức, Séc…cũng là những nước phát triển loại hình du lịch chữa bệnh
- Sinh v ật: Thế giới động, thực vật đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển
của du lịch chủ yếu nhờ sự đa dạng và tính đặc hữu Ngay nay con người có xu hướng quay trở về với thiên nhiên, vì vậy thế giới động thực vật hoang dã ngày càng thu hút con người và trở thành một hoạt động du lịch sôi nổi Có thể phát triển
du lịch sinh thái rừng, du lịch nghiên cứu, khám phá, du lịch săn bắn
Tài nguyên du l ịch nhân văn : Nói một cách ngắn gọn, là các đối tượng,
hiện tượng do con người tạo ra trong suốt quá trình tồn tại và có giá trị phục vụ cho nhu cầu du lịch Chúng có sức hấp dẫn đặc biệt với số đông khách du lịch với nhiều nhu cầu và mục đích khác nhau của chuyến du lịch Tài nguyên du lịch nhân văn có các đặc điểm sau:
Trang 21- Có tác dụng nhận thức nhiều hơn Tác dụng giải trí không điển hình hoặc chỉ
có ý nghĩa thứ yếu
- Việc tìm hiểu các đối tượng nhân tạo thường diễn ra trong thời gian ngắn
- Số người quan tâm tới tài nguyên du lịch nhân văn thường có văn hoá cao hơn, thu nhập và yêu cầu cao hơn
- Tài nguyên du lịch nhân văn thường tập trung ở các điểm quần cư và thành
Các loại tài nguyên du lịch nhân văn:
- Các di sản văn hoá thế giới: Theo Công ước di sản thế giới
Các di tích: Các tác phẩm
thì di sản văn hóa là:
kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội họa, các yếu
tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở trong hang đá và các công trình, sự kết hợp giữa các công trình xây dựng tách biệt hay liên kết lại với nhau mà
do kiến trúc của chúng, do tính đồng nhất hoặc do trong cảnh quan có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học
Các di chỉ: Các tác phẩm do con người tạo nên hoặc các tác phẩm có sự kết
hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo và các khu vực trong đó có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, fthẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân
rất lớn góp phần vào việc phát triển trí tuệ, tài năng của con người, góp phần vào
việc phát triển khoa học nhân văn, khoa học lịch sử Đó chính là bộ mặt quá khứ
của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia
Được gọi chung là di tích lịch sử – văn hoá vì chúng được tạo ra bởi con người (tập thể hoặc cá nhân) trong quá trình hoạt động, sáng tạo Thứ văn hoá ở đây bao
gồm cả văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần
Trang 221.1.6.2 Điều kiện về tổ chức:
Để có thể sẵn sàng đón tiếp khách du lịch, các tổ chức và xí nghiệp du lịch chuyên trách trước hết phải thực hiện tốt khâu tổ chức Ở La Gi hiện nay, khâu tổ
chức còn nhiều yếu kém về cả mặt kỹ năng và cơ sở vật chất Trước hết La Gi cần
có chương trình nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ tổ chức sự kiện, và đầu tư hơn
nữa vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc tổ chức du lịch
1.1.6.3 Điều kiện kỹ thuật:
Những điều kiện kỹ thuật ảnh hưởng đến sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch trước tiên là các vấn đề về trang bị tiện nghi ở nơi du lịch, việc xây dựng và duy trì
cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết Đó là cơ sở vật chất kỹ thuật của tổ chức du lịch và
cơ sở hạ tầng
1.1.6.4 Điều kiện cung ứng vật tư hàng hóa, lương thực thực phẩm
Việc cung ứng vật tư hàng hóa, lương thực thực phẩm cho ngành du lịch phải thường xuyên, đều đặn và đầy đủ Ngoài ra, cung ứng cần phải đảm bảo chất lượng
và giá cả hàng hóa vật tư để tổ chức du lịch có đủ sức cạnh tranh trên thị trường
Xu hướng mang tính quy luật của cơ cấu kinh tế thế giới chỉ ra rằng tỉ trọng
nông nghiệp từ chiếm vị thế quan trọng đã dần nhường cho công nghiệp và cuối cùng vai trò của kinh tế dịch vụ sẽ chiếm vai trò thống soái Hiện nay ở các nước có
thu nhập thấp, các nước Nam Á, châu Phi nông nghiệp vẫn còn chiếm trên 30%
GNP, công nghiệp khoảng 35% Trong khi đó các nước có thu nhập cao như Hoa
Kỳ, Nhật Bản, Đức, Italia…trên 70% GNP do nhóm ngành dịch vụ đem lại, nông
nghiệp chỉ đóng khoản 3-5% tổng sản phẩm quốc dân
Vai trò của du lịch trong ngành dịch vụ cũng ngày càng rõ nét Theo thống kê của
h ội đồng du lịch và lữ hành thế giới, năm 1994 du lịch quốc tế trên toàn thế giới đã
chiếm 6% GDP, tức là có doanh thu gần 4000 tỷ đô la, vượt trên công nghiệp ô tô,
Trang 23thép, điện tử và nông nghiệp Du lịch thu hút trên 200 triệu lao động chiếm hơn
12% lao động trên thế giới Ở Việt Nam xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng
đã được thể hiện rõ qua các năm: Năm 2001, nông nghiệp chiếm 23,24% GDP, công nghi ệp chiếm 57,91% GDP, dịch vụ chiếm 38,63% GDP Năm 2005, nông
nghiệp chiếm 21,76% GDP, công nghiệp chiếm 60,41% GDP, dịch vụ chiếm
38,15% GDP Năm 2010, nông nghiệp chiếm 20,66% GDP, công nghiệp chiếm 40,24% GDP, ngành dịch vụ chiếm 39,10% GDP Với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm thì du lịch đóng góp lớn cho nền kinh tế Du lịch đã nộp hàng ngàn tỷ đồng vào ngân sách nhà nước Ngoài ra cùng với sự phát triển của du lịch cũng dễ
tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác cùng phát triển Với những thuận lợi,
những mặt tích cực mà phát triển du lịch đem lại thì du lịch thực sự có khả năng làm thay đổi bộ mặt kinh tế của nước ta
1.1.7.2 Phát tri ển du lịch góp phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động
Khi du lịch phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành khác phát triển
Một khi các ngành nghề khác của xã hội phát triển sẽ tạo ra nhiều công việc mới giúp một bộ phận không nhỏ người lao động có công ăn việc làm, tăng thêm thu
nhập, giải quyết có hiệu quả tình trạng thất nghiệp, tạo ra sự ổn định lâu dài về kinh
tế - xã hội, giúp cho nền kinh tế của một địa phương, một quốc gia ngày càng vững
mạnh
Ví dụ cụ thể:
Theo khảo sát của chính quyền địa phương thì khi La Gi hình thành 3 khu du
lịch cộng đồng: Khu du lịch Dinh Thầy Thím – Tam Tân (Tân Tiến), khu du lịch Hòn Bà – Đồi Dương (Tân Bình) và khu du lịch Cam Bình (Tân Phước), đã tạo cho các địa phương trên phát triển các hoạt động du lịch như du lịch lữ hành, khách sạn, nhà hàng…Từ đó đã giải quyết được công ăn việc làm, tăng thu nhập cho nhân dân
và chính quyền các xã, phư ờng có khu du lịch giúp thị xã giảm tỷ lệ thất nghiệp, đồng thời tăng thu nhập cho ngân sách thông qua việc thu thuế của các tổ chức, cá nhân hoạt động du lịch
1.1.7.3 Phát tri ển du lịch giúp phát huy truyền thống văn hóa các dân tộc:
Ngoài việc đi du lịch với mục đích vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng, khách du lịch còn có mục đích khác đó là tìm hiểu đời sống, phong tục tập quán, văn hóa tinh thần
của người bản địa Trong các loại hình du lịch, có loại hình du lịch về nguồn, loại hình du lịch tham quan di tích lịch sử kết hợp với nghiên cứu kiến trúc cổ, du lịch danh lam thắng cảnh kết hợp với du lịch tín ngưỡng, du lịch văn hóa…Tất cả các
loại hình du lịch này tạo điều kiện và động lực cho việc phát huy, giữ gìn các giá trị,
Trang 24nét đẹp văn hóa truyền thống của các dân tộc Những dịch vụ văn hóa truyền thống
sẽ góp phần mang lại lợi ích kinh tế, thu hút đông đảo khách du lịch đến tham quan
1.1.7.4 Phát tri ển du lịch góp phần khai thác bảo vệ hiệu quả danh lam
th ắng cảnh, môi trường sinh thái:
Luật Du lịch 2005 quy định: “Môi trường tự nhiên, môi trường xã hội nhân văn cần được bảo vệ, tôn tạo và phát triển nhằm bảo đảm môi trường du lịch xanh,
sạch, đẹp, an ninh, an toàn, lành mạnh và văn minh” Nhà nước, chính quyền địa phương, các tổ chức, cá nhân, khách du lịch, cộng đồng dân cư địa phương đều phải
có trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn cảnh quan thiên nhiên và môi trường sinh thái tại các khu, điểm du lịch
Danh lam thắng cảnh là những nơi có phong cảnh đẹp, tự nhiên, mang đậm nét hoang sơ, môi trường ít bị ô nhiễm và thường có hệ sinh thái cân bằng Để danh lam
thắng cảnh thu hút được nhiều du khách đòi h ỏi nhân dân và chính quyền địa phương phải có kế hoạch giữ gìn và bảo vệ môi trường thiên nhiên sinh thái Môi trường xanh, sạch, đẹp mang đậm nét hoang sơ, yên ả, thơ mộng sẽ là điểm đến lý tưởng, hấp dẫn du khách Chính điều này sẽ tác động có hiệu quả đến nhận thức và hàng động khai thác, quản lý, bảo vệ, giữ gìn của người dân địa phương và khách
du lịch Điều này cũng t ạo điều kiện cho mọi người biết cách phát huy, gắn lợi ích kinh tế với lợi ích của việc bảo vệ môi trường, bảo vệ hệ sinh thái
Ví dụ:
Khu du lịch resort Mỏm Đá Chim thuộc khu vực xã Tân Hải cách khu du lịch Dinh Thầy Thím không xa là địa điểm hấp dẫn, thu hút nhiều du khách Tại đây, cùng với cảnh quan thiên nhiên đẹp, khu du lịch đã tạo thêm những thảm cỏ xanh
trải dọc bờ biển, hệ thống cây xanh cũng được trồng thêm cùng với rừng dương sẵn
có từ trước, những khu biệt thự nhỏ xinh xắn cùng với những con đường nhỏ lát đá
uốn khúc ra tới bãi biển rất sạch và thoáng mát Việc xây dựng, phát triển khu du
lịch nảy đã góp phần vào việc bảo vệ, giữ gìn cảnh quan danh lam thắng cảnh, môi trường sinh thái tại khu vực biển Tân Hải
1.1.7.5 Phát tri ển du lịch góp phần tăng doanh thu cho ngân sách
Du lịch phát triển sẽ kéo theo các ngành nghề phát triển, góp phần tạo công ăn
việc làm, tăng thu nhập cho các tổ chức và cá nhân Đồng thời doanh thu ngân sách
cũng được tăng lên do nguồn thu từ thuế thu nhập tăng từ các tổ chức, cá nhân hoạt động du lịch Nhờ đó, Nhà nước có kinh phí để giải quyết nhiều vấn đề thuộc đời
sống kinh tế, văn hóa, xã h ội và an ninh quốc phòng Khi đã gi ải quyết tốt các nhiệm vụ phát triển kinh tế sẽ tạo động lực để phát triển ngành du lịch nói chung và kinh tế du lịch nói riêng
Trang 251.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 M ột số xu hướng phát triển du lịch thế giới:
( Trích t ừ phần II, chương II giáo trình kinh doanh quốc tế của PTS Đỗ Đức Bình)
Du lịch được người ta ví như một ngành công nghiệp không khói Ngành du
lịch đã và đang góp ph ần tích cực trong sự phát triển kinh tế của nhiều quốc gia Ngành du lịch góp phần tăng thu ngoại tệ, tạo công ăn việc làm, thúc đẩy nhiều ngành kinh tế khác cùng phát triển Chúng ta có thể tổng hợp một số xu hướng phát triển du lịch ở một số nước như sau:
1.2.1.1 Coi tr ọng chiến lược, kế hoạch và các chính sách thúc đẩy phát triển
du l ịch
Kinh nghiệm của “Cường quốc” Du lịch trên thế giới cho thấy, muốn phát triển du lịch trở thành một trong những ngành kinh tế hàng đầu thì phải đặt nó trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia Chiến lược ưu tiên phát triển du
lịch này phải thông qua một hệ thống cơ chế chính sách đồng bộ nhằm huy động
mọi nguồn lực để thực hiện, đưa du lịch phát triển với tốc độ cao và vững chắc Hệ
thống cơ chế chính sách phải xuất phát từ những đặc trưng của du lịch là ngành kinh
tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng, xã hội hoá cao, mang tính toàn cầu hoá, khu vực hoá Du lịch càng phát triển thì tính chất xã hội hoá của nó càng cao, sự liên ngành và phạm vi hoạt động cuả nó càng rộng rãi Ngoài ra, cơ chế và các chính sách phát triển du lịch phải thích ứng với điều kiện lịch sử, tận dụng được
thời cơ và vận hội ở từng thời điểm
Trong hệ thống chính sách thì chính sách ổn định chính trị, kinh tế trong nước
là chính sách cơ bản, quyết định hàng đầu cho việc phát triển du lịch Chẳng hạn ở
Ấn Độ, sự thất bại của “Năm du lịch Ấn Độ 1991” trước hết là do bất ổn định của tình hình chính trị và kinh tế trong nước với sự kiện thủ tướng Rajiv Gandhi bị ám sát, tiếp đến xung đột phe phái, tình trạng lộn xộn ở một số bang, thêm vào đó là hạ
tầng cơ sở yếu kém đưa đến hậu quả là số khách quốc tế tới thăm giảm 30% so với năm trước
Thường thì ở các nước có du lịch phát triển, ngành du lịch được hình thành trên cơ sở tận dụng được những lợi thế so sánh, nhưng thời gian đầu sức mạnh của
nó thể hiện nhiều ở xu thế phát triển chứ chưa ở thực lực Trên cơ sở xác định như
vậy, các nước này có sự ưu tiên để thúc đẩy du lịch phát triển tạo thế cho ngành du
lịch, sau khi đạt đến độ phát triển nhất định, nó sẽ mang lại tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả chính trị, văn hoá xã h ội cũng phát triển Du lịch muốn phát triển
phải dựa trên cơ sở nguồn tài nguyên du lịch Song nguồn tài nguyên ấy, lúc đầu tồn
tại phần nhiều ở dạng tiềm nămg Muốn tiềm năng du lịch biến thành khả năng, thành sản phẩm du lịch, nhất thiết phải có sự ưu tiên đầu tư cho nó, bao gồm: đầu tư
Trang 26xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật, đầu tư đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch, ưu tiên cho việc chuyên môn hoá, hiện đại hoá trong ngành du lịch Đây là những nội dung cơ bản trong việc ưu tiên phát triển ngành du lịch hiện nay
T ổ chức Du lịch Thế giới, trong một báo năm 1987, đã nh ận xét: Kinh tế du
lịch ở một số nước phát triển mạnh, không phải là sự ngẫu nhiên, đột xuất mà do nhà nước đã quan tâm, đ ặt ra mục tiêu đưa Du lịch thành một ngành kinh tế quan
trọng trong quốc sách của mình Xã hội hoá cao, mang tính toàn cầu hoá, khu vực hoá Du lịch càng phát triển thì tính chất xã hội hoá của nó càng cao, sự liên ngành
và phạm vi hoạt động cuả nó càng rộng rãi Ngoài ra, cơ chế và các chính sách phát triển du lịch phải thích ứng với điều kiện lịch sử, tận dụng được thời cơ và vận hội ở
từng thời điểm
Nước Pháp đã trở thành một trong những điểm du lịch số 1 trên thế giới, năm
1996 thu hút 61,5 triệu lượt khách nước ngoài đến du lịch, phục vụ 230 triệu lượt người Pháp đi du lịch các vùng trong nước, tổng thu nhập du lịch chiếm 10% GDP
cả nước, du lịch nước Pháp đã tạo ra 2 triệu việc làm cho xã hội Sở dĩ nước Pháp đạt được kết quả như vậy là do từ khâu xây dựng kế hoạch đến chính sách ưu tiên phát triển du lịch đã tập trung vào các mục tiêu rất cụ thể: An toàn du lịch cao, vệ sinh môi trường tốt, chiến lược tiếp thị quảng cáo năng động, sản phẩm du lịch đa
dạng, chất lượng cao đáp ứng thị hiếu đủ sức cạnh tranh với các nước Châu Âu khác như Ý, Tây Ban Nha
Du lịch của Indonesia có bước tiến nhảy vọt trong vòng 10 năm (1985 -1995)
vì có một số chiến lược phát triển du lịch rất toàn diện, gồm 10 điểm: Đẩy mạnh công tác tiếp thị, tăng cường khuyến mại sản phẩm du lịch ra nước ngoài, giao thông thuận tiện đến các điểm du lịch, đa dạng hoá sản phẩm du lịch, chú trọng đến phát triển du lịch phù hợp với các đối tượng khách hàng, kiện toàn mối quan hệ
giữa Nghành du lịch với giao thông vận tải, an ninh quốc gia, giáo dục đào tạo,
quản lý lực lượng làm du lịch, khuyến khích tư nhân đầu tư phát triển du lịch, phát triển du lịch đồng bộ, giáo dục mọi người dân hiểu rõ tầm quan trọng của du lịch
Nhờ đặt kế hoạch phát triển du lịch trong chiến lược quốc gia nên có sự phối
hợp chặt chẽ giữa ngành du lịch với các ngành kinh tế, văn hoá Đó là một trong
những nguyên nhân quan trọng đưa du lịch của Indonesia trong những năm gần đây đạt được những thành tựu đáng kể Du lịch Indonesia đã đem lại nguồn thu ngoại tệ
lớn cho quốc gia, khoảng 3-4 tỷ USD mỗi năm Indonesia đã đ ề ra và đang thực
hiện kế hoạch khuyến khích phát triển du lịch 1993-2003 với tên gọi là “Thập kỷ du
lịch Indonesia” Chính sách du lịch được hướng vào thị trường các nước có tiềm năng lớn, đặc biệt là Nhật Bản, Đài Loan, Australia và các nước ASEAN
Trang 27Singapo cũng có bước tiến dài trên con đường phát triển du lịch Với nỗ lực
của Cục xúc tiến du lịch Sangapore (STPB), của các cơ quan hữu quan Chính phủ
và các danh nghiệp, Singapore được dự kiến xây dựng thành một thủ đô của du lịch,
một bức tranh sinh động và hấp dẫn của nghành công nghiệp trong tương lai không
xa Viễn cảnh tương lai đó sẽ được thực hiện qua 6 định hướng chiến lược:
- Xác định lại vị trí của ngành du lịch
- Phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm
- Phát triển du lịch như một nghành công nghiệp
- Quy hoạch không gian phát triển du lịch
- Hợp tác cùng có lợi
- Phấn đấu xây dựng một cường quốc du lịch
Về tổng thể, 6 định hướng chiến lược đó hình thành một mô hình kiến trúc tầm chiến lược, một phác thể để phát triển du lịch trong thế kỷ 21
1.2.1.2 Chú tr ọng đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng phục vụ
du l ịch
Bất cứ lĩnh vực nào muốn phát triển đều phải đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và
cơ sở vật chất kỹ thuật Đối với du lịch cũng vậy, muốn phát triển, trước tiên các phương tiện giao thông, thông tin liên lạc phải rất hiện đại Hiện nay, ở nhiều nước, công nghệ thông tin du lịch đang được ứng dụng phổ biến, như ở Mỹ, lao động trong các cơ sở thông tin du lịch chiếm 37% lao động của ngành du lịch, ở Anh chiếm 35%, ở Pháp chiếm 35,1%, ở Đức chiếm 30%
Các nước trong vùng Đông Nam Á, như Indonesia, trong vòng 10 năm (1985 1994) số lượng du khách quốc tế tăng bình quân 20,5% /năm do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân rất quan trọng là: Nhà nước trung ương và địa phương đã chú trọng đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng, phục vụ phát triển du lịch Các nước khác như Singapore, Thái Lan, Malaysia cũng đều có cả một quá trình đ ầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, nhờ vậy mà du lịch của họ đạt nhiều kết quả
-Trong xây dựng cơ sở vật chất chuyên ngành, ngoài việc chú trọng xây dựng khách sạn phải chú ý xây dựng cơ sở vui chơi, giải trí, các khu du lịch và các quần
thể du lịch (như Trung Hoa Cẩm Tú của Trung Quốc, Trung tâm giải trí ở Cao Nguyên Genting Malaysia, Thế giới thiên đàng Địa ngục của Singapore ) để giữ khách lưu lại lâu hơn, tăng nguồn thu và tăng khả năng hấp dẫn khách đến nhiều
lần Các nguồn vốn để thực hiện chủ yếu là liên doanh với nước ngoài, vốn vay và huy động trong dân
Để đảm bảo cân đối trong xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, phải coi
trọng công tác quy hoạch là công tác hàng đầu, gắn qui hoạch du lịch với quy hoạch kinh tế xã hội của cả nước và của từng địa phương Đồng thời với quy hoạch phải lo
dự án đầu tư để thực hiện đồng bộ Malaysia và Singapore có kinh nghiệm về quy
Trang 28hoạch và tổ chức quản lý thực hiện quy hoạch Ở đây trên cơ sở quy hoạch kinh tế -
xã hội chung, họ tiến hành quy hoạch từng vùng, trong quy hoạch từng vùng, từng khu vực thường là quy hoạch cả không gian (mô hình) và làm dự án cụ thể Từ đó
mới đề ra chính sách để dầu tư (đấu thầu, cho thuê trọn, cổ phần) Do vậy, những khu công nghiệp mới, các thành phố đều gắn với các điểm du lịch Đảm bảo được tính đồng bộ trong quy hoạch xây dựng
Thực tiễn của các nước có Ngành du lịch phát triển lâu năm, cũng như một số nước có Ngành du lịch mới phát triển mạnh đều có sự ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất
kỹ thuật du lịch Hàn Quốc coi du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn nên đã đầu tư vào xây dựng khách sạn Theo thống kê của Hàn Quốc năm 1990, Hàn Quốc có 399
khách sạn lớn với tổng số với 40 nghìn buồng, thu hút 2,9 triệu lượt khách nước ngoài, doanh thu từ du lịch 3,43 tỷ USD, năm 1991 đưa thêm 195 khách sạn mới
với 18 nghìn buồng vào hoạt động
Malaysia là cường quốc du lịch ở Đông Nam Á cũng th ực hiện ưu tiên đầu tư
rất lớn cho du lịch, tạo ra nhiều bãi biển đẹp, cung cấp nhiều thực phẩm phong phú
và các món ăn ngon Chính phủ Malaysia mạnh dạn đầu tư các khoản tiền lớn vào
việc trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử, tận dụng địa hình nhiều đảo cùng các danh lam thắng cảnh khác, hoàn thành sân bay mới Hiện nay, Malaysia có 80 nghìn
buồng khách sạn, với tốc độ tăng buồng khách sạn hàng năm trên 10% Ở Trung
Quốc 10 năm trở lại đây, Nhà nước và chính quyền địa phương ở các tỉnh, thành
phố đều rất quan tâm đầu tư các công viên, nâng cấp giao thông vận tải, thông tin liên lạc đạt tiêu chuẩn quốc tế Hiện nay, Trung Quốc có khoảng 450 nghìn buồng khách sạn với tốc độ tăng trưởng buồng khách sạn trên 5%/ năm
Nhiều nước khác trong khu vực cũng đang tích cực đầu tư vào cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng để phát triển Ngành du lịch
1.2.1.3 Chi ến lược sản phẩm du lịch
Các nước đều chú trọng thực hiện chiến lược sản phẩm đặc thù, chất lượng tốt, giá thành hạ để nâng cao sức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh Chiến lược sản phẩm như vậy, đặc biệt là chiến lược sản phẩm du lịch, phụ thuộc vào công tác quản lý hệ
thống doanh nghiệp, đào tạo cơ sở vật chất kỹ thuật
Hệ thống doanh nghiệp du lịch nước ngoài bao gồm các hãng, công ty du lịch (lữ hành), doanh nghiệp khách sạn và các doanh nghiệp dịch vụ du lịch khác, hoạt động chuyên môn hóa theo ngành nghề Trong quản lý doanh nghiệp, kinh nghiệm đáng chú ý của nước ngoài là phân loại doanh nghiệp và phân hạng khách sạn để nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh doanh Trong quá trình hoạt động
đã hình thành các Hiệp hội du lịch, Hiệp hội khách sạn hoặc Hiệp hội hỗn hợp nhiều
loại hình doanh nghiệp trong phạm vi quốc gia, khu vực hoặc trên toàn thế giới, hỗ
trợ nhau cùng phát triển Ví dụ, Hiệp hội Du lịch Hàn Quốc thành lập từ năm 1963,
Trang 29nay có 2.939 hội viên (2.389 hãng lữ hành, 480 khách sạn), Hiệp hội Du lịch Châu
Á Thái Bình Dương (PATA) thành lập năm 1951 bao gồm các thành viên là 2000 tổ
chức lữ hành, 95 cơ quan du lịch quốc gia và địa phương, 65 hãng hàng không và tàu biển, 557 khách sạn, 434 đại lý du lịch, ngoài ra còn có 16.000 hãng lữ hành, khách sạn là thành viên của 79 chi hội thuộc trên 40 quốc gia trên thế giới Các quốc gia, các địa phương dựa vào những lợi thế so sánh để tạo nên những
sản phẩm độc đáo, đa dạng, hấp dẫn khách đến du lịch và du khách với các sản
phẩm du lịch độc đáo nên đã thu hút s ố lượng khách quốc tế ngày một đông Tại Băngkok (Thái Lan) có các cửa hàng miễn thuế bán các sản phẩm truyền thống giá
rẻ, chất lượng cao, các mặt hàng xa xỉ phẩm của các nước nổi tiếng, các loại quần
áo hợp mốt của các nhà thiết kế có tên tuổi, nhằm thu hút khách du lịch Tư tưởng
chỉ đạo hoạt động du lịch của Thái Lan là: Luôn tìm cách thoả mãn nhu cầu của khách hàng về vật chất, tinh thần và tâm lý Khẩu hiệu phục vụ khách hàng là gây
ấn tượng tốt cho khách ngay từ bước chân đầu tiên đến Thái Lan và làm cho khách hài lòng đ ến điểm cuối cùng, 80% số người nước ngoài vào Thái Lan chỉ cần ghi tên là xong, không phải cần nhiều thủ tục phiền hà
Ở Trung Quốc, Ngành du lịch đã đưa ra những sản phẩm du lịch độc đáo, đa dạng
nhằm thu hút du khách, mỗi năm có một chủ đề riêng: Năm 1993 là “Năm du lịch phong cảnh”, năm 1994 là “Năm du lịch văn vật - lịch sử”, năm 1995 là “Năm du
lịch phong tục tập quán các dân tộc”, năm 1996 “Năm du lịch nghỉ mát”, năm 1997
là “Năm du lịch đón Hồng Kông trở về với Trung Quốc” Kết quả năm 1996 số khách du lịch đến Trung Quốc lên 26 triệu lượt, tăng 11,5% so với năm 1995, được
xếp hàng thứ 5 trên thế giới (năm 1990 xếp thứ 12), thu nhập ngoại tệ đạt 10,5 tỷ USD
1.2.1 4 Tăng cường tiếp xúc tiếp thị du lịch
Mục đích của xúc tiến là tăng cường quảng cáo trong du lịch nhằm giới thiệu, hình thành, đ ịnh hướng các sản phẩm du lịch của đất nước đối với du khách, xúc
tiến, tuyên truyền quảng cáo là một chi phí nhưng rất cần thiết trong du lịch, hiệu
quả rất lớn, khó lượng hoá Tổ chức du lịch thế giới chẳng những quan tâm đến số thu nhập ngoại tệ do du lịch mang lại, sự tiến bộ của giao thông- vận chuyển, thông tin liên lạc mà còn theo dõi sát ngân sách chi cho xúc tiến của các thành viên, khuyến khích các nước đẩy mạnh xúc tiến du lịch
Xúc tiến du lịch được các nước rất chú ý, nhà nư ớc tài trợ kinh phí rất lớn và cho thực hiện nhiều biện pháp hữu hiệu Nhiều nước có Cơ quan Xúc tiến du lịch
với các tên gọi khác nhau như: Malaysia, Singapore có Cục xúc tiến du lịch, Hàn
Quốc có Liên đoàn Du lịch Quốc gia
Theo tổ chức Du lịch Thế giới: Ngân sách xúc tiến du lịch của các nước hàng năm đều tăng Ngân sách du lịch của 84 nước là hội viên tổ chức du lịch Thế giới
Trang 30vào đầu thập kỷ 80 đã lên tới 2000 triệu USD/ năm (2 tỷ) 43 nước báo cáo con số cụ
thể về tổng số ngân sách chi cho xúc tiến năm 1991 là 1,312 tỷ USD, năm 1992 là 1,416 tỷ Năm 1992, Tây Ban Nha chi 85 triệu USD cho xúc tiến, Pháp 72 triệu, Anh 60 triệu, Úc 51 triệu, Mêhico 34 triệu Để chuẩn bị cho năm du lịch 1994 cho tuyên truyền quảng cáo, Chính phủ Singapore đã chi 100 triệu USD cho giai đoạn
1996 - 2000 để phát động chiến dịch xây dựng Singapore thành thủ đô du lịch Theo các nhà phân tích quốc tế thì 1 USD bỏ ra cho tuyên truyền quảng cáo du lịch sẽ thu
về bình quân 500 USD, tuy nhiên tuỳ theo các yếu tố văn hoá, lịch sử, khí hậu,
thắng cảnh, ăn uống chỉ số này chỉ có sự khác nhau giữa các vùng Ví dụ, vùng Châu Á - Thái Bình Dương n ếu có 1 USD bỏ ra cho quảng cáo du lịch sẽ chỉ thu được 150 USD, nhưng ở Châu Âu lại lên đến 635 USD
Nếu xúc tiến du lịch bị xem nhẹ, lơ là sẽ đưa đến tình trạng kinh doanh giảm sút Trong vòng 10 năm liên ti ếp (1975-1985) nước Pháp có số khách quốc tế đến
du lịch đứng hàng thứ hai thế giới (sau Mỹ) Năm 1985 đạt số lượng cao nhất 28 triệu lượt khách, thu nhập 10,150 tỷ USD Nhưng 1986 bị tụt xuống còn 9,5 tỷ USD, đứng thứ 4 sau Mỹ, Tây Ban Nha và Italia Một trong những nguyên nhân chính đưa tới giảm sút thu nhập là sự yếu kém trong xúc tiến du lịch Năm 1992, nước Pháp trở lại chiếm vị trí hàng đầu, đón 43 triệu lượt và thu 103 tỷ France Bộ trưởng Giao thông, Thiết bị, nhà ở và du lịch Pháp đánh giá nguyên nhân thắng lợi đầu tiên là nhờ đẩy mạnh xúc tiến du lịch Ngay từ năm 1987, Ngành du lịch Pháp
đã thực hiện chiến lược thống nhất các hoạt động xúc tiến du lịch cả nước trong một
tổ chức gọi là Ngôi nhà nước Pháp (“Maison de la France “), trực thuộc Bộ Giao thông, Thiết bị, Nhà ở và Du lịch Nhiệm vụ của tổ chức này là tạo ra một hình ảnh nước Pháp tiêu biểu, quảng bá du lịch, đưa sản phẩm du lịch của nước Pháp ra nước ngoài đủ mạnh để tác động vào du khách Ngân sách hoạt động cho ngôi nhà chung
từ 2 nguồn: 50% do nhà nước cấp, 50% do tư nhân đóng góp
Các nước du lịch phát triển đều đặt đại diện du lịch quốc gia, dưới hình thức văn phòng hay Đ ại diện du lịch ở nước ngoài để làm công tác xúc tiến, quảng bá, nghiên cứu thị trường thu hút khách vào nước mình, coi đây là phương ti ện quan
trọng xúc tiến quốc tế Theo điều tra của Tổ chức du lịch thế giới thì hiện nay chỉ cóa khoảng 14% số nước không có Văn phòng đ ại diện du lịch quốc gia ở nước ngoài, nhưng họ giao chức năng này cho Sứ quán đảm nhiệm
Hội chợ, hội nghị du lịch quốc tế và các sự kiện trong nước như liên hoan nghệ thuật, Olympic, các sự kiện thể thao là một trong những hình thức xúc tiến,
quảng cáo du lịch hiệu quả nhất Nhằm thu hút khách du lịch quốc tế, các nước ASEAN đang tăng nỗ lực hướng vào loại khách quay trở lại hai hoặc nhiều lần
Hiện nay, các nước ASEAN đang phát động quảng bá các điểm du lịch và mời chào các loại hình du lịch mới hơn, gồm cả các chương trình trọn gói theo mùa đặc thù,
Trang 31đồng thời cũng có những bước đi nhằm đa dạng hoá sản phẩm du lịch như kết hợp
du lịch sinh thái với việc tham quan các khu nhân tạo Hầu hết các nước ASEAN đều thực hiện “Năm du lịch”, để tập trung vào việc quảng bá, giới thiệu rộng rãi
những điểm du lịch, nêu bật văn hoá, lịch sử và nghệ thuật của một quốc gia cụ thể
1.2.1.5 Phát tri ển du lịch gắn với bảo vệ môi trường tự nhiên và xã hội, đảm
Trong phát triển du lịch hiện nay đặt ra nhiều vấn đề không thể xem nhẹ: ô nhiễm môi trường, rác thải, tắc nghẽn giao thông Giữa du lịch và môi trường có
mối quan hệ nhân quả Du lịch là một ngành rất nhạy cảm với môi trường, chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường ô nhiễm, tác động, hạn chế đến khả năng phát triển Ở Sip, sau 10 năm vùng thiên nhiên đẹp đẽ biến mất bởi tiếng ồn ào, huyên náo của các sàn nhảy disco, khách sạn, nhà hàng Trong công viên quốc gia Ambosdi Kênia các chú báo Gêpa buộc phải thay đổi thời gian săn mồi ban ngày để tránh các đoàn xe chở khách du lịch Tại Luân Đôn, hè đường được thiết kế xây dựng từ thế
kỷ 13 hư hỏng nặng do khách tham quan du lịch với 17 ngàn người/ngày dẫm lên
1.2.2 Kinh nghi ệm phát triển Du lịch Việt Nam
( Trích t ừ phần II, chương XI, tổng quan du lịch của Vũ Đức Minh)
Bởi vị trí, vai trò của du lịch đem lại không chỉ về mặt kinh tế mà còn về mặt
xã hội, văn hoá, môi trường…là rất lớn nên trong những năm qua du lịch đã được Đảng và nhà nước quan tâm phát triển Trải qua hơn 40 năm hình thành và phát triển, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, được sự quan tâm lãnh đạo của Đảng và nhà nước, các cấp, các ngành, sự hưởng ứng của nhân dân, sự giúp đỡ, hỗ trợ quốc tế và
nỗ lực của toàn ngành, du lịch Việt Nam đã có những phát triển vượt bậc, nhanh chóng thu hẹp khoảng cách với du lịch các nước trong khu vực, trở thành ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội Tuy nhiên du lịch Việt Nam còn có những khó khăn, hạn chế cả về chủ quan lẫn khách quan, nên phát triển chưa ổn định, thiếu bền vững, hiệu quả chưa tương xứng với tiềm năng du lịch to
lớn của đất nước
Trang 32Hơn 40 năm phát triển và đổi mới ngành du lịch đã cho những kinh nghiệm quý báu:
• Một là: từ định hướng đúng đắn của Đảng việc quán triệt đầy đủ vai trò và tác dụng nhiều mặt của du lịch, cũng như những mặt trái, những hiện tượng tiêu cực
có thể phát sinh và đi liền với hoạt động du lịch ở mọi cấp, mọi ngành hiện nay là
rất cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn Trong tình hình thế giới hiện nay với xu
thế toàn cầu hoá, khu vực hoá và xã hội hoá du lịch, quan hệ về mọi mặt giữa các nước vừa hợp tác, vừa đấu tranh và cạnh tranh vì phát triển du lịch là hướng chiến lược, yếu tố góp phần trực tiếp vào sự phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng và bảo vệ
tổ quốc, thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước
• Hai là: du lịch chỉ phát triển nhanh, bền vững khi có một chiến lược quốc gia
về phát triển du lịch và được cụ thể hoá bằng chương trình hành động quốc gia
Cần có một sự chỉ đạo tập trung thống nhất, đúng hướng và nhanh chóng từ cấp cao trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và nhà nước đến các cấp thừa hành ở các bộ, ngành trung ương và địa phương, tạo môi trường cho du lịch phát triển đúng hướng
và hiệu quả
• Ba là: quản lý nhà nước về du lịch cần tăng cường trên tất cả các lĩnhvực: cơ
chế chính sách ưu tiên phát triển, phù hợp với điều kiện đất nước và hợp với thông
lệ quốc tế và xu thế phát triển du lịch thế giới, phải đâu tư ban đầu bằng ngân sách nhà nước và huy động nhiều nguồn vốn khác, có bộ máy tổ chức tương ứng nhiệm
vụ chính trị, đảm bảo ổn định, quan tâm đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch
và giáo dục du lịch toàn dân, phối hợp đồng bộ, thường xuyên liên ngành, địa phương ở tất cả hoạt động liên quan đến du lịch trong và ngoài nước
• Bốn là: ngành du lịch phải đi đầu làm nòng cốt trong nghiên cứu, triển khai chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách phát triển du lịch và thể chế hoá thành các luật lệ, biện pháp và chương trình cụ thể Thường xuyên nghiên cứu thông tin, kinh nghiệm phát triển du lịch thế giới, tổng kết thực tiễn kịp thời để phát huy thế mạnh và tiềm năng to lớn về du lịch của các ngành, các địa phương
Qua chương 1 đã ph ần nào cho chúng ta hiểu được những định nghĩa cơ bản
về du lịch, sản phẩm du lịch, thị trường du lịch, tiềm năng du lịch cũng như biết được vai trò của du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay
một địa phương Với chương 1 giúp ta nhận thấy những điều kiện để phát triển du
lịch một địa phương, cũng như kinh nghiệm phát triển du lịch của các quốc gia trên
thế giới Dựa trên những cơ sở lý luận này làm tiền đề để đi sâu phân tích những
Trang 33tiềm năng du lịch của địa phương và những thực trạng của nó, đồng thời dựa vào
những kinh nghiệm phát triển du lịch của thế giới và Việt Nam để xây dựng, đề xuất
những giải pháp để khắc phục những tồn tại cũng như khai thác hết những giá trị
của tiềm năng sẵn có góp phần phát triển du lịch tại địa phương
Trang 34CHƯƠNG II: TI ỀM NĂNG PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG
hải cực Nam Trung Bộ Việt
Nam, với bờ biển dài 192
km từ mũi Đá Chẹt giáp Cà
Ná (Ninh Thuận) đến bãi
bồi Bình Châu (Bà
Rịa-Vũng Tàu) Phía Bắc giáp
tỉnh Ninh Thuận, phía Tây
Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng,
phía Tây giáp tỉnh Đồng
Nai, phía Tây Nam giáp
tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu Tỉnh
lỵ của Bình Thuận là thành
phố Phan Thiết, cách Thành phố Hồ Chí Minh
Tổng diện tích: 7.828 km², chiều dài bờ biển: 192 km, diện tích vùng lãnh hải: 52.000 km²
198 km
2.1.1.2 Địa hình:
Địa hình Bình Thuận bao gồm 4 dạng cơ bản: núi thấp, gò đồi, đồng bằng, đồi cát
và cồn cát ven biển Ngoài khơi có một số đảo, trong đó có 10 đảo của huyện đảo Phú Quý, cách thành phố Phan Thiết 120 km Trên địa bàn tỉnh có một số núi cao như: Đa Mi (1.642 m), Dang Sruin (1.302 m), Ông Trao (1.222 m), Gia Bang (1.136 m), núi Ông (1.024 m) và Chi Két (1.017 m) Một số nhánh mũi chạy ra sát
biển tạo nên các mũi La Gàn, Kê Gà, Mũi Né, Hòn Rơm
Trang 352.1.2 Dân s ố, hành chính
Dân số: 1.169.450 người (điều tra dân số 01/04/2009) Mật độ: 149 người/km² Số nam: 590.671 người, số nữ: 578.779 người Thành thị: 460.800 người, nông thôn:
708.650 người
Có 34 dân tộc cùng sinh sống ở Bình Thuận, trong đó đông nhất là dân tộc Kinh,
tiếp đến là các dân tộc Chăm, Rag Lai, Hoa (tập trung nhiều ở phường Đức Nghĩa - thành phố Phan Thiết), Cơ Ho, Tày, Chơ Ro, Nùng, Mường
Hiện nay Bình Thuận có 10 đơn vị hành chính bao gồm:
• Huyện Hàm Thuận Nam1 thị trấn và 12 xã
• Huyện Tánh Linh
• Huyện
1 thị trấn và 13 xã Hàm Tân
• Huyện
2 thị trấn và 8 xã Đức Linh
• Huyện đảo
2 thị trấn và 11 xã Phú Quý
Bình Thuận có 125 xã, phường và thị trấn
3 xã
2.1.3 T ổng quan về du lịch Bình Thuận
Bình Thuận thuộc khu vực duyên hải Nam Trung bộ, là tỉnh giàu tài nguyên về
biển, rừng, khoáng sản, đặc biệt là tiềm năng phát triển du lịch với nhiều bãi biển đẹp, cảnh quan tự nhiên, thơ mộng, hùng vĩ, hoang sơ…kết hợp cùng các di tích văn hoá lịch sử, với nhiều kiến trúc độc đáo
Bình Thuận có khí hậu nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nắng ấm, không khí trong lành, mát mẻ, nhiệt độ ôn hoà (trung bình 27 độ C), lượng mưa thấp và tập trung đã t ạo môi trường thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động du lịch quanh năm Bình Thuận còn có hệ sinh thái động thực vật phong phú về chủng loại có giá
trị cao phục vụ du khách tham quan, nghiên cứu Nhiều mỏ nước khoáng có lưu lượng khá lớn, độ nóng cao, có tiềm năng phục vụ cho việc tổ chức các hoạt động
du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, chữa bệnh… như: Suối nước khoáng Vĩnh Hảo (Tuy Phong), Suối nước nóng Bưng Thị tại chân núi Tà Cú (Hàm Thuận Nam), Suối khoáng nóng Phong Điền (Hàm Thuận Nam), Suối nước khoáng Đakai (Đức Linh)
Trang 36Trong các tài nguyên về du lịch, tài nguyên về du lịch biển là nổi bậc hơn cả
Với 192 km chiều dài bờ biển, ven biển còn có nhiều đảo, cù lao, vũng, v ịnh, bãi
biển có cảnh quan đẹp, môi trường hoang dã với những bãi cát trắng, nước trong xanh, tạo nên nhiều điểm du ngoạn nổi tiếng như: Cà Ná, Cù Lao Câu, Bình Th ạnh, Gành Son (Tuy Phong), Bàu Trắng (Bắc Bình), bãi biển Đồi Dương – Thương Chánh, Rạng, Mũi Né – Hòn Rơm (Tp Phan Thiết), Mũi Điện – Khe Gà, Thuận Quý (Hàm Thuận Nam), Đồi Dương, Hòn Bà, Ngảnh Tam Tân, Cam Bình (La Gi)
… trong đó có một số cảnh quan thu hút nhiều du khách như: Đồi Cát Bay (Mũi Né, Hoà Thắng), Hòn Rơm (Mũi Né), Su ối Tiên (Hàm Tiến), Bãi đá màu - Bình Thạnh (Tuy Phong), cùng các tài nguyên về du lịch nhân văn như: Đá Ông Địa, Lầu Ông Hoàng, quần thể Tháp Chăm Pô Sah Inư, trường Dục Thanh (Phan Thiết), Chùa Cổ
Thạch (Tuy Phong), chùa Núi Tà Cú, các lễ hội dân gian như: lễ hội Cầu Ngư, lễ
hội Nghinh Ông, lễ hội Trung thu, lễ hội Dinh Thầy Thím, lễ hội KaTê, Ramưwan (đồng bào Chăm)… tất cả những tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn trên cùng
với điều kiện khí hậu thuận lợi đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động du lịch phong phú, đa dạng và quanh năm
Ngoài ra, Bình Thuận còn là tỉnh sở hữu nhiều cái nhất, Trung tâm sách Kỷ
lục Việt Nam – VIETKINGS đã chính thức xác lập 16 kỷ lục Việt Nam tại Bình Thuận như: địa phương có Resort – Hotel nằm dọc biển nhiều nhất Việt Nam, Đồi Cát Mũi Né- Đồi Cát thay đổi hình dạng tự nhiên nhiều nhất Việt Nam, Bãi đá Cổ
thạch có hình dạng, màu sắc nhiều nhất Việt Nam, Lễ hội Nghinh Ông Quan Thánh
Đế Quân lớn nhất Việt Nam, Phan Thiết – Địa phương có thương hiệu sản xuất nước mắm đầu tiên tại Việt Nam vv… Bình Thuận còn là nơi bảo tồn, gìn giữ nhiều
di tích lịch sử, văn hóa Chăm như một phần giá trị đặc sắc văn hóa ngàn năm của dân tộc Việt
Sự kiện Nhật thực toàn phần (10/1995) đã đánh th ức tiềm năng du lịch của Bình Thuận Từ đó đến nay, du lịch của tỉnh có bước phát triển nhanh chóng và trở thành một ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh, có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, sự phát triển của ngành du lịch đã tạo động lực phát triển các ngành kinh tế khác góp phần nâng cao vị thế của tỉnh Bình Thuận
2.1.4 Cơ quan xúc tiến du lịch Bình Thuận
Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch là nơi quản lý tất cả các hoạt động của du
lịch trong tỉnh nói chung Trong Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch nhiều phòng ban nhưng trong đó phòng nghi ệp vụ du lịch và phòng quy hoạch phát triển du lịch có trách nhiệm trực tiếp đại diện UNBD tỉnh quản lý về du lịch
-
Cơ cấu phòng ban của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch bao gồm:
Ban chấp hành Đảng bộ Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch
Trang 37La Gi (phát âm: /la-zi/) Thị xã La Gi thuộc tỉnh Bình Thuận, là phần đất tách
từ huyện Hàm Tân trước đây Ngày 5/9/2005 Chính phủ đã ra Nghị định số
114/2005/NĐ-CP về việc thành lập thị xã La Gi, Bình Thuận, đánh dấu một chặng
đường dài 90 năm khi làng Hàm Tân trở thành đơn vị hành chánh cấp huyện năm
1916 mà trung tâm cư dân nằm bên cửa tấn LaDi
Trưởng Phòng
Chuyên
viên
Chuyên viên
Chuyên viên
Trưởng Phòng
Chuyên viên
Phó Phòng
Chuyên viên
Chuyên viên
Chuyên viên
Hình 2.2 Sơ đồ bộ phận của Phòng Nghiệp vụ Du lịch và Phòng Quy hoạch, phát triển
du lịch
Trang 38Quá trình hình thành dân cư ở La Gi mang tính đặc thù của một vùng đất tụ nghĩa Với tiềm năng thiên nhiên phong phú, địa thế hẻo lánh, La Gi là nơi thu hút nhiều người dân miền Trung phiêu tán, tha phương cầu thực và không ít những người bất mãn chống đối nhà cầm quyền phong kiến địa phương về đây nương náu, khai phá, định cư lập nghiệp
Thuở đầu triều Nguyễn trung hưng, những xóm làng lần lượt mọc lên ở các
cửa sông Tam Tân, La Gi có đặt các dịch trạm như trạm Thuận Phước ở Phước Lộc,
trạm Thuận Trình ở Tam Tân và trạm Thuận Lâm ở Khe Cả Một số nhóm đồng bào dân tộc thiểu số như Cơ Ho, Raglai, Châu Ro từ phía Đông Di Linh di cư xuống vùng Suối Kiết, Bà Giêng, Sông Phan Trước đó, đã có một nhóm người Chăm lánh
nạn chiến tranh dạt về phía Nam, lập làng định cư ở Hiệp Nghĩa, Phò Trì
Năm 1867, khi 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ rơi vào tay thực dân Pháp, nhiều đồng bào Nam Bộ “tị địa” ra Bình Thuận đã dừng chân sinh sống tại La Gi
Từ đó, với sức khai phá và tính cần cù, những người tứ xứ nói trên đã biến vùng đất màu mỡ này thành các làng mạc sầm uất
Bên bờ cửa tấn LaDi có dịch trạm Thuận Phước ở làng Phước Lộc nằm trong
hệ thống dịch trạm dưới triều Nguyễn trung hưng Địa giới La Gi thời ấy bao trùm
phần đất thị trấn La Gi cũ và m ột số vùng lân cận của Tân Thiện, Tân An, Tân Lý bây giờ Khi thành lập huyện tại đây có 2 làng Phước Lộc và Hàm Tân, trụ sở huyện đặt trên làng Hàm Tân nên trở thành tên huyện Từ đó không còn tr ực thuộc tổng Đức Thắng phủ Hàm Thuận nữa Năm 1877, doanh điền sứ Nguyễn Thông đã thân chinh về vùng đất hoang dã phía Nam tỉnh Bình Thuận rồi trình bức “Nghi thỉnh thượng du khẩn sự nghi sớ” (Sớ xin lập đồn điền khai khẩn vùng thượng du) có
nhắc đến “…thuyền đi lúc rạng đông từ cửa tấn LaDi nếu thuận buồm xuôi gió thì
đến cửa biển Phan Thiết phủ Hàm Thuận vào giờ ngọ hoặc giờ mùi Xin chọn đất ở xóm Hàm Tân d ựng tạm một kho đồn điền khai khẩn, tính toán số gạo muối, tiền thóc c ần thiết rồi đem thuyền chở nộp cho tỉnh, thì chở đến kho tạm ở Hàm Tân rồi dùng thuy ền đến đó chở đi cũng tiện…” Cũng qua đây càng thấy rõ vị trí địa lý của
La Gi đối với một khu vực tiềm năng nằm xa tỉnh Tánh Linh, Hàm Tân còn bao nhiêu điều tiềm ẩn Có thể coi địa danh La Gi và Hàm Tân đã song hành su ốt chiều dài lịch sử hình thành một vùng đất giàu sự tích cho đến hôm nay
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Hàm Tân trở thành căn cứ kháng chiến chống Pháp của tỉnh Bình Thuận mở ra một vùng chiến lược quan trọng, có lúc kéo dài Hàm Kiệm, Tiến Lợi, Tân Thành đến Bình Châu, Thắng Hải Đến năm
1954 được coi là thời kỳ khá ổn định của một địa bàn hậu phương, Hàm Tân có 6 xã
là Tân Phước, Bình Tân, Bà Giêng, Tân Hiệp, Hiệp Hòa, Văn Mỹ
Trang 39Sau ngày ký hiệp định Genève tháng 7/1954 và đến khi có sắc lệnh 143 ngày 26/10/1956 của chế độ Ngô Đình Diệm thành lập tỉnh Bình Tuy, lấy Hàm Tân – La
Gi làm trung tâm bộ máy chính quyền gồm ba quận Hàm Tân, Hoài Đức, Tánh Linh Quận Hàm Tân với gần như hiện trạng ngày nay gồm các xã Phước Hội, Bình Tân, Bà Giêng, Hiệp Hòa, Tân Hiệp, Văn Mỹ có dân số 68.422 người Dưới chế độ
cũ chưa bao giờ có đơn vị hành chánh thị xã La Gi, nhưng La Gi chi ếm một vị trí quan trọng là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị cuả tỉnh Bình Tuy và nằm dưới tên gọi xã châu thành Phước Hội
Trong kháng chiến chống Mỹ, do yêu cầu chỉ đạo phong trào cách mạng, tháng 8/1968 tỉnh ủy Bình Tuy quyết định chia tách, thành lập thị xã La Gi trên cơ
sờ địa bàn xã châu thành Phư ớc Hội, bao gồm các phần đất liền kề Tân Thiện, Tân
An và giáp đến Tân Thắng Khi tình hình cuộc cách mạng giải phóng dân tộc miền Nam phát triển nhanh chóng đã đ ẩy chính quyền Sài Gòn vào thế co cụm và tiếp theo là làn sóng di dân từ các tỉnh miền Trung, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị vào các khu khẩn hoang, lập ấp với tên mới Nghĩa Tân, Bình Ngãi (Tân Nghĩa), Phúc Âm (Tân Minh), Đông Hà (Tân Hà), Động Đền (Tân Thiện, Sơn Mỹ)…Lúc này, lực lượng cách mạng địa phương đã kiểm soát được địa bàn hành lang Quốc lộ 1A từ Tà Mon đến rừng lá Tân Minh và tuyến đường tỉnh lộ 2 (nay la quốc lộ 55) nên tỉnh ủy Bình Tuy thành lập huyện Nghĩa Lộ (tháng 11/1973) gồm xã Bà Giêng
và các khu định cư mới này Huyện Nghĩa Lộ và thị xã La Gi chỉ tồn tại đến tháng 11/1975 thì chấm dứt để nhập thành huyện Hàm Tân
Đến tháng 6/1982, Hội đồng Bộ trưởng quyết định thành lập huyện Hàm Thuận Nam, tách ba xã Tân Lập, Tân Thuận, Tân Thành của huyện Hàm Tân và Hàm Tân còn lại 10 xã và thị trấn La Gi Đầu năm 2004, chia tách thêm 3 xã Tân Phúc, Tân Đức, Sông Phan và thị trấn Tân Minh Nghị định 114 của Thủ tướng Chính phủ thành lập thị xã La Gi với diện tích tự nhiên 18.282,64 ha và 112.558 người, có 9 đơn vị hành chính trực thuộc là các phường Phước Lộc, Phước Hội, Tân Thiện, Tân An, Bình Tân và các xã Tân Phư ớc, Tân Tiến, Tân Hải, Tân Bình Như
vậy huyện Hàm Tân còn lại có 72.952 ha và 70.515 người, có 9 đơn vị hành chính
là các xã Tân Thắng, Sơn Mỹ, Tân Xuân, Tân Hà, Tân Nghĩa, Sông Phan, Tân Đ ức, Tân Phúc và thị trấn Tân Minh
Địa danh La Gi ngày nay có chiều dài lịch sử của một vùng đất giàu tiềm năng và truyền thống đấu tranh của dân tộc cùng với quá trình phát triển trong thời
kỳ đổi mới xứng tầm với một thị xã mới là điều tất yếu Những tên xã, tên làng ngày xưa qua các thời kỳ được đặt tên cho các xã, phường mới như là một bước tiếp
nối có ý nghĩa sâu sắc đối với các thế hệ sống trên vùng đất rất đỗi tự hào và không
ít thăng trầm ở đây
Trang 40Có điều làm cho không ít người băn khoăn là tại sao trong các văn bản cũ đều ghi chép La Gi ngày nay là La Di dù rất hiếm hoi trên các văn bản của Nhà nước phong kiến
Rõ ràng từ La Di cũng không thể là từ Hán Việt hoá, nếu liên hệ các địa danh trong tỉnh như La Gàn, La Dạ, La Giang, La Ngâu, La Ngà và ở tỉnh Ninh Thuận
cũng có con sông La Gi tức sông Pha (Krông Pha) thì nghĩ đến những địa danh này
có nguồn gốc của dân tộc miền núi hoặc Chăm Theo người Chăm cũng có địa danh Ladik, có thể là La Di? Nhưng vì sao từ Di lại trở thành Gi, ở Phù Cát (Bình Định)
có một làng biển cũng có tên Đề Gi, xưa thuộc huyện Phù Ly Trước năm 1975 có
cuốn sách với tựa “Nguồn gốc Mã Lai”của nhà văn Bình Nguyên Lộc đề cập đến địa danh La Gi và đã suy luận “có lẽ là Sagi đánh nhau với Sanla, tức lại còn đánh nhau với Chân Lạp”và ông viết “từ câu Camy La gi lì cá y, từ riêng của Chăm (đàn
bà mà còn là đàn ông) La Gi có nghĩa lại còn, mà vùng đất này xưa là của Phù Nam, rồi của Chăm Cả hai dân tộc đều nói tiếng Mã Lai đợt nhì” Còn có ý tưởng lãng mạn hơn, lấy chuyện tình ly tan của sự tích Hòn Bà bằng cách đọc trại ra (gia đình ly tan) thành La Gi!
Chữ viết địa danh La Gi chỉ xuất hiện trên các báo cáo Toà công
sứ Bình Thuận như thời kỳ 1921-1934 (Rapport D'ensemble), địa bạ tức thời kỳ Pháp thuộc, lúc đó Hàm Tân còn là m ột làng thuộc tổng Đức Thắng, phủ Hàm Thuận Sự thay đổi này có thể giải thích từ cách viết tương tự như Hòn Bà vi ết thành Hòn Bò (Ile de la Vache), Khê Gà trại ra Kê gà (Kéga) Phố Hời viết Phú Hài, Phù My gọi Cù My, Phù trì đọc Phò Trì
Rất nhiều địa danh không thể nào xác định được nguồn gốc dân tộc, ý nghĩa
thực vì không theo một nguyên tắc nào cả, mà đây là trường hợp thuộc qui luật biến đổi qua nhiều hình thức ngữ âm, từ một tên gọi địa phương rồi được chuyển hoá thành địa danh hành chánh Do đó rất dễ nhầm lẫn nếu chỉ căn cứ hình thức ngữ âm
và chính tả hiện tại để diễn giải, suy luận Trong đó, địa danh La Gi không nằm trong nguyên tắc phân loại thông thường, cũng không theo tiêu chí tự nhiên
2.2.2 Điều kiện tự nhiên thị xã La Gi: