1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khéo tay hay làm Khéo tay hay làm Khéo tay hay làmkl do phuong hong

120 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết kế Nhà Máy Sản Xuất Giấy In Báo IB5848 Năng Suất 60.000 Tấn/Năm
Tác giả Đỗ Phương Hồng
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Vĩnh Trị
Trường học Đại Học Tôn Đức Thắng
Chuyên ngành Công nghệ hóa học
Thể loại Luận Văn Tốt Nghiệp Đại Học
Năm xuất bản 2011
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • TRANG BÌA

  • LỜI CÁM ƠN

  • MỤC LỤC

  • CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

  • CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN

  • CHƯƠNG 3: NỘI DUNG

  • Chương 4: HIỆU QUẢ KINH TẾ

  • CHƯƠNG 5: KHÁI QUÁT BỘ MÁY ĐIỀU KHIỂN

  • Chương 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • PHỤ LỤC

Nội dung

Do đó, ngành giấy cần phải được phát triển sản xuất, đổi mới công nghệ, đầu tư xây dựng mới hoặc mở rộng các nhà máy giấy để sản xuất ra các sản phẩm giấy với chất lượng cao và chất lượn

TỔNG QUAN

Lịch sử phát triển và tầm quan trọng của ngành giấy

Giấy là một sản phẩm có nguồn gốc từ công nghệ làm thủ công từ rất sớm trong lịch sử loài người Người Ai Cập cổ đại đã biết làm giấy ở dạng papyrus bằng cách xếp xen kẽ các sợi thực vật, thấm nước và nén thành lớp nền viết Việc sản xuất giấy như ta biết ngày nay thực sự bắt nguồn ở Trung Quốc vào khoảng năm 100 công nguyên, khi người ta dùng huyền phù từ xơ tre, nứa hoặc dâu tằm lên các phên đan tre để nước thoát ra, sau đó phơi nắng để thu được tờ giấy ướt và hoàn thiện Đến năm 1798, Nicolas-Louis Robert (Pháp) đã phát minh máy xeo giấy liên tục đầu tiên, mở ra kỷ nguyên sản xuất giấy nhanh và quy mô.

Hiện nay ngành công nghiệp giấy là một trong những ngành kỹ thuật cao, sản xuất liên tục, cơ khí hóa, tự động hầu như hoàn toàn

Ở một số quốc gia và vùng miền, giấy thủ công vẫn được sử dụng phổ biến Nguyên nhân chính là còn thiếu điều kiện phát triển và nguồn lực để duy trì làng nghề truyền thống, nơi sản xuất một số mặt hàng đặc biệt.

Giấy đóng một vai trò quan trọng trong nhiều hoạt động của con người, đặc biệt trong xã hội văn minh thì giấy không thể thiếu được

Giấy từ khi ra đời đã được dùng như phương tiện ghi chép, lưu trữ và cung cấp thông tin Ngày nay, ngoài vai trò ghi chép và lưu trữ, giấy còn được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của văn hóa đời sống và công nghiệp, từ học tập, in ấn tài liệu, sách và truyện đến báo chí Đồng thời, một khối lượng lớn giấy được sử dụng làm bao bì công nghiệp phục vụ cho sản xuất và vận chuyển.

Việc dùng hai chỉ số năng lực sản xuất giấy và mức tiêu thụ giấy giúp đánh giá mức độ văn hóa xã hội và sự phát triển chung của mỗi quốc gia Năng lực sản xuất phản ánh quy mô và sức mạnh của ngành công nghiệp giấy, đồng thời cho thấy khả năng đáp ứng nhu cầu nội địa và tiềm năng xuất khẩu Mức tiêu thụ giấy thể hiện mức độ giáo dục, thói quen đọc viết và mức sống, từ đó phản ánh trình độ phát triển của hệ thống giáo dục và truyền thông Kết hợp hai chỉ số này, ta có một cái nhìn toàn diện về sự tiến bộ kinh tế - xã hội của quốc gia và mức độ hội nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Tình hình sản xuất giấy trong nước và thế giới

Nhu cầu sử dụng các loại giấy ngày càng tăng kéo theo ngành sản xuất bột giấy và giấy ngày càng phát triển mạnh mẽ

Vào năm 2001, sản lượng giấy trên toàn thế giới đạt 294,4 triệu tấn và theo dự báo đến năm 2010 sản lượng có thể vượt trên 400 triệu tấn Mỹ, Nhật Bản, Canada và Trung Quốc là những nước đứng đầu về sản lượng giấy, trong khi Phần Lan, Mỹ, Thụy Điển và Nhật Bản là các nước tiêu thụ giấy nhiều nhất Theo dự báo, tăng trưởng toàn ngành từ nay đến năm 2010 khoảng 2,8% Về mức tiêu thụ giấy, Bắc Mỹ dẫn đầu, tiếp theo là khu vực Tây Âu và Châu Á.

Bảng 2.1 Tình hình tiêu thụ giấy in và giấy viết trên thế giới (Đơn vị :1000T)

Bảng 2.2: Thống kê sản lượng bột giấy tại Việt Nam (Đơn vị Tấn)

Bảng 2.3 Thống kê sản lượng bột giấy ở Việt Nam ( đơn vị: Tấn)

Tiêu dùng theo đầu người (kg)

Bảng 2.4 Thị trường giấy tự cung tự cấp Giấy Tự cung tự cấp

In và viết (không tráng) 76,96

Theo Hiệp hội Giấy Việt Nam, năm 2009 tổng tiêu thụ giấy đạt 2.000.000 tấn, tăng so với năm 2008 Tổng sản lượng giấy các loại sản xuất trong nước đạt 1.138.000 tấn, đáp ứng khoảng 56% nhu cầu thị trường Sản lượng toàn ngành tăng so với năm 2008 với mức tăng 2,14%, riêng ngành bao bì tăng khoảng 6%.

11 tháng năm 2009 thi lượng nhập khẩu giấy các loại là 946.640 tấn tăng 13,22%

Năm 2009, Việt Nam tiêu dùng hơn 2.000.000 tấn giấy nhưng chỉ thu hồi được

550.000 tấn để tái sữ dụng Trong năm 2009 có 7 tháng là sản xuất cật lực còn lại 5 tháng khó khăn do biến động thị trường toàn cầu

Đầu năm 2010, ngành giấy ghi nhận sản xuất ổn định với sản lượng đạt 140.300 tấn, tăng 76,3% so với cùng kỳ năm trước Theo dự báo của Vinapaco cho năm 2010, sản lượng giấy các loại sẽ đạt khoảng 296.350 tấn, tăng 26% so với năm 2009, trong khi tiêu thụ dự kiến khoảng 311.300 tấn.

Tổng tiêu thụ giấy in báo năm 2008 đạt 115.178 tấn tăng 107,44% so với năm

2007 (107.200 tấn) Trong đó sản xuất trong nước đạt 55.226 tấn tăng 109,86%, nhập khẩu giấy in báo các loại đạt 59.952 tấn tăng 8,435 lần so với năm 2007

Trong ba quý đầu năm 2008, sản xuất giấy in báo tăng trưởng liên tục và đạt mức cao nhất vào quý III/2008; sang quý IV/2008, tình hình đã thay đổi nhanh và mạnh.

Nhập khẩu giấy in báo tăng mạnh trong quý I/2008 lên 188,2%, sang quý II/2008 tiếp tục tăng 115,47% do các nhà xuất bản và nhà in tích cực mua vào để đối phó với lo ngại giá giấy in báo sẽ tăng trong năm 2008 Tuy nhiên, quý III/2008 nguồn cung từ các nhà sản xuất hầu như không đáp ứng kịp, khiến nhập khẩu giảm mạnh Đến quý IV/2008, tình hình cung cấp ở khu vực ASEAN đã trở lại bình thường, nhưng nhu cầu trong nước sụt giảm mạnh; các nhà in, nhà xuất bản trong nước hầu như vẫn dựa vào lượng giấy tồn kho và giấy sản xuất trong nước, nên nhập khẩu giấy in báo chỉ đạt 87,42% so với cùng kỳ năm trước.

2007 Nhập khẩu giấy in báo các loại năm 2009 đạt 75.000 tấn tăng 1.25 lần so với năm 2008 (59.952 tấn).

Vài nét về giấy in báo

Giấy in báo được tạo thành từ hỗn hợp bột giấy hóa học và bột giấy cơ học hoặc bột giấy hóa–cơ, loại giấy này được in với số lượng lớn và thường ở dạng cuộn, chất lượng không cao nhưng yêu cầu độ mờ và độ láng cao với giá thành thấp Thành phần phổ biến gồm bột cơ, bột tái chế và một phần bột hóa để điều chỉnh đặc tính sản phẩm Có hai loại chính: giấy báo thường (standard newspaper) dùng để in nhật báo và tuần báo, với thời gian sử dụng ngắn, và giấy in báo đặc biệt (special newspaper) dùng để in tạp chí sách, in lịch và các ấn phẩm đặc thù.

Trong bối cảnh công nghệ in báo hiện đại, việc truyền tải thông tin không chỉ dừng ở chữ in màu đen trên trang truyền thống mà còn phải nhanh chóng chuyển đến người đọc với tin tức thời sự và hình ảnh đa dạng, phong phú Vì vậy các máy in có tốc độ cao và khả năng in nhiều màu đang được sử dụng rộng rãi để tăng tính trực quan và tốc độ phủ sóng tin tức Để đáp ứng yêu cầu này, chất lượng giấy in báo cũng được cải tiến nhằm bảo đảm chất lượng hình ảnh và độ bền màu, phù hợp với công nghệ in hiện đại và máy in nhanh.

Những đặc tính cơ bản của giấy viết

Giấy in báo cần có một tính chất quan trọng là độ bền và khả năng chịu kéo dọc cao, đặc biệt đối với các máy in tốc độ cao Độ bền kéo dọc của tờ giấy được nâng lên nhằm đảm bảo giấy không bị đứt khi in và không bị rách khi bị kéo căng hoặc khi tiếp xúc với các cơ cấu của máy in.

Nét chữ in sắc nét và hình ảnh màu sắc sống động, không bị nhòe, lem hay chồng màu lên nhau, mang lại bản in chất lượng cao Mực in không thấm sang mặt sau giấy, giúp in ấn sạch sẽ và ngăn ngừa hiện tượng in chồng màu Nói chung, đặc tính in của máy in được bảo toàn, đảm bảo hiệu suất ổn định và độ bền màu của sản phẩm in.

Để tiết kiệm mực in và bảo vệ máy in, hãy dùng giấy in sạch, đồng đều và không có bề mặt nhám ghồ ghề Loại giấy như vậy giảm thiểu hao mực, ngăn ngừa hỏng các cơ cấu nhạy cảm của máy in và làm mòn các bản in, từ đó duy trì chất lượng in và tuổi thọ của thiết bị.

Giấy in báo là loại giấy phổ biến, có giá thành thấp so với các loại giấy khác Các nhà máy in luôn mong muốn định lượng giấy báo càng thấp càng tốt mà vẫn bảo đảm các đặc tính chất lượng như độ bền và khả năng in ấn Việc tối ưu định lượng phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu đầu vào và công nghệ sản xuất được áp dụng.

Nguyên liệu

Trong dự án này, sản xuất giấy viết chủ yếu dựa vào hai nguồn nguyên liệu chính là bột DIP và bột CTMP Ưu điểm của bột cơ là có thể sản xuất các loại giấy có định lượng thấp mà vẫn đảm bảo độ che phủ và độ khối; tuy nhiên yêu cầu về đặc tính cơ lý đối với loại giấy này không quá cao.

Bột CTMP có hiệu suất thu hồi bột cao, đặc tính cơ học khá tốt, ít dùng hóa chất, giá cả vừa phải Bột CTMP mua ở trong nước.

Các hóa chất và phụ gia sử dụng trong giấy in báo

Bảng 2.5: Các hóa chất phụ gia sử dụng tiêu biểu

STT Tên chất phụ gia Công dụng trong sản xuất giấy

1 Chất độn (cao lanh, talc,

- Làm cho giấy mịn hơn, cải thiện tính in ấn của giấy in, làm giấy sáng hơn, cải thiện độ đục

- Tăng trọng lượng tờ giấy, giảm giá thành sản phẩm

2 Các loại keo như AKD - Chống thấm dịch cho giấy, chống nhòe khi in, lem khi viết, giảm độ biến dạng tờ giấy

3 Tinh bột - Tăng độ bền kéo, độ cứng của tờ giấy

- Làm tăng độ bền bề mặt tờ giấy, tăng độ nhẵn

- Phụ gia gia keo AKD

4 Chất tăng trắng - Làm tăng tính quang học, dùng cho các loại giấy cần cải thiện độ sáng cao hơn

5 Chất bảo lưu - Tăng độ bảo lưu chất độn và xơ sợi mịn trên lưới

6 chất tăng bền ướt giúp giảm đứt giấy ở phần ướt của máy xeo và ở các máy in khi các phần tử in mực cần thấm ướt; việc bổ sung các chất này tối ưu hóa quá trình thấm mực trên giấy, cân bằng độ ẩm bề mặt và giảm thiểu hiện tượng rách hoặc nứt ở khu vực tiếp xúc với dung dịch in Nhờ sự cải thiện độ bền ướt, chất lượng in được nâng cao, mực thấm đều và hệ thống in vận hành ổn định hơn, đồng thời giảm thiểu lãng phí vật liệu và chi phí bảo trì máy.

7 Các hóa chất khác - Chống bọt, ngăn ngừa tạo bọt

Công nghệ sản xuất giấy

Công nghệ tổng quát sản xuất giấy gồm các công đoạn chính:

Bột giấy được mua từ các nhà cung cấp và được phân thành nhiều loại dựa trên phương pháp chế biến: bột cơ học (bột mài, TMP), bột hóa học (bột Kraft, sulfite), bột bán cơ – hóa (CTMP, BCTMP) và bột tái sinh (DIP, OCC) Các phương pháp này quyết định đặc tính của bột giấy như độ tinh khiết, độ trắng và độ bền, phục vụ cho các ứng dụng khác nhau Quá trình điều chế bột bao gồm lựa chọn loại phù hợp và thực hiện các bước xử lý để tối ưu chất lượng sản phẩm cuối cùng và hiệu quả sản xuất.

Giai đoạn chế luyện bột, nghiền và phối chế các loại bột cùng hóa chất nhằm tạo ra hỗn hợp đạt đúng yêu cầu chất lượng cho từng loại giấy Đây là bước then chốt của dây chuyền công nghệ sản xuất giấy, quyết định độ mịn, độ đồng đều và tính chất của sản phẩm cuối cùng, đồng thời đảm bảo sự ổn định và hiệu suất của quá trình sản xuất.

Giai đoạn chính trong quy trình sản xuất để hình thành tờ giấy sau khi đã được điều chế và phối trộn là bước đưa bột giấy vào thùng dầu (hòm phun bột) và phun lên lưới, lưới có thể là hình tròn hoặc dài Nhờ quá trình thoát nước, lớp bột trên lưới hình thành tờ giấy ướt Tờ giấy ướt sau đó được đưa qua các công đoạn ép để loại bỏ nước nhiều hơn, rồi tiến hành sấy khô và cuối cùng cuộn thành sản phẩm.

Hoàn tất Đây là công đoạn cuối cùng khi sản phẩm giấy hoàn thành như: cắt cuộn, hay cắt theo khổ (ram) A4, A3… bao gói, dán nhãn,…

Các thiết bị sử dụng

Lô dao quay có tác dụng hình trụ

Dao đế chính là vỏ máy

Quá trình bắt đầu khi bột được đưa vào từ đầu côn nhỏ dưới một áp lực nhất định, kết hợp với áp lực từ lô dao quay Bột được nghiền liên tục từ lúc vào cho tới lúc ra, di chuyển theo đường xoắn ốc từ đầu nhỏ ra đầu to và chịu các tác động cuộn, uốn, xoắn, kéo, nén, cắt và chà sát Quá trình này giúp hạt bột được nghiền đều, tối ưu kích thước và độ đồng đều, phục vụ cho các ứng dụng chế biến tiếp theo.

- Máy nhỏ, gọn, năng suất cao

- Có thể sử dụng riêng từng máy hoặc nối liên tục

Việc thay đổi áp lực nghiền gặp khó khăn và chỉ có thể dịch chuyển trong giới hạn cho phép bằng cách dịch chuyển động cơ, do đó hệ thống này chỉ thích hợp cho các dây chuyền sản xuất giấy có năng suất cao và tính chất bột nghiền nhất định.

- Do cả roto và stato đều được dúc liền với thn6 nên khi bị mài mòn phải thay thế toàn bộ

- Loại 2 đĩa: 1 đĩa cố định, 1 đĩa chuyển động

- Loại 2 đĩa: Cả 2 đĩa quay ngược chiều nhau

- Loại 3 đĩa: 2 đĩa cố định, 1 đĩa quay

Ví dụ: Máy nghiền loại 2 đĩa( 1 đĩa cố định, 1 đĩachuyển động )

2 bét vμo động cơ bét ra

Nguyên lý hoạt động của máy nghiền bột: Bột đi vào qua cửa vào, khi trục quay, bột được đưa tới giữa hai dao, một dao cố định và một dao chuyển động Dưới áp lực nghiền, bột được cắt ngắn và phân tơ, rồi đẩy ra qua cửa ra.

Nhìn chung, thời gian bột ở trong nghiền đĩa ngắn hơn thời gian bột ở nghiền côn, bột có tính trương ít hơn

Máy nghiền đĩa có một số ưu việt so với máy nghiền côn nên ngày nay hầu như nó được sử dụng thay thế máy nghiền côn Các ưu điểm cơ bản của máy nghiền đĩa gồm khả năng cho ra kích thước hạt đồng nhất và dễ kiểm soát nhờ khe nghiền điều chỉnh, cấu trúc đơn giản nên vận hành và bảo trì thuận tiện, hiệu suất nghiền cao và tiêu thụ năng lượng thấp giúp giảm chi phí vận hành, khả năng nghiền nhanh và ổn định với nhiều loại vật liệu, đặc biệt là vật liệu giòn, cùng với độ bền của các bộ phận chịu mòn cao cho thời gian vận hành liên tục lâu; từ đó máy nghiền đĩa được ứng dụng rộng rãi trong khai thác và chế biến khoáng sản, luyện kim, xử lý vật liệu xây dựng và các quy trình nghiền mịn, góp phần thay thế dần máy nghiền côn ở nhiều quy mô sản xuất.

• Tiêu tốn năng lượng thấp hơn

• Có thể làm việc ở nồng độ bột cao hơn

• Thiết kế đĩa có độ thay đổi rộng

• Có khả năng tự điều chỉnh sự ăn mòn trong phạm vi thích hợp

• Thiết kế gọn, ít tốn mặt bằng

Nguyên lý vận hành bắt đầu bằng việc đưa bột vào theo phương tiếp tuyến với áp suất khoảng 2,8–3 kg/cm2 Do đường kính ống từ trên xuống dưới thu nhỏ nên khả năng va chạm giữa các hạt tăng lên; hạt nhẹ, sạch sẽ bị đẩy lên trên, trong khi hạt nặng và cát lắng xuống và được thải ra ngoài Ở trung tâm của lọc cát có một dòng không khí được kéo từ dưới lên trên, đường kính dòng khí phụ thuộc vào kích thước của lọc cát Nếu lỗ thải là ống thông trực tiếp với không khí thì dòng bột có thể kéo theo không khí từ bên ngoài và đi cùng với bột tốt, điều này thường gây hại khi đặt dưới máy xeo Chính vì vậy, sau giai đoạn lọc cát người ta sử dụng Hòm khử bọt để tách bọt ra khỏi bột tốt.

Mục đích : loại khỏi dòng bột các tạp chất bao gồm

- Tạp chất nặng như cát, sạn, mảnh vụn kim loại…

- Tạp chất nhẹ như nhựa, chất kết dính, cao su…

Nồng độ vận hành thường ở khoảng 1% Khi nồng độ bột vượt quá mức này, hiệu suất làm sạch sẽ giảm Cần chú ý không để lỗ thải ở đáy bị tắc bởi các vật lớn hoặc do bột quá đặc, vì điều này làm mất tác dụng lọc cát.

Thông thường ta chỉ sử dụng lọc cát hình côn do nhiều ưu điểm

+ Năng suất = 10 ÷ 12 lần loại hình trụ

Do lượng thải nhiều, tổn thất lớn, nên phải dùng nhiều, thường là 3 cấp Đi sử dụng tiếp

Mục đích của sàng áp lực là sàng lọc sạch bột trước công đoạn xeo giấy, loại bỏ tạp chất và các cục bột dư thừa Quá trình này tách các cục bột và làm đồng đều nồng độ bột trước khi lên máy xeo, đảm bảo phân bố hạt đồng nhất trên bề mặt giấy Việc sàng áp lực trước xeo giấy còn tăng hiệu suất sản xuất và nâng cao chất lượng giấy thành phẩm bằng cách giảm sai lệch nồng độ bột.

Nguyên lý làm việc: Cũng giống như sàng ly tâm nghĩa là xơ sợi mịn thường có độ thuỷ hoá cao, mật độ gần bằng của nước Vì vậy khi bột loãng mà quay trong mặt sàng thì các xơ sợi này dược xếp cùng hướng với dòng chảy nên lọt qua lỗ sàng và ra ngoài theo cửa ra Còn các bó bột do thuỷ hoá thấp hơn, lưu lại và bị đẩy ra ngoài Ở đây sàng áp lực khác hơn là nó vận động trong điều kiện có áp lực và dòng chảy trong sàng có thể là ly tâm hoặc hướng tâm Ưu điểm là năng suất cao, tốn ít diện tích, ít đường ống bơm, ít bơm, do kín hoàn toàn không thể lọt khí vào bột, ít đóng cặn

Vai trò của thùng đầu là nạp liệu huyền phù bột vào lưới xeo nhờ hệ thống bơm Huyền phù bột được vận chuyển trong các ống dẫn, chảy qua những cửa thoát có tiết diện hình chữ nhật đều đặn, đồng nhất về kích thước trên suốt chiều rộng lưới xeo và với tốc độ rất ổn định theo hướng phụ thuộc vào sự phân tác đồng đều của sợi và chất độn, thiết kế và điều kiện vận hành của thùng dầu là một chỉ tiêu quyết định khả năng làm việc của một máy xeo Những nhiệm vụ chính của thùng dầu cần phải đạt là:

1 Đưa huyền phù bột lên máy xeo một cách đồng đều trên suốt chiều ngang của máy

2 Đồng nhất được các dòng chảy và nồng độ huyền phù bột

3 Đồng nhất được tốc độ dòng bột theo hướng chạy của máy

4 Tạo và kiểm tra được chế độ chảy rối, loại bỏ được hiện tượng kết tụ sợi trong huyền phù

5 Nạp huyền phù bột cho lưới xeo qua hệ thống các môi phun với độ mở và độ nghiêng thích hợp của môi

Ngoài ra, những thông số về thiết kế cũng rất quan trọng đối với sự vận hành máy như:

- Tính chính xác trong kiểm tra các hoạt động của thùng dầu

Thùng đầu có thể được phân loại theo yêu cầu về tốc độ nạp liệu huyền phù bột cho lưới xeo, gồm thùng đầu hở và thùng đầu kín (thùng đầu áp lực); trong thùng đầu kín, có hai kiểu thiết kế là thùng kín đệm khí và thùng kín thủy lực Kiểu đệm khí là loại thùng kín cổ điển với mực huyền phù bột có thể thay đổi theo thời gian, trong khi kiểu thủy lực là thiết kế hiện đại nạp đầy hoàn toàn mực huyền phù.

Trong loại thùng đầu hở, có trang bị tấm chắn để điều chỉnh dòng chảy, giúp kiểm soát lưu lượng và tối ưu hóa quá trình xử lý Loại thùng này được sử dụng trên những máy xeo cũ có tốc độ vận hành thấp, thường dưới 300 m/phút, nhằm đảm bảo sự ổn định của dòng chảy và chất lượng sản phẩm ở tốc độ chậm.

Áp suất của cột chất lỏng được dùng để điều chỉnh vận tốc phun bột, và khi vận tốc máy xeo tăng, việc duy trì độ cao huyền phù trong thùng trở nên khó khăn nên thùng kín được xem là thuận tiện hơn; hoạt động của thùng kín chịu ảnh hưởng bởi chuyển động quay và các trục có lỗ để tạo dòng chảy rối và điều chỉnh tốc độ, bên cạnh đó bố trí buồng phối trộn bột nhận từ hệ thống phân phối và một khe thắt (khe hẹp) có thể điều chỉnh đóng vai trò then chốt, vì khe quá rộng sẽ khiến dòng bột từ các ống dẫn có tốc độ cao nhưng khó kiểm soát, còn khe quá hẹp có thể gây ra sự chảy rối Độ đồng đều lưu lượng của dòng bột từ hệ thống phân phối kiểu cấp bột nhiều ống là động lực hình thành thùng đầu thủy lực; mặt cắt ngang của bộ phận phân phối có dạng hình tròn hoặc hình chữ nhật và giảm tiết diện theo chiều chảy, với cấu tạo từ tấm kim loại phẳng dày và trên đó bố trí các ống nhánh nhỏ để khi bột chảy qua những ống nhỏ này các khối bột kết tụ được phá vỡ Lưu lượng xả từ cuối ống phân phối được điều chỉnh sao cho áp suất ở hai điểm A và B tương đương, cho phép có được vận tốc ổn định ở mọi ống nhánh, và vận tốc trong các ống nhánh không được nhỏ hơn 3,3 m/s để giảm sự kết tụ của sợi cũng như bảo đảm có sự lau rửa tự động hệ thống ống dẫn Áp suất tĩnh trong ống góp phải bù đắp cho trở lực trong các ống nhánh cũng như cho toàn bộ quỹ đạo chuyển động của dòng bột, đồng thời nó còn cần thiết để tạo vận tốc cho tia phun.

Dòng bột từ bộ phận phân phối có vận tốc tương đối cao (3–4,5 m/s) tạo ra các tia phun mang tính biệt lập, vì vậy cần giảm vận tốc và làm mất tính biệt lập của các tia để đảm bảo độ đồng đều của dòng bột chảy vào lưới xeo và tránh sự hình thành phễu xoáy trong thùng đầu; tại điểm giao giữa bộ phận phân phối và thùng đầu được lắp buồng phối trộn nhằm bảo đảm tính đồng nhất cho các tia phun, trong khi việc giảm tốc được thực hiện qua một cơ cấu có tiết diện rộng hơn và phân kỳ lớn hơn nhằm ngăn ngừa phễu xoáy khi nối đầu ra của bộ phận phân phối hoặc buồng phối trộn với thùng dầu; để điều chỉnh vận tốc, người ta bố trí các ru lô có đục lỗ như đã đề cập ở phần thùng đầu; ảnh hưởng của bộ phận phân phối bột được thể hiện rõ ở các máy xeo chậm hơn so với máy xeo nhanh.

Môi phun nằm ở phần dưới thùng bột trên dây xeo và có vai trò tạo tia phun bột vào lưới xeo Cấu tạo gồm hai thanh bằng thép không gỉ, môi trên và môi dưới, có thể điều chỉnh ngang hoặc dọc để thay đổi độ mở và góc nghiêng so với mặt lưới; độ mở của môi phụ thuộc định lượng giấy và nồng độ huyền phù bột Độ mở lý tưởng cho tia phun là hình chữ nhật với vận tốc đồng nhất tại mọi điểm Vị trí tương đối và độ nghiêng của hai môi quyết định chất lượng quá trình định hình tờ giấy, trong khi hình dạng và vị trí của môi phun phụ thuộc vào loại giấy sản xuất và vận tốc máy Môi phun được phân loại thành môi hội tụ, môi thẳng đứng và môi kết hợp Môi kết hợp có phần hội tụ để tăng tốc dòng bột và phần thẳng đứng tạo dòng chảy rối mịn Phần lớn máy xeo dùng kiểu tạo hình tốc độ, còn kiểu tạo hình áp suất thường gây phóng bột dư tại trục ngực, làm lưu lại thành phần mịn cao và cấu trúc giấy không tốt.

Môi phun phải có độ bền cao, mép sắc và lớp thành bên trong thật trơn để các tạp chất hay sợi xenlulô không bị vướng lại, vì nếu không sẽ làm rối loạn chế độ chảy của dòng bột trong thùng đầu Môi dưới sẽ được giữ ổn định một khi vị trí và độ nghiêng của nó được điều chỉnh, còn môi trên thì dao động được và khoảng cách giữa hai môi có thể được thay đổi trên mỗi đoạn 15-20 cm dọc theo suốt chiều rộng lưới xeo.

NỘI DUNG

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

- Xác lập quy trình công nghệ dây chuyền thiết bị

- Tìm mặt bằng, thi công xây lắp

- Các giải pháp về môi trường, lao động và tổ chức sản xuất

- Xác định vốn đầu tư Tính toán hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội

Phương pháp nghiên cứu tập trung vào phân tích dây chuyền sản xuất giấy viết tại nhà máy giấy Bình An và các nhà máy khác, đồng thời tham khảo tài liệu chuyên ngành để cập nhật công nghệ mới Quá trình này gồm tính toán cân bằng vật chất, chọn thiết bị phù hợp và tiến hành các tính toán tài chính nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế của từng mô hình sản xuất, từ đó tối ưu hóa chi phí, năng suất và chất lượng sản phẩm.

3.2 Chọn thông số quy trình công nghệ Đặt vấn đề

- Thiết kế dự án xây dựng một nhà máy sản xuất giấy in báo 60.000 tấn/năm

- Sản phẩm được sản xuất theo dây chuyền thiết kế phải có chất lượng đảm bảo , ổn định và giá cả cạnh tranh

Nguyên tắc lựa chọn thông số thiết kế:

- Phù hợp với loại giấy cần xeo về nguyên liệu, điều kiện kỹ thuật – kinh tế

- Thiết bị của các hãng có uy tín thế giới, dễ vận hành, giá thành hợp lý

- Sử dụng hiệu quả nguồn nguyên liệu, năng lượng, nguồn nước

- Đảm bảo an toàn lao động

- Không gây ô nhiễm môi trường

3.3.1 Sơ đồ khối dây chuyền công nghệ

Pheứn Độn Chất tăng độ bền

Thùng đầu Dàn lưới Dàn ép Dàn sấy

Máy cát Kho thành phaồm Chất trợ bảo lưu

Hồ trộn Thuứng ủieàu tieỏt

Sơ đồ công nghệ xeo 3 SĐ

3.3.2 Thuyết minh dây chuyền công nghệ

Quy trình sản xuất bột bắt đầu từ việc đánh tơi và pha loãng hỗn hợp, sau đó được chứa trong hồ quậy để đảm bảo độ đồng nhất cho thành phẩm Trong quá trình này, màu thực phẩm và chất tẩy trắng được bổ sung nhằm tạo đặc tính và màu sắc mong muốn của sản phẩm Sau khi trộn đều, bột được bơm lên máy nghiền và tiếp tục được lưu trữ trong hồ chứa trước khi chuyển sang các giai đoạn gia công tiếp theo.

- Bột cơ qua hồ quậy, đến hồ chứa, bơm lên máy nghiền, đến hồ chứa, cho thêm phèn nhằm bảo lưu nhẹ và cân bằng ion trong dây chuyền

Trong quy trình sản xuất giấy, bột cơ và bột hóa được điều chỉnh tỉ lệ thích hợp nhờ bộ đo lưu lượng và chứa trong hồ phối trộn Việc bổ sung chất độn CaCO3 giúp tăng kết cấu chặt của giấy và giảm giá thành sản phẩm.

- Sau đó bột cho vào thùng điều tiết, cho vào keo chống thấm AKD nhằm điều chỉnh độ thấm ướt của giấy, rồi bột qua van định lượng

Tiếp tục đưa dung dịch vào bể nước có nồng độ 33-35%, sau đó đưa qua bơm pha loãng ở mức 0,6–1% để điều chỉnh nồng độ Tiếp tục cho thêm màu và chất tăng trắng để đạt được màu sắc và độ trắng mong muốn, rồi qua hệ thống lọc ly tâm với các ống lọc nằm ngang để đảm bảo quá trình lọc diễn ra hiệu quả và đồng đều.

Bột được đưa tới sàng tròn, là khung lưới có khoang lỗ để lọc bỏ những kích thước lớn hơn sợi bột Lưới bằng sợi nylon, bột được giữ phía trên sàng và độ ẩm đạt 18%.

- Bột được bơm lên thùng đầu máy giấy, bột được trải đều lên lưới với vận tốc tương ứng vận tốc máy chạy

Sau khi qua khu vực lưới đến khu vực ép và tách nước ra, giấy đạt độ khô khoảng 36% Để đỡ tờ giấy trong quá trình ép, người ta dùng một tấm mền có lớp dẹp và đế bằng nilong cấy lông gừu lên tạo sự đàn hồi để khi ép không làm rách giấy Ở đây có lô đá có mặt bằng đá granit giúp rắn giấy và tăng độ láng cho giấy.

- Giấy qua ép đến khu vực sấy Sấy dùng hơi quá nhiệt hay dầu, than đốt, độ khô đạt 92% (thực tế độ khô đạt 96%)

Trong hệ thống bình phân ly, hơi và nước được tách riêng, và hơi thứ được đưa vào sấy ở các lô sau Nếu áp lực của hơi thứ không đủ, van cấp nhiệt từ hơi chính sẽ được mở để bổ sung nguồn nhiệt và duy trì quá trình sấy ở các lô tiếp theo.

Trong quá trình cán láng, giấy được tăng độ láng thông qua ma sát giữa các lô cán Hệ thống giàn cáp hai lô được sử dụng để tăng cường ma sát giữa lô và lô, từ đó nâng cao độ bóng và độ nhẵn của bề mặt giấy và giúp giấy không bị mỏng đi Nhờ tối ưu hóa ma sát ở hai lô, sản phẩm cuối cùng có bề mặt láng mịn và chất lượng ổn định.

- Giấy sau khi cán láng được cuộn lại và cắt lại theo đúng kích thước khổ giấy Cuối cùng là hệ thống kiểm tra chất lượng sản phẩm QCS

3.4 TÍNH TOÁN CÂN BẰNG VẬT CHẤT:

3.4.1 Các căn cứ để thiết lập dây chuyền sản xuất:

Sản phẩm là giấy in báo có định lượng 48g/m 2

- Nguyên liệu: 60÷65 % bột CTMP, 30÷35 % bột DIP

3.4.2 Tính cân bằng vật chất tại các điểm công tác

Hình 3.2 : Sơ đồ các điểm công tác theo tính toán

3.4.3 Các căn cứ để tính toán

- Tính theo dây chuyền sản xuất giấy in báo đã chọn, định lượng giấy 48g/m 2

- Khổ rộng giấy đầu máy: 5.900mm

- Tính theo bảng thông số kỹ thuật đã chọn cho 1 tấn sản phẩm xuất xưởng có độ khô 92%

Máy cắt và cuộn lại (1)

Lọc cát nồng độ cao (15)

Lượng vật chất vào + lượng vật chất bổ sung = Lượng vật chất ra + lượng vật chất tồn thất

Ký hiệu các đại lượng sử dụng:

Mối quan hệ giữa các đại lượng:

Quy ước các điểm công tác:

• III : lượng mất mát kg

• IV : lượng bổ sung kg

- Khi tính cân bằng tại các điểm công tác: Đầu vào của điểm công tác trước là đầu ra của điểm công tác sau

Bảng 3.1: Thông số kỹ thuật tại các điểm công tác

Chỉ tiêu kĩ thuật Điểm công tác Tên thông số kĩ thuật Đơn vị Tham khảo Lựa chọn

Khổ cắt cuộn con (sai số ± 2 mm) mm 420, 650,

Tổn thất giấy lề % Cần tính Điểm công tác

Khổ rộng cuộn giấy mm 4.200

2 Cuộn, cán láng Độ khô giấy % 92 ± 1 92 Độ khổ giấy vào % 40 ± 2 45 Độ khổ giấy ra % 92 ± 2 92

Tổn thất do dứt % 0,3 Độ khổ giấy vào % 19 – 22 20 Độ khổ giấy ra % 40 - 50 45

Nồng độ nước trắng % 0,4 Độ khô giấy vào % 15 15 Độ khô giấy ra % 20 20

Tổn thắt do đứt, cắt biên % Cần tính

Nồng độ nước trắng % 0,12 Độ khô giấy vào % 2,0 ± 0,5 2,5 Độ khô giấy ra % 14 ± 1 15

Nồng độ giấy ướt vào % 0,7 ± 1 0,7 Độ khô giấy ướt ra % 2,0 ± 0,5 2,5 Nồng độ nước trắng % 0,12 ± 1 0,12

Nước rửa lưới, trục dẫn 1/tấn 3000

9 Khâu sàng a Sàng áp lực

Nồng độ lượng tổn thất % 0,4 b Sàng áp lực thứ cấp

Lượng nước bổ sung 1/tấn Tính

Nồng độ bột vào % 0,4 c Sàng bằng

Lượng nước bổ sung 1/tấn Tính

Nước rửa chân lọc cát m 3 /t Cấn tính

Nồng độ bột vào % Tính

Nồng độ bột giấy rách khô

Nồng độ bột giấy rách ướt % 4

Nồng độ bột thu hồi từ DAF

Nồng độ bột CTMP vào % 3 ± 1 4 Nồng độ bột CTMP ra % 3 ± 1 4 Đồ nghiền đầu 0 SR 45 ± 5 50

14 Nghiền đĩa Đồ nghiền cuối 0 SR 65 - 75 70 Nồng độ bột CTMP vào % 4 ± 1 4

15 Bể chứa sau lọc cát nồng độ cao Nồng độ bột CTMP ra % 3 ± 1 4

Nồng độ bột CTMP vào % 4

16 Lọc cát nồng độ cao

Nồng độ bột CTMP ra % 4

Tổn thất % 5 5 Nồng độ bộ CTMP vào % 85 – 92 91

Nước sạch vệ sinh chân ép m 3 /t tính

Lượng nước đi pha loãng m 3 /t Lượng nước đến thu hồi bột m 3 /t

Lượng nước thu hồi Kg/t

Bảng 3.2: Kết quả tính tóan cân bằng vật chất (xem chi tiết ở PHỤ LỤC 1) lượng vào (kg) lượng ra(kg) bổ sung tổn thất

Công đoạn Theo dây chuyền từ ngòai vào Từ thu hồi theo dây chuyền thải thu hồi

15 Lọc cát nồng độ cao

G 284.88 284.88 44,46 lọc cát nồng độ cao bột hóa

G 664.71 664.71 lọc cát nồng độ cao bột

G 284.88 889,16 thủy lực tuyến bột hóa

NỘI DUNG

3.5 Quy mô của dự án- sản phẩm và công suất sản phẩm

Quy mô “Thiết kế nhà máy sản xuất giấy in báo công suất 60.000 tấn/năm”

3.5.2 Sản phẩm và công suất:

- Sản phẩm nhà máy là giấy viết định lượng 48g/ m 2 , độ trắng 58 ± 1 0 ISO

- Công suất nhà máy khi hoạt động ổn định là 60.000 tấn/ năm

3.6 Chỉ tiêu chất lượng sản phẩm của dự án

Giấy in báo có 2 dạng sản phẩm: dạng cuộn và dạng tờ :

Chiều rộng cuộn 420mm; 490mmm; 650mm; 700mm; 790 mm; 840 mm; 1060 mm; 1300 mm với sai số cho phép ± 2mm Đường kính cuộn: từ 0.9m đến 1.0m

Có 2 kích thước chính: 650mm x 840mm; 650mm x 1000mm với sai số cho phép là ± 2mm

Giấy phải có màu sắc đồng đều trong cùng một lô hàng Mặt giấy phải phẳng, không bị nhăn, gấp, thủng rách

Giấy không được có bụi, đốm khác màu phân biệt được bằng mắt thường Giấy không bị bóc xơ sợi trên bề mặt khi dùng tẩy

Số mối nối trên mỗi cuộn không lớn hơn 1; chỗ nối phải được đánh dấu rõ và được dán chắc bằng băng keo theo suốt chiều rộng của cuộn Lõi cuộn giấy phải cứng, không móp méo, lồi hoặc hụt so với mặt cắt của cuộn giấy, hai đầu có nút con làm bằng gỗ hoặc bằng vật liệu khác Lõi cuộn giấy không được nối; đường kính lõi trong của cuộn là 76 mm.

Các mép giấy và hai mặt cắt bên phải thẳng, phẳng, không bị xơ xước

3.6.3 Chỉ tiêu cơ lý, hóa

Chỉ tiêu cơ lý, hóa của giấy in báo tuân theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) quy định trong bảng 3.3

Bảng 3.3: Tiêu chuẩn chất lượng và các thông số kĩ thuật cơ bản của giấy in báo:

STT Tên chỉ tiêu Mức Phương pháp thử

Chỉ số độ bền xé theo chiều ngang, mN.m2/g,

Chiều dài đứt theo chiều dọc, m

4 Độ nhám Bendtsen, ml/ph 280 TCVN 3226:2000

6 Độ đục, %, (không nhỏ hơn) 92 TCVN 6728:2000

8 Độ tro, %, (không nhỏ hơn) 5 TCVN 1864:2001

Giá dự kiến cho giấy viết nhập khẩu và giấy in báo trong nước được tham khảo từ công ty giấy Tân Mai, điển hình cho thị trường giấy Theo khảo sát giá giấy in báo IB 5848 do Công ty Giấy Tân Mai công bố ngày 27/07/2010, mức giá chưa có thuế là 14.857.000 VNĐ; sau khi áp dụng thuế VAT 5%, giá có thuế là 15.600.000 VNĐ.

Dự kiến bán 1 Tấn sản phẩm với giá 17.500.000 VNĐ (có thuế)

3.8 Sản lượng và doanh thu

Dựa trên chế độ bảo dưỡng thiết bị, số ngày nghỉ lễ trong năm và lịch trình sản xuất, chúng tôi thiết lập kế hoạch vận hành phù hợp nhằm bảo đảm bảo dưỡng định kỳ cho máy móc và chế độ nghỉ ngơi của cán bộ công nhân viên được duy trì hợp lý, từ đó đảm bảo sự ổn định của quá trình sản xuất và an toàn lao động.

• Số ngày làm việc trong năm : 300 ngày

• Số giờ làm việc trong ngày : 24 giờ

• Số ca sản xuất trong ngày : 3 ca

• Số giờ trong 1 ca : 8 giờ

• Số ngày bảo dưỡng, nghỉ lễ tết : 60 ngày

3.8.2 Mức huy động công suất và doanh thu

Doanh thu được tính bằng công thức Doanh thu = Sản lượng x Giá bán Trong thực tế vận hành, một nhà máy mới đưa vào hoạt động không bao giờ đạt công suất 100% ngay từ đầu Vì vậy, năng lực sản xuất và theo đó là doanh thu của nhà máy sẽ tăng dần theo từng năm cho đến khi đạt công suất thiết kế, từ năm 4 trở đi.

Năm thứ 1 Năm thứ 2 Năm thứ 3 Năm thứ 4

Mức huy động công suất (%) 70 80 90 100

Sản lượng 1 năm (tấn) 42.000 48.000 54.000 60.000 Doanh thu năm (triệu đồng) 735.000 840.000 945.000 1.050.000

3.9 Các yếu tố đáp ứng đầu vào

3.9.1 Nguyên liệu chính: bột DIP và bột CTMP

Bột DIP: sản xuất tại nhà máy và thu mua ở trong nước Có dạng kiện khối lượng 1 tấn/kiện, độ khô là 92%

Bột CTMP: sản xuất tại nhà máy và thu mua ở trong nước Có dạng kiện khối lượng 1 tấn/kiện, độ khô là 92%

3.9.2 Vật liệu phụ, hóa chất

Hiện nay lượng hóa chất rất đa dạng và phong phú từ các công ty trong nước sản xuất hoặc nhập khẩu, có bán nhiều ở tại Việt Nam

Nguồn năng lượng chủ yếu là điện và than đá Điện: được cung cấp bởi mạng diện quốc gia

Năng lượng nhiệt (than đá): cung cấp bởi công ty trong nước

3.10 Định mức vật tư kỹ thuật

Từ tính toán cân bằng vật chất, định mức tiêu hao nguyên vật liệu và động lực sản xuất giấy, dự án xác định định mức trung bình cho sản xuất 1 tấn giấy in báo Định mức này phản ánh mức tiêu hao tối ưu và giúp chuẩn hoá quy trình sản xuất, giảm thiểu lãng phí và tăng hiệu quả nguồn lực Kết quả này cung cấp cơ sở cho quản lý chi phí, lập kế hoạch sản xuất và định giá sản phẩm, đồng thời bảo đảm tính bền vững của chu trình sản xuất giấy.

Bảng 3.4 : Định mức vật tư kỹ thuật

STT HẠNG MỤC ĐƠN VỊ TÍNH ĐỊNH MỨC

Để chọn mức tiêu thụ điện, hơi, nước cho quy trình sản xuất giấy, thông số tiêu thụ được trình bày như sau: Lượng điện tiêu thụ trung bình để sản xuất 1 tấn giấy là 850 kWh/tấn Lượng nhiệt, hơi cho 1 tấn giấy tương đương với 100 kg than dùng để sản xuất 2 tấn hơi.

3.11 Chọn lựa thiết bị Để sản xuất giấy in báo đạt chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu trong nước và có thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu, chọn các thiết bị chính và quan trọng là:

+ Dây chuyền chuẩn bị bột loại ANDZIRT và dây chuyền xeo giấy của VOITH, công suất định danh 125 tấn bột/ ngày (6 máy nghiền 2000 kW, 1 máy dự phòng)

+ Hệ thống máy xeo giấy lưới dài (lưới đôi) loại HYDRAISLIQUE TURBO

FLOW NOZZLE, thùng dầu loại kín, bề rộng lưới xeo 4.5m, tốc độ 700m/ph, định lượng xeo 50-70g/m 2 , công suất thiết kế 75.000 tấn/năm

+ Các thiết bị phụ trợ (nồi hơi, bơm, quạt, máy nén…) chọn theo 2 dây chuyền chính trên

+ Máy biến áp chọn mua ở trong nước

Phần tính toán lựa chọn thiết bị trình bày kỹ ở PHỤ LỤC II

3.12 Lựa chọn địa điểm nhà máy

Nhà máy dự kiến đặt trong khu công nghiệp Hàm Kiệm, thuộc xã Hàm Kiệm và Hàm Mỹ, huyện Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận

Khu công nghiệp Hàm Kiệm được giới hạn bởi:

+ Phía Nam cách quốc lộ 1A khoảng 600m

+ Phía Đông giáp đường tỉnh 31 từ Ngã hai đi ga Mương Mán

+ Phía Tây giáp đường đi vào đập Ba Bàu

+ Phía Bắc giáp tuyến đường sắt Bắc Nam

- Nằm gần các trung tâm, thành phố lớn: cách thành phố Phan Thiết: 10km, cách TpHCM 180km, gần khu du lịch Mũi Né

- Về đường bộ với Quốc lộ 1A ngay sát KCN

- Về đường sắt cách ga Mương Mán 5km

Quy mô đầu tư của khu CN Hàm Kiệm: giai đoạn 1:143ha, giai đoạn 2:436ha Khu

CN đang cớ nhiều chính sách, chế độ ưu đãi đầu tư

Xem thêm ở PHỤ LỤC III

3.13 Lao động và tổ chức quản lý

Công tác bố trí lao động trong toàn nhà máy được thực hiện nhằm đảm bảo hoạt động liên tục của hệ thống sản xuất và nâng cao hiệu quả sản xuất cũng như kết quả kinh doanh Việc sắp xếp nhân lực hợp lý dựa trên nhu cầu sản xuất, phân công công việc rõ ràng và quản lý ca làm việc chặt chẽ giúp giảm thiểu thời gian chết, tối ưu hóa hiệu suất và đáp ứng kịp thời mọi đơn hàng Bên cạnh đó, bố trí lao động hiệu quả còn đảm bảo sự linh hoạt của nguồn lực, tăng cường đào tạo và giám sát chất lượng quá trình, từ đó kiểm soát chi phí và nâng cao hiệu quả tổng thể cho doanh nghiệp.

Bố trí lao động và tổng quỹ tiền lương:

- Tổng số lao động: 200 người

Trong đó: + Lao động gián tiếp sản xuất: 43 người

+ Lao động trực tiếp sản xuất: 157 người

- Tổng quỹ tiền lương một năm: 7.554 triệu VNĐ

Xem trình bày chi tiết ở PHỤ LỤC V

3.13.2 Cơ cấu tổ chức của nhà máy

Hình 3.3: Sơ đồ khối tổ chức của nhà máy

3.14 Công tác an toàn lao động và phòng cháy chữa cháy

3.14.1 Công tác an toàn lao động

Sản xuất tại một nhà máy giấy là quá trình rất phức tạp về thiết bị và công nghệ, đòi hỏi sự kết hợp của thiết bị cơ khí hóa, tự động hóa và nhiều loại hóa chất, cùng với nguồn nhiệt và điện năng lớn Vì vậy, cán bộ công nhân phải có trình độ kỹ thuật và tay nghề cao, và công tác an toàn lao động phải được coi trọng ở mức thường trực Thông qua các biện pháp khoa học, kỹ thuật và tổ chức vận hành dây chuyền, mục tiêu là loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sản xuất, tạo nên một môi trường làm việc thuận lợi, ngăn ngừa triệt để tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, đồng thời hạn chế ốm đau và suy giảm sức khỏe cũng như các thiệt hại khác đối với người lao động.

Đồng thời cần thực hiện thật tốt công tác bảo hộ lao động cho người lao động, đảm bảo vệ sinh môi trường làm việc và tăng cường bảo vệ sức khỏe để phòng chống các bệnh nghề nghiệp Việc triển khai đồng bộ các biện pháp bảo hộ lao động, vệ sinh môi trường lao động và chăm sóc sức khỏe nghề nghiệp không chỉ giảm thiểu rủi ro cho người lao động mà còn nâng cao năng suất và chất lượng công việc Cần thường xuyên đánh giá nguy cơ, cập nhật các chuẩn mực an toàn và giáo dục người lao động về an toàn vệ sinh lao động để bảo vệ sức khỏe của người lao động và cộng đồng.

Công tác phòng cháy chữa cháy có mối liên hệ mật thiết với công tác an toàn lao động và là nền tảng bảo vệ tính mạng con người cũng như tài sản của nhà máy Việc triển khai đồng bộ các biện pháp phòng cháy chữa cháy giúp nâng cao ý thức an toàn, giảm thiểu rủi ro cháy nổ và đảm bảo hoạt động sản xuất diễn ra an toàn và liên tục Do đó, phòng cháy chữa cháy không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật mà còn là yếu tố chiến lược trong quản trị rủi ro và bảo vệ nguồn lực của doanh nghiệp.

Dựa vào pháp lệnh "Quy định quản lý nhà nước đối với công tác PCCC" do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành ngày 4/10/1961 và luật PCCC có hiệu lực từ ngày 4/10/2001, cùng với các thông tư, nghị định và chỉ thị của các cấp quản lý nhà nước về công tác PCCC, cụ thể là nghị định số 35/NĐ-CP ngày 4/4/2003 quy định chi tiết thi hành một số điều luật PCCC về việc tăng cường công tác PCCC.

Tất cả CBCNV cần nâng cao nhận thức và tham gia tích cực vào công tác PCCC (phòng cháy chữa cháy); tuân thủ nghiêm các quy định của pháp luật Nhà nước và nội quy, quy định do nhà máy ban hành; từ đó góp phần bảo đảm an toàn PCCC, bảo vệ tính mạng và tài sản của đơn vị và duy trì hoạt động sản xuất an toàn.

Phần này được trình bày chi tiết hơn tại PHỤ LỤC VI

3.15 Đánh giá tác động môi trường

Sản xuất giấy công nghiệp thường gặp các vấn đề gây ảnh hưởng đến môi trường là:

- Tiếng ồn do máy chạy gây ra

- Chất thải rắn như rác cơ học, xỉ than thải từ nồi hơi

- Khí thải chủ yếu là khói nồi hơi

1- Thông thường, kể cả các nhà máy giấy lớn, vấn đề về tiếng ồn trong day chuyền sản xuất giấy không đặt ra vì độ ồn thường dưới mức cho phép, thêm nữa nhà máy dự kiến đặt trong khu Công Nghiệp, xa khu dân cư nên không có gì lo ngại vấn đề này

2- Về chất thải rắn gồm rác cơ học, xỉ than Rác cơ học khối lượng không lớn được bộ phận vận chuyển

3- Về khí thải thì các nồi hơi hiện đại đều được trang bị bộ lọc khói bụi

4- Về nước thải: Đây là nhà máy sản xuất giấy in báo, nguyên liệu dùng chủ yếu là bột CTMP và DIP, không có tạp chất, lượng hóa chất sử dụng cũng rất ít và hầu như không có hóa chất độc hại Thêm nữa, do công nghiệp hiện đại, khối lượng nước thải tương đối ít ( theo tính toán cân bằng, lượng nước thải 327 m 3 / ngày) Nhà máy dự kiến đặt trong khu công nghiệp Hàm Kiệm – Bình Thuận; khu CN này có bố trí Trạm xử lý nước thải chung, trước khi thải ra môi trường được xử lý đạt tiêu chuẩn nước thải công nghiệp TCVN 7732:2007 Do vậy, không có gì lo ngại về nước thải

Xem thêm phần PHỤ LỤC VII, trình bày kỹ về vấn đề xử lý nước thải

3.16 Tổ chức thi công xây dựng

HIỆU QUẢ KINH TẾ

Tính chi phí sản xuất một tấn giấy

Giá thành sản phẩm có kết cấu: Biến phí + Định phí

- Biến phí bao gồm: chi phí nguyên vật liệu chính, các vật liệu phụ, nhiên liệu (than, dầu), động lực (điện), lương công nhân trực tiếp sản xuất

Định phí là nhóm chi phí cố định liên quan đến hoạt động sản xuất và quản lý, bao gồm lương khu vực gián tiếp; chi phí quản lý; chi phí lưu thông; tiền thuê đất; chi phí khấu hao thiết bị nhà xưởng; phụ tùng thay thế bảo trì máy; lãi vay ngân hàng trung hạn và ngắn hạn.

Quy trình tính toán tài chính bắt đầu từ việc xác định số thuế giá trị gia tăng (VAT) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN); từ đó, doanh nghiệp tính ra lợi nhuận gộp, lợi nhuận ròng và các chỉ tiêu tài chính khác Việc này giúp đánh giá hiệu quả hoạt động, lập kế hoạch ngân sách và đưa ra các quyết định kinh doanh phù hợp với mục tiêu tài chính.

Bảng 4.1: Bảng tính biến phí và định phí cho 1 tấn sản phẩm

STT Danh mục Đơn vị tính Định mức Đơn giá (Đồng)

13 Hóa chất xử lý nước thải m3 0,835 1000 0,0008

14 Tiền lương trực tiếp/ 1 tấn giấy 0,069

Tổng biến phí 9,79 Định phí

- Bao bì, vận chuyển, bốc xếp (100.000đ/ T)

Phụ tùng thay thế bảo trì (100.000/T) 0,1

21 Lãi do vay vốn cố định VCĐ vay x 10.2% 1,33

22 Lãi do vay vốn lưu động VLĐ vay x 12% 0,27

(*) Khấu hao cơ bản: tính cho hai hạng mục nhà xưởng và máy móc thiết bị giấy ắ Nhà xưởng: khấu hao 15 năm

Suất khấu hao nhà xưởng = Z/F

Z là giá trị của nhà xưởng được đưa vào khấu hao Để đơn giản, giá trị này được tính bằng phần phí xây dựng nhà xưởng, xây lắp và các chi phí liên quan khác (xem bảng 3.6) Từ đó, giá trị Z = 10.000.000 USD, tương đương 195.000 triệu đồng.

• F: sản lượng khấu hao, là tổng sản lượng từ năm 1 đến năm 15

• Z/F = 0.23 (lấy tròn) ắ Mỏy múc thiết bị giấy cú tuổi thọ trung bỡnh 30-40 năm Dự tớnh khấu hao nhanh 20 năm để đổi mới công nghệ

Suất khấu hao thiết bị = X/K

• X: giá máy móc thiết bị (xem bảng 3.6), X = 40.000.000 USD

• K: sản lượng khấu hao, là tổng sản lượng từ năm 1 đến năm 20 ( 1.164.000 Tấn)

Tính toán tài chính

Bảng 4.2: Doanh thu và lợi nhuận (triệu đồng)

Các tỉ lệ tài chính

- Doanh thu sau thuế = tổng doanh thu – thuế VAT

- Tổng chi phí = ( biến phí + định phí ) x sản lượng

- Lợi nhuận gộp = doanh thu sau thuế - tổng chi phí

Lợi nhuận ròng = lợi nhuận gộp – thuế thu nhập doanh nghiệp

Thời gian hoàn vốn

Bảng 4.3: Thời gian hoàn vốn không chiết khấu (triệu đồng)

Năm Công suất Lãi ròng Khấu hao Tích lũy Cộng dồn

Thời gian hoàn vốn không chiết khấu là 5 năm 8 tháng

Doanh thu hòa vốn và điểm hòa vốn lý thuyết

Bao gồm tất cả các khâu từ nguyên vật liệu ban đầu cho đến khi hòan thành sản phẩm

Việc đồng bộ giữa định thông số ban đầu cho sản phẩm và hiệu chỉnh thông số hồi tiếp trong quá trình sản xuất giúp tối ưu hóa vận hành và giảm thiểu sai lệch Khi thông số được thiết lập đúng từ đầu, quá trình hiệu chỉnh hồi tiếp trở nên dễ dàng, cho phép duy trì độ chính xác theo yêu cầu và đảm bảo sự liên tục của sản xuất Sự nhất quán này nâng cao chất lượng sản phẩm, tối ưu hóa chi phí và tăng hiệu suất sản xuất, đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng và yêu cầu vận hành hiện đại.

Sản phẩm là kết quả cảu một quá trình sản xuất và mang các đặc đỉem, đặc tính như mong muốn

Tuy nhiêm do sai số trong quá trình sản xuất nên sản phẩm không thể hòan tòan tuyệt đối

Trong quy trình sản xuất và kiểm soát chất lượng, sai số của sản phẩm phải nằm trong phạm vi sai số cho phép để sản phẩm được chấp nhận và có thể lưu thông trên thị trường Ngược lại, những sản phẩm có sai số ngoài phạm vi cho phép sẽ được xem là phế phẩm và loại bỏ khỏi quy trình sản xuất.

Chính vì vậy khâu kiểm tra là không thể thiếu

Sản xuất Phân loại thông số

Sản phẩm Lẫy mẫu So sánh giữa thông số thực tế và mong muốn

Bộ điều chỉnh thông số Đo đạc thông số sản phẩm Thông sốmong muốn

Thông số cài đặt ban đầu

Thông số điều chỉnh hồi tiếp về Đồng bộ thông số Sản xuất

Ngày đăng: 30/10/2022, 00:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Tài liệu công ty giấy Bình An (lưu hành nội bộ) 8. Tiêu chuẩn giấy in báohttp://www.vietpaper.com.vn/content/view/201/72/ Link
9. Tiêu chuẩn nước thải công nghiệp sản xuất giấy và bột giấy http://hiephoatrade.spaces.live.com/?_c11_BlogPart_BlogPart=blogview&_c=BlogPart&partqs=cat%3DTin%2Bt%25e1%25bb%25a9c Link
10. Giá giấy in báo của công ty cổ phần giấy Tân Mai ngày 27/07/2010 http://www.daithienviet.com/chi-tiet-tin-tuc/vn_vi/view/18/1/116-Lao-dao-thi-truong-giay.html Link
11. Dự án khu công nghiệp Hàm Kiệm – Bình Thuậnhttp://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1284&Itemid=165 Link
1. Th.s Cao Thị Nhung, Công nghệ sản xuất giấy và bột giấy, 2003 Khác
2. Nguyễn Thị Ngọc Bích, Kỹ thuật xenlulo và giấy, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Tp.HCM, 2003 Khác
3. Lương Như Quỳnh, Thiết kế nhà máy sản xuất giấy in báo công suất 45.000 tấn/ năm, Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Công nghệ giấy – xenlulo, Đại học BKHN 4. Nguyễn Vũ Quyết Thắng, Thiết kế nhà máy sản xuất giấy viết công suất Khác
5. Sổ tay và quá trình công nghệ hóa học tập I; TS Trần Xoa, TS Trần Trọng Khuông; Nhà xuất bản Khoa Học Kỹ Thuật; 2005 Khác
6. Sổ tay và quá trình công nghệ hóa học tập II; TS Trần Xoa, TS Trần Trọng Khuông; Nhà xuất bản Khoa Học Kỹ Thuật; 2005 Khác

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm