Từ thực tế đó nhằm đưa ra những giải pháp góp phần đưa khu du lịch Buôn Đôn phát triển nên tôi chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch tại khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đ
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 2PHẦN NỘI DUNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua 4 năm học, được thầy cô truyền đạt những kiến thức, qua thời gian
đi thực tập và quá trình nghiên cứu, tìm hiểu đồ án khóa luận tốt nghiệp đã bổ sung cho tôi nhiều kinh nghiệm và bài học thực tiễn Tôi thấy rằng ngành du lịch có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế các quốc gia trên thế giới, là
“ con gà đẻ trứng vàng” Đất nước ta trong thời gian gần đây cùng với sự phát triển chung của đất nước thì du lịch là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn Có thể nói với những điều kiện thuận lợi có sẵn, cùng với sự lao động sáng tạo, Việt Nam trở thành: “Điểm đến của Thiên niên kỷ mới”
Đồng thời, qua quá trình làm đồ án khóa luận tốt nghiệp giúp tôi hiểu
rõ hơn về nội dung cấu trúc, bố cục cũng như cách thức trình bày của một đồ
án tốt nghiệp
Tôi xin gởi đến quý thầy cô trường Đại học Tôn Đức Thắng, khoa Khoa học xã hội và nhân văn (chuyên ngành Việt Nam Học), đặc biệt là thầy Nguyễn Minh Mẫn, lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ quý báu dành cho tôi trong suốt thời gian ngồi trên ghế nhà trường, cũng như trong quá trình làm đồ
án tốt nghiệp để hoàn tất chương trình học và tốt nghiệp ra trường
Sau cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến ba mẹ, bạn bè thân thiết đã luôn ủng hộ tôi trong suốt thời gian học tập vừa qua
Trân trọng cảm ơn
TP Hồ Chí Minh, ngày… Tháng….năm…
Đào Thị Xuân
Trang 4NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 5
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
Trang 6
UBND : Ủy ban nhân dân
VQG : Vườn quốc gia
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Sơ đồ Trình bày chất lượng sản phẩm khu du lịch Buôn Đôn
Bảng 1: Biểu đồ cơ cấu phân theo trình độ học vấn khu du lịch sinh thái
Buôn Đôn
Bảng 2: Biểu đồ lượng khách đến khu du lịch Buôn Đôn 2005-2009
Bảng 3: Biểu đồ doanh thu du lịch của khu du lịch sinh thái Buôn Đôn
giai đoạn 2005-2009
Bảng 4: Mô hình nâng cao chất lượng, dịch vụ du lịch
Bảng 5: Mô hình du lịch cộng đồng
Trang 8Phụ lục 4: Một số hình ảnh về các điểm tham quan tại khu du lịch Buôn Đôn
Phụ lục 5: Một số hình ảnh về các lễ hội tại khu du lịch Buôn Đôn
Phụ lục 6:Một số hình ảnh về hiện trạng cơ sở vật chất kĩ thuật khu du lịch Buôn
Đôn
Trang 9MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Nhận xét của giáo viên hướng dẫn
Nhận xét của giáo viên phản biện
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng biểu, hình vẽ
Danh mục các phụ lục
Tóm tắt
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan nghiên cứu đề tài 1
3 Mục tiêu nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
4.2 Khách thể nghiên cứu 3
4.3 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
5.1 Phương pháp điền dã 3
5.2 Phương pháp thu thập xử lí thông tin 3
6 Giả thiết nghiên cứu 3
7 Ý nghĩa của đề tài 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SẢN PHẨM DU LỊCH 5
1 1 Khái niệm về du lịch 5
1 2 Khái niệm về khu du lịch 5
1 3 Khái niệm về các loại hình du lịch 5
1.3.1 Khái niệm du lịch sinh thái 5
1.3.2 Khái niệm du lịch văn hóa 5
1.3.3 Khái nệm du lịch nghỉ ngơi giải trí 5
1.3.4 Khái niệm du lịch chữa bệnh 6
1.3.5 Khái niệm du lịch Mice 6
1 4 Khái niệm về sản phẩm du lịch 6
Trang 101 5 Đặc điểm của sản phẩm du lịch 7
1 6 Sự khác biệt của sản phẩm du lịch so với các sản phẩm khác 7
1 7 Thành phần của sản phẩm du lịch 7
1 8 Các mô hình sản phẩm du lịch 9
1.8.1 Mô hình 4S 9
1.8.2 Mô hình 3H 11
1.8.3 Mô hình 6S 12
1 9 Các giai đoạn phát triển của sản phẩm du lịch 15
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 16
CHƯƠNG 2: KHU DU LỊCH SINH THÁI VĂN HÓA BUÔN ĐÔN THỰC TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH 17
2.1 Tổng quan về khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn 17
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 17
2.1.1.1 Vị trí địa lý 17
2.1.1.2 Địa hình 17
2.1.1.3 Khí hậu 17
2.1.1.4 Thủy văn 17
2.1.1.5 Động thực vật 18
2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 18
2.1.2.1 Hiện trạng kinh tế 18
2.1.2.2 Dân cư và con người 18
2.1.3 Lịch sử phát triển 19
2.2 Thực trạng phát triển sản phẩm du lịch tại khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn 20
2.2.1 Cơ sở vật chất kỹ thuật 20
2.2.2 Nguồn nhân lực 21
2.2.3 Sự tham gia của người dân trong hoạt động du lịch 22
2.2.4 Công tác bảo tồn văn hóa 23
2.2.5 Công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch ở khu du lịch Buôn Đôn 24
2 2.6 Các loại hình du lịch đang được khai thác ở khu du lịch Buôn Đôn 27
2.2.6.1 Loại hình du lịch tự nhiên 27
2.2.6.2 Loại hình du lịch nhân văn 28
Trang 112.2.7 Lượng du khách và doanh thu 28
2.2.7.1 Lượng du khách 29
2.2.7.2 Doanh thu 29
2.3 Tiềm năng du lịch sinh thái ở Buôn Đôn 30
2.3.1 Tiềm năng du lịch sinh thái tự nhiên 30
Hệ sinh thái Sông_Hồ 30
Hệ sinh thái Thác 31
Hệ sinh thái Rừng 31
2.3.2 Tiềm năng du lịch sinh thái nhân văn 32
Di sản văn hoá thế giới 32
Lễ hội 34
Di tích lịch sử văn hoá 35
Ẩm thực 36
Làng nghề truyền thống 37
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 37
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM DU LỊCH TẠI KHU DU LỊCH SINH THÁI BUÔN ĐÔN 39
3.1 Các giải pháp 39
3.1.1 Một số bài học kinh nghiệm của một số KDL trong nước và thế giới 39 3.1.2 Giải pháp về đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch 44 3.1.3 Giải pháp về công tác xúc tiến, quảng bá 47
3.1.4 Giải pháp về nguồn nhân lực 48
3.1.5 Giải pháp về tổ chức quản lí 49
3.1.6 Giải pháp về môi trường 50
3.1.7 Giải pháp về thu hút vốn đầu tư 51
3.1.8 Giải pháp về liên kết vùng 51
3.1.9 Áp dụng mô hình du lịch cộng đồng 52
3.2 Kiến nghị 55
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 59
KẾT LUẬN 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC
Trang 12TÓM TẮT
Trong thời gian gần đây cùng với sự phát triển chung của đất nước thì du lịch là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn Du lịch Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội thuận lợi cũng như nhiều thách thức Một trong những thách thức đó là chất lượng sản phẩm du lịch, dịch vụ nước ta còn nhiều hạn chế nên sức hút và năng lực cạnh tranh thấp
Khu du lịch Sinh thái văn hóa Buôn Đôn, một khu du lịch nổi tiếng của Tỉnh Đăk Lăk Với lợi thế về tài nguyên thiên nhiên phong phú, nền văn hóa bản địa đa dạng Tuy nhiên chất lượng sản phẩm du lịch chưa đạt tiêu chuẩn cả về chất và lượng Từ thực tế đó nhằm đưa ra những giải pháp góp phần đưa khu du lịch Buôn
Đôn phát triển nên tôi chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch tại khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn”
Với mục tiêu của đề tài, tôi chọn đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu chính là khu du lịch Buôn Đôn Đồng thời sử dụng hai phương pháp nghiên cứu là phương pháp điền dã và thu thập xử lí thông tin để khảo sát các cơ sở dịch vụ, chất lượng phục vụ, chương trình tham quan ; cũng như thu thập thông tin, xử lý số liệu từ nhiều nguồn khác nhau
Dựa trên cơ sở nghiên cứu và lí luận về chất lượng sản phẩm du lịch tôi tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng phát triển sản phẩm du lịch về tiềm năng du lịch, các sản phẩm du lịch đang khai thác, lượng du khách, doanh thu, cơ sở vật chất
kỹ thuật, nguồn nhân lực, sự tham gia của người dân trong hoạt động du lịch, công tác bảo vệ môi trường, và công tác bảo tồn văn hóa Từ đó tôi có cái nhìn thực tế, cụ thể hơn về những thuận lợi và khó khăn của khu du lịch trong quá trình phát triển để đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm giải quyết mục tiêu đặt ra của đề tài là nâng cao chất lượng sản phẩm khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn
Qua quá trình nghiên cứu, được sự chỉ dẫn tận tình của giảng viên hướng dẫn; sự giúp đỡ của lãnh đạo, cán bộ nhân viên khu du lịch cộng với sự tìm tòi, nghiên cứu của bản thân Đồ án khóa luận tốt nghiệp của tôi đã thu được một số kết quả nhất định Tôi đã đưa ra các giải pháp tổng hợp bao gồm: giải pháp đa dạng hóa nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, giải pháp nguồn nhân lực, giải pháp về tổ chức quản lý, giải pháp liên kết vùng, giải pháp thu hút vốn đầu tư, giải pháp về công tác xúc tiến quảng bá Đặc biệt tôi áp dụng mô hình du lịch cộng đồng và học tập kinh nghiệm thực tiễn từ một số khu du lịch trong và ngoài nước vào khu du lịch Buôn Đôn nhằm đa dạng hóa chất lượng sản phẩm du lịch, góp phần vào sự phát triển của khu du lịch Buôn Đôn trong tương lai
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, du lịch đã khẳng định được vị trí quan trọng của
mình trong nền kinh tế quốc dân, là ngành kinh tế mang lại lợi nhuận cao, đồng thời
cũng là ngành thu hút nhiều lao động nhất
Ở Việt Nam với chính sách mở cửa, hợp tác kinh tế với tất cả các nước, có
luật đầu tư cởi mở, tình hình chính trị ổn định, vị trí địa lý thuận lợi, phong cảnh
thiên nhiên đẹp và đa dạng, nền văn hóa truyền thống lâu đời, hiếu khách… Ngành
du lịch Việt Nam đang đứng trước cơ hội phát triển có ý nghĩa quan trọng đối với
nền kinh tế đất nước Tuy nhiên so với các nước trong khu vực và thế giới thì sản
phấm du lịch, cũng như cơ sở dịch vụ của nước ta còn nhiều hạn chế, chưa có tính
cạnh tranh trên thị trường do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan
Trong xu hướng phát triển chung của du lịch Việt Nam, khu du lịch sinh thái
văn hóa Buôn Đôn - một khu du lịch nổi tiếng của tỉnh Đăk Lăk, nơi hội tụ tài
nguyên thiên nhiên và nhân văn phong phú, với các loại hình và sản phẩm du lịch
đa dạng Nhưng trên thực tế chất lượng sản phẩm dịch vụ du lịch chưa tương xứng
với lợi thế và tiềm năng vốn có, lượng du khách quay trở lại thấp
Xuất phát từ thực tế đó, nhằm mục đích đưa ra những giải pháp, kiến nghị để
nâng cao chất lượng sản phẩm, đưa khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn phát
triển đúng với tiềm năng sẵn có, nâng cao chất lượng sản phẩm, và thu hút được sự
quan tâm của các nhà đầu tư cũng như khách du lịch Do vậy tôi chọn đề tài: “Nâng
cao chất lượng sản phẩm du lịch tại khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn”
2.Tổng quan nghiên cứu đề tài
Du lịch từ truớc đến nay đã thu hút được nhiều sự quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu trong nước và ngoài nước Du lịch tỉnh Đăk Lăk cũng đã thu hút được
nhiều tác giả nghiên cứu Trong tác phẩm “Tài nguyên thiên nhiên và con người
Tây Nguyên” của tập thể tác giả trường đại học Tổng Hợp Hà Nội xuất bản năm
1983, đã tổng quan được tiềm năng tự nhiên và nhân văn của vùng đất Tây Nguyên
nói chung Đăk Lăk nói riêng Đồng thời tác phẩm còn đề cập đến đời sống văn hóa,
phong tục tập quán của các dân tộc nơi đây Sau đó đã có một số công trình nghiên
cứu về du lịch ĐăkLăk như: Trong đề tài “Giái pháp thu hút đầu tư, phát triển
kinh tế - xã hội Tỉnh Đăk Lăk” năm 2004 của tập thể tác giả Đây là một đề tài
nghiên cứu toàn diện về tình hình thu hút vốn đầu tư của Tỉnh trên các mặt khác
nhau: về cơ cấu ngành theo khu vực kinh tế, thành phần kinh tế, cơ cấu tổng sản
phẩm Đồng thời đã đề cập đến tình hình phát triển kinh tế xã hội và đặc biệt là tình
hình phát triển du lịch của tỉnh Đăk Lăk trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2003,
Trang 14những hạn chế, thuận lợi Dựa trên cơ sở đó tác giả đưa ra một số chiến lược, giải
pháp thu hút nguồn vốn đầu tư để phát triển kinh tế xã hội nói chung, du lịch nói
riêng trong những năm tiếp theo
Đến năm 2005 tác phẩm “Du lịch sinh thái” của giáo sư tiến sĩ khoa học Lê
Huy Bá do nhà xuất bản Giáo Dục phát hành Tác phẩm này không chỉ có giá trị về
mặt cơ sở lí luận mà còn có tính thực tiễn cao cho những đề tài nghiên cứu về du
lịch sinh thái Đặc biệt tác phẩm còn đề cập đến những tiềm năng phát triển DLST
tỉnh Đăk Lăk Trong đó đã tổng quan những điều tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân
văn của Tỉnh, và đưa ra những đề xuất qui hoạch ở một số điểm du lịch như: xã
EaKao, VQG Chư Yang Sin, hồ Lắk, Yok Đôn… Và cũng trong năm 2005, trong
luận án phó tiến sĩ địa lí địa chất Phạm Quang Anh khoa KHTN Đại học KHTN
“Phân tích cấu trúc cảnh quan, ứng dụng, tổ chức du lịch xanh ở Việt Nam
(lấy một số địa phương ở Đăk Lăk,Thanh Hóa, Ninh Bình) làm ví dụ” Đề tài
đã đề cập đến cảnh quan tự nhiên của Đăk Lăk, đồng thời cũng đưa ra một số tuyến
du lịch mà khách du lịch có thể tham quan, kết hợp với các tuyến, điểm du lịch
khác
Ngoài các công trình nghiên cứu khoa học đã được xuất bản và giới thiệu thì
năm 2006 trung tâm sách Dịch vụ Bản đồ Việt Nam thuộc công ty Vietbooks liên
kết với nhà xuất bản Thông Tấn phát hành tác phẩm “Đăk Lăk 24G” Tác phẩm
tổng quan về các danh thắng, các di tích lịch sử văn hóa, lễ hội truyền thống, ẩm
thực mua sắm…giúp các nhà nghiên cứu và đặc biệt du khách có thể tìm kiếm
những thông tin du lịch của Tỉnh Đăk Lăk
Trong quá trình làm đề tài tôi đã ít nhiều tham khảo những tài liệu trên với
mục đích góp phần hoàn chỉnh cho đề tài của tôi Tuy nhiên, hầu hết đều tập trung
nghiên cứu về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, tiềm năng phát triển du lịch của
Tỉnh đặc biệt là loại hình du lịch sinh thái và du lịch xanh Do đó, tôi hi vọng rằng
đề tài này sẽ góp phần thêm vào việc nghiên cứu tiềm năng, chất lượng sản phẩm du
lịch của khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn nói riêng Đăk Lăk nói chung để từ
đó có những giải pháp đưa du lịch Buôn Đôn phát triển và thu hút được du khách
trong thời gian tới, cũng như là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến tiềm
năng, sản phẩm và sự phát triển của khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn
3 Mục tiêu của đề tài
- Đưa khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn phát triển đúng với tiềm năng
du lịch hiện có
- Đề xuất những giải pháp giúp nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch tại khu
du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn
Trang 154 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng thể khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn
4.2 Khách thể nghiên cứu
- Sở Văn hóa - thể thao và du lịch Tỉnh Đăk Lăk
- Khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn
- Người dân địa phương
4.3 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu tại khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn
- VỀ thời gian: Nghiên cứu từ năm 2005 đến năm 2009
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp điền dã
Để thực hiện đề tài này, tôi tiến hành điền dã tại khu du lịch sinh thái văn hóa
Buôn Đôn, để khảo sát và rút ra những nhận xét, đánh giá, về hiện trạng các loại
hình, sản phẩm du lịch đang được khai thác, các cơ sở dịch vụ, lượng khách du lịch,
sự tham gia và lợi ích của người dân trong hoạt động du lịch… Đây là phương pháp
chủ yếu của đề tài
5.2 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin
Thông qua việc thu thập các thông tin, dữ liệu, các báo cáo chính thức của
các đơn vị quản lý ngành du lịch chuyên ngành du lịch từ trung ương đến địa
phương, nguồn số liệu của Sở văn hóa thể thao và du lịch khu du lịch, sách báo, tạp
chí, internet…Để có những tổng hợp số liệu, thông tin chính xác và đưa ra giải
pháp, kiến nghị phù hợp hơn với thực tiễn của khu du lịch
6 Giả thiết nghiên cứu
Qua tìm hiểu một số đề tài nghiên cứu, đề tài đưa ra giả thuyết nghiên cứu
sau:
Giả thuyết nghiên cứu: Khai thác hiệu quả lợi thế các nguồn tài nguyên du
lịch, kết hợp một cách sáng tạo, hợp lí giữa du lịch sinh thái và du lịch văn hóa tạo
ra sản phẩm du lịch độc đáo mới lạ nhưng vẫn đảm bảo giữ được bản sắc văn hóa
bản địa và môi trường phát triển bền vững
7 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Đề tài mong muốn góp thêm nguồn tư liệu về sản phẩm du lịch
tại khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn, giúp người đọc có thể tra cứu, hiểu biết
thêm về con người, phong tục, tập quán, tài nguyên thiên nhiên – nhân văn… ở
Trang 16vùng đất này Qua đó, tôi cũng mong muốn nội dung của đề tài này sẽ là nguồn tài
liệu tham khảo cho các chuyên đề nghiên cứu về du lịch ở Đăk Lăk
- Ý nghĩa thực tiễn: Với kết quả nghiên cứu được của đề tài, và những phương
hướng vạch ra cho sự phát triển, chúng tôi hy vọng sẽ đóng góp phần nào vào quá
trình hoạch định chính sách về đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản du lịch
trong thời gian tới Đặc biệt đưa hình ảnh Buôn Đôn trở thành điểm đến hấp dẫn khi
đến Đăk Lăk
NỘI DUNG
Ngoài phần dẫn luận, đề tài tập trung vào các chương sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận chung về sản phẩm du lịch
Chương 2: Khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn thực trạng và tiềm năng phát
triển sản phẩm du lịch
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch tại khu du lịch sinh thái
văn hóa Buôn Đôn
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG
VỀ SẢN PHẨM DU LỊCH
1.1 Khái niệm về du lịch
Ngày nay trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể
thiếu được trong đời sống văn hóa xã hội và hoạt động du lịch đang được phát triển
một cách mạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế quan trọng ở nhiều nước trên thế
giới
Theo Pirôgionic (1985), “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong
thời gian nhàn rỗi liên quan đến sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư
trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng
cao trình độ nhận thức – văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị
về tự nhiên, kinh tế và văn hóa”
Theo luật du lịch Việt Nam (2005), Du lịch là các hoạt động có liên quan
đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp
ứng nhu cầu tham quan tìm hiểu giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời khoảng thời
gian nhất định
1.2 Khái niệm về khu du lịch: Là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về
tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư, phát triển nhằm đáp ứng nhu
cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả kinh tế và môi trường
1.3 Các loại hình du lịch
1.3.1 Khái niệm du lịch sinh thái
DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa gắn với
giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự
tham gia tích cực của cộng đồng địa phương
1.3.2 Khái niệm du lịch văn hóa
Là loại hình du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với với sự tham gia
tích cực của cộng đồng địa phương nhằm phát triển bền vững
1.3.3 Khái niệm du lịch nghỉ dưỡng
Là loại hình du lịch có tác dụng giải trí, giúp phục hồi thể lực và tinh thần
cho con người
Trang 181.3.4 Khái niệm du lịch chữa bệnh
Là hình thức đi du lịch để điều trị một căn bệnh nào đó về thể xác và tinh
thần Mục đích đi du lịch là vì sức khỏe Loại hình du lịch này gắn liền với việc
chữa bệnh và nghỉ ngơi tại các trung tâm chữa bệnh
1.3.5 Khái niệm du lịch Mice
Là loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện, du
lịch khen thưởng của các công ty cho nhân viên, đối tác
1.4 Khái niệm về sản phẩm du lịch
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất
hữu hình và vô hình
Theo Michael M Coltman: “Sản phẩm du lịch là một món hàng cụ thể như
thức ăn, hoặc một món hàng không cụ thể như chất lượng phục vụ, bầu không khí
tại nơi nghỉ mát”
Theo Krapt: Sản phẩm du lịch còn gọi là kinh nghiệm du lịch và nó là tổng
thể nên Kraft nói “một khách sạn không làm nên du lịch”
Sản phẩm du lịch là toàn bộ những yếu tố phục vụ cho khách du lịch nhằm
đáp ứng nhu cầu và mong muốn của họ Nó bao hàm các dịch vụ về du lịch, hàng
hóa, các tiện nghi cung cấp cho du khách, được tạo bởi các yếu tố tự nhiên, kỹ thuật
và lao động du lịch tại một vùng, một cơ sở nào đó
Nói đến sản phẩm du lịch là nói đến dịch vụ du lịch Nó là sản phẩm của lao
động sống của ngành du lịch nhằm phục vụ khách du lịch bao gồm: vận chuyển,
hướng dẫn viên, ăn ở, chăm sóc sức khỏe và an toàn cho khách, tổ chức các hoạt
động vui chơi giải trí và các dịch vụ bổ sung như massage, thu đổi ngoại tệ, giặt
ủi…được gói gọn trong tour du lịch Tùy vào nhu cầu của du khách mà mỗi chương
trình du lịch có đặc điểm khác nhau về tính tiện lợi
“Sản phẩm du lịch (tour product) Là hỗn hợp các yếu tố hình thành một tổng thể
không thể không thể tách rời gồm: các di sản du lịch ( tài nguyên thiên nhiên, tài
nguyên nhân văn, lịch sử, văn hóa, nghệ thuật) các phương tiện vận chuyển,
truyền tải đối tượng du lịch đến với tài nguyên du lịch, các dịch vụ cung cấp và
sử dụng tài nguyên du lịch”
Khái niệm này tôi chọn sử dụng xuyên suốt đề, bởi tính ứng dụng thiết thực,
dễ hiểu và được sử dụng rộng rãi ch các hoạt động nghiên cứu có liên quan đến sản
phẩm du lịch
Trang 191.5 Đặc điểm của sản phẩm du lịch
- Sản phẩm du lịch không thể thích nghi với những biến đổi của cầu du lịch
theo không gian và thời gian
- Sản phẩm du lịch là sản phẩm phi cụ thể (hàng hóa, dịch vụ) thường rất dễ
bị bắt trước, bị cạnh tranh, bị thách thức trên thị trường
- Khách mua sản phẩm du lịch phải tiêu pha khá nhiều tiền bạc trong thời
gian dài trước khi họ có thể được thưởng thức sản phẩm đó
- Không thể tăng lượng sản phẩm du lịch trong thời gian ngắn mà hầu hết nó
phải được hình thành trong thời gian dài thậm chí là rất dài
- Nhu cầu của khách hàng rất hay thay đổi, họ ít khi trung thành với một
nhãn hiệu sản phẩm du lịch nào
- Nhu cầu của khách hàng đối với một sản phẩm du lịch phụ thuộc và các
yếu tố vĩ mô như : những biến động chính trị, kinh tế xã hội, sự giao động
của tỉ giá hối đoái, sự suy thoái kinh tế, lạm phát
- Vòng đời của sản phẩm du lịch cũng giống như vòng đời của các sản phẩm
1.6 Sự khác biệt của sản phẩm du lịch so với các sản phẩm khác
- Sản phẩm du lịch là một sản phẩm cứng ngắc do sự thiếu linh hoạt và
không thể tồn kho như sản phẩm khác, nó phải được tiêu thụ tại chỗ: khách
sạn, sân bay, cơ sở vui chơi giải trí
- Không thể dời đến nơi khách có nhu cầu mà khách hàng phải luôn tìm đến
Trang 20- Những hình thái về thiết chế chính trị pháp chế hành chính
- Những điều tốt đẹp và mọi dịch vụ, phương tiện vận chuyển, hạ tầng cơ sở
- Những hoạt động kinh tế tài chính
1.7.2 Cách sắp xếp của Jeffries và Krippendorf
- Các di sản thiên nhiên tài nguyên thiên nhiên
- Các di sản do con người tạo ra
- Các yếu tố thuộc về con người: Tôn giáo, phong tục tập quán
- Hệ thống các phương tiện giao thông, thông tin liên lạc
- Những cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho ngành du lịch: Khách sạn, nhà
hàng,…
- Các chính sách kinh tế tài chính, chính sách xã hội
1.7.3 Cách sắp xếp của Michael M Coltman
M Coltman chia sản phẩm du lịch theo thành 2 hướng tài nguyên:
Tài nguyên theo hướng Maketing
- Tài nguyên thiên nhiên: Phong cảnh, công viên, hồ suối, núi non, dốc đá, hệ
động thực vật, bãi biển, hải cảng…
- Nơi tiêu biểu văn hóa và lịch sử vùng khảo cổ, kiến trúc truyền thống, nghề
thủ công bản địa, thực phẩm đặc sản, lễ luật, nghi thức phong tục, múa hát…
- Nơi giải trí: Công viên, sân golt, nơi cắm trại, nơi picnic, nơi bơi lội…
- Các tiện nghi du lịch: Chiêu đãi, phục vụ nghỉ ngơi, nhà hàng, mua sắm,
trung tâm thông tin, hệ thống đăng ký đặt chỗ…
- Khí hậu
- Các tài nguyên thiên nhiên khác
- Hấp dẫn tâm lý: mỹ quan, thái độ hài lòng
Cách sắp xếp theo chức năng điều hành
- Khả năng mua đất đai
- Kế hoạch và phân vùng
- Vận chuyển: đường bộ, đường hàng không, đường xe lửa, xe đò
- Phục vụ công cộng: nước dùng, điện, nước thải
- Kỹ nghệ trợ giúp: công an, cứu hỏa, y tế, nhà thờ, ngân hàng, cung ứng
lương thực, thực phẩm, các dịch vụ trợ giúp khác
- Lực lượng lao động: thuê mướn lao động được, khéo léo tay nghề, dạy
ngoại ngữ
- Vốn
Trang 21- Thái độ của chính quyền địa phương
1.8 Các mô hình của sản phẩm du lịch
Để tạo nên các sản phẩm du lịch thật độc đáo, riêng biệt cần phải lập nên
những mô hình sản phẩm du lịch Từ những thành phần cấu tạo của sản phẩm du
lịch, các nhà du lịch rút ra những yếu tố căn bản để lập nên những mô hình sản
phẩm du lịch Tùy theo yếu tố thiên nhiên của mỗi nước và quan niệm của mỗi nhà
nghiên cứu du lịch, từ đó tạo nên những mô hình sản phẩm du lịch áp dụng cho đất
nước cũng như các vùng miền Dưới đây là những mô hình sản phẩm du lịch đang
được thịnh hành ở những đất nước có nền công nghiệp không khói phát triển có thể
áp dụng để phát triển cho các sản phẩm du lịch của khu du lịch, đó là mô hình sản
phẩm 4S, 3H và 6S
1.8.1 Mô hình 4S
- SEA: Biển
- SUN: Mặt trời, tắm nắng
- SHOP: Cửa hàng lưu niệm, mua sắm
- SEX (or SAND): Hấp dẫn, khiêu gợi giới tính (hay bãi cát tắm nắng)
Biển (sea):
Biển là yếu tố quan trọng để thu hút khách du lịch Những nơi nào có bãi
biển đẹp, sạch sẽ là nơi du khách đổ xô về tắm biển, luớt ván, phơi nắng, nghỉ
dưỡng Việt Nam có một vị trí thuận lợi để phát triển du lịch biển, từ Bắc chí Nam,
Việt Nam có hơn 2500 km bờ biển, với nhiều bãi biển nổi tiếng như Vũng Tàu,
Nha Trang, Đà Nẵng, Cửa Tùng và có nơi là kỳ quan của thế giới như Vịnh Hạ
Long Ngoài những bãi biển nổi tiếng trên, Việt Nam còn có rất nhiều bãi biển đẹp
nhưng chưa được khai thác Đây là thế mạnh, là tiềm năng dồi dào để phát triển
ngành du lịch trong tương lai
Mặt trời (sun)
Đối với khách du lịch quốc tế, yếu tố mặt trời, ánh nắng rất quan trọng Là
những người ở xứ lạnh, ít khi thấy ánh nắng mặt trời, vào những mùa mưa, nhiệt độ
rất thấp và lạnh, ít người đi du lịch vào mùa này Vì vậy họ thường tìm đến những
vùng nắng ấm để tắm và sưởi nắng Ở Việt Nam, miền Bắc và miềm Trung, mỗi
năm chia ra làm 4 mùa rõ rệt Riêng ở miền Nam chỉ có 2 mùa: Mùa mưa và mùa
nắng Tuy nhiên, dù ở mùa nào, hằng ngày miền nam vẫn có nắng, vì ở đây không
có mưa dầm như ở miền Trung và miền Bắc Về thời tiết, đây cũng là một yếu tố
thuận lợi cho việc phát triển du lịch miền Nam
Cửa hàng đồ lưu niệm (shop):
Mua sắm rất là quan trọng đối với khách du lịch, khách đi du lịch hầu hết là
để thỏa mãn sự hiểu biết, kinh nghiệm Họ muốn biết những nơi xa lạ, phong tục
tập quán, lối sống của cư dân địa phương, những nét văn hóa, sinh hoạt của những
Trang 22sắc tộc, bộ lạc hoang sơ… Và khi ra về ngoài những ấn tượng, những kinh nghiệm
mà họ có được một cách vô hình, họ cần có một vật hữu hình làm kỷ niệm cho
chuyến đi của chính bản thân, cho những người thân và bạn bè Đó là sản phẩm
hữu hình, những món quà lưu niệm mang đầy dấu ấn cho suốt cả cuộc đời của họ
về một nơi, một vùng, một nước xa xôi nào đó Điều này gợi lại cho họ một kỷ
niệm khó phai mờ về một chuyến đi
Cửa hàng bán hàng lưu niệm và sự mua sắm giữ một vai trò vô cùng quan
trọng trong việc thu hút khách du lịch Điều này đã chứng minh cho ta thấy ở
những nơi nghèo nàn, các cửa hàng bán đồ lưu niệm hoặc thuế hải quan quá cao
đánh trên sản phẩm khách du lịch mua làm quà lưu niệm, là những nơi ít khách du
lịch và có thể là nơi mà khách “Một đi và không bao giờ trở lại” Trái lại, những
nơi nào có chính sách thuế khóa về hải quan thoáng, khuyến khích khách du lịch
mua sắm nhiều là những nơi khách du lịch thường lui tới và giới thiệu cho bạn bè
đi du lịch và chính những nơi này đã thu về một nguồn ngoại tệ đáng kể cho ngành
du lịch
Yếu tố hấp dẫn giới tính (Sex) hay bãi cát (Sand)
Yếu tố hấp dẫn giới tính bao hàm nhiều ý nghĩa khác nhau Nhưng dù hiểu
theo nghĩa thế nào đi nữa thì chữ sex trong du lịch thể hiện tính khiêu gợi, hấp dẫn
và để đáp ứng sự thỏa mãn về nhu cầu sinh lý Vì vậy, trong du lịch có kèm theo
chữ sex, đó là sex - tour
Vào đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, từ khi Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi bị
dịch bệnh AIDS hoành hành, khách du lịch đổ xô về Châu Á, Đông Nam Á, những
nước không những kém phát triển về mặt kinh tế mà còn chậm về sự lan tràn cơn
bệnh AIDS để thỏa mãn một phần “nhu cầu không nói ra” và hy vọng vào một tỷ lệ
về sự an toàn cao hơn các nước khác Nhìn lại những nước gần Việt Nam, trong
những năm gần đây đã thu về một nguồn lợi kinh tế đáng kể khi thả nổi vấn đề sex
trong du lịch, nhưng đằng sau những nguồn lợi và sự phát triển đó, du lịch đã để lại
một dấu ấn sâu sắc về sự phá vỡ đối với xã hội và con người Điển hình trong
những năm gần đây là Thái Lan, tuy đã mang lại nguồn lợi kinh tế đáng kể nhưng
theo ước tính của các chuyên gia trên thế giới, thì những lợi ích đó không bù dắp
được về sự mất mát, thiệt hại về xã hội, con người
Đường lối chính sách của Việt Nam không chủ trương và cấm nghiêm ngặt
việc kinh doanh sex dưới mọi hình thức Đây là chủ trương đúng đắn Tuy nhiên
trong thực tế cũng không sao tránh khỏi tình trạng sex và cũng chỉ làm chậm đi chứ
không sao ngăn chặn được hoàn toàn bệnh AIDS và nạn xì ke ma túy, gái điếm
Nếu loại trừ yếu tố hấp dẫn giới tính (sex) thì yếu tố bãi cát cũng rất hấp dẫn
khách du lịch Với những bãi cát mịn, trắng chạy dài dọc theo bờ biển sẽ thu hút
khách du lịch Biết được tính hấp dẫn của những bãi cát đối với khách du lịch,
nhưng du lịch Việt Nam còn chưa quan tâm thực sự và đầu tư đúng mức dù thiên
Trang 23nhiên ban tặng cho những bãi biển đẹp, những miền cát trắng mênh mông Vì vậy
Cát sẽ là một tiềm năng lớn cho du lịch nếu biết khai thác hợp lý, hiệu quả cho du
- Honesty: Lương thiện, uy tín trong kinh doanh
Di sản truyền thống dân tộc, di sản văn hóa, nhà thờ (herigate)
Những lĩnh vực thuộc về di sản như văn hóa, nghệ thuật, lịch sử công nghệ,
những công trình kiến trúc cổ của một vùng, một đất nước, tùy theo mức độ quan
trọng, quí giá có thể trở thành những di sản văn hóa của một quốc gia, của thế
giới.Việt Nam có nhiều di sản truyền thống dân tộc, di sản văn hóa được thế giới
công nhận như thành phố cổ Hội An - Quảng Nam, các lăng tẩm vua chúa thời
Nguyễn ở Cố Đô Huế Những loại di sản như là di sản văn hóa, phong tục, tập
quán ở Việt Nam được đánh giá rất cao
Song song với việc phát triển du lịch, việc phát triển, bảo tồn, vun đắp các
giá trị truỵền thống dân tộc được coi trọng, vì văn hoá là một nhân tố, một động lực
vô cùng quan trọng cho quá trình phát triển du lịch Giá trị truyền thống dân tộc
Việt Nam được thể hiện, phát huy rõ nét nhất qua truyền thống mấy ngàn năm dựng
nước và giữ nước, sắc thái dân tộc, văn hóa dân tộc
Hiểu theo nghĩa nhà thờ của thuật ngữ Heritage thì đây cũng là một yếu tố
quan trong đối với khách du lịch quốc tế Hiện nay trên thế giới, khách du lịch
nhiều nhất là khách thuộc các nước Châu Âu, Châu Mỹ Ở đây đa số người dân
theo đạo Thiên Chúa, nên dù ở đâu, đi đâu họ cũng cần có nhà thờ để tham dự
thánh lễ vào mỗi ngày chủ nhật Đây là nhu cầu tinh thần không thể thiếu với họ
Lòng hiếu khách, nhà hàng, khách sạn (hospitality)
Từ Hospitality có nghĩa là lòng hiếu khách Trong du lịch, từ hospitality còn
có nghĩa là những dịch vụ trong khách sạn nhà hàng Dù hiểu theo nghĩa nào đi nữa
thì trong du lịch những yếu tố về lòng hiếu khách, những dịch vụ trong khách sạn
nhà hàng là những yếu tố vô cùng quan trọng
Lòng hiếu khách thể hiện qua sự tiếp xúc giữa khách với nhân viên cung ứng
dịch vụ và sự tiếp xúc giữa khách với cư dân địa phương nơi khách đến tham quan
du lịch Sự niềm nở, tận tình giúp đỡ khách một cách vui vẻ khi họ tìm hiểu về
phong tục, tập quán, về đất nước họ đến thăm sẽ làm tăng thêm chất lượng sản
phẩm Làm tốt những công việc này sẽ gây một ấn tượng đẹp đối với mỗi người
khách và sau chuyến đi, họ muốn có dịp trở lại hoặc giới thiệu cho bạn bè, người
thân đến du lịch Trái lại, chỉ cần một điều nhỏ xúc phạm đến danh dự của khách
Trang 24qua sự lạnh lùng, gắt gỏng, hách dịch thì những điều tốt đẹp trong chuyến đi biến
thành mây khói và khách “Một đi không trở lại”
Hai yếu tố quan trọng nhất để tạo thành tour du lịch trọn gói là khách sạn,
nhà hàng và vận chuyển Ngoại trừ khách tham quan, hầu hết khách đều nghỉ qua
đêm nên cần có khách sạn nhà hàng để giải quyết vấn đề lưu trú ăn uống.Vì vậy
cần phải luôn quan tâm đến chất lượng phục vụ của nhà hàng khách sạn trong sản
phẩm du lịch
Tính lương thiện (honesty)
Tính lương thiện là một yếu tố quan trọng trong kinh doanh Kinh doanh
phải lấy chữ tín làm đầu Cho nên vấn đề uy tín với khách là điều cần thiết Nó đảm
bảo lòng tin của khách khi bỏ tiền ra mua sản phẩm mà chưa thấy, chưa sử dụng
Yếu tố vệ sinh bao gồm: Vệ sinh thực phẩm, vệ sinh ăn uống, ngủ, nghỉ, vệ
sinh môi trường như không khí, nước, vệ sinh đường phố, các điểm tham quan…
Trong vệ sinh, thực phẩm, thức uống phải có lý lịch, xuất xứ, phải có chứng minh
nguồn gốc và quá trình hình thành Ví dụ, một chiếc bánh ngọt bao gồm bột,
đường, sữa, trứng và màu Cần phải biết bột mì xuất xứ từ đâu, trứng gà công
nghiệp hay gà nuôi ở thôn quê, đường loại gì, có sử dụng đường hóa học không,
sữa bò xuất xứ từ nước nào, có sử dụng từ sữa bò của các nước có bò điên hay
không và các loại màu sử dụng có tính độc hại không…?
Về môi trường, không khí phải trong lành, không bị khói, bị bụi, khói làm ô
nhiễm Nước thải phải có hệ thống xử lý để tránh tình trạng làm ô nhiễm các dòng
sông Bởi vậy, muốn phát triển du lịch thì các ngành chức năng cần phải quan tâm
hàng đầu đến vấn đề môi trường Các điểm du lịch, đường phố phải xanh, sạch và
đẹp Điều này nói lên trình độ dân trí, ý thức của người dân và sự quan tâm của
chính quyền Tại các nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan, Hồng Kông,
đường phố rất tráng lệ, sạch sẽ, luôn luôn có những đội cảnh sát du lịch giữ gìn trật
tự và nhặt từng lá cây, từng cọng rác để làm đẹp, sạch thành phố làm cho du khách
có một ấn tượng đẹp về những đất nước này Còn ở Việt Nam, không biết đến bao
Trang 25giờ người dân mới có ý thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường sống
xung quanh mình
Sức khỏe ( Santé )
Yếu tố sức khỏe bao gồm các loại hình thể thao, chữa bệnh và nghỉ dưỡng
Người ta đi du lịch chủ yếu là để nghỉ ngơi, lấy lại sức khỏe sau những năm tháng
làm việc căng thẳng tinh thần và thể chất
Để thu hút khách du lịch đi du lịch vì lý do sức khỏe, các đơn vị cung ứng
du lịch phải kết hợp những yếu tố liên quan đến sức khỏe trong sản phẩm du lịch
như các hoạt dộng thể thao bao gồm sân golf, lướt ván, bể bơi, sân tennis, leo núi,
câu cá, cắm trại
Ngoài các loại hình mang tính thể thao trên, các khách sạn cũng cần có các
dịch vụ tắm hơi, massage đa dạng, phong phú, loại hình này chữa một số bệnh rất
hiệu quả
An ninh, trật tự xã hội ( Securité )
Yếu tố an ninh, trật tự xã hội bao gồm các vấn đề ổn định chính trị, bài trừ tệ
nạn xã hội, bảo hiểm sinh mạng cho khách du lịch
Vấn đề an ninh là yếu tố quan tâm hàng đầu để phát triển du lịch Một vùng,
một nước thiếu an ninh thì ngành du lịch không thể phát triển Bảo vệ tính mạng
cho du khách là vấn đề cực kỳ quan trọng Du khách có thể bị phe đối nghịch của
một quốc gia bắt cóc hoặc sát hại, nên cần phải bảo vệ, giữ gìn tính mạng, tinh
thần, của cải vật chất cho khách du lịch Để góp phần vào việc giảm thiểu mức rủi
ro và đảm bảo an ninh trật tự cho du khách cần phải thực hiện nhiều biện pháp
đồng bộ giữa các chính quyền, các đơn vị cung ứng dịch vụ Về chính quyền phải
ổn định chính trị, bài trừ tệ nạn xã hội như ăn xin, cướp giật, móc túi, nài ép khách
mua hàng Về phía hãng lữ hành phải trang bị phương tiện vận chuyển tốt và tài xế
phải có kinh nghiệm, cẩn thận Về phía khách sạn, phải giữ gìn an toàn, cửa phòng
chắc chắn để chống trộm cắp, chống kẻ lạ đột nhập gây nguy hiểm cho khách
Sự thanh thản (Sérenité )
Ngoài mục đích du lịch công vụ, hầu hết khách đi du lịch vì mục đích hưởng
thụ, đi tìm sự thanh thản cho tâm hồn để bù dắp sự mất mát qua nhiều năm tháng
làm việc cật lực, căng thẳng tinh thần
Người dân các nước tiên tiến, hằng ngày phải làm việc với cường độ cao
trong các nhà máy, công xưởng, văn phòng Gia đình, vợ chồng, con cái ít có dịp
đoàn tụ đầy đủ, lâu dài Vì vậy, nền tảng tảng tình cảm gia đình không bền chặt,
không keo sơn dễ dẫn đến tan vỡ hạnh phúc Con người mất thăng bằng về tinh
thần, lạc lõng, thiếu chỗ bám tựa Bên cạnh đó, khoa học và ứng dụng khoa học
phát triển như vũ bảo, nào là vũ khí giết người hàng loạt như bom nguyên tử, bom
hóa học, tên lửa đạn đạo tầm ngắm, tầm xa xuyên lục địa, hệ thống tên lửa phòng
chống chiến tranh giữa các vì sao, các nước lớn, bé đua nhau phát triển, thử nghiệm
Trang 26vũ khí hạt nhân,và nỗi lo sợ ám ảnh về những chứng bệnh hiểm nghèo cùng với sự
cạnh tranh gay gắt, khốc liệt giữa các tập đoàn, giữa các công ty trong nước và
quốc tế đã làm cho con người choáng váng, mất thăng bằng thật sự, gây nên những
chứng bệnh thời đại, đó là những chứng bệnh căng thẳng thần kinh (stress) Ngoài
ra, một chứng bệnh khác vô cùng nguy hiểm đã và đang có nguy cơ giết chết hàng
triệu người mà hiện nay chưa tìm ra loại thuốc chữa trị, ngăn ngừa hữu hiệu, đó là
bệnh AIDS
Đứng trước những sự thay đổi nhanh chóng về khoa học kỹ thuật và cả về
mặt tinh thần, hằng ngày con người phải đối phó với những công việc nhàm chán,
căng thẳng, nguy hiểm, người ta cần sự thanh thản và họ muốn quay về, tìm về
thiên nhiên, muốn được tận hưởng những giây phút yên tĩnh để được thư giản tinh
thần, được nhìn lại những cảnh thiên nhiên núi non hùng vỹ, hoang sơ, đi tìm cái
màu xanh của núi rừng, của biển cả, rong rêu để xua đi cái màu xám xịt của bụi
khói, của bê tông cốt thép, sự nặng nề của những nhà máy, công xưởng và những
tòa nhà chọc trời
Người Nhật, sau thế chiến thứ hai, với quyết tâm, lòng yêu nước cao độ, họ
đã nhanh chóng khôi phục và đưa đất nước lên hàng cường quốc, đứng đầu về kinh
tế, kỹ thuật công nghệ Nhưng một khi đất nước đã thịnh vượng, mức sống của
người dân cao thì họ có khuynh hướng giảm dần sức lao động để dành thời gian
cần thiết cho việc nghỉ ngơi Chính vì lý do này nên trong những năm cuối thập
niên 90 của thế kỷ 20 và bước đầu thập niên của thế kỷ 21, nền kinh tế Nhật có
chiều hướng phát triển chậm, hoặc khựng lại, và hiện nay nước Nhật là một trong
những nước có số lượng dân đi du lịch ra nước ra nước ngoài nhiều nhất thế giới
Do tính chất quan trọng của tài nguyên thiên nhiên về rừng núi, biển cả,
sông hồ, ghềnh, thác, thú rừng hoang dã, vì vậy những nơi nào có lắm cảnh đẹp,
những nơi đó thu hút khách du lịch rất mạnh Cho nên, khi chọn một nơi làm điểm
đến tham quan du lịch, người làm du lịch phải chú ý và tận dụng những sản phẩm
do thiên nhiên ban tặng để tạo nên sản phẩm du lịch phong phú hấp dẫn
Dịch vụ, phong cách phục vụ (Sevice)
Sản phẩm du lịch hầu hết là những dịch vụ, những đơn vị cung ứng du lịch
như khách sạn, vận chuyển, tham quan giải trí là những thành phần cốt lõi để tạo
nên tour du lịch trọn gói Khi bán tour du lịch trọn gói, đơn vị cung ứng du lịch chỉ
bán dịch vụ Thật vậy, sau khi kết thúc chuyến đi, khách không thể mang theo
phòng ngủ, mang theo chổ ngồi trên xe hoặc mang theo những điểm đến du lịch
Khi bán sản phẩm du lịch là bán dịch vụ, bán chỗ ngủ cho khách và khách chỉ có
quyền sử dụng nó, cũng như bán chổ ngồi của một chuyến xe hay một chuyến bay,
bán dịch vụ vui chơi, giải trí… Sau chuyến du lịch khách chỉ mang theo những kỷ
niệm, những kinh nghiệm về chuyến đi
Trang 27Dịch vụ du lịch rất phong phú như dịch vụ khách sạn, dịch vụ thủ tục đăng
ký, nhập, xuất khách sạn, dịch vụ vận chuyển, dịch vụ bưu điện viễn thông, ngân
hàng, hải quan…Qua mỗi dịch vụ đó, để phục vụ khách hữu hiệu, nó đòi hỏi tất cả
những người liên quan trong việc phục vụ phải am hiểu nghề nghiệp và có phong
cách phục vụ tốt
Phục vụ và phong cách phục vụ là những sản phẩm vô hình Khách sẽ hài
lòng và được bù đắp nếu sản phẩm vô hình như hình thức phục vụ qua phong cách
phục vụ của những nhân viên, khéo léo, vui vẻ, niềm nở, tận tình Sản phẩm hữu
hình như khách sạn, nhà hàng thì tốn kém, trái lại, sản phẩm vô hình thì ít tốn kém,
cho nên trong hoạt động du lịch phải quan tâm làm tốt khâu phục vụ gấp bội lần so
với sản phẩm hữu hình
Sự thỏa mãn (Satisfaction)
Mục đích của việc đi du lịch là để thỏa mãn nhu cầu của con người Nhu cầu
du lịch tùy thuộc mục đích chuyến đi Tuy nhiên, trong du lịch, người đi du lịch là
để thỏa mãn được nhiều mục đích khác nhau chứ không hẳn thuần túy về công vụ,
hưởng thụ hay chỉ vì một động cơ nào khác, dù chủ đề và nội dung của tour du lịch
trọn gói có thể là du lịch công vụ, hội họp, du lịch nghiên cứu, tham quan hay du
lịch sinh thái…
Đáp ứng được sự thỏa mãn của khách nhiều hay ít phụ thuộc phần lớn vào
các dịch vụ, phong cách phục vụ, đó là những yếu tố gây ấn tượng tốt đẹp cho
khách về đất nước, con người nơi họ đến du lịch
1.9 Các giai đoạn phát triển của sản phẩm du lịch
Giai đoạn phát hiện hay giới thiệu sản phẩm
Đây là bước đầu mới tìm thấy diểm du lịch hay phát triển ý tưởng mới
Trong giai đoạn này, doanh số thấp, trái lại, chi phí đầu tư cao Đây là nơi du lịch
mới hình thành, bắt đầu thu hút một số khách du lịch, các khách sạn, nhà hàng, các
sở kinh doanh với giá cao Theo Plog, những nơi này, lúc đầu thu hút loại khách dị
tâm lý (Allocentric), những khách thích phiêu lưu mạo hiểm, là người thích đến đầu
tiên Họ thích những nơi du lịch mới khám phá và không cần được phục vụ đầy đủ
Giai đoạn phát triển có nhiều nguy cơ dẫn đến thất bại trong kinh doanh vì số lượng
khách ít và chi phí cao
Giai đoạn phát triển, sản phẩm trở nên phổ biến, hấp dẫn khách du lịch, công
việc kinh doanh thuận lợi và phát đạt, kích thích người khác cạnh tranh Trong giai
đoạn này, điểm du lịch dần dần thích hợp với người tiêu dùng và trong kinh doanh
có nhiều đối thủ cạnh tranh muốn nhảy vào
Giai đoạn chín mùi
Giai đoạn chín mùi hay còn gọi là giai đoạn bão hòa Trong giai đoạn này,
các đơn vị cung ứng sản phẩm phải tìm cách cải biến sản phẩm nhằm thỏa mãn của
khách tối đa
Trang 28Để giảm bớt rủi ro và tránh sự suy thoái của sản phẩm, các điểm du lịch phải
tìm cách cải tổ lại hình thức kinh doanh, thích ứng với thị trường du khách mới, cần
cải biến sản phẩm mới và ý tưởng mới để thu hút khách du lịch
Giai đoạn suy thoái (Decline stage)
Đây là giai đoạn tỏ ra dấu hiệu khách đã chán ngấy và quay mặt lại với sản
phẩm để đi tìm những sản phẩm du lịch, những điểm du lịch mới Trong giai đoạn
này, những đơn vị cung ứng du lịch nên tìm cách để đưa những sản phẩm không
còn sử dụng cho khách du lịch vào việc sử dụng hữu ích khác
Không phải bất cứ sản phẩm nào cũng trải qua 4 giai đoạn trên và mỗi giai
đoạn dài ngắn là do sự hiểu biết của người làm du lịch Mỗi giai đoạn của sự phát
triển sản phẩm du lịch cần có cách thực hiện nhằm phù hợp với tình thế, thực trạng
của môi trường để duy trì và phát triển sản phẩm Có nhửng nơi giai đoạn chín mùi
tồn tại được trong rất nhiều năm, nhưng cũng có nơi không vượt qua được giai
đoạn phát hiện ban đầu
TIỀU KẾT CHƯƠNG 1
Chất lượng sản phẩm làm nên thương hiệu của doanh nghiệp cũng như tạo
được lòng tin đối với du khách nhất là trong ngành du lịch Nó là yếu tố quan trọng
để thu hút du khách đến với khu du lịch Chương này đã giới thiệu về các định
nghĩa- khái niệm về du lịch, khu du lịch, sản phẩm du lịch, các loại hình du lịch, đặc
điểm của sản phẩm du lịch, sự khác biệt của sản phẩm du lịch so với các sản phẩm
khác
Đồng thời trong chương này còn giới thiệu về thành phần của sản phẩm du
lịch theo tổ chức du lịch thế giới và ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu khác nhau
Các mô hình sản phẩm du lịch 4S, 3H, 6S; chiến lược chu kỳ đời sống sản phẩm
Dựa trên những cơ sở lí luận này làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đánh giá
về chất lượng sản phẩm ở khu du lịch Chương tiếp theo sẽ giới thiệu về thực trạng
tiềm năng và phát triển sản phẩm du lịch tại khu du lịch Buôn Đôn
Trang 29CHƯƠNG 2 KHU DU LỊCH SINH THÁI - VĂN HÓA BUÔN ĐÔN
THỰC TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN
SẢN PHẨM DU LỊCH SINH THÁI
2.1 Tổng quan về khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lí
Huyện Buôn Đôn nằm ở rìa phía tây tỉnh Đắk Lắk Phía Nam giáp huyện Cư
Jút, phía Đông Nam giáp thành phố Buôn Ma Thuột, phía Đông giáp huyện Cư
M'gar, phía Bắc giáp huyện Ea Súp Phía Tây huyện là biên giới với Campuchia
Con sông Sêrêpôk chảy cắt ngang huyện, theo hướng Đông Nam - Tây Bắc,
sang đất Campuchia để góp nước vào sông Mê Kông Trung tâm huyện Buôn Đôn
nằm cách thành phố Buôn Ma Thuột 25 km về hướng Tây bắc theo con đường tỉnh
lộ số 1 Địa danh Bản Đôn cách thị trấn Buôn Đôn 20 km về hướng Ea Súp Huyện
Buôn Đôn hiện nay có 96 thôn buôn, có trung tâm cách thành phố Buôn Ma Thuột
25km
2.1.1.2 Địa hình
Đại bộ phận diện tích của huyện nằm ở phía Tây Trường Sơn, có hướng thấp
dần từ Đông Nam sang Tây Bắc Địa hình đa dạng đồi núi xen kẽ bình nguyên và
thung lũng tương đối bằng phẳng, trong đó nổi lên các ngọn núi Yok Đôn và Rê
Heng
2.1.1.3 Khí hậu
Huyện nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, đặc trưng cho vùng Cao
nguyên Nam Trung Bộ, mỗi năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa
mưa bắt đầu từ tháng 4 năm trước đến tháng 10 năm sau, tập trung 93,5% lượng
mưa cả năm, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau lượng mưa không đáng kể
2.1.1.4 Thủy văn
Trên địa bàn huyện có hệ thống sông chính chảy qua là hệ thống sông Srêpôk
đầy huyện thoại, chảy dọc theo chiều dài của huyện - theo hướng từ đông sang tây
Đây là con sông lớn có nhiều gềnh thác, chảy len lỏi giữa những cánh rừng tự
nhiên, tạo nên nhiều cảnh đẹp Hệ thống sông Sêrêpôk Không chỉ có giá trị trong
nông nghiệp mà còn có giá trị về du lịch, thủy điện
Ngoài hệ thống sông Sêrêpôk, hệ thống hồ suối vừa và nhỏ cũng khá phong
phú, tuy nhiên một số suối không có nước trong mùa khô Trong những năm gần
đây tình hình thời tiết có nhiều biến đổi, mức độ khai thác nguồn nước ngầm không
Trang 30kiểm soát được là những nguyên nhân làm cho tình trạng hạn hán gay gắt và thiếu
nước nghiêm trọng
2.1.1.5 Động thực vật
Buôn Đôn có tiềm năng lớn về rừng, Ở đây có Vườn quốc gia Yôk Đôn rộng
trên 115.500 ha, là khu Vườn quốc gia lớn nhất Việt Nam, độ che phủ của rừng ở
đây là 50% Buôn Đôn đây được xem là nơi bảo tồn các giá trị khoa học đối với hệ
động, thực vật điển hình của khu vực Tây Nguyên với nhiều loại động vật quý hiếm
có tên trong sách đỏ của thế giới, có 63 loài động vật có vú, 196 loài chim, 40 loài
bò sát, 13 loài lưỡng cư, 464 loài thực vật, trong đó có voi rừng, trâu rừng và bò tót
khổng lồ
Hệ thực vật ở đây rất phong phú và đa dạng với 464 loài, trong đó nhiều loại
chỉ có ở khu vực Tây Nguyên Nơi đây là nơi có trữ lượng gỗ lớn với nhiều loại quý
hiếm như: Trắc, Hương, Cẩm, Cà te, Gõ v.v Đồng thời cũng tập hợp nhiều loài hoa
quý hiếm, chỉ riêng hoa phong lan đã có trên 23 loài với đủ màu sắc Yôk Đôn là
khu vực duy nhất ở Việt Nam bảo tồn kiểu rừng kho cây họ Dầu
2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
2.1.2.1 Hiện trạng kinh tế
Buôn Đôn tuy có nhiều tiềm năng về du lịch nhưng thực sự chưa phát triển
xứng với tiềm năng vốn có Hoạt động kinh tế chính vẫn là nông nghiệp với diện
tích cà phê ít ỏi, đất đai không mấy màu mỡ phần lớn chỉ thích hợp cho trồng điều
và hoa màu một đến 2 vụ
Hiện tại, đã cho xây dựng ở trên sông Sêrêpôk đoạn chảy qua Buôn Đôn 2/4
công trình thủy điện bậc thang là Sêrêpôk 3 và 4, huyện đang quy hoạch một cụm
công nghiệp của huyện tại xã Ea Nuôl
Ngoài ra huyện đang phục hồi và phát triển một số mặt hàng thủ công mỹ
nghệ: mây tre, mộc mỹ nghệ, thổ cẩm, chế tác đồ trang sức, hàng lưu niệm… Phục
vụ cho du lịch và xuất khẩu
2.1.2.2 Dân cư và con người
Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 141.040 ha, trong đó có trên 116.000 ha
là rừng tự nhiên – là huyện có diện tích rừng tự nhiên lớn nhất nước Toàn huyện có
07 đơn vị hành chính cấp xã; 96 thôn, buôn ( trong đó có 24 buôn đồng bào dân tộc
thiểu số); dân số (tính đến ngày 31/12/2008) là 61.098 khẩu với 12.852 hộ - trong
đó dân tộc thiểu số là 28.112 khẩu, chiếm 46% dân số của toàn huyện; (dân tộc
thiểu số tại chỗ là 13.198 khẩu, chiếm 21,6%)
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đặc biệt là sau ngày giải
phóng miền Nam (1975) đến nay, một bộ phận đồng bào các dân tộc ít người từ
Trang 31miền Trung ra Bắc di cư đến đây sinh cơ lập nghiệp, làm cho cơ cấu thành phần dân
tộc trong Tỉnh đổi thay nhanh chóng, mật độ dân số 40 người km2
2.1.3 Lịch sử phát triển
Buôn Đôn tách ra từ huyện Ea Súp và một phần từ thành phố Buôn Ma
Thuột từ ngày 17 tháng 10 năm 1995 trên cơ sở địa danh Bản Đôn trước đây, vốn
một thời là thủ phủ của tỉnh Đắk Lắk Sau này để tiện cho việc phát triển kinh tế xã
hội và để chiếm giữ một vị trí an ninh quốc phòng chiến lược, người Pháp đã cho
dời cơ quan hành chính về Buôn Ma Thuột, nơi có vị trí trung tâm của toàn Tây
Nguyên
Buôn Đôn là tên huyện mới đặt khi thành lập huyện mới, còn Bản Đôn cũ
theo tên gọi tiếng Lào ngày xưa (sắc dân Lào chiếm đa số ở đây khi còn sơ khai) có
nghĩa là "Làng Đảo" nghĩa là một ngôi làng được xây dựng trên một ốc đảo của
Sông Sêrêpôk Đây là một trong những điểm giao thương quan trọng của 3 nước
Đông Dương ngày xưa Khi ấy, người Lào trong lúc ngược dòng sông buôn bán, bắt
gặp mảnh đất này đã bị quyến rũ và ở lại cùng người Êđê bản địa xây dựng lên ở
đây một ngôi làng trù phú Nơi đây vốn nổi tiếng với nghề săn bắt, thuần dưỡng voi
rừng, với huyền thoại về Vua Voi KhunYuNốp, người đã bắt được và thuần dưỡng
hơn 170 con voi rừng, trong đó có 1 một con bạch tượng tặng vua Xiêm và Vua Voi
chính là danh hiệu vua Xiêm ban cho ông Bản sắc dân tộc và tất cả những điều ấy,
đã biến Bản Đôn trở thành thương hiệu nổi tiếng nhất của Du lịch Đắk Lắk, một nơi
không thể không đến khi đến Đắk Lắk
Quá trình hình thành và phát triển trung tâm du lich Buôn Đôn
Trung Tâm Du Lịch Buôn Đôn trực thuộc Chi Nhánh Du Lịch và Khách sạn
– Cty TNHH Một thành viên XNK 2/9 Đăk Lăk Mà trước đây tên gọi cũ của Chi
nhánh Du lịch & Khách sạn tách ra từ Nhà khách Tỉnh ủy Đăk Lăk ngày 07 tháng
10 năm 1995 gọi là Cty Cổ phần Thương mại – Du lịch Banmeco
Ngày 01/07/2004 có tên mới là: Cty Du lịch và Khách sạn Biệt Điện
Ngày 01/07/2006 đổi tên thành: Cty TNHH MTV Du lịch và Khách sạn Biệt Điện
Ngày 10/06/1008 sát nhập vào Cty TNHH MTV XNK 2/9 Đăk Lăk Trực thuộc tỉnh
ủy Đăk Lăk
Trung tâm Du lịch Buôn Đôn là một bộ phận của Chi nhánh Du lịch và
Khách sạn được thành lập từ tháng 11/1998, ngày chính thức hoạt động là ngày
16/02/1999 Trung tâm tọa lạc trên địa bàn Buôn Trí A – xã Krông Na – huyện
Buôn Đôn - tỉnh Đăk Lăk (hay còn gọi là Bản Đôn trước đây) với diện tích
64.000m2
Trang 32Trung tâm có các dịch vụ:
- Nghe thuyết trình lịch sử hình thành Buôn Đôn, nghề săn bắt và thuần
dưỡng voi rừng nổi tiếng, phong tục tập quán của người dân tộc bản địa
- Tham quan Cầu treo, nhà sàn cổ kiến trúc Lào trên 126 năm, nhà mồ có
mộ vua săn voi KhunJuNop, đảo Ây Nô
- Giao lưu văn hóa cồng chiêng, lưu trú nhà dài truyền thống của người Êđê,
nhà sàn khép kín
- Cưỡi voi thăm buôn làng, vượt sông Sêrêpôk, đạp xe đạp thăm các buôn
làng và các vùng lân cận
- Thưởng thức đặc sản, cơm lam, gà nướng, canh chua cá lăng
- Trung tâm thường xuyên tổ chức các tour dã ngoại sinh thái
2.2 Thực trạng phát triển sản phẩm du lịch tại khu du lịch sinh thái văn hóa
Buôn Đôn
2.2.1 Cơ sở vật chất kỹ thuật
Trong những năm gần đây cùng với sự gia tăng của lượng khách Cơ sở vật
chất của khu du lịch tuy bước đầu đã xây dựng được hệ thống nhà hàng, nhà nghỉ đi
vào hoạt động đem lại doanh thu cho khu du lịch Tuy nhiên, số lượng và chất
lượng của các dịch vụ này còn nhiều hạn chế Cơ cấu loại hình lưu trú chưa đa
dạng, chưa thật sự phù hợp với từng đối tượng khách, quy mô đầu tư còn nhỏ lẻ,
phân tán nên hiệu quả đầu tư thấp
Hiện khu du lịch cơ sở vật chất khu du lịch bao gồm: Khu vực cầu treo, ốc
đảo Âynô, khoảng 8 nhà nghỉ được thiết kế theo lối kiến trúc của các dân tộc địa
phương, khu vực nhà hàng, khu nhà văn phòng, 8 gian hàng trưng bày bán các sản
phẩm thủ công mỹ nghệ và đặc sản địa phương, 4 con voi nhà Cùng với hệ thống
các di tích lịch sử văn hóa của nhà nước và thuê của người dân như mộ khunjunôp,
nhà sàn cổ, nhà mồ, khu trưng bày các hiện vật của các đồng bào dân tộc địa
phương, voi…
Về chất lượng dịch vụ du lịch tại khu du lịch, kiến trúc chưa được hài hòa
với môi trường thiên nhiên và văn hóa truyền thống Khách sạn, nhà hàng chưa đạt
tiêu chuẩn về trang thiết bị, khu du lịch chưa có nhà hàng đặc sản chuyên biệt để
giới thiệu ẩm thực địa phương - dù Buôn Đôn là nơi có nhiều món ăn đặc trưng gắn
liền với văn hóa dân tộc Tây Nguyên Do vậy, cơ cấu các loại hình du lịch ở đây
chưa được đa dạng, phong phú, thiếu sức hấp dẫn đối với du khách (thời gian lưu
trú trung bình là 1,5 ngày/lượt khách)
Trang 332.2.2 Nguồn nhân lực
Năm 2009 tổng số lao động của khu du lịch là 40 CBCNV được chia thành 4
tổ: Tổ Du lịch, tổ nhà hàng, tổ bảo vệ- kỹ thuật, tổ kế toán; trong đó 10 người có
trình độ đại học, cao đẳng; 20 người có trình độ trung cấp, sơ cấp; 10 người có trình
độ (qua đào tạo tại chỗ hoặc huấn luyện nghiệp vụ ngắn hạn)
Dự kiến năm 2010 tổng số lao động trong ngành du lịch tăng lên 45 lao động
và đến năm 2015 là 50 lao động Theo số liệu cho thấy nguồn lao động của khu du
lịch còn ít mặc dù qua các năm có tăng nhưng số lượng lao động tăng không đáng
kể Từ năm 2005 (25 lao động) đến năm 2008, 2009 (40 lao động) Trong vòng 5
năm tăng 15 lao động; trung bình mỗi năm tăng 3 lao động Tuy nhiên vào mùa cao
điểm khu du lịch còn thuê thêm lao động thời vụ và người dân địa phương nguồn
lao động lên đến 50 lao động Năm 2009 lao động có trình độ trên đại học; đại học,
cao đẳng chiếm 25%; trình độ trung cấp chiếm 50%; trình độ sơ cấp và dưới sơ cấp
chiếm 25%
(
(Nguồn:Sở Văn hoá thể thao và Du lịch Đăk Lăk) Nhìn chung nguồn lao động trong lĩnh vực du lịch của khu du lịch còn hạn
chế về số lượng, chất lượng nguồn lao động chưa cao chủ yếu là lao động có trình
độ trung cấp, sơ cấp, dưới sơ cấp Đó là một trong những nguyên nhân hạn chế sự
phát triển của khu du lịch
Tuy nhiên trong thời gian vừa qua công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân
lực của khu du lịch đã có nhiều tiến triển như:
BIỂU ĐỒ CƠ CẤU PHÂN THEO TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN
Bảng 1: Biểu đồ cơ cấu phân theo trình độ học vấn khu du lịch
sinh thái văn hóa Buôn Đôn
Trang 34Tham gia các lớp đào tạo bồi dưỡng do Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tổ
chức nhằm nâng cao trình độ về chuyên môn để phục vụ cho công tác quản lý
Ngoài ra, cán bộ và nhân viên của khu du lịch còn tham gia lớp đào tạo bồi dưỡng
về công tác quản lý khách sạn, nghiệp vụ buồng, bàn, lễ tân và các lớp tập huấn về
du lịch cho cộng đồng địa phương ở huyện Buôn Đôn cũng như tham gia học tại các
trường nghiệp vụ trong cả nước nhờ vậy trình độ chuyên môn, chất lượng phục vụ
của cán bộ nhân viên trong ngành được nâng lên một bước, góp phần vào sự phát
triển chung của khu du lịch
2.2.3 Sự tham gia của người dân trong hoạt động du lịch
Những mặt tích cực
Trong quá trình phát triển thực hiện chính sách của Tỉnh về phát triển du
lịch, khu du lịch đã chú trọng thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng dân cư địa
phương trong quy hoạch phát triển du lịch Khu du lịch đã chú trọng đảm bảo sự
phân chia lợi ích hợp lý giữa khu du lịch và dân cư địa phương, phát triển dịch vụ
du lịch luôn gắn liền với lợi ích của dân cư địa phương, nâng cao đời sống người
dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội
Trước kia đời sống của người dân địa phương, đa số là đồng bào dân tộc
thiếu số Cuộc sống của họ chủ yếu phụ thuộc hoạt động nông nghiệp Nhưng từ khi
du lịch phát triển được sự đầu tư quan tâm của Nhà nước và doanh nghiệp hỗ trợ và
khuyến khích cộng đồng dân cư tham gia hoạt động du lịch, nhất là các loại hình du
lịch tại các gia đình, thôn, bản, các làng văn hoá - du lịch trong Tỉnh thì đời sống
văn hóa và tinh thần của nhân dân ngày một nâng cao, người dân tham gia tích cực
vào các hoạt động phục vụ cho du lịch
Người dân bán đồ lưu niệm tại các quầy du lịch họ được hưởng lợi nhuận từ
việc bán các sản phẩm thủ công địa phương Việc mua sản phẩm của du khách tăng
thì các làng nghề truyền thống như dệt thổ cẩm, tạc tượng, nấu rượu cần được khôi
phục và phát triển tạo thêm công ăn việc làm cho người dân địa phương, góp phần
bảo tồn các làng nghề truyền thống Họ trực tiếp tham gia vào các dịch vụ như thuê
voi, chèo thuyền, chụp ảnh, kinh doanh nhà hàng, khách sạn, cung cấp lương thực,
thực phẩm mà họ sản xuất, tham gia vào hoạt động du lịch homestay, người dân đón
và phục vụ khách tại nhà dài của mình, tham gia biểu diễn văn nghệ cồng chiêng
phục vụ cho nhu cầu của du khách Nó không chỉ thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu của du
khách mà nó giúp người bản địa có cơ hội giao lưu, tiếp cận với những nền văn hoá
khác nhau trên thế giới
Thông qua hoạt động du lịch, người dân địa phương không những bảo tồn
phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần)
như là văn hóa cồng chiêng, văn hóa nhà sàn, các lễ hội… Mà còn tăng được nguồn
Trang 35thu nhập, nhận thức về các mặt được nâng cao có thể giúp họ phát triển sản xuất, tổ
chức cuộc sống tốt, chất lượng cuộc sống nâng cao
Có thể nói với tiềm năng và thế mạnh phát triển du lịch, bước đầu đã mang
lại nguồn lợi lớn cho các doanh nghiệp, giúp cho buôn làng không những phát triển
kinh tế, gìn giữ văn hóa truyền thống mà còn mở ra cơ hội về việc làm, tăng thêm
thu nhập, giúp bà con xã vùng biên giới cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo
Hiện nay, được sự quan tâm đầu tư của nhà nước và các doanh nghiệp thì bộ
mặt buôn làng tại khu du lịch Buôn Đôn được đổi thay nhanh chóng, điện sinh hoạt
tới từng nhà, đường giao thông được thảm nhựa, tuyến xe ô tô buýt đi đến hầu khắp
các buôn
Những mặt hạn chế của hoạt động du lịch đến đời sống của người dân
Bên cạnh những mặt tích cực thì hoạt động du lịch cũng có không ít những
tác động tiêu cực tới đời sống của người dân
Hoạt động du lịch làm biến đổi những nét văn hóa của người dân địa
phương, nó mang tính thương mại hóa Các lễ hội trước kia chỉ diễn ra vào những
ngày quan trọng theo phong tục tập quán của các đồng bào dân tộc nơi đây nhưng
khi du lịch phát triển thì nó được diễn ra một cách thường xuyên theo yêu cầu của
khách du lịch
Khu du lịch Buôn Đôn có dịch vụ tổ chức lễ hội đâm trâu, lễ hội cồng
chiêng… Giá tùy theo những yêu cầu của du khách Điều này làm mất đi ý nghĩa
thiêng liêng cũng như giá trị nhân văn của lễ hội
Những hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống như dệt thổ cẩm, tạc tượng, đan
lát, nấu Rượu Cần… đã được thay đổi, thiết kế làm cho các sản phẩm này đa dạng
hơn về hình thức phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của du khách, dần dần những kĩ
thuật và trang phục truyền thống bị mai một Thêm vào đó là sự du nhập về cách ăn
mặc của du khách đến từ nhiều địa phương và nhiều quốc gia Họ không còn mặc
những trang phục truyền thống như trước kia mà mặc quần jean, áo thun… Nhiều
khi họ cảm thấy ngại ngùng khi đi chân đất đánh cồng chiêng và nhất là thế hệ
thanh niên họ thích nghe những thể loại nhạc trẻ hơn khi nghe âm thanh của cồng
chiêng, họ không còn cảm nhận được những giá trị văn hóa dân tộc của mình thì
làm sao có thể truyền đạt lại cho du khách
Một số phần tử xấu, phản động lợi dụng du lịch để thâm nhập tuyên truyền
kích động nhân dân chống lại các chính sách của Đảng và nhà nước Tình trạng
trộm cắp mất trật tự an ninh cũng gia tăng
2.2.4 Công tác bảo tồn văn hóa
Khu du lịch cùng với ngành ngành Văn hoá Đăk Lăk thường xuyên tổ chức
các lễ hội truyền thống của đồng bào, gắn chặt không gian văn hoá với cuộc sống
Trang 36hiện đại Nhiều nghi lễ dân gian được phục hồi như lễ cúng bến nước, lễ kết nghĩa
anh em, lễ ăn trâu (mừng được mùa), lễ bỏ mã Nổi bật nhất là Hội Voi Buôn Đôn
kết hợp diễn tấu cồng chiêng tổ chức năm 2004 đã thu hút được sự quan tâm sâu sắc
của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên và cả nước Chính từ những lễ hội và không
gian văn hoá đậm chất dân gian này đã làm “sống lại” hàng chục loại nhạc cụ đặc
trưng của đồng bào như: Đinh năm, Đinh k’tút; chinh ring arap m’ô; chinh cóc;
chinh đá
Cùng với văn hoá phi vật thể, văn hoá vật thể ở Buôn Đôn tồn tại trong đời
sống của đồng bào như hai thực thể gắn bó chặt chẽ và bổ sung cho nhau Ngoài
khu trưng bày các hiện vật về đời sống vật chất và tinh thần của các đồng bào dân
tộc Đó là những ngôi nhà: Nhà mồ, nhà dài Với những kiến trúc độc đáo mang
đậm bản sắc; đó là những bộ cồng chiêng, những thước vải thổ cẩm Chứa đựng
tinh hoa của mỗi dân tộc Ngay cả những ngôi nhà sàn, những buôn làng, nơi sinh
sống của đồng bào cũng là những không gian văn hoá đặc sắc
Mặc dù giá trị văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên được coi là độc nhất vô nhị,
thế nhưng ở nhiều nơi, đồng bào vẫn bỏ cồng chiêng Nạn “chảy máu” cồng chiêng
đã và vẫn còn diễn ra Nguy cơ mai một cồng chiêng và nền nghệ thuật, nền văn hoá
gắn với nó là một thực tế
Với số lượng voi nhà ít chỉ còn trên khoảng 15 con, các nài voi (quản voi)
bắt voi phải làm việc quá nhiều trong những lễ hội, vui Tết cổ truyền, trong hoạt
động đưa đón khách tham gia du lịch sinh thái, một số người bắt voi làm việc liên
tục như lội sông nước, chở khách lên rừng suốt ngày, để voi bị đói, kiệt sức
Thực trạng trên cảnh báo, nếu Buôn Đôn không làm tốt công tác bảo tồn và
nuôi dưỡng, thì chỉ khoảng 10-15 năm nữa, đàn voi nhà sẽ biến mất khỏi vùng đất
này
Tuy vậy đối với vùng văn hoá đặc sắc, đồ sộ như Buôn Đôn, việc thực hiện
những công việc như vậy là chưa đủ, chưa khai thác hết được giá trị văn hoá của
vùng Những khó khăn mà khu du lịch đang phải đối mặt hiện nay là sự thiếu và
yếu của đội ngũ cán bộ làm văn hoá, sự mai một các giá trị văn hoá truyền thống do
quá trình phát triển của xã hội, cơ chế chưa đồng bộ, còn nhiều thủ tục rườm rà và
phần nào là ý thức của một bộ phận đồng bào còn chưa cao
2.2.5 Công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch ở KDL Buôn Đôn
2.2.5.1 Các tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến môi trường ở khu du lịch Buôn Đôn
Các tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến môi trường ở khu du lịch
Buôn Đôn chủ yếu là việc gây sức ép lên môi trường, tài nguyên thiên nhiên, phá
hủy các hệ sinh thái
Trang 37Về môi trường
Thứ nhất, đó là về ô nhiễm không khí và tiếng ồn Trong quá trình vận
chuyển, phục vụ du khách đòi hỏi phải xây dựng cơ sở hạ tầng, công trình du lịch,
giao thông vận chuyển hành khách Từ đó khí thải, tiếng ồn từ các phương tiện
giao thông, đặc biệt đường vào các khu du lịch ở KDL đều là đất đỏ, vì vậy lượng
bụi bẩn và tiếng ồn gây ảnh hưởng không ít đến đời sống của người dân nói riêng
mà cả đối với hệ sinh thái ngay tại khu du lịch
Lượng rác thải và nước thải từ các khu du lịch do khách xả rác bừa bãi cùng
với lượng rác sinh hoạt hằng ngày của người dân khiến cho môi trường nước ở đây
ô nhiễm nghiêm trọng Đặc biệt là hệ thống sông Sêrêpôk rác thải, nước thải được
đổ trực tiếp ra sông khiến cho dòng sông bị ô nhiễm, đổi sang màu đen và bốc mùi
vào những ngày hè oi bức
Việc xây dựng các cơ sở dịch vụ trong các khu du lịch sinh thái, xây các nhà
nghỉ hiện đai, các bảng chỉ dẫn thiếu tính khoa học và đặt không đúng vị trí cũng
như hình dáng bên ngoài đã làm mất đi tính tự nhiên và mất tính thẩm mỹ của khu
du lịch Vào những ngày cao điểm lượng khách đến tham quan ở đây rất đông Sự
giẫm đạp của khách trong các khu rừng làm giảm đi sự cân bằng sinh học, làm ảnh
hưởng xấu đến môi trường
Thực trạng bảo vệ môi trường
Đối với các tổ chức, đơn vị có liên quan đến hoạt động du lịch
Hiện nay tại khu du lịch Buôn Đôn đã xây dựng được các chương trình hành
động bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch Nhiều chương trình làm việc với
nhiều nội dung về bảo vệ tài nguyên và môi trường thiên nhiên ở Buôn Đôn như
quản lý, bảo vệ, khai thác tài nguyên thiên nhiên tại địa phương; theo dõi sự biến
đổi về môi trường sinh thái một số vùng trong Tỉnh do những yếu tố tác động của
con người; bảo vệ tài nguyên đất đai, nguồn nước, động thực vật, nhất là các loài
quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng
Thường xuyên mời các chuyên gia huấn luyện về bảo vệ môi trường cho đội
ngũ nhân viên, những người có liên quan đến hoạt động du lịch nói chung và du lịch
sinh thái nói riêng Và tổ chức tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ môi
trường cho người dân địa phương thông qua các buổi sinh hoạt cộng đồng
Đã thực hiện việc quản lí, theo dõi, đánh giá định kỳ về tình hình môi trường
tại các khu du lịch và lập báo cáo hiện trạng môi trường gửi lên Sở Tài Nguyên và
Môi Trường, Sở Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch
Việc xây dựng các bảng điều tra đánh giá tác động của hoạt động du lịch đến
môi trường như: môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí, chất thải,
hiện trạng đa dạng sinh học Chưa được thực hiện nghiêm túc và chính xác Chỉ là
Trang 38những điều tra ban đầu còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhiều trong công tác
nâng cao chất lượng môi trường du lịch và phát triển du lịch sinh thái, du lịch bền
vững
Việc nhập khẩu, nuôi, trồng các loài sinh vật lạ đều có sự cho phép của các
cơ quan có thẩm quyền Ngày 20/5/1003UBND Tỉnh đã có chỉ thị 07/CTUB về việc
tăng cường kiểm tra, giám sát công tác nhập xuất khẩu các nguồn động thực từ các
nơi khác đem về hoặc đưa đi Ở các khu rừng động thực vật được đưa về từ các nơi
khác, hoặc đưa ra nơi khác phải qua sự kiểm tra giám sát về nguồn gen, chủng loại
của Sở Tài Nguyên Môi Trường và Hạt Kiểm Lâm
Việc xử lí nước thải, rác thải từ các khu du lịch và người dân địa phương
chưa được xử lí, còn cho chảy trực tiếp ra sông Sêrêpôk Hiện tại vẫn chưa có một
hệ thống xử lý nào được đưa vào thực thi phục vụ cho hoạt động du lịch và đảm bảo
cho đời sống của người dân địa phương nơi đây
Tại các khu rừng quốc gia, rừng khộp vào mùa khô vấn đề đảm bảo không
để xảy ra cháy rừng là một vấn đề nan giải đối với các cấp, ngành có liên quan Đây
là một bài toán khó nan giải buộc khu du lịch, Sở Tài Nguyên Và Môi Trường phải
nhanh chóng tìm ra biện pháp ngăn chặn và đề phòng đảm bảo an toàn tốt nhất cho
chính các khu rừng, sự đa dạng sinh học cũng như chính đời sống của người dân địa
phương và mức độ an toàn tính mạng cho du khách khi tham quan trong rừng
Hệ thống thùng rác chưa đúng yêu cầu và chất lượng Hầu hết được đặt
không đúng vị trí và không có nắp đậy
Hệ thống toilet tại các khu du lịch chưa đủ về cả chất lượng và số lượng
Đối với người dân địa phương
Đã được tham gia vào các buổi tuyên truyền giáo dục trong hoạt động bảo
vệ môi trường du lịch Tuy nhiên ý thức của người dân chưa thực sự cao Đường
vào bên trong khu du lịch hầu hết rác sinh hoạt của người dân được vứt trực tiếp ra
bên ngoài khu vực nhà ở và không được xử lý gây mất cảnh quan và ảnh hưởng đến
nhu cầu tìm hiểu khám phá đời sống văn hóa tinh thần, vật chất của người dân đối
với du khách
Trong rừng Quốc gia Yôk Đôn nạn phá rừng, chặt cây lấy gỗ, săn bắn trái
phép đã phát hiện rất nhiều trường hợp
Đối với du khách
Du khách được hướng dẫn đầy đủ về công tác bảo vệ môi trường trong khu
du lịch Trong vườn quốc gia Yôk Đôn, du khách đã được trang bị đầy đủ kiến thức
từ các hướng dẫn viên, người dân địa phương, từ các bảng chỉ dẫn nội qui qui định
trong khu du lịch, brochure… về ý thức bảo vệ môi trường, đường đi, sự đa dạng
sinh học…
Trang 39Hầu hết tại khu du lịch, tại các khu rừng… Du khách thường xuyên xả rác,
bẻ cành cây, chọc phá thú rừng, săn bắn chim thú, hạ trại làm chết cây con… Các
hoạt động này khiến cho hoạt động vệ sinh môi trường ở các nơi du lịch sinh thái
phần nào xấu đi, ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên và dần mất đi sự đa dạng sinh
học
2.2.5.2 Các hoạt động mang tính giáo dục môi trường ở KDL Buôn Đôn
Các sở ban ngành, chủ tịch UBND cấp huyện có liên quan đến các tổ chức,
cá nhân, người dân địa phương là những đối tượng trực tiếp tham gia vào các hoạt
động mang tính giáo dục này
Tổ chức bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên có sự hiểu biết về du
lịch sinh thái để tuyên truyền, hướng dẫn và giáo dục du khách trong việc bảo vệ
môi trường
Tổ chức các cuộc thi chuyên đề về bảo vệ môi trường giữa các hướng dẫn
viên, các cán bộ hoạt động du lịch trong khu du lịch
Tổ chức các buổi sinh hoạt cộng động thông qua đó tuyên truyền giáo dục
người dân địa phương tích cực tham gia vào hoạt động bảo vệ môi trường
Khuyến khích khen thưởng đối với cá nhân, tổ chức có đề xuất chương
trình, kế hoạch bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch
Xử phạt nghiêm túc đối với các hành vi mua bán động thực vật trái phép, săn
bắn trái phép, ngăn chặn tình trạng phá rừng làm nương rẫy, đốt rừng
2.2.6 Các loại hình du lịch đang được khai thác
Buôn Đôn có nhiều tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên và lịch sử văn hóa
Đây là điều kiện thuận lợi sẵn có cho việc xây dựng các loại hình du lịch để thu hút
khách du lịch, đồng thời nó cũng tạo sắc thái nên sắc thái riêng cho du lịch Buôn
Đôn nói riêng Đăk Lăk nói chung Hiện nay khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn
Đôn đang khai thác và phát triển các 2 loại hình du lịch: Du lịch tự nhiên và du lịch
nhân văn
2.2.6.1 Loại hình du lịch tự nhiên
Du lịch dã ngoại sinh thái: Du thuyền độc mộc quanh các hồ hoặc các
phương tiện khác, du lịch vượt sông Sêrêpôk bằng hệ thống cầu treo bắc qua rặng
si, tham quan thắng cảnh, đi bộ xuyên rừng kết hợp đi voi
Du lịch mạo hiểm: Với tiềm năng dồi dào về hệ thống thác nước hùng vĩ,
những khu rừng rậm đa dạng sinh học, những đoạn đường sâu vào rừng Đây là
tiềm năng lớn tạo điều kiện cho khu du lịch phát triển loại hình du lịch mạo hiểm
Có khả năng thu hút những du khách có cá tính mạnh mẽ, lòng dũng cảm và niềm
Trang 40yêu thích thiên nhiên, khả năng chấp nhận rủi ro, tính kỷ luật cao, sẵn sàng đối mặt
với khó khăn thử thách
Du lịch tham quan nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu rừng và động vật
rừng quý hiếm phục vụ công tác bảo tồn tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên
nhiên và động vật bán hoang dã phục vụ săn bắn du lịch
Du lịch Homestay: Trong những đêm ngủ lại cùng đồng bào ở buôn Triết du
khách sẽ được ăn, ngủ trong nhà sàn của đồng bào MNông, du khách sẽ thưởng
thức món thịt nướng thơm lừng, ngây ngất với ché rượu cần đậm đà vị men lá rừng
Loại hình du lịch mới này mở ra một tiềm năng lớn của du lịch Buôn Đôn
mà còn giúp cho người dân địa phương có thêm thu nhập từ vốn văn hóa của chính
họ đồng thời khơi dậy cho du khách và cả người dân ý thức giữ gìn, bảo vệ môi
trường thiên nhiên cũng như bản sắc văn hóa dân tộc
2.2.6.2 Loại hình du lịch nhân văn
Du lịch tham quan, các di tích lịch sử văn hoá: Các công trình di tích lịch sử
văn hóa, kiến trúc cổ
Du lịch tham quan tham làng văn hóa: Tìm hiểu tập quán đời sống văn hóa
cộng đồng, khám phá nghề truyền thống, săn bắt và thuần dưỡng voi rừng, du lịch
trên lưng voi, đám cưới sử dụng voi, thăm bảo tàng voi và trung tâm biểu diễn voi
tại Buôn Đôn
Du lịch lễ hội: Tìm hiểu truyền thống lịch sử văn hóa các dân tộc, các làng
nghề truyền thống, trò chơi dân gian trong các dịp lễ hội như: lễ hội đua voi tháng
11 hàng năm tại Buôn Đôn
2.2.7 Lượng du khách và doanh thu
2.2.7.1 Lượng du khách
Lượng du khách đến với Buôn Đôn qua các năm đều tăng Từ năm 2005 đến
năm 2009 tăng 18.280 lượt khách Trung bình mỗi năm (từ 2005-2008) tăng
139.193 lượt khách Dự tính đến năm 2010 số lượng khách đến với Buôn Đôn là
200.000 lượt khách
Lượng du khách đến với khu du lịch chủ yếu là khách du lịch nội địa, lượng
khách quốc tế rất ít, khách quốc tế đến với khu du lịch chủ yếu là khách Pháp,