1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khéo tay hay làm Khéo tay hay làm Khéo tay hay làmkl dao thi xuan

81 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực tế đó nhằm đưa ra những giải pháp góp phần đưa khu du lịch Buôn Đôn phát triển nên tôi chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch tại khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đ

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

Trang 2

PHẦN NỘI DUNG

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua 4 năm học, được thầy cô truyền đạt những kiến thức, qua thời gian

đi thực tập và quá trình nghiên cứu, tìm hiểu đồ án khóa luận tốt nghiệp đã bổ sung cho tôi nhiều kinh nghiệm và bài học thực tiễn Tôi thấy rằng ngành du lịch có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế các quốc gia trên thế giới, là

“ con gà đẻ trứng vàng” Đất nước ta trong thời gian gần đây cùng với sự phát triển chung của đất nước thì du lịch là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn Có thể nói với những điều kiện thuận lợi có sẵn, cùng với sự lao động sáng tạo, Việt Nam trở thành: “Điểm đến của Thiên niên kỷ mới”

Đồng thời, qua quá trình làm đồ án khóa luận tốt nghiệp giúp tôi hiểu

rõ hơn về nội dung cấu trúc, bố cục cũng như cách thức trình bày của một đồ

án tốt nghiệp

Tôi xin gởi đến quý thầy cô trường Đại học Tôn Đức Thắng, khoa Khoa học xã hội và nhân văn (chuyên ngành Việt Nam Học), đặc biệt là thầy Nguyễn Minh Mẫn, lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ quý báu dành cho tôi trong suốt thời gian ngồi trên ghế nhà trường, cũng như trong quá trình làm đồ

án tốt nghiệp để hoàn tất chương trình học và tốt nghiệp ra trường

Sau cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến ba mẹ, bạn bè thân thiết đã luôn ủng hộ tôi trong suốt thời gian học tập vừa qua

Trân trọng cảm ơn

TP Hồ Chí Minh, ngày… Tháng….năm…

Đào Thị Xuân

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN

Trang 6

UBND : Ủy ban nhân dân

VQG : Vườn quốc gia

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Sơ đồ Trình bày chất lượng sản phẩm khu du lịch Buôn Đôn

Bảng 1: Biểu đồ cơ cấu phân theo trình độ học vấn khu du lịch sinh thái

Buôn Đôn

Bảng 2: Biểu đồ lượng khách đến khu du lịch Buôn Đôn 2005-2009

Bảng 3: Biểu đồ doanh thu du lịch của khu du lịch sinh thái Buôn Đôn

giai đoạn 2005-2009

Bảng 4: Mô hình nâng cao chất lượng, dịch vụ du lịch

Bảng 5: Mô hình du lịch cộng đồng

Trang 8

Phụ lục 4: Một số hình ảnh về các điểm tham quan tại khu du lịch Buôn Đôn

Phụ lục 5: Một số hình ảnh về các lễ hội tại khu du lịch Buôn Đôn

Phụ lục 6:Một số hình ảnh về hiện trạng cơ sở vật chất kĩ thuật khu du lịch Buôn

Đôn

Trang 9

MỤC LỤC

Lời cảm ơn

Nhận xét của giáo viên hướng dẫn

Nhận xét của giáo viên phản biện

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng biểu, hình vẽ

Danh mục các phụ lục

Tóm tắt

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan nghiên cứu đề tài 1

3 Mục tiêu nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

4.2 Khách thể nghiên cứu 3

4.3 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

5.1 Phương pháp điền dã 3

5.2 Phương pháp thu thập xử lí thông tin 3

6 Giả thiết nghiên cứu 3

7 Ý nghĩa của đề tài 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SẢN PHẨM DU LỊCH 5

1 1 Khái niệm về du lịch 5

1 2 Khái niệm về khu du lịch 5

1 3 Khái niệm về các loại hình du lịch 5

1.3.1 Khái niệm du lịch sinh thái 5

1.3.2 Khái niệm du lịch văn hóa 5

1.3.3 Khái nệm du lịch nghỉ ngơi giải trí 5

1.3.4 Khái niệm du lịch chữa bệnh 6

1.3.5 Khái niệm du lịch Mice 6

1 4 Khái niệm về sản phẩm du lịch 6

Trang 10

1 5 Đặc điểm của sản phẩm du lịch 7

1 6 Sự khác biệt của sản phẩm du lịch so với các sản phẩm khác 7

1 7 Thành phần của sản phẩm du lịch 7

1 8 Các mô hình sản phẩm du lịch 9

1.8.1 Mô hình 4S 9

1.8.2 Mô hình 3H 11

1.8.3 Mô hình 6S 12

1 9 Các giai đoạn phát triển của sản phẩm du lịch 15

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 16

CHƯƠNG 2: KHU DU LỊCH SINH THÁI VĂN HÓA BUÔN ĐÔN THỰC TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH 17

2.1 Tổng quan về khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn 17

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 17

2.1.1.1 Vị trí địa lý 17

2.1.1.2 Địa hình 17

2.1.1.3 Khí hậu 17

2.1.1.4 Thủy văn 17

2.1.1.5 Động thực vật 18

2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 18

2.1.2.1 Hiện trạng kinh tế 18

2.1.2.2 Dân cư và con người 18

2.1.3 Lịch sử phát triển 19

2.2 Thực trạng phát triển sản phẩm du lịch tại khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn 20

2.2.1 Cơ sở vật chất kỹ thuật 20

2.2.2 Nguồn nhân lực 21

2.2.3 Sự tham gia của người dân trong hoạt động du lịch 22

2.2.4 Công tác bảo tồn văn hóa 23

2.2.5 Công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch ở khu du lịch Buôn Đôn 24

2 2.6 Các loại hình du lịch đang được khai thác ở khu du lịch Buôn Đôn 27

2.2.6.1 Loại hình du lịch tự nhiên 27

2.2.6.2 Loại hình du lịch nhân văn 28

Trang 11

2.2.7 Lượng du khách và doanh thu 28

2.2.7.1 Lượng du khách 29

2.2.7.2 Doanh thu 29

2.3 Tiềm năng du lịch sinh thái ở Buôn Đôn 30

2.3.1 Tiềm năng du lịch sinh thái tự nhiên 30

Hệ sinh thái Sông_Hồ 30

Hệ sinh thái Thác 31

Hệ sinh thái Rừng 31

2.3.2 Tiềm năng du lịch sinh thái nhân văn 32

Di sản văn hoá thế giới 32

Lễ hội 34

Di tích lịch sử văn hoá 35

Ẩm thực 36

Làng nghề truyền thống 37

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 37

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM DU LỊCH TẠI KHU DU LỊCH SINH THÁI BUÔN ĐÔN 39

3.1 Các giải pháp 39

3.1.1 Một số bài học kinh nghiệm của một số KDL trong nước và thế giới 39 3.1.2 Giải pháp về đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch 44 3.1.3 Giải pháp về công tác xúc tiến, quảng bá 47

3.1.4 Giải pháp về nguồn nhân lực 48

3.1.5 Giải pháp về tổ chức quản lí 49

3.1.6 Giải pháp về môi trường 50

3.1.7 Giải pháp về thu hút vốn đầu tư 51

3.1.8 Giải pháp về liên kết vùng 51

3.1.9 Áp dụng mô hình du lịch cộng đồng 52

3.2 Kiến nghị 55

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 59

KẾT LUẬN 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

PHỤ LỤC

Trang 12

TÓM TẮT

Trong thời gian gần đây cùng với sự phát triển chung của đất nước thì du lịch là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn Du lịch Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội thuận lợi cũng như nhiều thách thức Một trong những thách thức đó là chất lượng sản phẩm du lịch, dịch vụ nước ta còn nhiều hạn chế nên sức hút và năng lực cạnh tranh thấp

Khu du lịch Sinh thái văn hóa Buôn Đôn, một khu du lịch nổi tiếng của Tỉnh Đăk Lăk Với lợi thế về tài nguyên thiên nhiên phong phú, nền văn hóa bản địa đa dạng Tuy nhiên chất lượng sản phẩm du lịch chưa đạt tiêu chuẩn cả về chất và lượng Từ thực tế đó nhằm đưa ra những giải pháp góp phần đưa khu du lịch Buôn

Đôn phát triển nên tôi chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch tại khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn”

Với mục tiêu của đề tài, tôi chọn đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu chính là khu du lịch Buôn Đôn Đồng thời sử dụng hai phương pháp nghiên cứu là phương pháp điền dã và thu thập xử lí thông tin để khảo sát các cơ sở dịch vụ, chất lượng phục vụ, chương trình tham quan ; cũng như thu thập thông tin, xử lý số liệu từ nhiều nguồn khác nhau

Dựa trên cơ sở nghiên cứu và lí luận về chất lượng sản phẩm du lịch tôi tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng phát triển sản phẩm du lịch về tiềm năng du lịch, các sản phẩm du lịch đang khai thác, lượng du khách, doanh thu, cơ sở vật chất

kỹ thuật, nguồn nhân lực, sự tham gia của người dân trong hoạt động du lịch, công tác bảo vệ môi trường, và công tác bảo tồn văn hóa Từ đó tôi có cái nhìn thực tế, cụ thể hơn về những thuận lợi và khó khăn của khu du lịch trong quá trình phát triển để đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm giải quyết mục tiêu đặt ra của đề tài là nâng cao chất lượng sản phẩm khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn

Qua quá trình nghiên cứu, được sự chỉ dẫn tận tình của giảng viên hướng dẫn; sự giúp đỡ của lãnh đạo, cán bộ nhân viên khu du lịch cộng với sự tìm tòi, nghiên cứu của bản thân Đồ án khóa luận tốt nghiệp của tôi đã thu được một số kết quả nhất định Tôi đã đưa ra các giải pháp tổng hợp bao gồm: giải pháp đa dạng hóa nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, giải pháp nguồn nhân lực, giải pháp về tổ chức quản lý, giải pháp liên kết vùng, giải pháp thu hút vốn đầu tư, giải pháp về công tác xúc tiến quảng bá Đặc biệt tôi áp dụng mô hình du lịch cộng đồng và học tập kinh nghiệm thực tiễn từ một số khu du lịch trong và ngoài nước vào khu du lịch Buôn Đôn nhằm đa dạng hóa chất lượng sản phẩm du lịch, góp phần vào sự phát triển của khu du lịch Buôn Đôn trong tương lai

Trang 13

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, du lịch đã khẳng định được vị trí quan trọng của

mình trong nền kinh tế quốc dân, là ngành kinh tế mang lại lợi nhuận cao, đồng thời

cũng là ngành thu hút nhiều lao động nhất

Ở Việt Nam với chính sách mở cửa, hợp tác kinh tế với tất cả các nước, có

luật đầu tư cởi mở, tình hình chính trị ổn định, vị trí địa lý thuận lợi, phong cảnh

thiên nhiên đẹp và đa dạng, nền văn hóa truyền thống lâu đời, hiếu khách… Ngành

du lịch Việt Nam đang đứng trước cơ hội phát triển có ý nghĩa quan trọng đối với

nền kinh tế đất nước Tuy nhiên so với các nước trong khu vực và thế giới thì sản

phấm du lịch, cũng như cơ sở dịch vụ của nước ta còn nhiều hạn chế, chưa có tính

cạnh tranh trên thị trường do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan

Trong xu hướng phát triển chung của du lịch Việt Nam, khu du lịch sinh thái

văn hóa Buôn Đôn - một khu du lịch nổi tiếng của tỉnh Đăk Lăk, nơi hội tụ tài

nguyên thiên nhiên và nhân văn phong phú, với các loại hình và sản phẩm du lịch

đa dạng Nhưng trên thực tế chất lượng sản phẩm dịch vụ du lịch chưa tương xứng

với lợi thế và tiềm năng vốn có, lượng du khách quay trở lại thấp

Xuất phát từ thực tế đó, nhằm mục đích đưa ra những giải pháp, kiến nghị để

nâng cao chất lượng sản phẩm, đưa khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn phát

triển đúng với tiềm năng sẵn có, nâng cao chất lượng sản phẩm, và thu hút được sự

quan tâm của các nhà đầu tư cũng như khách du lịch Do vậy tôi chọn đề tài: “Nâng

cao chất lượng sản phẩm du lịch tại khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn”

2.Tổng quan nghiên cứu đề tài

Du lịch từ truớc đến nay đã thu hút được nhiều sự quan tâm của nhiều nhà

nghiên cứu trong nước và ngoài nước Du lịch tỉnh Đăk Lăk cũng đã thu hút được

nhiều tác giả nghiên cứu Trong tác phẩm “Tài nguyên thiên nhiên và con người

Tây Nguyên” của tập thể tác giả trường đại học Tổng Hợp Hà Nội xuất bản năm

1983, đã tổng quan được tiềm năng tự nhiên và nhân văn của vùng đất Tây Nguyên

nói chung Đăk Lăk nói riêng Đồng thời tác phẩm còn đề cập đến đời sống văn hóa,

phong tục tập quán của các dân tộc nơi đây Sau đó đã có một số công trình nghiên

cứu về du lịch ĐăkLăk như: Trong đề tài “Giái pháp thu hút đầu tư, phát triển

kinh tế - xã hội Tỉnh Đăk Lăk” năm 2004 của tập thể tác giả Đây là một đề tài

nghiên cứu toàn diện về tình hình thu hút vốn đầu tư của Tỉnh trên các mặt khác

nhau: về cơ cấu ngành theo khu vực kinh tế, thành phần kinh tế, cơ cấu tổng sản

phẩm Đồng thời đã đề cập đến tình hình phát triển kinh tế xã hội và đặc biệt là tình

hình phát triển du lịch của tỉnh Đăk Lăk trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2003,

Trang 14

những hạn chế, thuận lợi Dựa trên cơ sở đó tác giả đưa ra một số chiến lược, giải

pháp thu hút nguồn vốn đầu tư để phát triển kinh tế xã hội nói chung, du lịch nói

riêng trong những năm tiếp theo

Đến năm 2005 tác phẩm “Du lịch sinh thái” của giáo sư tiến sĩ khoa học Lê

Huy Bá do nhà xuất bản Giáo Dục phát hành Tác phẩm này không chỉ có giá trị về

mặt cơ sở lí luận mà còn có tính thực tiễn cao cho những đề tài nghiên cứu về du

lịch sinh thái Đặc biệt tác phẩm còn đề cập đến những tiềm năng phát triển DLST

tỉnh Đăk Lăk Trong đó đã tổng quan những điều tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân

văn của Tỉnh, và đưa ra những đề xuất qui hoạch ở một số điểm du lịch như: xã

EaKao, VQG Chư Yang Sin, hồ Lắk, Yok Đôn… Và cũng trong năm 2005, trong

luận án phó tiến sĩ địa lí địa chất Phạm Quang Anh khoa KHTN Đại học KHTN

“Phân tích cấu trúc cảnh quan, ứng dụng, tổ chức du lịch xanh ở Việt Nam

(lấy một số địa phương ở Đăk Lăk,Thanh Hóa, Ninh Bình) làm ví dụ” Đề tài

đã đề cập đến cảnh quan tự nhiên của Đăk Lăk, đồng thời cũng đưa ra một số tuyến

du lịch mà khách du lịch có thể tham quan, kết hợp với các tuyến, điểm du lịch

khác

Ngoài các công trình nghiên cứu khoa học đã được xuất bản và giới thiệu thì

năm 2006 trung tâm sách Dịch vụ Bản đồ Việt Nam thuộc công ty Vietbooks liên

kết với nhà xuất bản Thông Tấn phát hành tác phẩm “Đăk Lăk 24G” Tác phẩm

tổng quan về các danh thắng, các di tích lịch sử văn hóa, lễ hội truyền thống, ẩm

thực mua sắm…giúp các nhà nghiên cứu và đặc biệt du khách có thể tìm kiếm

những thông tin du lịch của Tỉnh Đăk Lăk

Trong quá trình làm đề tài tôi đã ít nhiều tham khảo những tài liệu trên với

mục đích góp phần hoàn chỉnh cho đề tài của tôi Tuy nhiên, hầu hết đều tập trung

nghiên cứu về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, tiềm năng phát triển du lịch của

Tỉnh đặc biệt là loại hình du lịch sinh thái và du lịch xanh Do đó, tôi hi vọng rằng

đề tài này sẽ góp phần thêm vào việc nghiên cứu tiềm năng, chất lượng sản phẩm du

lịch của khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn nói riêng Đăk Lăk nói chung để từ

đó có những giải pháp đưa du lịch Buôn Đôn phát triển và thu hút được du khách

trong thời gian tới, cũng như là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến tiềm

năng, sản phẩm và sự phát triển của khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn

3 Mục tiêu của đề tài

- Đưa khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn phát triển đúng với tiềm năng

du lịch hiện có

- Đề xuất những giải pháp giúp nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch tại khu

du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn

Trang 15

4 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu tổng thể khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn

4.2 Khách thể nghiên cứu

- Sở Văn hóa - thể thao và du lịch Tỉnh Đăk Lăk

- Khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn

- Người dân địa phương

4.3 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Nghiên cứu tại khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn

- VỀ thời gian: Nghiên cứu từ năm 2005 đến năm 2009

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp điền dã

Để thực hiện đề tài này, tôi tiến hành điền dã tại khu du lịch sinh thái văn hóa

Buôn Đôn, để khảo sát và rút ra những nhận xét, đánh giá, về hiện trạng các loại

hình, sản phẩm du lịch đang được khai thác, các cơ sở dịch vụ, lượng khách du lịch,

sự tham gia và lợi ích của người dân trong hoạt động du lịch… Đây là phương pháp

chủ yếu của đề tài

5.2 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin

Thông qua việc thu thập các thông tin, dữ liệu, các báo cáo chính thức của

các đơn vị quản lý ngành du lịch chuyên ngành du lịch từ trung ương đến địa

phương, nguồn số liệu của Sở văn hóa thể thao và du lịch khu du lịch, sách báo, tạp

chí, internet…Để có những tổng hợp số liệu, thông tin chính xác và đưa ra giải

pháp, kiến nghị phù hợp hơn với thực tiễn của khu du lịch

6 Giả thiết nghiên cứu

Qua tìm hiểu một số đề tài nghiên cứu, đề tài đưa ra giả thuyết nghiên cứu

sau:

Giả thuyết nghiên cứu: Khai thác hiệu quả lợi thế các nguồn tài nguyên du

lịch, kết hợp một cách sáng tạo, hợp lí giữa du lịch sinh thái và du lịch văn hóa tạo

ra sản phẩm du lịch độc đáo mới lạ nhưng vẫn đảm bảo giữ được bản sắc văn hóa

bản địa và môi trường phát triển bền vững

7 Ý nghĩa của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: Đề tài mong muốn góp thêm nguồn tư liệu về sản phẩm du lịch

tại khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn, giúp người đọc có thể tra cứu, hiểu biết

thêm về con người, phong tục, tập quán, tài nguyên thiên nhiên – nhân văn… ở

Trang 16

vùng đất này Qua đó, tôi cũng mong muốn nội dung của đề tài này sẽ là nguồn tài

liệu tham khảo cho các chuyên đề nghiên cứu về du lịch ở Đăk Lăk

- Ý nghĩa thực tiễn: Với kết quả nghiên cứu được của đề tài, và những phương

hướng vạch ra cho sự phát triển, chúng tôi hy vọng sẽ đóng góp phần nào vào quá

trình hoạch định chính sách về đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản du lịch

trong thời gian tới Đặc biệt đưa hình ảnh Buôn Đôn trở thành điểm đến hấp dẫn khi

đến Đăk Lăk

NỘI DUNG

Ngoài phần dẫn luận, đề tài tập trung vào các chương sau:

Chương 1: Cơ sở lí luận chung về sản phẩm du lịch

Chương 2: Khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn thực trạng và tiềm năng phát

triển sản phẩm du lịch

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch tại khu du lịch sinh thái

văn hóa Buôn Đôn

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG

VỀ SẢN PHẨM DU LỊCH

1.1 Khái niệm về du lịch

Ngày nay trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể

thiếu được trong đời sống văn hóa xã hội và hoạt động du lịch đang được phát triển

một cách mạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế quan trọng ở nhiều nước trên thế

giới

Theo Pirôgionic (1985), “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong

thời gian nhàn rỗi liên quan đến sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư

trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng

cao trình độ nhận thức – văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị

về tự nhiên, kinh tế và văn hóa”

Theo luật du lịch Việt Nam (2005), Du lịch là các hoạt động có liên quan

đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp

ứng nhu cầu tham quan tìm hiểu giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời khoảng thời

gian nhất định

1.2 Khái niệm về khu du lịch: Là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về

tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư, phát triển nhằm đáp ứng nhu

cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả kinh tế và môi trường

1.3 Các loại hình du lịch

1.3.1 Khái niệm du lịch sinh thái

DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa gắn với

giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự

tham gia tích cực của cộng đồng địa phương

1.3.2 Khái niệm du lịch văn hóa

Là loại hình du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với với sự tham gia

tích cực của cộng đồng địa phương nhằm phát triển bền vững

1.3.3 Khái niệm du lịch nghỉ dưỡng

Là loại hình du lịch có tác dụng giải trí, giúp phục hồi thể lực và tinh thần

cho con người

Trang 18

1.3.4 Khái niệm du lịch chữa bệnh

Là hình thức đi du lịch để điều trị một căn bệnh nào đó về thể xác và tinh

thần Mục đích đi du lịch là vì sức khỏe Loại hình du lịch này gắn liền với việc

chữa bệnh và nghỉ ngơi tại các trung tâm chữa bệnh

1.3.5 Khái niệm du lịch Mice

Là loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện, du

lịch khen thưởng của các công ty cho nhân viên, đối tác

1.4 Khái niệm về sản phẩm du lịch

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất

hữu hình và vô hình

Theo Michael M Coltman: “Sản phẩm du lịch là một món hàng cụ thể như

thức ăn, hoặc một món hàng không cụ thể như chất lượng phục vụ, bầu không khí

tại nơi nghỉ mát”

Theo Krapt: Sản phẩm du lịch còn gọi là kinh nghiệm du lịch và nó là tổng

thể nên Kraft nói “một khách sạn không làm nên du lịch”

Sản phẩm du lịch là toàn bộ những yếu tố phục vụ cho khách du lịch nhằm

đáp ứng nhu cầu và mong muốn của họ Nó bao hàm các dịch vụ về du lịch, hàng

hóa, các tiện nghi cung cấp cho du khách, được tạo bởi các yếu tố tự nhiên, kỹ thuật

và lao động du lịch tại một vùng, một cơ sở nào đó

Nói đến sản phẩm du lịch là nói đến dịch vụ du lịch Nó là sản phẩm của lao

động sống của ngành du lịch nhằm phục vụ khách du lịch bao gồm: vận chuyển,

hướng dẫn viên, ăn ở, chăm sóc sức khỏe và an toàn cho khách, tổ chức các hoạt

động vui chơi giải trí và các dịch vụ bổ sung như massage, thu đổi ngoại tệ, giặt

ủi…được gói gọn trong tour du lịch Tùy vào nhu cầu của du khách mà mỗi chương

trình du lịch có đặc điểm khác nhau về tính tiện lợi

“Sản phẩm du lịch (tour product) Là hỗn hợp các yếu tố hình thành một tổng thể

không thể không thể tách rời gồm: các di sản du lịch ( tài nguyên thiên nhiên, tài

nguyên nhân văn, lịch sử, văn hóa, nghệ thuật) các phương tiện vận chuyển,

truyền tải đối tượng du lịch đến với tài nguyên du lịch, các dịch vụ cung cấp và

sử dụng tài nguyên du lịch”

Khái niệm này tôi chọn sử dụng xuyên suốt đề, bởi tính ứng dụng thiết thực,

dễ hiểu và được sử dụng rộng rãi ch các hoạt động nghiên cứu có liên quan đến sản

phẩm du lịch

Trang 19

1.5 Đặc điểm của sản phẩm du lịch

- Sản phẩm du lịch không thể thích nghi với những biến đổi của cầu du lịch

theo không gian và thời gian

- Sản phẩm du lịch là sản phẩm phi cụ thể (hàng hóa, dịch vụ) thường rất dễ

bị bắt trước, bị cạnh tranh, bị thách thức trên thị trường

- Khách mua sản phẩm du lịch phải tiêu pha khá nhiều tiền bạc trong thời

gian dài trước khi họ có thể được thưởng thức sản phẩm đó

- Không thể tăng lượng sản phẩm du lịch trong thời gian ngắn mà hầu hết nó

phải được hình thành trong thời gian dài thậm chí là rất dài

- Nhu cầu của khách hàng rất hay thay đổi, họ ít khi trung thành với một

nhãn hiệu sản phẩm du lịch nào

- Nhu cầu của khách hàng đối với một sản phẩm du lịch phụ thuộc và các

yếu tố vĩ mô như : những biến động chính trị, kinh tế xã hội, sự giao động

của tỉ giá hối đoái, sự suy thoái kinh tế, lạm phát

- Vòng đời của sản phẩm du lịch cũng giống như vòng đời của các sản phẩm

1.6 Sự khác biệt của sản phẩm du lịch so với các sản phẩm khác

- Sản phẩm du lịch là một sản phẩm cứng ngắc do sự thiếu linh hoạt và

không thể tồn kho như sản phẩm khác, nó phải được tiêu thụ tại chỗ: khách

sạn, sân bay, cơ sở vui chơi giải trí

- Không thể dời đến nơi khách có nhu cầu mà khách hàng phải luôn tìm đến

Trang 20

- Những hình thái về thiết chế chính trị pháp chế hành chính

- Những điều tốt đẹp và mọi dịch vụ, phương tiện vận chuyển, hạ tầng cơ sở

- Những hoạt động kinh tế tài chính

1.7.2 Cách sắp xếp của Jeffries và Krippendorf

- Các di sản thiên nhiên tài nguyên thiên nhiên

- Các di sản do con người tạo ra

- Các yếu tố thuộc về con người: Tôn giáo, phong tục tập quán

- Hệ thống các phương tiện giao thông, thông tin liên lạc

- Những cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho ngành du lịch: Khách sạn, nhà

hàng,…

- Các chính sách kinh tế tài chính, chính sách xã hội

1.7.3 Cách sắp xếp của Michael M Coltman

M Coltman chia sản phẩm du lịch theo thành 2 hướng tài nguyên:

Tài nguyên theo hướng Maketing

- Tài nguyên thiên nhiên: Phong cảnh, công viên, hồ suối, núi non, dốc đá, hệ

động thực vật, bãi biển, hải cảng…

- Nơi tiêu biểu văn hóa và lịch sử vùng khảo cổ, kiến trúc truyền thống, nghề

thủ công bản địa, thực phẩm đặc sản, lễ luật, nghi thức phong tục, múa hát…

- Nơi giải trí: Công viên, sân golt, nơi cắm trại, nơi picnic, nơi bơi lội…

- Các tiện nghi du lịch: Chiêu đãi, phục vụ nghỉ ngơi, nhà hàng, mua sắm,

trung tâm thông tin, hệ thống đăng ký đặt chỗ…

- Khí hậu

- Các tài nguyên thiên nhiên khác

- Hấp dẫn tâm lý: mỹ quan, thái độ hài lòng

Cách sắp xếp theo chức năng điều hành

- Khả năng mua đất đai

- Kế hoạch và phân vùng

- Vận chuyển: đường bộ, đường hàng không, đường xe lửa, xe đò

- Phục vụ công cộng: nước dùng, điện, nước thải

- Kỹ nghệ trợ giúp: công an, cứu hỏa, y tế, nhà thờ, ngân hàng, cung ứng

lương thực, thực phẩm, các dịch vụ trợ giúp khác

- Lực lượng lao động: thuê mướn lao động được, khéo léo tay nghề, dạy

ngoại ngữ

- Vốn

Trang 21

- Thái độ của chính quyền địa phương

1.8 Các mô hình của sản phẩm du lịch

Để tạo nên các sản phẩm du lịch thật độc đáo, riêng biệt cần phải lập nên

những mô hình sản phẩm du lịch Từ những thành phần cấu tạo của sản phẩm du

lịch, các nhà du lịch rút ra những yếu tố căn bản để lập nên những mô hình sản

phẩm du lịch Tùy theo yếu tố thiên nhiên của mỗi nước và quan niệm của mỗi nhà

nghiên cứu du lịch, từ đó tạo nên những mô hình sản phẩm du lịch áp dụng cho đất

nước cũng như các vùng miền Dưới đây là những mô hình sản phẩm du lịch đang

được thịnh hành ở những đất nước có nền công nghiệp không khói phát triển có thể

áp dụng để phát triển cho các sản phẩm du lịch của khu du lịch, đó là mô hình sản

phẩm 4S, 3H và 6S

1.8.1 Mô hình 4S

- SEA: Biển

- SUN: Mặt trời, tắm nắng

- SHOP: Cửa hàng lưu niệm, mua sắm

- SEX (or SAND): Hấp dẫn, khiêu gợi giới tính (hay bãi cát tắm nắng)

Biển (sea):

Biển là yếu tố quan trọng để thu hút khách du lịch Những nơi nào có bãi

biển đẹp, sạch sẽ là nơi du khách đổ xô về tắm biển, luớt ván, phơi nắng, nghỉ

dưỡng Việt Nam có một vị trí thuận lợi để phát triển du lịch biển, từ Bắc chí Nam,

Việt Nam có hơn 2500 km bờ biển, với nhiều bãi biển nổi tiếng như Vũng Tàu,

Nha Trang, Đà Nẵng, Cửa Tùng và có nơi là kỳ quan của thế giới như Vịnh Hạ

Long Ngoài những bãi biển nổi tiếng trên, Việt Nam còn có rất nhiều bãi biển đẹp

nhưng chưa được khai thác Đây là thế mạnh, là tiềm năng dồi dào để phát triển

ngành du lịch trong tương lai

Mặt trời (sun)

Đối với khách du lịch quốc tế, yếu tố mặt trời, ánh nắng rất quan trọng Là

những người ở xứ lạnh, ít khi thấy ánh nắng mặt trời, vào những mùa mưa, nhiệt độ

rất thấp và lạnh, ít người đi du lịch vào mùa này Vì vậy họ thường tìm đến những

vùng nắng ấm để tắm và sưởi nắng Ở Việt Nam, miền Bắc và miềm Trung, mỗi

năm chia ra làm 4 mùa rõ rệt Riêng ở miền Nam chỉ có 2 mùa: Mùa mưa và mùa

nắng Tuy nhiên, dù ở mùa nào, hằng ngày miền nam vẫn có nắng, vì ở đây không

có mưa dầm như ở miền Trung và miền Bắc Về thời tiết, đây cũng là một yếu tố

thuận lợi cho việc phát triển du lịch miền Nam

Cửa hàng đồ lưu niệm (shop):

Mua sắm rất là quan trọng đối với khách du lịch, khách đi du lịch hầu hết là

để thỏa mãn sự hiểu biết, kinh nghiệm Họ muốn biết những nơi xa lạ, phong tục

tập quán, lối sống của cư dân địa phương, những nét văn hóa, sinh hoạt của những

Trang 22

sắc tộc, bộ lạc hoang sơ… Và khi ra về ngoài những ấn tượng, những kinh nghiệm

mà họ có được một cách vô hình, họ cần có một vật hữu hình làm kỷ niệm cho

chuyến đi của chính bản thân, cho những người thân và bạn bè Đó là sản phẩm

hữu hình, những món quà lưu niệm mang đầy dấu ấn cho suốt cả cuộc đời của họ

về một nơi, một vùng, một nước xa xôi nào đó Điều này gợi lại cho họ một kỷ

niệm khó phai mờ về một chuyến đi

Cửa hàng bán hàng lưu niệm và sự mua sắm giữ một vai trò vô cùng quan

trọng trong việc thu hút khách du lịch Điều này đã chứng minh cho ta thấy ở

những nơi nghèo nàn, các cửa hàng bán đồ lưu niệm hoặc thuế hải quan quá cao

đánh trên sản phẩm khách du lịch mua làm quà lưu niệm, là những nơi ít khách du

lịch và có thể là nơi mà khách “Một đi và không bao giờ trở lại” Trái lại, những

nơi nào có chính sách thuế khóa về hải quan thoáng, khuyến khích khách du lịch

mua sắm nhiều là những nơi khách du lịch thường lui tới và giới thiệu cho bạn bè

đi du lịch và chính những nơi này đã thu về một nguồn ngoại tệ đáng kể cho ngành

du lịch

Yếu tố hấp dẫn giới tính (Sex) hay bãi cát (Sand)

Yếu tố hấp dẫn giới tính bao hàm nhiều ý nghĩa khác nhau Nhưng dù hiểu

theo nghĩa thế nào đi nữa thì chữ sex trong du lịch thể hiện tính khiêu gợi, hấp dẫn

và để đáp ứng sự thỏa mãn về nhu cầu sinh lý Vì vậy, trong du lịch có kèm theo

chữ sex, đó là sex - tour

Vào đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, từ khi Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi bị

dịch bệnh AIDS hoành hành, khách du lịch đổ xô về Châu Á, Đông Nam Á, những

nước không những kém phát triển về mặt kinh tế mà còn chậm về sự lan tràn cơn

bệnh AIDS để thỏa mãn một phần “nhu cầu không nói ra” và hy vọng vào một tỷ lệ

về sự an toàn cao hơn các nước khác Nhìn lại những nước gần Việt Nam, trong

những năm gần đây đã thu về một nguồn lợi kinh tế đáng kể khi thả nổi vấn đề sex

trong du lịch, nhưng đằng sau những nguồn lợi và sự phát triển đó, du lịch đã để lại

một dấu ấn sâu sắc về sự phá vỡ đối với xã hội và con người Điển hình trong

những năm gần đây là Thái Lan, tuy đã mang lại nguồn lợi kinh tế đáng kể nhưng

theo ước tính của các chuyên gia trên thế giới, thì những lợi ích đó không bù dắp

được về sự mất mát, thiệt hại về xã hội, con người

Đường lối chính sách của Việt Nam không chủ trương và cấm nghiêm ngặt

việc kinh doanh sex dưới mọi hình thức Đây là chủ trương đúng đắn Tuy nhiên

trong thực tế cũng không sao tránh khỏi tình trạng sex và cũng chỉ làm chậm đi chứ

không sao ngăn chặn được hoàn toàn bệnh AIDS và nạn xì ke ma túy, gái điếm

Nếu loại trừ yếu tố hấp dẫn giới tính (sex) thì yếu tố bãi cát cũng rất hấp dẫn

khách du lịch Với những bãi cát mịn, trắng chạy dài dọc theo bờ biển sẽ thu hút

khách du lịch Biết được tính hấp dẫn của những bãi cát đối với khách du lịch,

nhưng du lịch Việt Nam còn chưa quan tâm thực sự và đầu tư đúng mức dù thiên

Trang 23

nhiên ban tặng cho những bãi biển đẹp, những miền cát trắng mênh mông Vì vậy

Cát sẽ là một tiềm năng lớn cho du lịch nếu biết khai thác hợp lý, hiệu quả cho du

- Honesty: Lương thiện, uy tín trong kinh doanh

Di sản truyền thống dân tộc, di sản văn hóa, nhà thờ (herigate)

Những lĩnh vực thuộc về di sản như văn hóa, nghệ thuật, lịch sử công nghệ,

những công trình kiến trúc cổ của một vùng, một đất nước, tùy theo mức độ quan

trọng, quí giá có thể trở thành những di sản văn hóa của một quốc gia, của thế

giới.Việt Nam có nhiều di sản truyền thống dân tộc, di sản văn hóa được thế giới

công nhận như thành phố cổ Hội An - Quảng Nam, các lăng tẩm vua chúa thời

Nguyễn ở Cố Đô Huế Những loại di sản như là di sản văn hóa, phong tục, tập

quán ở Việt Nam được đánh giá rất cao

Song song với việc phát triển du lịch, việc phát triển, bảo tồn, vun đắp các

giá trị truỵền thống dân tộc được coi trọng, vì văn hoá là một nhân tố, một động lực

vô cùng quan trọng cho quá trình phát triển du lịch Giá trị truyền thống dân tộc

Việt Nam được thể hiện, phát huy rõ nét nhất qua truyền thống mấy ngàn năm dựng

nước và giữ nước, sắc thái dân tộc, văn hóa dân tộc

Hiểu theo nghĩa nhà thờ của thuật ngữ Heritage thì đây cũng là một yếu tố

quan trong đối với khách du lịch quốc tế Hiện nay trên thế giới, khách du lịch

nhiều nhất là khách thuộc các nước Châu Âu, Châu Mỹ Ở đây đa số người dân

theo đạo Thiên Chúa, nên dù ở đâu, đi đâu họ cũng cần có nhà thờ để tham dự

thánh lễ vào mỗi ngày chủ nhật Đây là nhu cầu tinh thần không thể thiếu với họ

Lòng hiếu khách, nhà hàng, khách sạn (hospitality)

Từ Hospitality có nghĩa là lòng hiếu khách Trong du lịch, từ hospitality còn

có nghĩa là những dịch vụ trong khách sạn nhà hàng Dù hiểu theo nghĩa nào đi nữa

thì trong du lịch những yếu tố về lòng hiếu khách, những dịch vụ trong khách sạn

nhà hàng là những yếu tố vô cùng quan trọng

Lòng hiếu khách thể hiện qua sự tiếp xúc giữa khách với nhân viên cung ứng

dịch vụ và sự tiếp xúc giữa khách với cư dân địa phương nơi khách đến tham quan

du lịch Sự niềm nở, tận tình giúp đỡ khách một cách vui vẻ khi họ tìm hiểu về

phong tục, tập quán, về đất nước họ đến thăm sẽ làm tăng thêm chất lượng sản

phẩm Làm tốt những công việc này sẽ gây một ấn tượng đẹp đối với mỗi người

khách và sau chuyến đi, họ muốn có dịp trở lại hoặc giới thiệu cho bạn bè, người

thân đến du lịch Trái lại, chỉ cần một điều nhỏ xúc phạm đến danh dự của khách

Trang 24

qua sự lạnh lùng, gắt gỏng, hách dịch thì những điều tốt đẹp trong chuyến đi biến

thành mây khói và khách “Một đi không trở lại”

Hai yếu tố quan trọng nhất để tạo thành tour du lịch trọn gói là khách sạn,

nhà hàng và vận chuyển Ngoại trừ khách tham quan, hầu hết khách đều nghỉ qua

đêm nên cần có khách sạn nhà hàng để giải quyết vấn đề lưu trú ăn uống.Vì vậy

cần phải luôn quan tâm đến chất lượng phục vụ của nhà hàng khách sạn trong sản

phẩm du lịch

Tính lương thiện (honesty)

Tính lương thiện là một yếu tố quan trọng trong kinh doanh Kinh doanh

phải lấy chữ tín làm đầu Cho nên vấn đề uy tín với khách là điều cần thiết Nó đảm

bảo lòng tin của khách khi bỏ tiền ra mua sản phẩm mà chưa thấy, chưa sử dụng

Yếu tố vệ sinh bao gồm: Vệ sinh thực phẩm, vệ sinh ăn uống, ngủ, nghỉ, vệ

sinh môi trường như không khí, nước, vệ sinh đường phố, các điểm tham quan…

Trong vệ sinh, thực phẩm, thức uống phải có lý lịch, xuất xứ, phải có chứng minh

nguồn gốc và quá trình hình thành Ví dụ, một chiếc bánh ngọt bao gồm bột,

đường, sữa, trứng và màu Cần phải biết bột mì xuất xứ từ đâu, trứng gà công

nghiệp hay gà nuôi ở thôn quê, đường loại gì, có sử dụng đường hóa học không,

sữa bò xuất xứ từ nước nào, có sử dụng từ sữa bò của các nước có bò điên hay

không và các loại màu sử dụng có tính độc hại không…?

Về môi trường, không khí phải trong lành, không bị khói, bị bụi, khói làm ô

nhiễm Nước thải phải có hệ thống xử lý để tránh tình trạng làm ô nhiễm các dòng

sông Bởi vậy, muốn phát triển du lịch thì các ngành chức năng cần phải quan tâm

hàng đầu đến vấn đề môi trường Các điểm du lịch, đường phố phải xanh, sạch và

đẹp Điều này nói lên trình độ dân trí, ý thức của người dân và sự quan tâm của

chính quyền Tại các nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan, Hồng Kông,

đường phố rất tráng lệ, sạch sẽ, luôn luôn có những đội cảnh sát du lịch giữ gìn trật

tự và nhặt từng lá cây, từng cọng rác để làm đẹp, sạch thành phố làm cho du khách

có một ấn tượng đẹp về những đất nước này Còn ở Việt Nam, không biết đến bao

Trang 25

giờ người dân mới có ý thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường sống

xung quanh mình

Sức khỏe ( Santé )

Yếu tố sức khỏe bao gồm các loại hình thể thao, chữa bệnh và nghỉ dưỡng

Người ta đi du lịch chủ yếu là để nghỉ ngơi, lấy lại sức khỏe sau những năm tháng

làm việc căng thẳng tinh thần và thể chất

Để thu hút khách du lịch đi du lịch vì lý do sức khỏe, các đơn vị cung ứng

du lịch phải kết hợp những yếu tố liên quan đến sức khỏe trong sản phẩm du lịch

như các hoạt dộng thể thao bao gồm sân golf, lướt ván, bể bơi, sân tennis, leo núi,

câu cá, cắm trại

Ngoài các loại hình mang tính thể thao trên, các khách sạn cũng cần có các

dịch vụ tắm hơi, massage đa dạng, phong phú, loại hình này chữa một số bệnh rất

hiệu quả

An ninh, trật tự xã hội ( Securité )

Yếu tố an ninh, trật tự xã hội bao gồm các vấn đề ổn định chính trị, bài trừ tệ

nạn xã hội, bảo hiểm sinh mạng cho khách du lịch

Vấn đề an ninh là yếu tố quan tâm hàng đầu để phát triển du lịch Một vùng,

một nước thiếu an ninh thì ngành du lịch không thể phát triển Bảo vệ tính mạng

cho du khách là vấn đề cực kỳ quan trọng Du khách có thể bị phe đối nghịch của

một quốc gia bắt cóc hoặc sát hại, nên cần phải bảo vệ, giữ gìn tính mạng, tinh

thần, của cải vật chất cho khách du lịch Để góp phần vào việc giảm thiểu mức rủi

ro và đảm bảo an ninh trật tự cho du khách cần phải thực hiện nhiều biện pháp

đồng bộ giữa các chính quyền, các đơn vị cung ứng dịch vụ Về chính quyền phải

ổn định chính trị, bài trừ tệ nạn xã hội như ăn xin, cướp giật, móc túi, nài ép khách

mua hàng Về phía hãng lữ hành phải trang bị phương tiện vận chuyển tốt và tài xế

phải có kinh nghiệm, cẩn thận Về phía khách sạn, phải giữ gìn an toàn, cửa phòng

chắc chắn để chống trộm cắp, chống kẻ lạ đột nhập gây nguy hiểm cho khách

Sự thanh thản (Sérenité )

Ngoài mục đích du lịch công vụ, hầu hết khách đi du lịch vì mục đích hưởng

thụ, đi tìm sự thanh thản cho tâm hồn để bù dắp sự mất mát qua nhiều năm tháng

làm việc cật lực, căng thẳng tinh thần

Người dân các nước tiên tiến, hằng ngày phải làm việc với cường độ cao

trong các nhà máy, công xưởng, văn phòng Gia đình, vợ chồng, con cái ít có dịp

đoàn tụ đầy đủ, lâu dài Vì vậy, nền tảng tảng tình cảm gia đình không bền chặt,

không keo sơn dễ dẫn đến tan vỡ hạnh phúc Con người mất thăng bằng về tinh

thần, lạc lõng, thiếu chỗ bám tựa Bên cạnh đó, khoa học và ứng dụng khoa học

phát triển như vũ bảo, nào là vũ khí giết người hàng loạt như bom nguyên tử, bom

hóa học, tên lửa đạn đạo tầm ngắm, tầm xa xuyên lục địa, hệ thống tên lửa phòng

chống chiến tranh giữa các vì sao, các nước lớn, bé đua nhau phát triển, thử nghiệm

Trang 26

vũ khí hạt nhân,và nỗi lo sợ ám ảnh về những chứng bệnh hiểm nghèo cùng với sự

cạnh tranh gay gắt, khốc liệt giữa các tập đoàn, giữa các công ty trong nước và

quốc tế đã làm cho con người choáng váng, mất thăng bằng thật sự, gây nên những

chứng bệnh thời đại, đó là những chứng bệnh căng thẳng thần kinh (stress) Ngoài

ra, một chứng bệnh khác vô cùng nguy hiểm đã và đang có nguy cơ giết chết hàng

triệu người mà hiện nay chưa tìm ra loại thuốc chữa trị, ngăn ngừa hữu hiệu, đó là

bệnh AIDS

Đứng trước những sự thay đổi nhanh chóng về khoa học kỹ thuật và cả về

mặt tinh thần, hằng ngày con người phải đối phó với những công việc nhàm chán,

căng thẳng, nguy hiểm, người ta cần sự thanh thản và họ muốn quay về, tìm về

thiên nhiên, muốn được tận hưởng những giây phút yên tĩnh để được thư giản tinh

thần, được nhìn lại những cảnh thiên nhiên núi non hùng vỹ, hoang sơ, đi tìm cái

màu xanh của núi rừng, của biển cả, rong rêu để xua đi cái màu xám xịt của bụi

khói, của bê tông cốt thép, sự nặng nề của những nhà máy, công xưởng và những

tòa nhà chọc trời

Người Nhật, sau thế chiến thứ hai, với quyết tâm, lòng yêu nước cao độ, họ

đã nhanh chóng khôi phục và đưa đất nước lên hàng cường quốc, đứng đầu về kinh

tế, kỹ thuật công nghệ Nhưng một khi đất nước đã thịnh vượng, mức sống của

người dân cao thì họ có khuynh hướng giảm dần sức lao động để dành thời gian

cần thiết cho việc nghỉ ngơi Chính vì lý do này nên trong những năm cuối thập

niên 90 của thế kỷ 20 và bước đầu thập niên của thế kỷ 21, nền kinh tế Nhật có

chiều hướng phát triển chậm, hoặc khựng lại, và hiện nay nước Nhật là một trong

những nước có số lượng dân đi du lịch ra nước ra nước ngoài nhiều nhất thế giới

Do tính chất quan trọng của tài nguyên thiên nhiên về rừng núi, biển cả,

sông hồ, ghềnh, thác, thú rừng hoang dã, vì vậy những nơi nào có lắm cảnh đẹp,

những nơi đó thu hút khách du lịch rất mạnh Cho nên, khi chọn một nơi làm điểm

đến tham quan du lịch, người làm du lịch phải chú ý và tận dụng những sản phẩm

do thiên nhiên ban tặng để tạo nên sản phẩm du lịch phong phú hấp dẫn

Dịch vụ, phong cách phục vụ (Sevice)

Sản phẩm du lịch hầu hết là những dịch vụ, những đơn vị cung ứng du lịch

như khách sạn, vận chuyển, tham quan giải trí là những thành phần cốt lõi để tạo

nên tour du lịch trọn gói Khi bán tour du lịch trọn gói, đơn vị cung ứng du lịch chỉ

bán dịch vụ Thật vậy, sau khi kết thúc chuyến đi, khách không thể mang theo

phòng ngủ, mang theo chổ ngồi trên xe hoặc mang theo những điểm đến du lịch

Khi bán sản phẩm du lịch là bán dịch vụ, bán chỗ ngủ cho khách và khách chỉ có

quyền sử dụng nó, cũng như bán chổ ngồi của một chuyến xe hay một chuyến bay,

bán dịch vụ vui chơi, giải trí… Sau chuyến du lịch khách chỉ mang theo những kỷ

niệm, những kinh nghiệm về chuyến đi

Trang 27

Dịch vụ du lịch rất phong phú như dịch vụ khách sạn, dịch vụ thủ tục đăng

ký, nhập, xuất khách sạn, dịch vụ vận chuyển, dịch vụ bưu điện viễn thông, ngân

hàng, hải quan…Qua mỗi dịch vụ đó, để phục vụ khách hữu hiệu, nó đòi hỏi tất cả

những người liên quan trong việc phục vụ phải am hiểu nghề nghiệp và có phong

cách phục vụ tốt

Phục vụ và phong cách phục vụ là những sản phẩm vô hình Khách sẽ hài

lòng và được bù đắp nếu sản phẩm vô hình như hình thức phục vụ qua phong cách

phục vụ của những nhân viên, khéo léo, vui vẻ, niềm nở, tận tình Sản phẩm hữu

hình như khách sạn, nhà hàng thì tốn kém, trái lại, sản phẩm vô hình thì ít tốn kém,

cho nên trong hoạt động du lịch phải quan tâm làm tốt khâu phục vụ gấp bội lần so

với sản phẩm hữu hình

Sự thỏa mãn (Satisfaction)

Mục đích của việc đi du lịch là để thỏa mãn nhu cầu của con người Nhu cầu

du lịch tùy thuộc mục đích chuyến đi Tuy nhiên, trong du lịch, người đi du lịch là

để thỏa mãn được nhiều mục đích khác nhau chứ không hẳn thuần túy về công vụ,

hưởng thụ hay chỉ vì một động cơ nào khác, dù chủ đề và nội dung của tour du lịch

trọn gói có thể là du lịch công vụ, hội họp, du lịch nghiên cứu, tham quan hay du

lịch sinh thái…

Đáp ứng được sự thỏa mãn của khách nhiều hay ít phụ thuộc phần lớn vào

các dịch vụ, phong cách phục vụ, đó là những yếu tố gây ấn tượng tốt đẹp cho

khách về đất nước, con người nơi họ đến du lịch

1.9 Các giai đoạn phát triển của sản phẩm du lịch

Giai đoạn phát hiện hay giới thiệu sản phẩm

Đây là bước đầu mới tìm thấy diểm du lịch hay phát triển ý tưởng mới

Trong giai đoạn này, doanh số thấp, trái lại, chi phí đầu tư cao Đây là nơi du lịch

mới hình thành, bắt đầu thu hút một số khách du lịch, các khách sạn, nhà hàng, các

sở kinh doanh với giá cao Theo Plog, những nơi này, lúc đầu thu hút loại khách dị

tâm lý (Allocentric), những khách thích phiêu lưu mạo hiểm, là người thích đến đầu

tiên Họ thích những nơi du lịch mới khám phá và không cần được phục vụ đầy đủ

Giai đoạn phát triển có nhiều nguy cơ dẫn đến thất bại trong kinh doanh vì số lượng

khách ít và chi phí cao

Giai đoạn phát triển, sản phẩm trở nên phổ biến, hấp dẫn khách du lịch, công

việc kinh doanh thuận lợi và phát đạt, kích thích người khác cạnh tranh Trong giai

đoạn này, điểm du lịch dần dần thích hợp với người tiêu dùng và trong kinh doanh

có nhiều đối thủ cạnh tranh muốn nhảy vào

Giai đoạn chín mùi

Giai đoạn chín mùi hay còn gọi là giai đoạn bão hòa Trong giai đoạn này,

các đơn vị cung ứng sản phẩm phải tìm cách cải biến sản phẩm nhằm thỏa mãn của

khách tối đa

Trang 28

Để giảm bớt rủi ro và tránh sự suy thoái của sản phẩm, các điểm du lịch phải

tìm cách cải tổ lại hình thức kinh doanh, thích ứng với thị trường du khách mới, cần

cải biến sản phẩm mới và ý tưởng mới để thu hút khách du lịch

Giai đoạn suy thoái (Decline stage)

Đây là giai đoạn tỏ ra dấu hiệu khách đã chán ngấy và quay mặt lại với sản

phẩm để đi tìm những sản phẩm du lịch, những điểm du lịch mới Trong giai đoạn

này, những đơn vị cung ứng du lịch nên tìm cách để đưa những sản phẩm không

còn sử dụng cho khách du lịch vào việc sử dụng hữu ích khác

Không phải bất cứ sản phẩm nào cũng trải qua 4 giai đoạn trên và mỗi giai

đoạn dài ngắn là do sự hiểu biết của người làm du lịch Mỗi giai đoạn của sự phát

triển sản phẩm du lịch cần có cách thực hiện nhằm phù hợp với tình thế, thực trạng

của môi trường để duy trì và phát triển sản phẩm Có nhửng nơi giai đoạn chín mùi

tồn tại được trong rất nhiều năm, nhưng cũng có nơi không vượt qua được giai

đoạn phát hiện ban đầu

TIỀU KẾT CHƯƠNG 1

Chất lượng sản phẩm làm nên thương hiệu của doanh nghiệp cũng như tạo

được lòng tin đối với du khách nhất là trong ngành du lịch Nó là yếu tố quan trọng

để thu hút du khách đến với khu du lịch Chương này đã giới thiệu về các định

nghĩa- khái niệm về du lịch, khu du lịch, sản phẩm du lịch, các loại hình du lịch, đặc

điểm của sản phẩm du lịch, sự khác biệt của sản phẩm du lịch so với các sản phẩm

khác

Đồng thời trong chương này còn giới thiệu về thành phần của sản phẩm du

lịch theo tổ chức du lịch thế giới và ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu khác nhau

Các mô hình sản phẩm du lịch 4S, 3H, 6S; chiến lược chu kỳ đời sống sản phẩm

Dựa trên những cơ sở lí luận này làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đánh giá

về chất lượng sản phẩm ở khu du lịch Chương tiếp theo sẽ giới thiệu về thực trạng

tiềm năng và phát triển sản phẩm du lịch tại khu du lịch Buôn Đôn

Trang 29

CHƯƠNG 2 KHU DU LỊCH SINH THÁI - VĂN HÓA BUÔN ĐÔN

THỰC TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN

SẢN PHẨM DU LỊCH SINH THÁI

2.1 Tổng quan về khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn Đôn

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lí

Huyện Buôn Đôn nằm ở rìa phía tây tỉnh Đắk Lắk Phía Nam giáp huyện Cư

Jút, phía Đông Nam giáp thành phố Buôn Ma Thuột, phía Đông giáp huyện Cư

M'gar, phía Bắc giáp huyện Ea Súp Phía Tây huyện là biên giới với Campuchia

Con sông Sêrêpôk chảy cắt ngang huyện, theo hướng Đông Nam - Tây Bắc,

sang đất Campuchia để góp nước vào sông Mê Kông Trung tâm huyện Buôn Đôn

nằm cách thành phố Buôn Ma Thuột 25 km về hướng Tây bắc theo con đường tỉnh

lộ số 1 Địa danh Bản Đôn cách thị trấn Buôn Đôn 20 km về hướng Ea Súp Huyện

Buôn Đôn hiện nay có 96 thôn buôn, có trung tâm cách thành phố Buôn Ma Thuột

25km

2.1.1.2 Địa hình

Đại bộ phận diện tích của huyện nằm ở phía Tây Trường Sơn, có hướng thấp

dần từ Đông Nam sang Tây Bắc Địa hình đa dạng đồi núi xen kẽ bình nguyên và

thung lũng tương đối bằng phẳng, trong đó nổi lên các ngọn núi Yok Đôn và Rê

Heng

2.1.1.3 Khí hậu

Huyện nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, đặc trưng cho vùng Cao

nguyên Nam Trung Bộ, mỗi năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa

mưa bắt đầu từ tháng 4 năm trước đến tháng 10 năm sau, tập trung 93,5% lượng

mưa cả năm, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau lượng mưa không đáng kể

2.1.1.4 Thủy văn

Trên địa bàn huyện có hệ thống sông chính chảy qua là hệ thống sông Srêpôk

đầy huyện thoại, chảy dọc theo chiều dài của huyện - theo hướng từ đông sang tây

Đây là con sông lớn có nhiều gềnh thác, chảy len lỏi giữa những cánh rừng tự

nhiên, tạo nên nhiều cảnh đẹp Hệ thống sông Sêrêpôk Không chỉ có giá trị trong

nông nghiệp mà còn có giá trị về du lịch, thủy điện

Ngoài hệ thống sông Sêrêpôk, hệ thống hồ suối vừa và nhỏ cũng khá phong

phú, tuy nhiên một số suối không có nước trong mùa khô Trong những năm gần

đây tình hình thời tiết có nhiều biến đổi, mức độ khai thác nguồn nước ngầm không

Trang 30

kiểm soát được là những nguyên nhân làm cho tình trạng hạn hán gay gắt và thiếu

nước nghiêm trọng

2.1.1.5 Động thực vật

Buôn Đôn có tiềm năng lớn về rừng, Ở đây có Vườn quốc gia Yôk Đôn rộng

trên 115.500 ha, là khu Vườn quốc gia lớn nhất Việt Nam, độ che phủ của rừng ở

đây là 50% Buôn Đôn đây được xem là nơi bảo tồn các giá trị khoa học đối với hệ

động, thực vật điển hình của khu vực Tây Nguyên với nhiều loại động vật quý hiếm

có tên trong sách đỏ của thế giới, có 63 loài động vật có vú, 196 loài chim, 40 loài

bò sát, 13 loài lưỡng cư, 464 loài thực vật, trong đó có voi rừng, trâu rừng và bò tót

khổng lồ

Hệ thực vật ở đây rất phong phú và đa dạng với 464 loài, trong đó nhiều loại

chỉ có ở khu vực Tây Nguyên Nơi đây là nơi có trữ lượng gỗ lớn với nhiều loại quý

hiếm như: Trắc, Hương, Cẩm, Cà te, Gõ v.v Đồng thời cũng tập hợp nhiều loài hoa

quý hiếm, chỉ riêng hoa phong lan đã có trên 23 loài với đủ màu sắc Yôk Đôn là

khu vực duy nhất ở Việt Nam bảo tồn kiểu rừng kho cây họ Dầu

2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

2.1.2.1 Hiện trạng kinh tế

Buôn Đôn tuy có nhiều tiềm năng về du lịch nhưng thực sự chưa phát triển

xứng với tiềm năng vốn có Hoạt động kinh tế chính vẫn là nông nghiệp với diện

tích cà phê ít ỏi, đất đai không mấy màu mỡ phần lớn chỉ thích hợp cho trồng điều

và hoa màu một đến 2 vụ

Hiện tại, đã cho xây dựng ở trên sông Sêrêpôk đoạn chảy qua Buôn Đôn 2/4

công trình thủy điện bậc thang là Sêrêpôk 3 và 4, huyện đang quy hoạch một cụm

công nghiệp của huyện tại xã Ea Nuôl

Ngoài ra huyện đang phục hồi và phát triển một số mặt hàng thủ công mỹ

nghệ: mây tre, mộc mỹ nghệ, thổ cẩm, chế tác đồ trang sức, hàng lưu niệm… Phục

vụ cho du lịch và xuất khẩu

2.1.2.2 Dân cư và con người

Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 141.040 ha, trong đó có trên 116.000 ha

là rừng tự nhiên – là huyện có diện tích rừng tự nhiên lớn nhất nước Toàn huyện có

07 đơn vị hành chính cấp xã; 96 thôn, buôn ( trong đó có 24 buôn đồng bào dân tộc

thiểu số); dân số (tính đến ngày 31/12/2008) là 61.098 khẩu với 12.852 hộ - trong

đó dân tộc thiểu số là 28.112 khẩu, chiếm 46% dân số của toàn huyện; (dân tộc

thiểu số tại chỗ là 13.198 khẩu, chiếm 21,6%)

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đặc biệt là sau ngày giải

phóng miền Nam (1975) đến nay, một bộ phận đồng bào các dân tộc ít người từ

Trang 31

miền Trung ra Bắc di cư đến đây sinh cơ lập nghiệp, làm cho cơ cấu thành phần dân

tộc trong Tỉnh đổi thay nhanh chóng, mật độ dân số 40 người km2

2.1.3 Lịch sử phát triển

Buôn Đôn tách ra từ huyện Ea Súp và một phần từ thành phố Buôn Ma

Thuột từ ngày 17 tháng 10 năm 1995 trên cơ sở địa danh Bản Đôn trước đây, vốn

một thời là thủ phủ của tỉnh Đắk Lắk Sau này để tiện cho việc phát triển kinh tế xã

hội và để chiếm giữ một vị trí an ninh quốc phòng chiến lược, người Pháp đã cho

dời cơ quan hành chính về Buôn Ma Thuột, nơi có vị trí trung tâm của toàn Tây

Nguyên

Buôn Đôn là tên huyện mới đặt khi thành lập huyện mới, còn Bản Đôn cũ

theo tên gọi tiếng Lào ngày xưa (sắc dân Lào chiếm đa số ở đây khi còn sơ khai) có

nghĩa là "Làng Đảo" nghĩa là một ngôi làng được xây dựng trên một ốc đảo của

Sông Sêrêpôk Đây là một trong những điểm giao thương quan trọng của 3 nước

Đông Dương ngày xưa Khi ấy, người Lào trong lúc ngược dòng sông buôn bán, bắt

gặp mảnh đất này đã bị quyến rũ và ở lại cùng người Êđê bản địa xây dựng lên ở

đây một ngôi làng trù phú Nơi đây vốn nổi tiếng với nghề săn bắt, thuần dưỡng voi

rừng, với huyền thoại về Vua Voi KhunYuNốp, người đã bắt được và thuần dưỡng

hơn 170 con voi rừng, trong đó có 1 một con bạch tượng tặng vua Xiêm và Vua Voi

chính là danh hiệu vua Xiêm ban cho ông Bản sắc dân tộc và tất cả những điều ấy,

đã biến Bản Đôn trở thành thương hiệu nổi tiếng nhất của Du lịch Đắk Lắk, một nơi

không thể không đến khi đến Đắk Lắk

Quá trình hình thành và phát triển trung tâm du lich Buôn Đôn

Trung Tâm Du Lịch Buôn Đôn trực thuộc Chi Nhánh Du Lịch và Khách sạn

– Cty TNHH Một thành viên XNK 2/9 Đăk Lăk Mà trước đây tên gọi cũ của Chi

nhánh Du lịch & Khách sạn tách ra từ Nhà khách Tỉnh ủy Đăk Lăk ngày 07 tháng

10 năm 1995 gọi là Cty Cổ phần Thương mại – Du lịch Banmeco

Ngày 01/07/2004 có tên mới là: Cty Du lịch và Khách sạn Biệt Điện

Ngày 01/07/2006 đổi tên thành: Cty TNHH MTV Du lịch và Khách sạn Biệt Điện

Ngày 10/06/1008 sát nhập vào Cty TNHH MTV XNK 2/9 Đăk Lăk Trực thuộc tỉnh

ủy Đăk Lăk

Trung tâm Du lịch Buôn Đôn là một bộ phận của Chi nhánh Du lịch và

Khách sạn được thành lập từ tháng 11/1998, ngày chính thức hoạt động là ngày

16/02/1999 Trung tâm tọa lạc trên địa bàn Buôn Trí A – xã Krông Na – huyện

Buôn Đôn - tỉnh Đăk Lăk (hay còn gọi là Bản Đôn trước đây) với diện tích

64.000m2

Trang 32

Trung tâm có các dịch vụ:

- Nghe thuyết trình lịch sử hình thành Buôn Đôn, nghề săn bắt và thuần

dưỡng voi rừng nổi tiếng, phong tục tập quán của người dân tộc bản địa

- Tham quan Cầu treo, nhà sàn cổ kiến trúc Lào trên 126 năm, nhà mồ có

mộ vua săn voi KhunJuNop, đảo Ây Nô

- Giao lưu văn hóa cồng chiêng, lưu trú nhà dài truyền thống của người Êđê,

nhà sàn khép kín

- Cưỡi voi thăm buôn làng, vượt sông Sêrêpôk, đạp xe đạp thăm các buôn

làng và các vùng lân cận

- Thưởng thức đặc sản, cơm lam, gà nướng, canh chua cá lăng

- Trung tâm thường xuyên tổ chức các tour dã ngoại sinh thái

2.2 Thực trạng phát triển sản phẩm du lịch tại khu du lịch sinh thái văn hóa

Buôn Đôn

2.2.1 Cơ sở vật chất kỹ thuật

Trong những năm gần đây cùng với sự gia tăng của lượng khách Cơ sở vật

chất của khu du lịch tuy bước đầu đã xây dựng được hệ thống nhà hàng, nhà nghỉ đi

vào hoạt động đem lại doanh thu cho khu du lịch Tuy nhiên, số lượng và chất

lượng của các dịch vụ này còn nhiều hạn chế Cơ cấu loại hình lưu trú chưa đa

dạng, chưa thật sự phù hợp với từng đối tượng khách, quy mô đầu tư còn nhỏ lẻ,

phân tán nên hiệu quả đầu tư thấp

Hiện khu du lịch cơ sở vật chất khu du lịch bao gồm: Khu vực cầu treo, ốc

đảo Âynô, khoảng 8 nhà nghỉ được thiết kế theo lối kiến trúc của các dân tộc địa

phương, khu vực nhà hàng, khu nhà văn phòng, 8 gian hàng trưng bày bán các sản

phẩm thủ công mỹ nghệ và đặc sản địa phương, 4 con voi nhà Cùng với hệ thống

các di tích lịch sử văn hóa của nhà nước và thuê của người dân như mộ khunjunôp,

nhà sàn cổ, nhà mồ, khu trưng bày các hiện vật của các đồng bào dân tộc địa

phương, voi…

Về chất lượng dịch vụ du lịch tại khu du lịch, kiến trúc chưa được hài hòa

với môi trường thiên nhiên và văn hóa truyền thống Khách sạn, nhà hàng chưa đạt

tiêu chuẩn về trang thiết bị, khu du lịch chưa có nhà hàng đặc sản chuyên biệt để

giới thiệu ẩm thực địa phương - dù Buôn Đôn là nơi có nhiều món ăn đặc trưng gắn

liền với văn hóa dân tộc Tây Nguyên Do vậy, cơ cấu các loại hình du lịch ở đây

chưa được đa dạng, phong phú, thiếu sức hấp dẫn đối với du khách (thời gian lưu

trú trung bình là 1,5 ngày/lượt khách)

Trang 33

2.2.2 Nguồn nhân lực

Năm 2009 tổng số lao động của khu du lịch là 40 CBCNV được chia thành 4

tổ: Tổ Du lịch, tổ nhà hàng, tổ bảo vệ- kỹ thuật, tổ kế toán; trong đó 10 người có

trình độ đại học, cao đẳng; 20 người có trình độ trung cấp, sơ cấp; 10 người có trình

độ (qua đào tạo tại chỗ hoặc huấn luyện nghiệp vụ ngắn hạn)

Dự kiến năm 2010 tổng số lao động trong ngành du lịch tăng lên 45 lao động

và đến năm 2015 là 50 lao động Theo số liệu cho thấy nguồn lao động của khu du

lịch còn ít mặc dù qua các năm có tăng nhưng số lượng lao động tăng không đáng

kể Từ năm 2005 (25 lao động) đến năm 2008, 2009 (40 lao động) Trong vòng 5

năm tăng 15 lao động; trung bình mỗi năm tăng 3 lao động Tuy nhiên vào mùa cao

điểm khu du lịch còn thuê thêm lao động thời vụ và người dân địa phương nguồn

lao động lên đến 50 lao động Năm 2009 lao động có trình độ trên đại học; đại học,

cao đẳng chiếm 25%; trình độ trung cấp chiếm 50%; trình độ sơ cấp và dưới sơ cấp

chiếm 25%

(

(Nguồn:Sở Văn hoá thể thao và Du lịch Đăk Lăk) Nhìn chung nguồn lao động trong lĩnh vực du lịch của khu du lịch còn hạn

chế về số lượng, chất lượng nguồn lao động chưa cao chủ yếu là lao động có trình

độ trung cấp, sơ cấp, dưới sơ cấp Đó là một trong những nguyên nhân hạn chế sự

phát triển của khu du lịch

Tuy nhiên trong thời gian vừa qua công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân

lực của khu du lịch đã có nhiều tiến triển như:

BIỂU ĐỒ CƠ CẤU PHÂN THEO TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN

Bảng 1: Biểu đồ cơ cấu phân theo trình độ học vấn khu du lịch

sinh thái văn hóa Buôn Đôn

Trang 34

Tham gia các lớp đào tạo bồi dưỡng do Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tổ

chức nhằm nâng cao trình độ về chuyên môn để phục vụ cho công tác quản lý

Ngoài ra, cán bộ và nhân viên của khu du lịch còn tham gia lớp đào tạo bồi dưỡng

về công tác quản lý khách sạn, nghiệp vụ buồng, bàn, lễ tân và các lớp tập huấn về

du lịch cho cộng đồng địa phương ở huyện Buôn Đôn cũng như tham gia học tại các

trường nghiệp vụ trong cả nước nhờ vậy trình độ chuyên môn, chất lượng phục vụ

của cán bộ nhân viên trong ngành được nâng lên một bước, góp phần vào sự phát

triển chung của khu du lịch

2.2.3 Sự tham gia của người dân trong hoạt động du lịch

Những mặt tích cực

Trong quá trình phát triển thực hiện chính sách của Tỉnh về phát triển du

lịch, khu du lịch đã chú trọng thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng dân cư địa

phương trong quy hoạch phát triển du lịch Khu du lịch đã chú trọng đảm bảo sự

phân chia lợi ích hợp lý giữa khu du lịch và dân cư địa phương, phát triển dịch vụ

du lịch luôn gắn liền với lợi ích của dân cư địa phương, nâng cao đời sống người

dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội

Trước kia đời sống của người dân địa phương, đa số là đồng bào dân tộc

thiếu số Cuộc sống của họ chủ yếu phụ thuộc hoạt động nông nghiệp Nhưng từ khi

du lịch phát triển được sự đầu tư quan tâm của Nhà nước và doanh nghiệp hỗ trợ và

khuyến khích cộng đồng dân cư tham gia hoạt động du lịch, nhất là các loại hình du

lịch tại các gia đình, thôn, bản, các làng văn hoá - du lịch trong Tỉnh thì đời sống

văn hóa và tinh thần của nhân dân ngày một nâng cao, người dân tham gia tích cực

vào các hoạt động phục vụ cho du lịch

Người dân bán đồ lưu niệm tại các quầy du lịch họ được hưởng lợi nhuận từ

việc bán các sản phẩm thủ công địa phương Việc mua sản phẩm của du khách tăng

thì các làng nghề truyền thống như dệt thổ cẩm, tạc tượng, nấu rượu cần được khôi

phục và phát triển tạo thêm công ăn việc làm cho người dân địa phương, góp phần

bảo tồn các làng nghề truyền thống Họ trực tiếp tham gia vào các dịch vụ như thuê

voi, chèo thuyền, chụp ảnh, kinh doanh nhà hàng, khách sạn, cung cấp lương thực,

thực phẩm mà họ sản xuất, tham gia vào hoạt động du lịch homestay, người dân đón

và phục vụ khách tại nhà dài của mình, tham gia biểu diễn văn nghệ cồng chiêng

phục vụ cho nhu cầu của du khách Nó không chỉ thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu của du

khách mà nó giúp người bản địa có cơ hội giao lưu, tiếp cận với những nền văn hoá

khác nhau trên thế giới

Thông qua hoạt động du lịch, người dân địa phương không những bảo tồn

phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần)

như là văn hóa cồng chiêng, văn hóa nhà sàn, các lễ hội… Mà còn tăng được nguồn

Trang 35

thu nhập, nhận thức về các mặt được nâng cao có thể giúp họ phát triển sản xuất, tổ

chức cuộc sống tốt, chất lượng cuộc sống nâng cao

Có thể nói với tiềm năng và thế mạnh phát triển du lịch, bước đầu đã mang

lại nguồn lợi lớn cho các doanh nghiệp, giúp cho buôn làng không những phát triển

kinh tế, gìn giữ văn hóa truyền thống mà còn mở ra cơ hội về việc làm, tăng thêm

thu nhập, giúp bà con xã vùng biên giới cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo

Hiện nay, được sự quan tâm đầu tư của nhà nước và các doanh nghiệp thì bộ

mặt buôn làng tại khu du lịch Buôn Đôn được đổi thay nhanh chóng, điện sinh hoạt

tới từng nhà, đường giao thông được thảm nhựa, tuyến xe ô tô buýt đi đến hầu khắp

các buôn

Những mặt hạn chế của hoạt động du lịch đến đời sống của người dân

Bên cạnh những mặt tích cực thì hoạt động du lịch cũng có không ít những

tác động tiêu cực tới đời sống của người dân

Hoạt động du lịch làm biến đổi những nét văn hóa của người dân địa

phương, nó mang tính thương mại hóa Các lễ hội trước kia chỉ diễn ra vào những

ngày quan trọng theo phong tục tập quán của các đồng bào dân tộc nơi đây nhưng

khi du lịch phát triển thì nó được diễn ra một cách thường xuyên theo yêu cầu của

khách du lịch

Khu du lịch Buôn Đôn có dịch vụ tổ chức lễ hội đâm trâu, lễ hội cồng

chiêng… Giá tùy theo những yêu cầu của du khách Điều này làm mất đi ý nghĩa

thiêng liêng cũng như giá trị nhân văn của lễ hội

Những hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống như dệt thổ cẩm, tạc tượng, đan

lát, nấu Rượu Cần… đã được thay đổi, thiết kế làm cho các sản phẩm này đa dạng

hơn về hình thức phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của du khách, dần dần những kĩ

thuật và trang phục truyền thống bị mai một Thêm vào đó là sự du nhập về cách ăn

mặc của du khách đến từ nhiều địa phương và nhiều quốc gia Họ không còn mặc

những trang phục truyền thống như trước kia mà mặc quần jean, áo thun… Nhiều

khi họ cảm thấy ngại ngùng khi đi chân đất đánh cồng chiêng và nhất là thế hệ

thanh niên họ thích nghe những thể loại nhạc trẻ hơn khi nghe âm thanh của cồng

chiêng, họ không còn cảm nhận được những giá trị văn hóa dân tộc của mình thì

làm sao có thể truyền đạt lại cho du khách

Một số phần tử xấu, phản động lợi dụng du lịch để thâm nhập tuyên truyền

kích động nhân dân chống lại các chính sách của Đảng và nhà nước Tình trạng

trộm cắp mất trật tự an ninh cũng gia tăng

2.2.4 Công tác bảo tồn văn hóa

Khu du lịch cùng với ngành ngành Văn hoá Đăk Lăk thường xuyên tổ chức

các lễ hội truyền thống của đồng bào, gắn chặt không gian văn hoá với cuộc sống

Trang 36

hiện đại Nhiều nghi lễ dân gian được phục hồi như lễ cúng bến nước, lễ kết nghĩa

anh em, lễ ăn trâu (mừng được mùa), lễ bỏ mã Nổi bật nhất là Hội Voi Buôn Đôn

kết hợp diễn tấu cồng chiêng tổ chức năm 2004 đã thu hút được sự quan tâm sâu sắc

của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên và cả nước Chính từ những lễ hội và không

gian văn hoá đậm chất dân gian này đã làm “sống lại” hàng chục loại nhạc cụ đặc

trưng của đồng bào như: Đinh năm, Đinh k’tút; chinh ring arap m’ô; chinh cóc;

chinh đá

Cùng với văn hoá phi vật thể, văn hoá vật thể ở Buôn Đôn tồn tại trong đời

sống của đồng bào như hai thực thể gắn bó chặt chẽ và bổ sung cho nhau Ngoài

khu trưng bày các hiện vật về đời sống vật chất và tinh thần của các đồng bào dân

tộc Đó là những ngôi nhà: Nhà mồ, nhà dài Với những kiến trúc độc đáo mang

đậm bản sắc; đó là những bộ cồng chiêng, những thước vải thổ cẩm Chứa đựng

tinh hoa của mỗi dân tộc Ngay cả những ngôi nhà sàn, những buôn làng, nơi sinh

sống của đồng bào cũng là những không gian văn hoá đặc sắc

Mặc dù giá trị văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên được coi là độc nhất vô nhị,

thế nhưng ở nhiều nơi, đồng bào vẫn bỏ cồng chiêng Nạn “chảy máu” cồng chiêng

đã và vẫn còn diễn ra Nguy cơ mai một cồng chiêng và nền nghệ thuật, nền văn hoá

gắn với nó là một thực tế

Với số lượng voi nhà ít chỉ còn trên khoảng 15 con, các nài voi (quản voi)

bắt voi phải làm việc quá nhiều trong những lễ hội, vui Tết cổ truyền, trong hoạt

động đưa đón khách tham gia du lịch sinh thái, một số người bắt voi làm việc liên

tục như lội sông nước, chở khách lên rừng suốt ngày, để voi bị đói, kiệt sức

Thực trạng trên cảnh báo, nếu Buôn Đôn không làm tốt công tác bảo tồn và

nuôi dưỡng, thì chỉ khoảng 10-15 năm nữa, đàn voi nhà sẽ biến mất khỏi vùng đất

này

Tuy vậy đối với vùng văn hoá đặc sắc, đồ sộ như Buôn Đôn, việc thực hiện

những công việc như vậy là chưa đủ, chưa khai thác hết được giá trị văn hoá của

vùng Những khó khăn mà khu du lịch đang phải đối mặt hiện nay là sự thiếu và

yếu của đội ngũ cán bộ làm văn hoá, sự mai một các giá trị văn hoá truyền thống do

quá trình phát triển của xã hội, cơ chế chưa đồng bộ, còn nhiều thủ tục rườm rà và

phần nào là ý thức của một bộ phận đồng bào còn chưa cao

2.2.5 Công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch ở KDL Buôn Đôn

2.2.5.1 Các tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến môi trường ở khu du lịch Buôn Đôn

Các tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến môi trường ở khu du lịch

Buôn Đôn chủ yếu là việc gây sức ép lên môi trường, tài nguyên thiên nhiên, phá

hủy các hệ sinh thái

Trang 37

Về môi trường

Thứ nhất, đó là về ô nhiễm không khí và tiếng ồn Trong quá trình vận

chuyển, phục vụ du khách đòi hỏi phải xây dựng cơ sở hạ tầng, công trình du lịch,

giao thông vận chuyển hành khách Từ đó khí thải, tiếng ồn từ các phương tiện

giao thông, đặc biệt đường vào các khu du lịch ở KDL đều là đất đỏ, vì vậy lượng

bụi bẩn và tiếng ồn gây ảnh hưởng không ít đến đời sống của người dân nói riêng

mà cả đối với hệ sinh thái ngay tại khu du lịch

Lượng rác thải và nước thải từ các khu du lịch do khách xả rác bừa bãi cùng

với lượng rác sinh hoạt hằng ngày của người dân khiến cho môi trường nước ở đây

ô nhiễm nghiêm trọng Đặc biệt là hệ thống sông Sêrêpôk rác thải, nước thải được

đổ trực tiếp ra sông khiến cho dòng sông bị ô nhiễm, đổi sang màu đen và bốc mùi

vào những ngày hè oi bức

Việc xây dựng các cơ sở dịch vụ trong các khu du lịch sinh thái, xây các nhà

nghỉ hiện đai, các bảng chỉ dẫn thiếu tính khoa học và đặt không đúng vị trí cũng

như hình dáng bên ngoài đã làm mất đi tính tự nhiên và mất tính thẩm mỹ của khu

du lịch Vào những ngày cao điểm lượng khách đến tham quan ở đây rất đông Sự

giẫm đạp của khách trong các khu rừng làm giảm đi sự cân bằng sinh học, làm ảnh

hưởng xấu đến môi trường

Thực trạng bảo vệ môi trường

Đối với các tổ chức, đơn vị có liên quan đến hoạt động du lịch

Hiện nay tại khu du lịch Buôn Đôn đã xây dựng được các chương trình hành

động bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch Nhiều chương trình làm việc với

nhiều nội dung về bảo vệ tài nguyên và môi trường thiên nhiên ở Buôn Đôn như

quản lý, bảo vệ, khai thác tài nguyên thiên nhiên tại địa phương; theo dõi sự biến

đổi về môi trường sinh thái một số vùng trong Tỉnh do những yếu tố tác động của

con người; bảo vệ tài nguyên đất đai, nguồn nước, động thực vật, nhất là các loài

quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng

Thường xuyên mời các chuyên gia huấn luyện về bảo vệ môi trường cho đội

ngũ nhân viên, những người có liên quan đến hoạt động du lịch nói chung và du lịch

sinh thái nói riêng Và tổ chức tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ môi

trường cho người dân địa phương thông qua các buổi sinh hoạt cộng đồng

Đã thực hiện việc quản lí, theo dõi, đánh giá định kỳ về tình hình môi trường

tại các khu du lịch và lập báo cáo hiện trạng môi trường gửi lên Sở Tài Nguyên và

Môi Trường, Sở Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch

Việc xây dựng các bảng điều tra đánh giá tác động của hoạt động du lịch đến

môi trường như: môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí, chất thải,

hiện trạng đa dạng sinh học Chưa được thực hiện nghiêm túc và chính xác Chỉ là

Trang 38

những điều tra ban đầu còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhiều trong công tác

nâng cao chất lượng môi trường du lịch và phát triển du lịch sinh thái, du lịch bền

vững

Việc nhập khẩu, nuôi, trồng các loài sinh vật lạ đều có sự cho phép của các

cơ quan có thẩm quyền Ngày 20/5/1003UBND Tỉnh đã có chỉ thị 07/CTUB về việc

tăng cường kiểm tra, giám sát công tác nhập xuất khẩu các nguồn động thực từ các

nơi khác đem về hoặc đưa đi Ở các khu rừng động thực vật được đưa về từ các nơi

khác, hoặc đưa ra nơi khác phải qua sự kiểm tra giám sát về nguồn gen, chủng loại

của Sở Tài Nguyên Môi Trường và Hạt Kiểm Lâm

Việc xử lí nước thải, rác thải từ các khu du lịch và người dân địa phương

chưa được xử lí, còn cho chảy trực tiếp ra sông Sêrêpôk Hiện tại vẫn chưa có một

hệ thống xử lý nào được đưa vào thực thi phục vụ cho hoạt động du lịch và đảm bảo

cho đời sống của người dân địa phương nơi đây

Tại các khu rừng quốc gia, rừng khộp vào mùa khô vấn đề đảm bảo không

để xảy ra cháy rừng là một vấn đề nan giải đối với các cấp, ngành có liên quan Đây

là một bài toán khó nan giải buộc khu du lịch, Sở Tài Nguyên Và Môi Trường phải

nhanh chóng tìm ra biện pháp ngăn chặn và đề phòng đảm bảo an toàn tốt nhất cho

chính các khu rừng, sự đa dạng sinh học cũng như chính đời sống của người dân địa

phương và mức độ an toàn tính mạng cho du khách khi tham quan trong rừng

Hệ thống thùng rác chưa đúng yêu cầu và chất lượng Hầu hết được đặt

không đúng vị trí và không có nắp đậy

Hệ thống toilet tại các khu du lịch chưa đủ về cả chất lượng và số lượng

Đối với người dân địa phương

Đã được tham gia vào các buổi tuyên truyền giáo dục trong hoạt động bảo

vệ môi trường du lịch Tuy nhiên ý thức của người dân chưa thực sự cao Đường

vào bên trong khu du lịch hầu hết rác sinh hoạt của người dân được vứt trực tiếp ra

bên ngoài khu vực nhà ở và không được xử lý gây mất cảnh quan và ảnh hưởng đến

nhu cầu tìm hiểu khám phá đời sống văn hóa tinh thần, vật chất của người dân đối

với du khách

Trong rừng Quốc gia Yôk Đôn nạn phá rừng, chặt cây lấy gỗ, săn bắn trái

phép đã phát hiện rất nhiều trường hợp

Đối với du khách

Du khách được hướng dẫn đầy đủ về công tác bảo vệ môi trường trong khu

du lịch Trong vườn quốc gia Yôk Đôn, du khách đã được trang bị đầy đủ kiến thức

từ các hướng dẫn viên, người dân địa phương, từ các bảng chỉ dẫn nội qui qui định

trong khu du lịch, brochure… về ý thức bảo vệ môi trường, đường đi, sự đa dạng

sinh học…

Trang 39

Hầu hết tại khu du lịch, tại các khu rừng… Du khách thường xuyên xả rác,

bẻ cành cây, chọc phá thú rừng, săn bắn chim thú, hạ trại làm chết cây con… Các

hoạt động này khiến cho hoạt động vệ sinh môi trường ở các nơi du lịch sinh thái

phần nào xấu đi, ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên và dần mất đi sự đa dạng sinh

học

2.2.5.2 Các hoạt động mang tính giáo dục môi trường ở KDL Buôn Đôn

Các sở ban ngành, chủ tịch UBND cấp huyện có liên quan đến các tổ chức,

cá nhân, người dân địa phương là những đối tượng trực tiếp tham gia vào các hoạt

động mang tính giáo dục này

Tổ chức bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên có sự hiểu biết về du

lịch sinh thái để tuyên truyền, hướng dẫn và giáo dục du khách trong việc bảo vệ

môi trường

Tổ chức các cuộc thi chuyên đề về bảo vệ môi trường giữa các hướng dẫn

viên, các cán bộ hoạt động du lịch trong khu du lịch

Tổ chức các buổi sinh hoạt cộng động thông qua đó tuyên truyền giáo dục

người dân địa phương tích cực tham gia vào hoạt động bảo vệ môi trường

Khuyến khích khen thưởng đối với cá nhân, tổ chức có đề xuất chương

trình, kế hoạch bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch

Xử phạt nghiêm túc đối với các hành vi mua bán động thực vật trái phép, săn

bắn trái phép, ngăn chặn tình trạng phá rừng làm nương rẫy, đốt rừng

2.2.6 Các loại hình du lịch đang được khai thác

Buôn Đôn có nhiều tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên và lịch sử văn hóa

Đây là điều kiện thuận lợi sẵn có cho việc xây dựng các loại hình du lịch để thu hút

khách du lịch, đồng thời nó cũng tạo sắc thái nên sắc thái riêng cho du lịch Buôn

Đôn nói riêng Đăk Lăk nói chung Hiện nay khu du lịch sinh thái văn hóa Buôn

Đôn đang khai thác và phát triển các 2 loại hình du lịch: Du lịch tự nhiên và du lịch

nhân văn

2.2.6.1 Loại hình du lịch tự nhiên

Du lịch dã ngoại sinh thái: Du thuyền độc mộc quanh các hồ hoặc các

phương tiện khác, du lịch vượt sông Sêrêpôk bằng hệ thống cầu treo bắc qua rặng

si, tham quan thắng cảnh, đi bộ xuyên rừng kết hợp đi voi

Du lịch mạo hiểm: Với tiềm năng dồi dào về hệ thống thác nước hùng vĩ,

những khu rừng rậm đa dạng sinh học, những đoạn đường sâu vào rừng Đây là

tiềm năng lớn tạo điều kiện cho khu du lịch phát triển loại hình du lịch mạo hiểm

Có khả năng thu hút những du khách có cá tính mạnh mẽ, lòng dũng cảm và niềm

Trang 40

yêu thích thiên nhiên, khả năng chấp nhận rủi ro, tính kỷ luật cao, sẵn sàng đối mặt

với khó khăn thử thách

Du lịch tham quan nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu rừng và động vật

rừng quý hiếm phục vụ công tác bảo tồn tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên

nhiên và động vật bán hoang dã phục vụ săn bắn du lịch

Du lịch Homestay: Trong những đêm ngủ lại cùng đồng bào ở buôn Triết du

khách sẽ được ăn, ngủ trong nhà sàn của đồng bào MNông, du khách sẽ thưởng

thức món thịt nướng thơm lừng, ngây ngất với ché rượu cần đậm đà vị men lá rừng

Loại hình du lịch mới này mở ra một tiềm năng lớn của du lịch Buôn Đôn

mà còn giúp cho người dân địa phương có thêm thu nhập từ vốn văn hóa của chính

họ đồng thời khơi dậy cho du khách và cả người dân ý thức giữ gìn, bảo vệ môi

trường thiên nhiên cũng như bản sắc văn hóa dân tộc

2.2.6.2 Loại hình du lịch nhân văn

Du lịch tham quan, các di tích lịch sử văn hoá: Các công trình di tích lịch sử

văn hóa, kiến trúc cổ

Du lịch tham quan tham làng văn hóa: Tìm hiểu tập quán đời sống văn hóa

cộng đồng, khám phá nghề truyền thống, săn bắt và thuần dưỡng voi rừng, du lịch

trên lưng voi, đám cưới sử dụng voi, thăm bảo tàng voi và trung tâm biểu diễn voi

tại Buôn Đôn

Du lịch lễ hội: Tìm hiểu truyền thống lịch sử văn hóa các dân tộc, các làng

nghề truyền thống, trò chơi dân gian trong các dịp lễ hội như: lễ hội đua voi tháng

11 hàng năm tại Buôn Đôn

2.2.7 Lượng du khách và doanh thu

2.2.7.1 Lượng du khách

Lượng du khách đến với Buôn Đôn qua các năm đều tăng Từ năm 2005 đến

năm 2009 tăng 18.280 lượt khách Trung bình mỗi năm (từ 2005-2008) tăng

139.193 lượt khách Dự tính đến năm 2010 số lượng khách đến với Buôn Đôn là

200.000 lượt khách

Lượng du khách đến với khu du lịch chủ yếu là khách du lịch nội địa, lượng

khách quốc tế rất ít, khách quốc tế đến với khu du lịch chủ yếu là khách Pháp,

Ngày đăng: 29/10/2022, 23:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TÀI LIỆU SÁCH [ 1]. Thế Đạt, 2005, Tài nguyên du lịch Việt Nam, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên du lịch Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo Dục
[2]. Phạm Trung Lương, Những vấn đề về thực tiễn và cơ sở lí luận về hoạt động du lịch sinh thái ở Việt Nam, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề về thực tiễn và cơ sở lí luận về hoạt động du lịch sinh thái ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo Dục
[3]. Trần Ngọc Nam, 2008, Marketing du lịch, NXB Hồng Đức [4]. Trần Bá Thảo, Du Lịch Sinh Thái, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing du lịch", NXB Hồng Đức [4]. Trần Bá Thảo, "Du Lịch Sinh Thái
Nhà XB: NXB Hồng Đức [4]. Trần Bá Thảo
[5].Trần Đức Thanh, 2005, Nhập môn khoa học Du Lịch, NXB Đại Học Quốc Gia ,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn khoa học Du Lịch
Nhà XB: NXB Đại Học Quốc Gia
[6]. Lê Văn Thăng, Giáo trình Du Lịch và Môi Trường, NXB Giáo Dục [7]. Tập thể tác giả, Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Du Lịch và Môi Trường", NXB Giáo Dục [7]. Tập thể tác giả
Nhà XB: NXB Giáo Dục [7]. Tập thể tác giả
2. TÀI LIỆU INTERNET [1]. www.vietnamtourism.gov.vn [2]. www.webdulich.com Khác
[3]. www.dulich org.vn [4]. www.daklak.gov.vn [5]. www.tuoitre.com.vn Khác
[10]. www.vietnamnet.vn [11]. www.vi.wikipedia.org [12]. www.daklak.pid.org.com Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm