1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiêu chí, chỉ tiêu đo lường quản lý đầu tư các dự án sản xuất kinh doanh thuộc ngành công nghiệp quốc phòng

42 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 164,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của chuyên đề Quản lý đầu tư các dự án sản xuất kinh doanh thuộc ngành công nghiệp quốcphòng cũng như Tập đoàn kinh tế nhằm huy động tối đa và sử dụng hiệu quả caocác nguồ

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của chuyên đề

Quản lý đầu tư các dự án sản xuất kinh doanh thuộc ngành công nghiệp quốcphòng cũng như Tập đoàn kinh tế nhằm huy động tối đa và sử dụng hiệu quả caocác nguồn vốn đầu tư, các nguồn tài lực vật lực của ngành, địa phương và toàn xãhội Đầu tư các dự án sử dụng nhiều loại nguồn vốn trong và ngoài nước, vốn Nhànước và tư nhân, vốn bằng tiền và hiện vật, Quản lý đầu tư các dự án là nhằm sửdụng hợp lý, tiết kiệm và khai thác có hiệu quả các loại nguồn vốn, tài nguyên thiênnhiên, đất đai, lao động và các tiềm năng khác Đồng thời quản lý đầu tư các dự ángắn với việc bảo vệ môi trường sinh thái, chống mọi hành vi tham ô, lãng phí trong

sử dụng vốn đầu tư và khai thác các kết quả của đầu tư

Quản lý đầu tư của ngành công nghiệp quốc phòng cũng như Tập đoàn kinh

tế nhằm thực hiện đúng những quy định pháp luật và yêu cầu kinh tế - kỹ thuậttrong lĩnh vực đầu tư Quản lý vĩ mô đối với hoạt động đầu tư nhằm đảm bảo choquá trình thực hiện đầu tư, xây dựng công trình theo đúng quy hoạch và thiết kếđược duyệt, đảm bảo sự bền vững và mỹ quan, áp dụng công nghệ xây dựng tiêntiến, đảm bảo chất lượng và thời hạn xây dựng với chi phí hợp lý

Quản lý đầu tư các dự án sản xuất kinh doanh thuộc ngành công nghiệp quốcphòng cũng như Tập đoàn kinh tế là nhằm thực hiện đúng mục tiêu của dự án, nângcao hiệu quả kinh tế - xã hội của đầu tư trên cơ sở thực hiện đúng thời gian đã địnhtrong phạm vi chi phí được duyệt và với tiêu chuẩn hoàn thiện cao nhất

Chuyên đề này nhằm cung cấp thông tin, hiểu biết về quản lý đầu tư các dự

án sản xuất kinh doanh nói chung và ngành công nghiệp quốc phòng nói riêng cả vềmặt lý luận và thực tiễn

3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Trang 2

Mục tiêu của chuyên đề này là đề cập những vấn đề lý luận cơ bản của quản lý đầu tư các dự án sản xuất kinh doanh thuộc ngành công nghiệp quốc phòng, trong đó đặc biệt chú ý tới tiêu chí đo lường và đặc điểm của quản lý đầu tư các dự án thuộc ngành công nghiệp quốc phòng Để hướng tới các mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề, các câu hỏi nghiên cứu dưới đây sẽ lần lượt được đề cập.

- Vai trò của quản lý đầu tư các dự án sản xuất kinh doanh thuộc ngànhcông nghiệp quốc phòng là gì?

- Có thể sử dụng các tiêu chí nào đo lường quản lý đầu tư các dự án? Đặctrưng cơ bản của quản lý đầu tư các dự án?

- Những đề xuất chỉ tiêu đo lường quản lý đầu tư các dự án?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là những vấn đề lý luận cơ bản về quản

lý đầu tư các dự án Trong đó, chuyên đề tập trung làm rõ những quan niệm, sự cầnthiết, vai trò của quản lý đầu tư các dự án, những tiêu chí sử dụng đo lường quản lýđầu tư các dự án, đặc điểm của quản lý đầu tư các dự án nói chung và ngành côngnghiệp quốc phòng nói riêng

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của chuyên đề này là phương pháp nghiêncứu tại bàn (desk study)

Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp thông tin, tài liệu

Nguồn dữ liệu: các công trình nghiên cứu lý luận và thực nghiệm về quản lýđầu tư các dự án như sách chuyên khảo, tài liệu hội thảo chuyên đề, nghiên cứu thựcnghiệm, đề tài khoa học và công nghệ các cấp, luận văn, luận án tiến sĩ, văn bảnpháp luật ở Việt Nam và thông tin chuyên đề trên các website…

5 Kết cấu chuyên đề

Trang 3

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, Chuyên đề được kết cấu

Trang 4

CHƯƠNG I QUAN NIỆM VÀ NỘI DUNG CỦA QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÁC DỰ ÁN SẢN XUẤT KINH DOANH THUỘC NGÀNH CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG 1.1 Quan niệm về quản lý đầu tư các dự án

Đầu tư là nhân tố cơ bản quyết định sự phát triển, là chìa khóa tăng trưởngcủa mỗi quốc gia nói chung, ngành công nghiệp quốc phòng cũng như Tập đoànkinh tế nói riêng Đầu tư hợp lý và nâng cao hiệu quả đầu tư của ngành công nghiệpquốc phòng cũng như Tập đoàn kinh tế sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh,thúc đẩy tăng trưởng cao và ổn định cho ngành công nghiệp quốc phòng cũng nhưTập đoàn kinh tế, góp phần phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, cũng như góp phầnthực hiện thắng lợi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủnghĩa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa,đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần củangười lao động

Đầu tư là hoạt động có tính liên ngành, do đó, quản lý hoạt động đầu tư củangành công nghiệp quốc phòng cũng như Tập đoàn kinh tế là yêu cầu khách quannhằm nâng cao hiệu quả đầu tư Quản lý, theo nghĩa chung, là sự tác động có mụcđích của chủ thể vào các đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu quản lý đềra

Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt độngkinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần,phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự

án đầu tư

QUAN LY DTU LÀ GÌ

Dự án đầu tư: có nhiều cách định nghĩa dự án Tuy nhiên theo mục đích mà

Trang 5

nhấn mạnh một khía cạnh nào đấy Trên phương diện phát triển, có hai cách hiểu về

dự án: cách hiểu “tĩnh” và cách hiểu “động” Theo cách hiểu “tĩnh” thì dự án là hìnhtượng về một tình huống (một trạng thái) mà ta muốn đạt tới Theo cách hiểu thứhai “động” có thể định nghĩa dự án như sau:

Theo nghĩa chung nhất, dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, mộtnhiệm vụ cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theomột kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới

Như vậy, theo định nghĩa này thì: (1) Dự án không chỉ là một ý định phácthảo mà có tính cụ thể và mục tiêu xác định; (2) Dự án không phải là một nghiêncứu trừu tượng mà tạo nên một thực thể mới

Trên phương diện quản lý, có thể định nghĩa dự án như sau:

Dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụduy nhất

Định nghĩa này nhấn mạnh hai đặc tính: (1) Nỗ lực tạm thời (hay có thờihạn) Nghĩa là, mọi dự án đầu tư đều có điểm bắt đầu và kết thúc xác định Dự ánkết thúc khi mục tiêu của dự án đã đạt được hoặc dự án bị loại bỏ; (2) Sản phẩmhoặc dịch vụ duy nhất Sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất là sản phẩm hoặc dịch vụkhác biệt so với những sản phẩm tương tự đã có hoặc dự án khác

Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hànhcác hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xácđịnh

Quản lý đầu tư các dự án là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướngmục tiêu vào quá trình đầu tư (bao gồm công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư

và vận hành kết quả đầu tư) và các yếu tố đầu tư bằng một hệ thống đồng bộ cácbiện pháp kinh tế xã hội, tổ chức kỹ thuật và các biện pháp khác nhằm đạt được kếtquả, hiệu quả đầu tư và hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất trong điều kiện cụ thể xácđịnh và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật khách quan và quy luật đặc thù

Trang 6

của đầu tư.

XEM LAI QYAN LYSD DỰ ÁN CÓ KHÁC QUẢN LÝ ĐÂU TƯ CÁC

Quản lý đầu tư các dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian,nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho các dự ánhoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêucầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp

và điều kiện tốt nhất cho phép

Quản lý đầu tư các dự án sản xuất kinh doanh thuộc ngành công nghiệp quốcphòng cũng như Tập đoàn Viettel là nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu hoạt động,chiến lược phát triển, mục tiêu sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh tế tàichính, cụ thể là nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốnđầu tư, nâng cao năng xuất lao động, đổi mới công nghệ và tiết kiệm chi phí,

1.2 Sự cần thiết phải tiến hành quản lý đầu tư các dự án THUÔC TỔNG CUC

CN QUÔC PHÒNG

Công nghiệp quốc phòng là một phần quan trọng của thực lực, tiềm lực quốcphòng - an ninh của đất nước và là một bộ phận của công nghiệp quốc gia Do đó,quản lý hoạt động đầu tư các dự án sản xuất kinh doanh thuộc ngành công nghiệpquốc phòng có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trang 7

Để đáp ứng nhu cầu về trang thiết bị kỹ thuật của lực lượng vũ trang trongchiến tranh, ngành công nghiệp quốc phòng chú trọng đầu tư các dự án sản xuấtkinh doanh để nâng cao khả năng tự chủ sản xuất trang thiết bị trong nước để thaythế mua sắm trang thiết bị kỹ thuật từ nước ngoài là điều tất yếu và cũng là chiếnlược phù hợp đối với điều kiện kinh tế của nước ta, góp phần tiết kiệm chi phí sảnxuất, bảo đảm kỹ thuật cho trang thiết bị được sản xuất, không lãng phí nguồn trangthiết bị hiện có trong biên chế và bảo đảm khả năng tự chủ sản xuất, cung cấp trangthiết bị cho lực lượng vũ trang trong chiến tranh.

Về vốn kinh doanh của ngành công nghiệp quốc phòng: có 05 đơn vị có tổngvốn kinh doanh hơn 500 tỷ đồng (Z113, Z181, Z195, Z189, Ba Son); có 08 doanhnghiệp có số vốn từ 200-500 tỷ đồng (Z111, Z127, Z131, Z175, Z176, Z183, Z173,Sông Thu); có 06 doanh nghiệp có từ 100-200 tỷ đồng (Z114, Z115, Z117, Z121,Z125, Z199); còn lại 02 doanh nghiệp có vốn thấp hơn 100 tỷ đồng Doanh nghiệp

có vốn kinh doanh lớn nhất là Tổng công ty Ba Son (954 tỷ đồng); thấp nhất là nhàmáy Z129 (85 tỷ đồng)

Về công tác đầu tư các dự án sản xuất kinh doanh: giai đoạn 2008-2018,ngành công nghiệp quốc phòng đã tổ chức triển khai thực hiện đầu tư 68 dự án sảnxuất kinh doanh

Ngành công nghiệp quốc phòng là ngành sử dụng vốn của ngân sách nhànước để đầu tư các dự án sản xuất kinh doanh, để tạo nên tài sản công, để phục vụcho lĩnh vực an ninh quốc phòng nên rất khó đánh giá về kết quả và hiệu quả đầu tư,hiệu quả sản xuất kinh doanh, nó cũng chịu sự giám sát của Bộ quốc phòng Các dự

án sản xuất kinh doanh thuộc ngành công nghiệp quốc phòng là các dự án đầu tưcông Đầu tư công có ý nghĩa quan trọng, đóng vai trò tạo nền tảng vật chất kỹ thuậtquan trọng cho đất nước, là “đòn bẩy” đối với một số ngành và vùng trọng điểm,đồng thời thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh.Những năm qua, đầu tư công đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển và hoàn thiện

hệ thống kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội đất nước Tuy vậy, trong thờigian qua, hiệu quả của phần lớn các dự án đầu tư công còn thấp, ảnh hưởng tiêu cực

Trang 8

đến sự phát triển kinh tế - xã hội Hiện nay, đầu tư công được Đảng, Nhà nước và cả

hệ thống chính trị theo dõi, giám sát quyết liệt, đòi hỏi sử dụng tiết kiệm, hiệu quảngân sách nhà nước, đảm bảo hiệu quả đầu tư cao Nhà nước đã ban hành nhiều vănbản pháp quy nhằm cải thiện chất lượng theo dõi và đánh giá thực hiện đầu tư công,song chưa quy định được cụ thể các tiêu chí, phương pháp và kỹ thuật đánh giá hiệuquả các dự án đầu tư công nên ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư công

Trong thực tế hoạt động đầu tư các dự án của các doanh nghiệp thuộc ngànhcông nghiệp quốc phòng còn rất nhiều bất cập vì thế tác giả quyết định lựa chọncông tác quản lý đầu tư các dự án sản xuất kinh doanh thuộc ngành công nghiệpquốc phòng để nghiên cứu

Bộ quốc phòng đã triển khai thực hiện chương trình công nghiệp quốcphòng, trong đó có các dự án sản xuất kinh doanh trang thiết bị theo Nghị quyết 27-NQ/TW ngày 16/6/2003 và Nghị quyết 06-NQ/TW ngày 16/7/2011 của Bộ Chínhtrị về xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng Các dự án triển khai thànhcông đã nâng cao khả năng sản xuất trang thiết bị của ngành công nghiệp quốcphòng, góp phần cung cấp trang thiết bị cho Quân đội, giảm nhập khẩu, tiết kiệmngân sách nhà nước Tuy vậy, trong quá trình quản lý đầu tư các dự án sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp quốc phòng vẫn tồn tạimột số hạn chế cơ bản như sau:

Thứ nhất, Còn tồn tại một số bất cập trong quản lý đầu tư các dự án sản xuấtkinh doanh như đầu tư dàn trải, trùng lặp; chất lượng lập một số dự án chưa cao;năng lực nhận chuyển giao công nghệ còn hạn chế, nhất là các dự án phức tạp, hàmlượng công nghệ cao; nhiều dự án còn phải điều chỉnh, kéo dài tiến độ; các dự ánchậm tiến độ, chi phí dự án cao, hiệu quả một số dự án chưa đạt so với thuyết minh

dự án,

Thứ hai, Quản lý đầu tư các dự án sản xuất kinh doanh còn một số tồn tạitrong việc chấp hành các chính sách chế độ của nhà nước ở các khâu lập dự án,thẩm định dự án, phê duyệt thiết kế dự án, dự toán dự án, việc tuân thủ Luật đấu

Trang 9

thầu về phê duyệt hình thức lựa chọn nhà thầu, tiến độ thực hiện một số dự án bịchậm và việc lập, trình và chậm phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành đã làm ảnhhưởng đến tính hiệu lực của dự án.

Thứ ba, Quản lý đầu tư các dự án sản xuất kinh doanh còn có một số tồn tạinhư việc lập dự toán chưa chính xác làm tăng giá gói thầu, nghiệm thu thanh toánkhối lượng, đơn giá, định mức chưa đúng so với thực tế thi công, một số hạng mụccông việc tại một số dự án thi công xong phải dỡ bỏ làm tăng chi phí đầu tư, nhiều

dự án thực hiện chậm tiến độ đã làm ảnh hưởng đến tính kinh tế của dự án

Thứ tư, Công tác đầu tư các dự án sản xuất kinh doanh chiếm tỷ trọng tiềnvốn đầu tư rất lớn đối với ngành công nghiệp quốc phòng nên việc quản lý đầu tưcác dự án sản xuất kinh doanh tốt là vấn đề rất quan trọng, sẽ giúp ngành côngnghiệp quốc phòng giảm thiểu các tổn thất và phát huy tốt hiệu quả sử dụng vốn đầutư

Trong số các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp quốc phòng thì Viettelnổi lên như một doanh nghiệp tiêu biểu bởi vì:

 Viettel là đơn vị mạnh nhất của ngành công nghiệp quốc phòng.Viettel là đơn vị đóng góp cho ngân sách nhà nước nhiều nhất

 Viettel là đơn vị thuộc ngành công nghiệp quốc phòng có số vốn kinhdoanh lớn nhất (Vốn điều lệ: 131.956.879.937.045 đồng)

 Viettel được thực hiện cơ chế trích 10% lợi nhuận trước thuế hàngnăm làm quỹ nghiên cứu phát triển, tương đương với khoảng 2.500 tỷđồng

 Trong giai đoạn 2008-2018, Viettel đã triển khai đầu tư 38 dự án sảnxuất kinh doanh thuộc ngành công nghiệp quốc phòng (chiếm trên50% tổng số dự án của ngành công nghiệp quốc phòng)

 Viettel đang nắm giữ một vị trí rất quan trọng trong ngành côngnghiệp quốc phòng Trong những năm gần đây, Viettel đã đầu tư các

dự án nghiên cứu, thiết kế, chế tạo một số chủng loại vũ khí, trangthiết bị, các hệ thống trang thiết bị không những đáp ứng kịp thời nhucầu sản xuất kinh doanh của Viettel, mà còn góp phần xây dựng chiến

Trang 10

lược về đảm bảo trang thiết bị cho ngành công nghiệp quốc phòng.Đây là một lĩnh vực mới, góp phần thực hiện chiến lược trang bị chohiện đại hóa Quân đội Nhân dân Việt Nam, thực hiện Nghị quyết của

Bộ Chính trị về xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm

2020 và những năm tiếp theo Nhằm thực hiện nhiệm vụ sản xuấttrang thiết bị phục vụ nhiệm vụ Quốc phòng, Viettel đã chủ độngtham gia thực hiện thành công một số dự án nghiên cứu, thử nghiệm

và sản xuất trang thiết bị quân sự, như: hệ thống thông tin quân sự, hệthống rada, máy bay không người lái, hệ thống giám sát, quản lý vùng

trời, Bên cạnh nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế đất

nước, Viettel đã tham gia nghiên cứu, phát triển, sản xuất những trangthiết bị quân sự Đây là bước phát triển rất mới, đúng hướng củaViettel Việc nghiên cứu, đầu tư các dự án cho phát triển các sản phẩm

đó đã góp phần tích cực vào việc bảo đảm trang thiết bị cho Quân đội

ta và làm chủ trang thiết bị trong triển khai thực hiện nhiệm vụ

 Ngày 19/07/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số1059/QĐ-TTg về việc công nhận Viettel là doanh nghiệp quốc phòng,

an ninh Đây là sự ghi nhận, tin tưởng của Đảng, Nhà nước, Bộ Quốcphòng với những kết quả mà Viettel đạt được trong việc nghiên cứusản xuất trang thiết bị quân sự trong thời gian qua Với những nỗ lựcsản xuất kinh doanh luôn đạt kết quả cao, xây dựng hạ tầng mạng lướiviễn thông rộng khắp, được công nhận là hạ tầng mạng thông tin quân

sự thứ hai của Quốc gia, làm nhiệm vụ vu hồi dự phòng cho mạngthông tin quân sự, Viettel đã chủ động tham gia và phát triển nền côngnghiệp công nghệ cao nói chung và công nghiệp quốc phòng nóiriêng

 Ngày 05/01/2018 trở thành một cột mốc mới trong lịch sử Viettelkhi Thủ tướng ký quyết định ban hành Nghị định về điều lệ tổ chức vàhoạt động của Công ty mẹ - Tập đoàn Viettel Theo đó, Tập đoànViễn thông Quân đội chính thức đổi tên thành Tập đoàn Công nghiệp

- Viễn thông Quân đội Mục tiêu hoạt động của Tập đoàn Côngnghiệp - Viễn thông Quân đội cũng được nêu trong Nghị định mới là

“Xây dựng tổ hợp công nghiệp quốc phòng công nghệ cao, gắn kếtgiữa công nghiệp quốc phòng với công nghiệp quốc gia”

Trang 11

Do vậy, việc đánh giá đúng thực trạng cũng như hiệu quả hoạt động đầu tưcác dự án sản xuất kinh doanh thời gian qua làm rõ những thành công, hạn chế,nguyên nhân ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư các dự án sản xuất kinh doanh, đề ranhững giải pháp quản lý đầu tư các dự án sản xuất kinh doanh phù hợp để nâng caohiệu quả đầu tư các dự án sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc ngànhcông nghiệp quốc phòng nói chung và Viettel nói riêng, nhằm đạt được các mụctiêu chiến lược của ngành công nghiệp quốc phòng là rất cần thiết, để góp phầnkhắc phục những tồn tại trên, phát huy hơn nữa vị trí và vai trò của ngành côngnghiệp quốc phòng cũng như Viettel đối với nền kinh tế nói riêng, an ninh xã hộinói chung.

Trên cơ sở nghiên cứu về ngành công nghiệp quốc phòng nói chung vàViettel nói riêng thì tác giả nhận thấy công tác quản lý hoạt động đầu tư các dự ánsản xuất kinh doanh thuộc ngành công nghiệp quốc phòng nói chung và Viettel nóiriêng còn nhiều bất cập Theo khảo sát của tác giả thì Viettel cũng có những hạnchế, khó khăn giống như các doanh nghiệp khác trong ngành công nghiệp quốcphòng Vì vậy, tác giả lựa chọn ngành công nghiệp quốc phòng để nghiên cứu vàchọn Viettel như một ví dụ điển hình để nghiên cứu

1.2 Nội dung của quản lý đầu tư các dự án

NỘI DUNG Ở ĐÂY KHÁC VỚI CÁCH VIÊT Ở TRÊN LÀ QLDA

1.3.1 Nội dung quản lý đầu tư của Nhà nước

Nhà nước XHCN thực hiện chức năng quản lý kinh tế của mình trong đó cóviệc quản lý hoạt động đầu tư Nhà nước thống nhất quản lý đầu tư với các nội dungsau:

- Xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống luật pháp và những văn bản dưới luật liênquan đến hoạt động đầu tư nhằm tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động

Trang 12

đầu tư Nhà nước ban hành, sửa đổi, bổ sung luật đầu tư và các luật liênquan như luật thuế, luật đất đai, luật đấu thầu… và các văn bản dưới luậtnhằm, một mặt khuyến khích hoạt động đầu tư, mặt khác đảm bảo chocác công cuộc đầu tư thực hiện đúng luật và đạt hiệu quả cao.

- Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đầu tư Trên cơ sở chiến lược,quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của ngành,của các địa phương và vùng lãnh thổ, các cơ quan quản lý Nhà nước tiếnhành xây dựng các quy hoạch và kế hoạch đầu tư theo ngành, địa phương

và vùng lãnh thổ, xác định nhu cầu về vốn, nguồn vốn, các giải pháp huyđộng vốn… Từ đó xác định danh mục các dự án ưu tiên

- Ban hành kịp thời các chính sách chủ trương đầu tư Nhà nước ban hànhcác chính sách, chủ trương quan trọng như chính sách tài chính tiền tệ, tíndụng linh hoạt, chính sách ưu đãi đầu tư… nhằm cải thiện môi trường vàthủ tục đầu tư Nhà nước đề ra các giải pháp nhằm huy động tối đa vàphát huy có hiệu quả mọi nguồn vốn đầu tư, đặc biệt vốn trong dân vàvốn đầu tư nước ngoài; trên cơ sở đó phân tích đánh giá hiệu quả của hoạtđộng đầu tư, kịp thời điều chỉnh bổ sung những bất hợp lý, chưa phù hợptrong cơ chế, chính sách

- Ban hành các định mức kinh tế - kỹ thuật, các chuẩn mực đầu tư: Nhànước mà đại diện là các ngành thống nhất quản lý các định mức kinh tế -

kỹ thuật liên quan đến ngành mình như ban hành những quy định về yếucầu thiết kế thi công, tiếu chuẩn chất lượng, môi trường…

- Xây dựng chính sách cán bộ thuộc lĩnh vực đầu tư, đào tạo, huấn luyệnđội ngũ cán bộ chuyên môn, chuyên sâu cho từng lĩnh vực của hoạt độngđầu tư

- Đề ra chủ trương và chính sách hợp tác đầu tư với nước ngoài, chuẩn bịcác nguồn lực tài chính, vật chất và nhân lực để hợp tác có hiệu quả cao

- Thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát Các cơ quan quản lý Nhà nướcthực hiện chức năng kiểm tra giám sát việc tuân thủ pháp luật của các chủ

Trang 13

đầu tư, xử lý những vi phạm pháp luật, quy định của Nhà nước, nhữngcam kết của chủ đầu tư (như chuyển nhượng, bổ sung mục tiêu hoạtđộng, tăng vốn để đầu tư chiều sâu, gia hạn thời gian hoạt động, giảithể…).

- Quản lý trực tiếp nguồn vốn Nhà nước Nhà nước đề ra các giải pháp đểquản lý và sử dụng nguồn vốn của Nhà nước từ khâu xác định chủ trươngđầu tư, phân phối vốn, đến việc thi công xây dựng và vận hành côngtrình Đối với các dự án đầu tư nhóm A sử dụng vốn Ngân sách Nhà nướcThủ tướng Chính phủ ra quyết định đầu tư hoặc ủy quyền quyết định đầu

tư, thẩm định dự án

- Quản lý trực tiếp đầu tư vào hoạt động công ích Nhà nước đầu tư vào sảnxuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thông qua hình thức giao kếhoạch, đặt hàng hoặc đấu thầu Tổ chức cá nhân thuộc mọi thành phầnkinh tế đều được bình đẳng tham gia sản xuất cung ứng sản phẩm, dịch

vụ công ích Nhà nước ban hành chính sách hỗ trợ các hoạt động công ích

và danh mục sản phẩm dịch vụ công ích

1.3.2 Nội dung quản lý đầu tư của các Bộ, ngành và các địa phương

- Các Bộ, ngành, địa phương xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đầu

tư của Bộ, ngành và địa phương mình

- Xây dựng danh mục các dự án cần đầu tư của ngành, địa phương.

- Xây dựng các kế hoạch huy động vốn.

- Hướng dẫn các nhà đầu tư thuộc ngành, địa phương mình lập dự án tiền khả

thi và khả thi

- Ban hành những văn bản quản lý thuộc ngành, địa phương mình liên quan

đến đầu tư

- Lựa chọn đối tác, đàm phán ký kết hợp đồng liên doanh liên kết trong hợp

tác đầu tư với nước ngoài

Trang 14

- Trực tiếp kiểm tra giám sát quá trình hoạt động của các dự án đầu tư thuộc

ngành, địa phương theo chức năng nhiệm vụ được phân cấp quản lý

- Hỗ trợ và trực tiếp xử lý những vấn đề phát sinh trong quá trình đầu tư như

cấp đất, giải phóng mặt bằng, thuê và tuyển dụng lao động, xây dựng côngtrình…

- Kiến nghị với cấp trên điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung những bất hợp lý trong

cơ chế chính sách, quy định dưới luật… nhằm nâng cao hiệu quả quản lýNhà nước và hiệu quả kinh tế - xã hội của đầu tư

QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CỦA CUC CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG THẾ NÀO

1.3.3 Nội dung quản lý đầu tư ở cấp cơ sở

Ở ĐÂY CÓ THỂ TRÌNH BÀY NỘI DUNG QL ĐTU CỦA TCT VIETTEL

Quản lý đầu tư ở các cơ sở là một bộ phận không tách rời của hoạt độngquản lý nói chung và sản xuất kinh doanh dịch vụ nói riêng Nội dung chủ yếu củahoạt động đầu tư ở cấp cở sở là:

- Xây dựng chiến lược, kế hoạch đầu tư phù hợp Đối với cấp cơ sở, chiếnlược và kế hoạch đầu tư phải phù hợp và phục vụ chiến lược, kế hoạch sảnxuất kinh doanh của đơn vị Những chiến lược và kế hoạch đầu tư ở cơ sởbao gồm kế hoạch huy động vốn, kế hoạch thực hiện tiến trình đầu tư, kếhoạch thu chi của các công trình đầu tư, kế hoạch trả nợ…

- Tổ chức lập dự án đầu tư: Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, quản lý hoạtđộng đầu tư của các cơ sở được thực hiện ngay từ khi xây dựng ý tưởng dự

án đến các giai đoạn lập dự án tiền khả thi và khả thi

- Tổ chức quản lý quá trình thực hiện đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư.Nội dung quản lý trong giai đoạn thực hiện đầu tư là tổ chức đấu thầu để lựa

Trang 15

chọn nhà thầu, ký kết hợp đồng, quản lý tiến độ, vốn đầu tư, chất lượng, rủi

ro, thông tin, hoạt động mua bán… Trong giai đoạn vận hành, nội dung cơbản của quản lý đầu tư là quản lý tốt máy móc thiết, thực hiện duy tu bảodưỡng thường xuyên, sử dụng tối đa công suất…

- Điều phối, kiểm tra, đánh giá hoạt động đầu tư của cơ sở nói chung và củatừng dự án đầu tư trong cơ sở nói riêng

1.4 Lịch sử phát triển của quản lý đầu tư các dự án

Lịch sử phát triển các phương pháp quản lý đầu tư các dự án gắn liền với các

kỳ quan của thế giới như Kim Tự Tháp Ai Cập hay Vạn Lý Trường Thành củaTrung Quốc Đó là các công trình xây dựng lớn, độ tiêu chuẩn cao, hầu hết đã đượckiểm nghiệm bởi thời gian

Quản lý đầu tư các dự án hiện đại ra đời gắn với sự phát triển của biểu đồGANTT (đầu những năm 1900) và các kỹ thuật quản lý đầu tư các dự án trong lĩnhvực quân sự Mỹ vào những năm 1950 và 1960 Các kỹ thuật quản lý này đã pháttriển ở trình độ cao với sự trợ giúp tích cực của các phần mềm máy tính

Theo truyền thống, quản lý đầu tư các dự án được xem là một nghệ thuật hơn

là khoa học Tuy nhiên, với sự phát triển của các học viện quản lý dự án, các kỹnăng, kiến thức hiện đại, quản lý dự án ngày càng trở thành một môn khoa học vì nó

đã bắt kịp được thực tiễn ngày càng phát triển và đặc biệt đã trở thành kiến thứcchung toàn cầu cho các nhà quản lý đầu tư các dự án

Quản lý đầu tư các dự án đã trải qua các thời kỳ chủ yếu gắn với sự ra đờicủa các kỹ thuật quản lý chính sau đây:

Trang 16

chứng minh tính ưu việt của nó qua thời gian và ngày nay vẫn được sử dụng rộngrãi trong các công tác lập kế hoạch.

1.4.2 Quản lý đầu tư các dự án trong những năm 1950 và 1960

Những năm 1950, ngành công nghiệp quân sự Mỹ đã sử dụng kỹ thuật tổngquan và đánh giá dự án (PERT) và phân tách công việc (WBS) để quản lý dự ánphát triển hệ thống tên lửa Cùng thời gian này, ngành công nghiệp xây dựng Mỹcũng đã sang lập ra phương pháp đường gang CPM để quản lý đầu tư các dự án xâydựng

Một số thành tựu chủ yếu trong giai đoạn này như sau:

 Những năm 1950: phát triển PERT và CPM

 1960: NASA áp dụng cơ cấu tổ chức quản lý dự án dạng ma trận

 1962: NASA áp dụng hệ thống PERT nhưng nhấn mạnh yêu cầu quản

lý chi phí và phân tách công việc (WBS)

 1963: ứng dụng kỹ thuật “phân tích giá trị thu được” (Earned value)để quản lý chi phí

 1967: Hội quản lý dự án quốc tế được thành lập (IPMA)

 1969: Viện quản lý dự án (PMI) được thành lập và PMBOK (sáchhướng dẫn quản lý dự án) được xuất bản và sau đó được tái bản nhiềulần

Để quản lý đầu tư các dự án hiệu quả rất cần thiết phải chỉ rõ mối quan hệtheo thời gian và logic giữa các công việc Khi dự án trở nên phức tạp vàlớn, biểu đồ GANTT đã không cho thấy được đầy đủ và chính xác mốiquan hệ logic giữa các công việc Trong điều kiện đó, khi xây dựngphương pháp PERT hay CPM, các nhà quản lý dự án đã đưa ra kỹ thuậtxây dựng mạng công việc theo phương pháp AOA (Activity on Arrow)

và phương pháp AON (Activity on Node)

Trang 17

Một trong những khác nhau cơ bản giữa PERT và CPM là việc xácđịnh thời gian thực hiện các công việc CPM do giải quyết bài toán xâydựng nên thời gian thực hiện từng công việc được dự tính trên cơ sở cácthông tin quá khứ PERT ra đời để quản lý loại dự án mới, chưa có trongquá khứ nên sử dụng phân phối beta (β) để xác định độ dài thời gian từngcông việc Ngoài ra CPM còn giải quyết mối quan hệ đánh đổi giữa thờigian và chi phí thực hiện từng công việc Ví dụ về phương pháp AOA vàAON thể hiện qua Bảng 1 và Hình 1

Công việc Công việc trước Thời gian (ngày)

Bảng 1: Công việc và thời gian thực hiện các công việc của dự án A

Hình 1: Sơ đồ mạng theo AOA và AON của ví dụ trong bảng 1.1

EE

FF

D

B

B

EB

A

D

DB

Trang 18

Về tổ chức quản lý đầu tư các dự án Cho đến đầu những năm 1950, cơ cấu tổ chức

dự án chủ yếu theo mô hình chức năng Vào những năm 1950, quản lý đầu tư các

dự án được thực hiện theo mô hình tổ chức mới: mô hình tổ chức theo dự án Theo

cơ cấu này, một người chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với dự án, cống hiến toàn bộthời gian và công sức cho dự án Tuy nhiên, khi dự án ngày càng phức tạp và pháttriển trên phạm vi toàn cầu, đòi hỏi phải có một mô hình tổ chức hợp lý, đủ sức đểquản lý dự án Do vậy hình thành nên mô hình tổ chức dự án dạng ma trận

1.4.3 Tổ chức quản lý đầu tư các dự án trong những năm 1970 và 1980

Những năm 1970 và 1980, quản lý đầu tư các dự án tiếp tục phát triển và trởthành một nghề với các công cụ và kỹ thuật ngày càng tiên tiến Nhiều tổ chức, hiệphội về đào tạo quản lý dự án được thành lập (Ví dụ: Hiệp hội quản lý dự án MỹPMI)

Quản lý dự án đã làm rõ mối quan hệ giữa các mục tiêu cơ bản, gồm: thờigian, chi phí và chất lượng dự án Các mục tiêu này được đặt trong quan hệ vớiphạm vi và cơ cấu tổ chức dự án như thể hiện ở Hình 2

Mục tiêu

Phạm vi

Chất lượngThời gian Cơ cấuTổ chức

Môitrường

Trang 19

Hình 2: Môi trường dự án

1.4.4 Quản lý đầu tư các dự án những năm 1990 đến nay

Khi cạnh tranh ngày càng gia tăng, cần có cơ cấu tổ chức linh hoạt và cáchtiếp cận quản lý hiệu quả hơn Các công ty đã hình thành nên phương pháp “quản lýbằng các dự án” nghĩa là phân chia dự án phức tạp thành các dự án thành phần (tiểu

dự án) để quản lý nhằm đối phó linh hoạt với sự thay đổi, áp dụng những ý tưởngmới và nâng cao sức cạnh tranh trên thương trường Thời kỳ này, phương pháp

“Quản lý chất lượng toàn diện” cũng được áp dụng trong lĩnh vực quản lý đầu tưcác dự án

Trang 20

CHƯƠNG 2

TIÊU CHÍ VÀ CHỈ TIÊU ĐO LƯỜNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÁC DỰ ÁN SẢN XUẤT KINH DOANH THUỘC NGÀNH CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG

2.1 Sự cần thiết và ý nghĩa của việc xây dựng bộ tiêu chí quản lý đầu tư các dự án

Kết quả trực tiếp đạt được của quản lý đầu tư các dự án được phản ánh thôngqua các chỉ tiêu thể hiện mức độ đạt được trong quá trình thi công xây dựng côngtrình, sự gia tăng tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực không chỉ chochủ đầu tư , mà cho cả nền kinh tế Việc xác định chính xác các chỉ tiêu đo lườngkết quả của quản lý đầu tư các dự án có vai trò quan trọng trong đánh giá hiệu quảcủa quản lý đầu tư các dự án, trong công tác quản lý đầu tư các dự án ở các cấp độquản lý

Nói tới đầu tư là nói tới hiệu quả đầu tư, vì hiệu quả đầu tư là mục đích cuốicùng của đầu tư, hiệu quả đầu tư được thể hiện trong mối quan hệ giữa lợi ích thuđược do đầu tư mang lại và chi phí bỏ ra để thực hiện đầu tư

Hiệu quả của dự án đầu tư là toàn bộ mục tiêu đề ra của dự án, được đánh giábằng các chỉ tiêu định tính (thể hiện ở các loại hiệu quả đạt được) và bằng các chỉtiêu định lượng (thể hiện quan hệ giữa chi phí đã bỏ ra của dự án và các kết quả đạtđược theo mục tiêu của dự án) Đánh giá sự đảm bảo hiệu quả dự án đầu tư (nộidung chính cần quan tâm khi xác định sự đảm bảo mục tiêu của dự án trong quátrình giám sát, đánh giá (đánh giá giữa kỳ, đánh giá cuối kỳ) các dự án đầu tư xâydựng công trình, đặc biệt là các dự án đầu tư bị chậm tiến độ) là yêu cầu tiên quyếtcần đặt ra khi thực hiện công tác giám sát, đánh giá dự án đầu tư xây dựng côngtrình

Trong một số nghiên cứu đã có, giám sát và đánh giá dự án đầu tư thườngđược thực hiện qua các công cụ như phương pháp sử dụng các mốc giới hạn,

Trang 21

phương phỏp kiờ̉m tra giới hạn, phương phỏp đường cong chữ S, phương phỏp giỏtrị thu được, bỏo cỏo tiến độ, cỏc cuộc họp bàn về dự ỏn, tham quan thực tế Cỏcphương phỏp này được triờ̉n khai qua 3 hệ thống giỏm sỏt là:

- Hệ thống giỏm sỏt tài chớnh: Hệ thống này theo dừi tất cả cỏc vấn đề tàichớnh trong dự ỏn như hợp đồng vay vốn, thanh toỏn, vốn đầu tư; cỏc khoản chi phớcũng như thu nhập của dự ỏn;

- Hệ thống giỏm sỏt quỏ trỡnh: Hệ thống này liờn quan đến việc thực hiện dự

ỏn và cỏc tổ chức liờn quan đến quản lý dự ỏn hiệu quả;

- Hệ thống giỏm sỏt hoạt động: Hệ thống này liờn quan đến việc ghi chộp cỏchoạt động thường ngày trong dự ỏn và đảm bảo rằng chỳng được thực hiện

Việc đỏnh giỏ hiệu quả kinh tế của dự ỏn đầu tư luụn được xem xột một cỏchtoàn diện về cỏc mặt: kinh tế, chớnh trị, tài chớnh, kỹ thuật, xó hội và quốc phũng,dựa trờn một hệ thống cỏc chỉ tiờu Trong đú, một số chỉ tiờu kinh tế - tài chớnh đượcxem là chỉ tiờu hiệu quả tổng hợp đờ̉ phõn tớch và đỏnh giỏ hiệu quả kinh tế của dự

ỏn đầu tư Cỏc chỉ tiờu kinh tế - tài chớnh này phản ỏnh một cỏch tổng hợp và tươngđối khỏi quỏt mọi mặt của dự ỏn, kờ̉ cả kỹ thuật lẫn xó hội

2.2 Tiờu chớ ĐO LƯỜNG quản lý đầu tư cỏc dự ỏn

NẾU THỂ PHÁI VIấT THEO 3 CẤP ĐỘ: QUẢN Lí NHÀ NƯỚC; BỒ VÀTONG CỤC; DOANH NGHIỆP

VIấT THEO 3 KấNH QUẢN Lí: DỰ ÁN; DN (TCT); QUẢN Lí CẤPTỔNG CỤC (NHÀ NƯỚC)

Các dự án đầu t đều nhằm vào mục tiêu kinh tế tài chính hoặc kinh tế xã hội.Trong chuyờn đề này, thớ sinh đề cập chủ yếu tới dự án đầu t với mục tiêu kinh tế tàichính Mục tiờu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là lợi nhuận Lợi nhuận có đ-

ợc do sản xuất kinh doanh và do tác động cung cầu của thị trờng mang lại

Các tiờu chớ đánh giá và phân tích kinh tế tài chính trong quản lý đầu tư cỏc

dự án:

Ngày đăng: 29/10/2022, 22:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w