Trên thực tế, lĩnh vực khoa học thông tin rất phức tạp, việc ăn cắp phần mềm máy tính dễ dàng và nhanh chóng, trong khi đó các quy định pháp luật nói trên lại chưa đủ cụ thể và chi tiết
Trang 1bảo vệ quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm trong pháp luật Mĩ phẩm phần mềm trong pháp luật Mĩ
ThS Nguyễn Thanh Tâm * rong hệ thống pháp luật hiện hành của
nước ta, vấn đề bảo vệ quyền tác giả đối
với sản phẩm phần mềm được quy định chủ
yếu tại Điều 747 BLDS, Điều 4 Nghị định số
76/CP ngày 29/11/1996 hướng dẫn thi hành
một số quy định về quyền tác giả trong
BLDS, Điều 131 và Điều 171 BLHS Nghị
quyết số 07/2000/NQ - CP ngày 5/6/2000
của Chính phủ về xây dựng và phát triển
công nghiệp phần mềm giai đoạn 2000 -
2005 Trên thực tế, lĩnh vực khoa học thông
tin rất phức tạp, việc ăn cắp phần mềm máy
tính dễ dàng và nhanh chóng, trong khi đó
các quy định pháp luật nói trên lại chưa đủ
cụ thể và chi tiết để bảo vệ được quyền tác
giả đối với sản phẩm phần mềm Việc tham
khảo, xem xét kinh nghiệm pháp luật của các
nước khác để phát triển và hoàn thiện pháp
luật nước mình cũng là việc nên làm Bên
cạnh đó, sự kiện kí kết Hiệp định thương mại
Việt - Mĩ ngày 13/7/2000 cũng đòi hỏi giới
luật gia, các doanh nghiệp và các ngành có
liên quan phải hiểu biết về pháp luật Mĩ để
phát triển quan hệ thương mại giữa hai nước
trong tương lai Bài viết này có mục đích giới
thiệu pháp luật của nước Mĩ về bảo vệ quyền
tác giả đối với sản phẩm phần mềm
1 Hệ thống pháp luật Mĩ về bảo vệ
quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm
Người Mĩ quan niệm rằng những gì con
người tạo ra bằng trí tuệ cũng phải được coi
trọng ngang với những gì xây dựng nên bằng
đôi tay Phần 8 Điều 1 Hiến pháp Mĩ quy
định: “ khuyến khích, thúc đẩy sự phát triển của khoa học và nghệ thuật hữu ích bằng cách bảo đảm trong một thời gian nhất
định những đặc quyền cho tác giả và những nhà phát minh đối với các tác phẩm và sáng chế của họ” Mục tiêu của pháp luật về sở hữu trí tuệ của Mĩ là bảo đảm cho thị trường thịnh vượng, phong phú và cạnh tranh
Theo Hiến pháp Mĩ, về nguyên tắc, quyền lập pháp chủ yếu thuộc thẩm quyền của các bang, việc chính quyền cấp liên bang ban hành luật là ngoại lệ Điều đó nghĩa là các bang có pháp luật riêng để điều chỉnh các quan hệ xc hội tại bang mình còn pháp luật liên bang chỉ điều chỉnh một số vấn đề nhất định, trong đó có vấn đề quyền sở hữu trí tuệ Kể từ năm 1976, Mĩ áp dụng duy nhất luật của liên bang liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ Luật bản quyền hiện hành đc loại
bỏ việc truy cứu trách nhiệm hình sự theo luật của bang đối với các tội phạm liên quan
đến bản quyền Trong mọi trường hợp, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội liên quan đến bản quyền chỉ có thể
được tiến hành trong hệ thống luật liên bang
ở Mĩ phần mềm máy tính được bảo vệ
T
* Giảng viên Khoa luật quốc tế Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2bằng luật bản quyền và các điều ước quốc tế
về bản quyền mà Mĩ là thành viên Sau đây
là một số văn bản pháp luật Mĩ được áp dụng
để bảo vệ quyền tác giả đối với sản phẩm
phần mềm:
- Hiến pháp;
- Luật bản quyền được pháp điển hoá
trong Phần 17 và Phần 18, Mục 2319 - Bộ
luật Mĩ (U.S Code);
- Đạo luật thuế quan năm 1930, Mục
526, Mục 337: Quy định liên quan đến xử lí
hàng nhập khẩu vi phạm quyền sở hữu trí tuệ
của Mĩ;
- Mục 301 đặc biệt (Special 301) (Luật
thương mại và cạnh tranh Mĩ năm 1988);
- Các đạo luật về chống độc quyền đưa ra
một số hạn chế trong việc sử dụng quyền sở
hữu trí tuệ để chống độc quyền;
- Mĩ đc trở thành thành viên thứ 80 của
Công ước Bern vào năm 1988, đc tham gia
Hiệp định về các khía cạnh thương mại của
quyền sở hữu trí tuệ trong khuôn khổ WTO
(TRIP) và kí kết nhiều hiệp định song
phương, do đó, Mĩ cũng tuân thủ các quy
định của các điều ước quốc tế nói trên về bảo
vệ quyền tác giả đối với sản phảm phần
mềm
Luật bản quyền bảo vệ quyền của chủ sở
hữu phần mềm máy tính bằng cách bảo đảm
cho chủ sở hữu một số đặc quyền, bao gồm
quyền tái bản hoặc copy phần mềm Việc
copy phần mềm mà không được phép của
chủ sở hữu là “sự xâm phạm bản quyền” và
pháp luật sẽ áp dụng chế tài đối với người vi
phạm
Những sản phẩm phần mềm quen thuộc
đối với chúng ta hiện nay là: Microsoft
Windows (Windows, Windows NT
Workstation, MS - DOS, .), Microsoft Server, Internet Explorer, Netscape, Những hành vi sau đây được coi là copy một chương trình phần mềm:
- Tải phần mềm vào bộ nhớ tạm thời của máy tính bằng cách chạy chương trình từ đĩa mềm, đĩa cứng, CD - ROM hoặc phương tiện lưu trữ khác;
- Copy phần mềm lên phương tiện lưu trữ khác như đĩa mềm hoặc đĩa cứng của máy tính ;
- Chạy chương trình trên máy tính từ chương trình phụ mà trong đó có phần mềm hoặc lưu trữ phần mềm
Hầu như tất cả các phần mềm máy tính
được chuyển giao trực tiếp hoặc gián tiếp từ chủ sở hữu bản quyền (người phát hành phần mềm) cho người sử dụng thông qua loại hợp
đồng được gọi là “thoả thuận license dành cho người sử dụng cuối cùng” (EULA - End User License Agreement) Mỗi loại sản phẩm có một loại EULA tương ứng
Việc sử dụng các sản phẩm của các chủ
sở hữu phần mềm, chẳng hạn như Microsoft,
được điều chỉnh bằng các quy định của EULA và Luật bản quyền EULA là hợp
đồng cho phép sử dụng sản phẩm phần mềm
được chuyển giao và quy định các quyền của người sử dụng phần mềm Microsoft trên máy tính cá nhân Đồng thời EULA áp đặt một số hạn chế trong việc sử dụng phần mềm EULA bao gồm cả phần “Những bảo đảm của hợp đồng license” (“Grant of License”), trong đó quy định rõ cách thức sử dụng phần mềm
2 Các quyền của người sử dụng phần mềm và một số hạn chế đối với việc sử dụng phần mềm
Theo luật bản quyền và các điều ước quốc tế về bản quyền, sản phẩm phần mềm
Trang 3chỉ được chuyển giao (license), chứ không
được bán Trong phần “Những bảo đảm của
hợp đồng license” (Grants of License),
EULA bảo đảm cho người sử dụng một số
quyền sau đây:
- Về phần mềm: Người sử dụng được
phép cài đặt và sử dụng một copy của sản
phẩm phần mềm trên máy tính;
- Về dịch vụ mạng: Nếu sản phẩm phần
mềm bao gồm cả khả năng hoạt động như
một máy chủ (server) mạng thì các loại máy
tính hoặc máy trạm (workstation) đều được
phép tiếp cận hoặc sử dụng dưới mọi hình
thức dịch vụ mạng cơ sở của máy chủ này;
- Lưu trữ / sử dụng mạng: Người sử dụng
cũng được phép lưu trữ hoặc cài đặt một
copy của một bộ phận phần mềm máy tính
vào máy tính, để cho các máy tính khác sử
dụng phần mềm trên mạng nội bộ và phân
phối sản phẩm phần mềm cho các máy tính
khác trên một mạng nội bộ Tuy nhiên, các
máy tính này cũng phải có EULA Không
được phép sử dụng 1 EULA cho nhiều máy
tính;
- Lựa chọn hệ điều hành: Chẳng hạn, nếu
sản phẩm phần mềm có cả Windows 95
(hoặc các Windows khác) và “một hệ điều
hành Microsoft thay thế” như Windows for
Workgroups; MS - DOS & the Windows;
MS - DOS & the Windows for Workgroups;
hệ điều hành Windows thì người sử dụng chỉ
được phép sử dụng một trong các loại hệ điều
hành nói trên và hệ điều hành đó sẽ được cài
đặt vào máy tính còn các hệ điều hành không
được lựa chọn sẽ tự động bị huỷ từ ổ cứng
của máy tính;
- Nếu nhà sản xuất không có copy lưu
của sản phẩm phần mềm, người sử dụng
được phép sử dụng tác dụng lưu của
Microsoft, nếu có, để tạo một copy lưu duy nhất của sản phẩm phần mềm Người sử dụng chỉ được phép sử dụng copy lưu với lí
do lưu trữ Sau khi tạo copy lưu duy nhất, tác dụng lưu sẽ bị mất khả năng hoạt động Ngoài ra, người sử dụng phải chấp nhận một số hạn chế sau đây:
- Người sử dụng không được phép thiết
kế dự trữ, tháo dỡ sản phẩm phần mềm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
- Không được phép tháo các bộ phận để
sử dụng trên nhiều máy tính Sản phẩm phần mềm được chuyển giao dưới dạng sản phẩm duy nhất;
- Chỉ được phép sử dụng sản phẩm phần mềm với một máy tính Sản phẩm phần mềm
được chuyển giao với máy tính dưới dạng một sản phẩm nguyên vẹn duy nhất;
- Người sử dụng không được phép cho thuê hoặc đi thuê sản phẩm phần mềm;
- Nếu sản phẩm phần mềm không có ở trong hệ thống máy tính mới, người sử dụng không được phép copy sản phẩm phần mềm
ở nơi khác đem vào để sử dụng Không được phép làm copy thứ hai của phần mềm hệ điều hành (như Windows 95 hoặc Windows 98) cho máy tính ở nhà, ở cơ quan hoặc máy tính xách tay Quyền làm copy thứ hai chỉ áp dụng đối với một số sản phẩm ứng dụng và không áp dụng cho phần mềm hệ điều hành Ngoài các quyền được nêu trên, người sử dụng được phép chuyển giao các quyền của mình được ghi nhận trong EULA dưới dạng bán máy tính, với điều kiện người bán không
được giữ lại bất cứ một copy nào và chuyển giao toàn bộ sản phẩm phần mềm (bao gồm toàn bộ các bộ phận cấu thành như các phương tiện, các tài liệu in sẵn, các chương trình nâng cấp) đồng thời người mua đồng ý
Trang 4tuân thủ các quy định của EULA Nếu sản
phẩm phần mềm là sản phẩm nâng cấp thì
việc chuyển giao phải bao hàm toàn bộ bản
gốc của sản phẩm phần mềm
3 Các quyền của chủ sở hữu phần
mềm
Chủ sở hữu phần mềm được phép đình
chỉ EULA nếu người sử dụng không tuân thủ
các quy định của EULA Trong trường hợp
này, người sử dụng phải huỷ toàn bộ các bản
copy của sản phẩm phần mềm và toàn bộ các
bộ phận cấu thành của nó
Pháp luật Mĩ cũng quy định những
trường hợp ngoại lệ của đặc quyền của chủ
sở hữu bản quyền đối với sản phẩm phần
mềm như sau:
- Chính phủ có thể tịch thu, quốc hữu hoá
tài sản công dân, trong đó có cả tài sản trí tuệ
(bao hàm sản phẩm phần mềm) theo nguyên
tắc có bồi thường;
- Mọi người có thể sử dụng tác phẩm
được bảo vệ bản quyền cho mục đích bình
luận, đưa tin, giảng dạy, nghiên cứu
Pháp luật Mĩ đưa ra những ngoại lệ nhằm
làm hài hoà lợi ích của người sở hữu bản
quyền và nhu cầu được tiếp cận tri thức của
công chúng Trong những trường hợp này,
công chúng có thể tiếp cận sản phẩm phần
mềm (chẳng hạn như sao dự trữ các chương
trình máy tính) nhưng với một số điều kiện,
thông thường là phải trả khoản lệ phí cho Hội
bản quyền
Theo luật Mĩ, việc đăng kí quyền tác giả
là điều kiện tiên quyết để chống lại bất kì
hành vi vi phạm dân sự hoặc hình sự nào
Việc đăng kí quyền tác giả đòi hỏi phải làm
đơn xin đăng kí, thanh toán phí thụ lí và gửi
tác phẩm để lưu giữ tại thư viện của Quốc
hội
Nhiều nước trên thế giới, trong đó có nước Mĩ, đc theo đuổi những tiêu chuẩn tối thiểu và quy chế đối xử quốc gia được quy
định trong Công ước Bern về bảo vệ các tác phẩm văn học và nghệ thuật (sửa đổi lần cuối cùng năm 1979) Theo Công ước, quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học và nghệ thuật, bao hàm cả phần mềm máy tính, được bảo hộ trong suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo
4 Vi phạm quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm và xử lí vi phạm
Vi phạm quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm thường thể hiện dưới các dạng hành vi sau đây:
- Sao chép lậu phần mềm Sao chép lậu phần mềm là việc sao chép, tái bản, sử dụng, sản xuất sản phẩm phần mềm bất hợp pháp
Tỉ lệ sao chép lậu trung bình là 50% ở một
số nước, tỉ lệ đó là 99%
- Lạm dụng license Lạm dụng license thường xuất hiện ở các cơ sở nghiên cứu khoa học; hoặc lạm dụng những sản phẩm
được phân phối dưới dạng sản phẩm khuyến mại, sản phẩm mẫu (sản phẩm Not for Resale - NFR) vào mục đích thương mại
- Tội phạm liên quan đến bản quyền đối với sản phẩm phần mềm
Trước kia, để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật sở hữu trí tuệ đòi hỏi tốn nhiều công sức Chẳng hạn, phải tự in sao các băng nhạc, băng hình để tiêu thụ lậu Còn hiện nay, cuộc cách mạng tin học và kĩ thuật số
đc liên tục làm thay đổi hoạt động trên Các hình ảnh, phim, kế hoạch kinh doanh được
vi tính hoá và lưu giữ trên các đĩa thông tin
có thể cho vào túi áo, túi quần Người ta không cần phải làm động tác đánh cắp đồ vật
Trang 5nữa mà chỉ cần tải xuống các thông tin, thực
hiện lệnh copy hoặc truyền cho đồng phạm
bằng phương tiện điện tử (e-mail) chỉ với
động tác nhấn con chuột máy tính Nói
chung, những kẻ đánh cắp phần mềm thường
hiểu biết sâu sắc về tin học Những hoạt
động phạm tội thường dưới dạng đánh cắp và
làm giả phần mềm máy tính, chương trình trò
chơi điện tử Đường dây làm giả phần mềm
của Intel, Microsoft thường tập trung ở
Hongkong, Singapore Nạn đánh cắp chương
trình trò chơi điện tử ước tính đc làm thiệt
hại cho ngành công nghiệp phần mềm giải trí
của Mĩ khoảng 3,2 tỉ USD vào năm 1996
Những kẻ đánh cắp và bán các bản sao trò
chơi bất hợp pháp với giá thấp hơn nhiều so
với giá thị trường, khiến công sức làm việc
trong khoảng 18 tháng và chi phí từ 1,3 đến 2
triệu USD để tạo ra chương trình trò chơi trở
thành vô ích Những hoạt động phạm tội đc
làm thiệt hại doanh thu cho ngành công
nghiệp phần mềm đến mức báo động Theo
Báo cáo điều tra về tội phạm đánh cắp phần
mềm toàn thế giới năm 1997 của Liên minh
phần mềm kinh doanh (BSA) và Hiệp hội
xuất bản phần mềm (SPA), hoạt động đánh
cắp phần mềm gây thiệt hại 2,3 tỉ USD hàng
năm, chiếm 23% thiệt hại do các hoạt động
đánh cắp gây ra Năm 1998, 38% các ứng
dụng phần mềm kinh doanh cho các máy
tính trên toàn thế giới bị ăn cắp Riêng năm
1999, hoạt động ăn cắp phần mềm làm nền
kinh tế Mĩ thiệt hại 12,2 tỉ USD, trong khi đó
thiệt hại từ năm 1995 đến năm 1999 là 59 tỉ
USD Điều này cho thấy, tình trạng ăn cắp
phần mềm ở Mĩ ngày càng gia tăng.(1)
Pháp luật Mĩ sử dụng các biện pháp sau
đây để xử lí vi phạm bản quyền đối với sản
phẩm phần mềm:
- Đối với các vi phạm mang tính dân sự (Bộ luật Mĩ, phần 17) mà người khởi kiện là chủ sở hữu bản quyền thì toà án có thể: + Yêu cầu bị đơn chấm dứt vi phạm hoặc ngăn chặn các hàng hoá vi phạm tiếp cận thị trường;
+ Ra lệnh bắt giữ hoặc phá huỷ tài sản vi phạm của bị đơn và bất kì vật dụng, hàng hoá nào được sử dụng để sản xuất ra mặt hàng vi phạm;
+ Yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại
- Đối với các vi phạm mang tính hình sự (Bộ luật Mĩ, phần 18, mục 2.319), người khởi kiện là Nhà nước Mĩ thì vi phạm luật bản quyền bị coi là tội phạm, với điều kiện: + Người thực hiện hành vi vi phạm có lỗi
cố ý;
+ Vì mục đích vụ lợi tài chính;
+ Thực hiện hành vi in sao hoặc phân phối (bằng phương tiện điện tử hoặc thông thường), trong thời hạn 180 ngày, một hoặc nhiều bản sao hoặc ghi âm một hoặc nhiều tác phẩm đc đăng kí bản quyền, với giá trị bán lẻ trên 1.000 USD
Toà án có thể áp dụng các chế tài hình sự như:
+ Hình phạt tù;
+ Phạt tiền hoặc chế tài khác hoặc có thể yêu cầu phục hồi nguyên trạng cho người bị hại
Trong hệ thống pháp luật Mĩ có Luật chống độc quyền Luật chống độc quyền đưa
ra một số hạn chế trong việc sử dụng quyền
sở hữu trí tuệ để chống độc quyền Trong vụ kiện liên quan đến công ti Microsoft, Bộ tư pháp Mĩ cho rằng công ti Microsoft đc có hành vi vi phạm luật chống độc quyền khi
đòi hỏi những người sử dụng máy tính phải
Trang 6mua cả Microsoft Windows (một chương
trình điều hành rất thông dụng cho các máy
tính cá nhân) lẫn Internet Explorer (chương
trình được sử dụng để khai thác Internet)
Thực chất, người sử dụng máy tính bị bắt
buộc mua kèm Internet Explorer, trong khi
họ có thể lựa chọn những chương trình khác
tốt hơn, chẳng hạn như Netscape
Những quốc gia nào có quan hệ thương
mại với nước Mĩ đều phải biết đến Mục 301
đặc biệt trong pháp luật Mĩ Mục 301 đặc
biệt đòi hỏi cơ quan đại diện thương mại Mĩ
xác định những nước nào từ chối bảo vệ
quyền sở hữu trí tuệ, từ đó tiến hành thương
lượng Nếu kết quả không đạt yêu cầu, Mĩ sẽ
thực hiện hành động trả đũa đối với nước đó
Quy định pháp luật này đc gây áp lực đối với
các nước khác như Nhật Bản, Trung Quốc
trong lĩnh vực pháp luật về sở hữu trí tuệ
Năm 1992, Trung Quốc đc đồng ý tăng
cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và gia
nhập Công ước Bern
Theo pháp luật Mĩ, ba đặc trưng được
nêu trong định nghĩa sáng chế (tính mới, tính
sáng tạo, tính hữu ích) được giải thích rất
thoáng Do đó, pháp luật về bảo vệ quyền sở
hữu đối với sáng chế được mở rộng để bảo vệ
phần mềm máy tính Bản thân chương trình
máy tính không phải là đối tượng được cấp
văn bằng sáng chế Tuy nhiên, nếu việc sử
dụng chương trình máy tính là cần thiết cho
việc áp dụng sáng chế thì nó có thể tạo nên
bộ phận của sáng chế tổng thể và được cấp
văn bằng./
(1) Số liệu của Cục điều tra liên bang Mỹ (FBI) -
Xem tài liệu Hội thảo về thực thi quyền sở hữu trí tuệ
(từ 2 đến 5/10/2000)
về chế định (Tiếp theo trang 21)
4 Về vấn đề huỷ việc nuôi con nuôi Luật HN&GĐ năm 2000 quy định các
điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi
và các điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi nhưng lại không quy định việc nuôi con nuôi có thể bị huỷ nếu khi tiến hành
đăng kí việc nuôi con nuôi, các bên vi phạm các điều kiện đó Luật HN&GĐ năm 2000 quy định về việc chấm dứt nuôi con nuôi (Điều 76) nhưng trong các trường hợp chấm dứt nuôi con nuôi không có trường hợp nào quy định về việc vi phạm các điều kiện đối với người nhận nuôi và đối với người được nuôi Giả thiết có trường hợp nuôi con nuôi trên 15 tuổi trong khi người đó không phải là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người nhận nuôi không phải là người già yếu cô đơn thì giải quyết ra sao? Trong chế định kết hôn, Luật HN&GĐ quy định nếu việc kết hôn vi phạm
điều kiện kết hôn thì việc kết hôn đó bị tòa
án nhân dân xử huỷ Thiết nghĩ, trong việc nuôi con nuôi cũng cần quy định huỷ việc nuôi con nuôi nếu các bên vi phạm các điều kiện để làm cha, mẹ nuôi hoặc con nuôi Có như vậy mới có thể ngăn chặn được các hiện tượng lợi dụng việc nuôi con nuôi để chung sống trái pháp luật hoặc để thực hiện hành vi nào đó có lợi cho một trong hai bên hoặc cả hai bên như nuôi con nuôi để nhập khẩu, nhập quốc tịch, để xuất cảnh, nhận làm con nuôi của người là thương binh để được hưởng
sự ưu đci./