Chức năng chính của WTO là tạo diễn đàn để đẩy nhanh các quan hệ về hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, sở hữu trí tuệ...; đặt ra những quy định pháp lí chung làm nền tảng cho các hoạt
Trang 1Ths Phan Thảo Nguyên *
ổ chức thương mại thế giới (WTO) ra
đời là sản phẩm của quá trình toàn cầu
hóa nền kinh tế thế giới Chức năng chính
của WTO là tạo diễn đàn để đẩy nhanh các
quan hệ về hợp tác kinh tế, thương mại, đầu
tư, sở hữu trí tuệ ; đặt ra những quy định
pháp lí chung làm nền tảng cho các hoạt
động thương mại quốc tế đồng thời giữ vai
trò là trọng tài phân xử các tranh chấp trong
quan hệ kinh tế quốc tế góp phần giữ bình
đẳng giữa các nước trong các quan hệ
thương mại WTO gồm 136 nước thành
viên, chiếm trên 90% tổng giá trị giao lưu
thương mại toàn cầu Do vậy, mỗi chính
sách, quyết định của WTO không chỉ ảnh
hưởng đến cán cân thương mại của nước
thành viên mà còn ảnh hưởng mạnh đến cán
cân thương mại thế giới Trong các quan hệ
kinh tế quốc tế luôn tiềm ẩn các mâu thuẫn,
bất đồng về lợi ích giữa các bên liên quan
Giải quyết được các mâu thuẫn, tranh chấp
này sẽ góp phần thúc đẩy các quan hệ kinh
tế, thương mại quốc tế phát triển, ngược lại,
nó sẽ kìm hVm sự phát triển của thương mại
toàn cầu Do tầm quan trọng của việc giải
quyết tranh chấp thương mại nên WTO đV
thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp hữu
hiệu để thực hiện chức năng trên Bài viết này đề cập vấn đề tranh chấp trong quan hệ kinh tế quốc tế và cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
1 Tranh chấp trong quan hệ kinh tế quốc tế
Từ thực tiễn tồn tại và phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế cho thấy trong các quan hệ này luôn thường trực nguy cơ xảy
ra tranh chấp giữa các bên tham gia Đồng thời trong các quan hệ kinh tế quốc tế luôn chứa đựng các yếu tố tiềm tàng gây mâu thuẫn, đó chính là mâu thuẫn về lợi ích kinh
tế của các bên Mâu thuẫn này càng trở nên gay gắt do tác động của các quy luật của nền kinh tế thị trường mà đặc biệt là quy luật cạnh tranh Mâu thuẫn đến mức độ nhất
định sẽ nảy sinh tranh chấp giữa các bên chủ thể tham gia quan hệ kinh tế quốc tế Tranh chấp trong quan hệ kinh tế quốc
tế là một dạng tranh chấp kinh tế Nó phát sinh từ các quan hệ kinh tế, thương mại quốc tế, là biểu hiện những mâu thuẫn hay xung đột về quyền, nghĩa vụ giữa các nhà
đầu tư, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc
T
* Tổng công ti bưu chính viễn thông Việt Nam
Trang 2thực hiện dịch vụ trên thị trường có phạm vi
vượt ngoài biên giới lVnh thổ quốc gia
Tranh chấp trong quan hệ kinh tế quốc tế có
thể bao gồm các chủ thể đặc biệt là các
quốc gia có chủ quyền khi tham gia các
quan hệ kinh tế quốc tế Tuy nhiên, với sự
phát triển của khoa học, công nghệ hiện nay
mà đặc biệt là cuộc cách mạng trong lĩnh
vực công nghệ thông tin thì khái niệm về
quan hệ kinh tế, thương mại vượt khỏi biên
giới, lVnh thổ quốc gia không còn giữ
nguyên nghĩa về mặt không gian mà các
dịch vụ thương mại điện tử, Internet
(e-commerce) là ví dụ điển hình Nhưng dù
tồn tại theo hình thức nào, phát sinh từ
nguyên nhân nào, chủ quan hay khách quan
thì đặc trưng chung của tranh chấp trong
quan hệ kinh tế quốc tế luôn gắn liền với
các hoạt động kinh doanh, thương mại, đầu
tư của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu Về bản chất, mỗi
tranh chấp đều phản ánh những xung đột về
lợi ích kinh tế giữa các bên Dạng tranh
chấp nêu trên tồn tại phổ biến trong quan hệ
thương mại quốc tế và được coi là tranh
chấp giữa các doanh nghiệp Các tranh chấp
thuộc loại này được điều chỉnh bằng tư
pháp quốc tế
Với xu hướng phát triển kinh tế toàn
cầu hiện nay thì tranh chấp kinh tế không
chỉ đơn thuần là vấn đề của doanh nghiệp vì
đV liên quan chặt chẽ đến lợi ích của quốc
gia Tranh chấp đó không chỉ ảnh hưởng
đến quyền lợi riêng của doanh nghiệp mà
ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao
động trong doanh nghiệp, các lợi ích của nhà nước mà suy rộng hơn là ảnh hưởng
đến sự tồn tại của ngành sản xuất trong nước, thu nhập của ngân sách nhà nước và
ổn định xV hội Chính vì vậy, tất cả các quốc gia đều có xu hướng bảo hộ, bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp trong nước, của nền sản xuất trong nước, qua đó bảo vệ lợi ích của quốc gia mình trong các quan hệ thương mại quốc tế Hay nói cách khác, tranh chấp trong quan hệ kinh tế quốc tế lúc này đV vượt ra khỏi phạm vi điều chỉnh của tư pháp quốc tế để trở thành đối tượng chịu
sự chi phối của công pháp quốc tế vì chủ thể tham gia tranh chấp không chỉ đơn thuần là các doanh nghiệp mà còn là các quốc gia chủ quyền với đầy đủ các quyền miễn trừ tài phán nêu trong công pháp quốc
tế Trong các tranh chấp thuộc loại này, các quốc gia thường có xu hướng ban hành các chính sách, quy định về thuế quan trừng phạt, áp dụng hạn ngạch để bảo vệ Ví dụ, năm 1999, giữa Mĩ và EC nảy sinh tranh chấp về chuối EC không muốn nhập khẩu chuối từ Mĩ mà nhập khẩu từ châu Phi, do vậy EC đV đưa ra tiêu chuẩn thuế quan ngặt nghèo áp dụng đối với sản phẩm chuối của
Mĩ Để đáp ứng lại, Mĩ đV đánh thuế cao các mặt hàng thực phẩm của EC nhập vào thị trường Mĩ
+ Phân loại tranh chấp trong quan hệ kinh tế quốc tế
Nếu xét về các bên chủ thể tham gia tranh chấp trong quan hệ kinh tế quốc tế thì
có ba loại quan hệ tranh chấp, đó là:
Trang 3- Tranh chấp giữa các chủ thể của luật
quốc tế (bao gồm các quốc gia và các tổ
chức quốc tế liên chính phủ) liên quan đến
việc thực hiện các điều ước về kinh tế quốc
tế
- Tranh chấp giữa một bên là chủ thể
luật quốc gia (pháp nhân, thể nhân) với một
bên là chủ thể của luật quốc tế liên quan
đến việc thực hiện các điều ước về kinh tế
quốc tế
- Tranh chấp giữa các pháp nhân, thể
nhân của các quốc gia khác nhau liên quan
đến việc thực hiện các điều ước về kinh tế
quốc tế
Xét về bản chất mối quan hệ pháp lí
trên mà thực tiễn giải quyết tranh chấp quốc
tế đV đưa ra hình thức giải quyết phù hợp
đối với mỗi loại tranh chấp quốc tế
2 Tranh chấp thương mại thuộc
phạm vi điều chỉnh của WTO
Như phần trên đV phân tích, tranh chấp
trong quan hệ kinh tế thương mại quốc tế
nếu xét về chủ thể thì có ba loại: Tranh
chấp giữa các chủ thể của luật quốc tế,
tranh chấp giữa một bên là chủ thể của luật
quốc tế với một bên là chủ thể của luật quốc
gia và tranh chấp giữa các pháp nhân, thể
nhân của các quốc gia với nhau
Điều 1 Thoả thuận về giải quyết tranh
chấp của WTO (viết tắt tiếng Anh là DSU)
quy định về nội dung và phạm vi áp dụng
nêu rõ: "Các quy tắc và thủ tục của thoả
thuận này sẽ được áp dụng cho những tranh
chấp chiểu theo những điều khoản về tham
vấn và giải quyết tranh chấp của những hiệp định được liệt kê trong Phụ lục 1 của Thỏa thuận này Những quy tắc và thủ tục của Thoả thuận này cũng được áp dụng cho việc tư vấn và giải quyết tranh chấp giữa các thành viên về quyền và nghĩa vụ theo các điều khoản của Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới và của Thoả thuận này được xem xét riêng hoặc cùng với bất
cứ hiệp định thuộc diện điều chỉnh nào khác" Như vậy, WTO sẽ giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia thành viên và nội dung tranh chấp liên quan đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo các hiệp
định và thoả thuận của WTO Phạm vi tranh chấp cũng được giới hạn trong Hiệp định thành lập WTO và các hiệp định và thỏa thuận khác của WTO
+ Đặc điểm của các tranh chấp do WTO giải quyết là:
- Về chủ thể tranh chấp
Chủ thể của quan hệ tranh chấp phải là quốc gia thành viên WTO Đặc điểm này xuất phát từ vị trí của WTO WTO là tổ chức quốc tế với các thành viên là các quốc gia độc lập có chủ quyền, cùng nhau đàm phán, nhất trí thành lập nên thông qua việc
kí kết vào các hiệp định của WTO Các hiệp
định này quy định về quyền, nghĩa vụ của các quốc gia và ràng buộc trách nhiệm thực hiện của các quốc gia Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO cũng là thể chế pháp lí
mà các quốc gia thành viên nhất trí xây dựng nên và được coi là một trong ba chức
Trang 4năng quan trọng của WTO Chính vì lí do
đó mà WTO chỉ có thể giải quyết các tranh
chấp giữa các nước thành viên chứ không
thể giải quyết được tranh chấp giữa quốc
gia thành viên và một nước không phải là
thành viên WTO Sở dĩ như vậy là vì nước
không phải thành viên WTO sẽ không phải
thực hiện và không có nghĩa vụ phải thực
hiện những quy định của WTO Các nguyên
tắc cơ bản của công pháp quốc tế đV khẳng
định tính độc lập, chủ quyền và quyền tự
quyết của quốc gia mà đặc biệt là quyền
không thể bị xét xử tại bất kì tòa án nào,
trừ khi quốc gia đó tự nguyện từ bỏ quyền
này Còn đối với nước thành viên WTO khi
đặt bút kí vào văn kiện gia nhập thì quốc
gia đó đV chấp nhận và tuân theo những quy
định của WTO trong đó có cả quy định về
sự phán xét của WTO về các hành vi thương
mại của chính quốc gia đó cũng như thừa
nhận hiệu lực của phán quyết và các biện
pháp cưỡng chế thi hành kèm theo
Đặc điểm này cho thấy quan hệ tranh
chấp thuộc phạm vi điều chỉnh của WTO là
quan hệ thuộc lĩnh vực Công pháp quốc tế
chứ không phải là quan hệ về Tư pháp quốc
tế được giải quyết tại các tòa án, trọng tài
theo các thủ tục thông thường trong Tư
pháp quốc tế Tuy chủ thể của quan hệ
tranh chấp là các nước thành viên WTO
nhưng thực tế cho thấy các quốc gia rất ít
khi tự mình tham gia vào các quan hệ kinh
tế quốc tế Đứng đằng sau tất cả các quốc
gia khi tham gia vào quan hệ kinh tế quốc
tế chính là các công ti xuyên quốc gia
Tranh chấp giữa Nhật Bản và Mĩ về thị trường xe ô tô trước tiên phát sinh không phải do Chính phủ Mĩ và Chính phủ Nhật
có quan hệ buôn bán về xe ô tô mà nó phát sinh giữa những tập đoàn xe ô tô của Mĩ và của Nhật Quy mô, tính phức tạp của tranh chấp cũng như chính sách bảo hộ nền sản xuất trong nước đV lôi kéo chính phủ hai nước can dự vào tranh chấp vốn chỉ phát sinh giữa các tập đoàn, công ti của hai nước Việc buôn bán và thâm nhập vào thị trường của nước khác là công việc của các công ti xuyên quốc gia chứ không phải là việc làm của các chính phủ Nhưng đứng
đằng sau các công ti xuyên quốc gia đó là
sự hỗ trợ, can thiệp của các chính phủ Khi các chính sách hỗ trợ, can thiệp đó mâu thuẫn với các hiệp định, thoả thuận của WTO và bị quốc gia liên quan khiếu nại thì
sẽ phát sinh loại tranh chấp thuộc phạm vi giải quyết của WTO Như vậy, có thể thấy
được rằng mối liên hệ giữa những công ti xuyên quốc gia và các chính phủ trong tranh chấp trong quan hệ kinh tế quốc tế là rất mật thiết
- Về nội dung tranh chấp và đối tượng tranh chấp
Theo Điều 1 Thỏa thuận DSU, nội dung tranh chấp chính là việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mỗi nước thành viên
được quy định trong Hiệp định thành lập WTO và các hiệp định, thỏa thuận khác của
tổ chức này Việc quốc gia thành viên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quyền và nghĩa vụ của mình có thể trực
Trang 5tiếp hoặc gián tiếp xâm hại đến lợi ích của
nước thành viên khác Hay nói cách khác
nội dung tranh chấp chính là việc thực hiện
các quyền, nghĩa vụ theo các hiệp định,
thỏa thuận của WTO Đối tượng tranh chấp
suy đến cùng là những lợi ích kinh tế mà
các quốc gia có được từ các hiệp định, thỏa
thuận của WTO
Biểu hiện ra bên ngoài của tranh chấp là
các hành vi thương mại của quốc gia bị coi
là đV vi phạm các nguyên tắc cơ bản của
WTO, đi ngược lại mục tiêu của WTO hoặc
vi phạm các hiệp định, quy định, thỏa thuận
của WTO Hành vi thương mại của quốc gia
được hiểu là việc các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền của quốc gia đó (nghị viện,
quốc hội, tổng thống, thủ tướng, các bộ )
ban hành các chính sách thương mại hoặc
áp dụng các biện pháp thương mại cụ thể,
thể hiện sự phân biệt đối xử giữa hàng hóa
giữa các nước thành viên (trái nguyên tắc
tối huệ quốc - MFN), phân biệt đối xử giữa
hàng nhập khẩu và hàng nội địa (trái
nguyên tắc đối xử quốc gia - National
Treatment) hay hạn chế việc tiếp cận thị
trường của hàng hóa của nước thành viên
khác Chính sách và biện pháp thương mại
có thể được thể hiện dưới hình thức luật lệ
các biện pháp về thuế quan, kiểm dịch
Hành vi thương mại cụ thể có thể là việc
quyết định giám định, kiểm định đặc thù
hoặc tịch thu hàng hóa của một nước thành
viên khác và các biện pháp đó trái với các
thủ tục thông thường mà nước đó hiện đang
áp dụng (thể hiện sự không thống nhất trong việc áp dụng luật pháp hoặc phân biệt
đối xử)
Như vậy có thể thấy, đối tượng tranh chấp trong quan hệ này không phải là các
đối tượng cụ thể như trong các quan hệ tranh chấp về hợp đồng mua bán ngoại thương, trong hoạt động xuất nhập khẩu mà
đối tượng của tranh chấp là lợi ích kinh tế của quốc gia bị xâm hại bởi hành vi thương mại của nước khác (thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến hoạt động thương mại) Hành
vi đó vi phạm các quy định của WTO về thương mại, xuất nhập khẩu, tài chính, đầu tư, thanh toán quốc tế, sở hữu trí tuệ, mở cửa thị trường Đồng thời các hành vi thương mại đó phải gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại cho nhiều nước thành viên khác và bị các quốc gia đó khiếu nại lên WTO
Theo Công pháp quốc tế, không quốc gia nào, tòa án nào có quyền phán xét về hành vi, chính sách của nước khác và lại càng không thể xét xử quốc gia trước tòa án hay trọng tài về chính sách thương mại của nước đó, chỉ trừ khi quốc gia đó tuyên bố từ
bỏ quyền miễn trừ của mình hoặc khi quốc gia đó tham gia hiệp định có ràng buộc trách nhiệm của nhau ở cấp độ quốc gia Chính do vậy, các nước thành viên WTO đV thống nhất về các nguyên tắc chung cho hoạt động thương mại quốc tế bằng cách kí kết vào các hiệp định khi gia nhập WTO tức
Trang 6là các bên kí kết đV ràng buộc trách nhiệm
và thừa nhận việc hạn chế ở mức độ nhất
định quyền miễn trừ của quốc gia đồng thời
đó cũng là văn bản cam kết thực hiện nghĩa
vụ của nước mình trong WTO Chính vì lí
do đó, khi chính sách, biện pháp thương
mại của quốc gia trái với các hiệp định của
WTO tức là trái với những gì họ đV cam kết
tuân thủ thực hiện thì WTO có quyền yêu
cầu nước vi phạm phải thực hiện những gì
họ đV cam kết trong WTO
Nếu căn cứ rõ ràng là chính sách, biện
pháp thương mại của quốc gia trái với các
hiệp định, thỏa thuận, nguyên tắc của WTO
và gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại
cho một hay nhiều nước thành viên khác thì
những nước đó có quyền yêu cầu WTO
buộc nước vi phạm phải dừng ngay sự vi
phạm và thực hiện, khôi phục lại nguyên
trạng cũng như thực hiện đúng cam kết của
họ trong WTO Việc khiếu nại của một hay
nhiều nước về sự vi phạm của một nước là
điều kiện đủ để xác định có tranh chấp hay
không và nó cũng đồng thời là điều kiện
khởi đầu cho quá trình giải quyết tranh chấp
của WTO Trong quá trình giải quyết tranh
chấp, cơ sở pháp lí quan trọng để xác định
quốc gia có vi phạm hay không là dựa trên
hệ thống các văn bản hiệp định của WTO
cũng như các nguyên tắc và mục tiêu
thương mại mà WTO đặt ra khi thành lập tổ
chức này
- Phạm vi tranh chấp
Các tranh chấp phát sinh phải nằm trong phạm vi Hiệp định thành lập WTO và các hiệp định, thỏa thuận khác của WTO Hay nói cách khác, phạm vi tranh chấp là các vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của các hiệp định đa phương, hiệp định nhiều bên kí kết trong khuôn khổ WTO Do vậy, phạm vi tranh chấp sẽ bao gồm các vấn đề về thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, quyền
sở hữu trí tuệ, đầu tư nước ngoài, các nguyên tắc của hệ thống thương mại đa phương Phụ lục I của Thỏa thuận DSU quy định rõ phạm vi các tranh chấp thuộc phạm vi điều chỉnh của các hiệp định, thỏa thuận sẽ được WTO giải quyết đó là:
a Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới
b Các hiệp định thương mại đa biên gồm:
- Các hiệp định đa biên về thương mại hàng hóa;
- Hiệp định chung về thương mại dịch vụ;
- Hiệp định về các khía cạnh của quyền
sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại;
- Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục
điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp
c Các hiệp định thương mại nhiều bên gồm:
- Thỏa thuận về thương mại máy bay dân dụng;
- Hiệp định về mua sắm của chính phủ;
- Hiệp định quốc tế về sữa;
- Hiệp định quốc tế về thịt bò./