1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Về điều 16 luật Hôn nhân và gia đình năm 1986" ppt

5 629 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Về điều 16 luật hôn nhân và gia đình năm 1986
Tác giả Nguyễn Phương Lan
Người hướng dẫn Giảng Viên Khoa Tư Pháp
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản 1986
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 80,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 Nguyễn Phương Lan * iều 16 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định: "Đối với những tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài s

Trang 1

Về Điều 16 Luật hôn nhân

và gia đình năm 1986

Nguyễn Phương Lan * iều 16 Luật hôn nhân và gia đình

năm 1986 quy định: "Đối với những

tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết

hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được

cho riêng trong thời kì hôn nhân thì người

có tài sản đó có quyền nhập hay không

nhập vào khối tài sản chung của vợ

chồng" Như vậy, Luật hôn nhân và gia

đình năm 1986 đ! ghi nhận quyền sở hữu

của vợ, chồng đối với tài sản riêng bên

cạnh quyền sở hữu chung của vợ chồng

Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm:

Những tài sản mà vợ hoặc chồng có trước

khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng

hoặc được cho riêng trong thời kì hôn

nhân Xét về bản chất thì những loại tài

sản này không phải do lao động của vợ

chồng tạo ra trong thời kì hôn nhân Vì

vậy, nó thuộc sở hữu riêng của mỗi bên

vợ, chồng Vợ, chồng có quyền độc lập

trong việc chiếm hữu, sử dụng và định

đoạt tài sản riêng của mình, không phụ

thuộc vào người kia Vợ, chồng có nghĩa

vụ tôn trọng quyền sở hữu riêng của

nhau

Việc thừa nhận quyền sở hữu tài sản

riêng của vợ, chồng là hoàn toàn cần thiết

và phù hợp với tình hình kinh tế - x! hội

hiện nay khi nền kinh tế của nước ta ngày

càng phát triển, khả năng kinh tế của cá

nhân ngày càng mở rộng cả về số lượng

và quy mô hoạt động sản xuất kinh

doanh Ngoài việc bảo đảm cho vợ, chồng

thực hiện những nghĩa vụ riêng về tài sản

một cách độc lập, quyền sở hữu riêng của

vợ, chồng về tài sản còn tạo ra khả năng

để vợ, chồng chủ động tham gia vào hoạt

động sản xuất kinh doanh mà không làm

ảnh hưởng tới tài sản chung, lợi ích chung của gia đình

Tuy nhiên, Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định về quyền sở hữu riêng của vợ, chồng còn chung chung, chưa cụ thể, đặc biệt là chưa quy

định rõ quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc thực hiện quyền sở hữu riêng

đó trong phạm vi gia đình như thế nào, khi nào thì tài sản riêng của vợ, chồng

được coi là đ! nhập vào khối tài sản chung Trong bài viết này, chúng tôi muốn làm sáng tỏ một số khía cạnh cơ bản sau:

1 Cần thừa nhận rằng, tài sản riêng của vợ, chồng trước hết là để giúp cho vợ, chồng thực hiện nghĩa vụ riêng về tài sản

mà không bị phụ thuộc và ảnh hưởng tới kinh tế chung của gia đình Song trong cuộc sống chung, vợ, chồng có nghĩa vụ giúp đỡ, chăm sóc lẫn nhau, cùng nhau tạo lập, phát triển kinh tế gia đình, cùng nhau chăm sóc, nuôi dạy con cái trưởng thành Điều đó đòi hỏi vợ chồng phải cùng chung công sức, ý chí, tình cảm để thực hiện đầy đủ và tốt nhất trách nhiệm của mình đồng thời cũng nhằm để thỏa

Đ

* Giảng viên Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

m!n nhu cầu tình cảm, tinh thần của

chính mình Do đó, trong trường hợp tài

sản chung của vợ chồng không đủ thì vợ,

chồng có tài sản riêng có nghĩa vụ đóng

góp tài sản riêng của mình vào đời sống

chung nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết

yếu của gia đình Việc đóng góp tài sản

riêng của mỗi bên vợ, chồng vào đời sống

chung của gia đình khi gặp khó khăn

thường xuất phát từ ý thức tự nguyện, tự

giác trên cơ sở đạo đức, do tình cảm yêu

thương gắn bó lẫn nhau giữa cha mẹ với

con cái, giữa vợ chồng với nhau Tuy

nhiên, không phải lúc nào vợ, chồng cũng

đều tự nguyện gánh chịu trách nhiệm đó

bằng tài sản riêng của mình trong khi việc

duy trì đời sống chung của gia đình, đáp

ứng những nhu cầu thiết yếu hàng ngày

của các thành viên trong gia đình, đặc

biệt của con cái là đòi hỏi khách quan cần

được đảm bảo thỏa m!n Ví dụ, khi con bị

ốm đau hoặc bị tai nạn bất ngờ mà tài sản

chung của vợ chồng không còn thì vợ

hoặc chồng có tài sản riêng phải có trách

nhiệm lấy tài sản riêng của mình để chạy

chữa cho con mà không được tính toán,

lấy lại sau này Điều đó vừa là đòi hỏi về

đạo đức vừa là nghĩa vụ pháp lí Do đó,

Luật hôn nhân và gia đình sửa đổi cần

quy định rõ rằng vợ, chồng có tài sản

riêng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng

của mình để đảm bảo những nhu cầu thiết

yếu của gia đình và thực hiện những

nghĩa vụ chung về tài sản trong trường

hợp tài sản chung không đủ Có như vậy

mới đảm bảo được lợi ích chung của gia

đình, lợi ích của con cái đồng thời cũng là

lợi ích của bản thân vợ, chồng

2 Việc nhập hay không nhập tài sản

riêng của vợ, chồng vào tài sản chung là

quyền của vợ, chồng Vợ, chồng quyết

định nhập hay không nhập tài sản riêng của mình vào tài sản chung hoàn toàn dựa trên sự tự nguyện, tự giác của chính mình nhằm làm tăng khối tài sản chung vì lợi ích của gia đình Điều 16 Luật hôn nhân

và gia đình quy định: " người có tài sản

đó có quyền nhập hay không nhập vào khối tài sản chung" Nếu trong trường hợp tài sản chung của vợ chồng không đủ

để đáp ứng, duy trì đời sống chung của gia đình, việc vợ, chồng đóng góp tài sản riêng của mình được coi là nghĩa vụ của

vợ, chồng thì việc nhập hay không nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào khối tài sản chung lại là quyền của họ Về hậu quả pháp lí, việc vợ, chồng đóng góp tài sản riêng vào mục đích duy trì đời sống chung của gia đình hay nhập tài sản đó vào khối tài sản chung đều làm thay đổi

số phận pháp lí của tài sản Đó là chuyển tài sản riêng thành tài sản chung nhưng cần phải quy định một cách rõ ràng khi nào là nghĩa vụ của vợ, chồng, khi nào là quyền của họ giúp cho vợ, chồng thấy rõ hơn trách nhiệm của mình đối với gia

đình đồng thời khuyến khích tính tích cực, tự giác của vợ, chồng trong việc làm tăng khối tài sản chung vì lợi ích của gia

đình

Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 không quy định rõ khi nào, với những căn cứ nào thì tài sản riêng của vợ hoặc của chồng được coi là đ! nhập vào khối tài sản chung Trong đời sống chung của vợ chồng, ranh giới giữa tài sản chung và tài sản riêng nhiều khi không rõ rệt, rất khó xác định, nhất là khi cuộc sống của vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc Vì vậy, cần quy định các căn cứ để xác

định tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng

được nhập vào tài sản chung

Trang 3

Trong thực tế việc nhập hay không

nhập tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng

vào khối tài sản chung có thể xảy ra trong

những trường hợp sau:

+ Người có tài sản riêng thể hiện ý chí

một cách rõ ràng, công khai rằng họ tự

nguyện nhập tài sản riêng của mình vào

khối tài sản chung Sự thể hiện ý chí đó

có thể bằng miệng (lời nói) hoặc bằng

văn bản Ví dụ: Người vợ được người em

ruột gửi cho số tiền là 10 triệu đồng Khi

nhận được khoản tiền đó người vợ đ!

tuyên bố để gia đình cùng sử dụng và coi

đó là tài sản chung của gia đình Ngược

lại, nếu người vợ cất số tiền đó để sử

dụng riêng hoặc gửi tiết kiệm riêng thì số

tiền này vẫn thuộc quyền sở hữu riêng

của người vợ

Theo pháp luật hiện hành của Nhà

nước ta, vợ, chồng có thể yêu cầu cơ quan

công chứng nhà nước xác nhận tài sản

riêng của mình Việc xác nhận tài sản

riêng của vợ, chồng sẽ tránh được tranh

chấp về tài sản có thể xảy ra Tuy nhiên,

trong thực tế, rất ít khi vợ, chồng yêu cầu

cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác

nhận tài sản riêng của mình nếu không có

tranh chấp, mâu thuẫn.Và sau này, nếu có

tranh chấp về tài sản thì người có tài sản

riêng phải có nghĩa vụ chứng minh, nếu

không chứng minh được tài sản đó là tài

sản riêng của mình thì tài sản đó được coi

là tài sản chung của vợ chồng;

+ Vợ, chồng không thể hiện ý chí một

cách công khai về việc đưa tài sản riêng

vào tài sản chung nhưng họ lại có hành vi

đưa tài sản riêng của mình vào sử dụng

chung, đáp ứng nhu cầu chung của đời

sống gia đình Ví dụ: Anh A có chiếc xe

máy mua trước khi kết hôn Sau khi kết

hôn, anh A đ! đồng ý để vợ anh sử dụng

xe máy của mình để đi làm cho thuận lợi Nhưng điều đó không có nghĩa là anh A

đ! đồng ý "nhập" chiếc xe máy đó vào khối tài sản chung Nếu có tranh chấp, chiếc xe đó vẫn thuộc quyền sở hữu của anh A Do tính chất cộng đồng của hôn nhân chi phối, do sự gắn bó sâu sắc, bền vững về tình cảm giữa các thành viên trong gia đình nên việc sử dụng chung tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng trong gia

đình là tồn tại khách quan Vì vậy, việc

vợ, chồng đưa tài sản riêng vào sử dụng chung trong gia đình không đồng nghĩa với việc họ tự nguyện nhập tài sản đó vào tài sản chung, mặc dù họ sẵn sàng gánh chịu những rủi ro có thể xảy ra đối với tài sản của mình trong quá trình sử dụng chung vì lợi ích của gia đình nhưng họ không xác định từ bỏ quyền sở hữu của mình đối với tài sản đó

Đối với tài sản riêng của vợ, chồng

đưa vào sử dụng chung trong gia đình sẽ

có hai khả năng có thể xảy ra: Hoặc là tài sản đó còn hoặc là tài sản đó sẽ không còn nữa Theo Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/1/1988 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì

"tài sản chung và tài sản riêng chỉ chia trên cơ sở những thứ hiện có Những thứ

đ7 chi dùng cho gia đình mà không còn nữa thì không phải thanh toán" Như vậy, theo hướng dẫn của Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP, những tài sản riêng của

vợ, chồng đ! được sử dụng chung cho gia

đình mà không còn nữa sẽ được coi là tài sản mà vợ, chồng đ! nhập vào khối tài sản chung và không phải thanh toán lại cho vợ (chồng) khi chia tài sản chung Ngược lại, nếu tài sản đó còn thì nó vẫn thuộc quyền sở hữu riêng của mỗi bên vợ, chồng

Trang 4

+ Vợ, chồng tự nguyện thực hiện

quyền của chủ sở hữu trong việc định

đoạt tài sản riêng của mình nhằm mục

đích phục vụ nhu cầu chung của đời sống

gia đình Chẳng hạn, vợ hoặc chồng bán

tài sản của mình lấy tiền chi tiêu chung

cho gia đình (bán xe máy có trước khi kết

hôn để lấy tiền làm nhà trong thời kì hôn

nhân) hoặc dùng tiền riêng có trước khi

kết hôn để mua sắm những tư liệu sinh

hoạt cần thiết cho gia đình: Như quạt

máy, xe đạp cho con đi học, tủ lạnh v.v

Trong những trường hợp như vậy, vợ,

chồng đ! sử dụng quyền của sở hữu chủ

trong việc định đoạt tài sản riêng nhằm

chuyển tài sản đó của mình từ dạng này

sang dạng khác (từ vật sang tiền hoặc từ

tiền sang vật) nhằm phục vụ nhu cầu đời

sống chung của gia đình Quyền đó chỉ

một mình chủ sở hữu có thể quyết định

Vợ, chồng thực hiện hành vi đó hoàn toàn

trên cơ sở tự nguyện, tự giác Khi thực

hiện những hành vi đó, vợ, chồng luôn

xác định rõ là họ đ! từ bỏ quyền sở hữu

của mình đối với tài sản đó vì lợi ích của

gia đình Đó chính là việc "chi dùng" tài

sản riêng cho gia đình Như vậy, cần thấy

rằng, giữa khái niệm "chi dùng" và khái

niệm "sử dụng" có sự khác nhau nhất

định Việc "sử dụng" tài sản không đương

nhiên làm mất đi tài sản đó nhưng khi

"chi dùng" tài sản cho gia đình thì chủ sở

hữu đ! xác định trước là tài sản đó sẽ

không còn là của mình nữa Việc "chi

dùng" tài sản sẽ dẫn tới hai khả năng:

Hoặc là tài sản đó không còn tồn tại dưới

bất cứ dạng nào của tài sản nữa (như sử

dụng tiền riêng có trước khi kết hôn để

chữa bệnh cho con) hoặc là tài sản đó

được chuyển sang dạng khác của tài sản

(bán xe máy riêng lấy tiền xây nhà) Cả

hai trường hợp này đều được coi là người

có tài sản riêng đ! tự nguyện nhập tài sản

đó vào tài sản chung

Song mặt khác, cần phân biệt với trường hợp vợ, chồng thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản riêng của mình khi tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh Trong trường hợp này, vợ hoặc chồng cũng thực hiện những hành vi định

đoạt nhằm chuyển tài sản của mình từ dạng này sang dạng khác nhưng không trực tiếp vì lợi ích và nhu cầu của gia đình

mà trước hết là nhằm mục đích sản xuất kinh doanh để thu lợi nhuận Ví dụ: Anh

K dùng số tiền có trước khi kết hôn của mình là 30 triệu đồng để mua một số tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị, các dụng cụ khác để mở cửa hàng dịch vụ sửa chữa ô tô - xe máy Trong trường hợp này, tất cả những tư liệu sản xuất, dụng

cụ đồ nghề đó vẫn là tài sản riêng của K Chỉ những lợi tức thu được từ hoạt động kinh doanh dịch vụ đó mới là tài sản chung của vợ chồng

Từ sự phân tích trên cho thấy, khi vợ, chồng đưa tài sản riêng vào sử dụng chung mà không thể hiện ý chí một cách

rõ ràng thì chỉ có thể coi là vợ, chồng đ!

tự nguyện nhập tài sản riêng đó vào khối tài sản chung nếu họ đ! thực hiện quyền

định đoạt của sở hữu chủ đối với tài sản

đó một cách rõ ràng vì lợi ích và nhu cầu chung của gia đình Việc nhập hay không nhập tài sản riêng vào tài sản chung là quyền của vợ, chồng, do đó, cần tôn trọng

sự tự nguyện của họ, bảo vệ lợi ích chính

đáng của vợ, chồng

Có thể biểu diễn tóm tắt các trường hợp tài sản riêng của vợ, chồng được coi

là nhập vào tài sản chung qua sơ đồ sau:

Trang 5

3 Tài sản chung của vợ chồng nhằm

đảm bảo những nhu cầu chung của gia

đình Việc tạo lập, duy trì, phát triển khối

tài sản chung là nghĩa vụ của vợ chồng

Vì lợi ích chung của gia đình, đặc biệt là

vì lợi ích của các con, vợ chồng có trách

nhiệm làm tăng khối tài sản chung mà

không được phép làm suy giảm khối tài

sản đó nếu không vì lợi ích chính đáng

của gia đình Việc Điều 16 Luật hôn nhân

và gia đình năm 1986 quy định người có

tài sản riêng có quyền nhập tài sản riêng

vào khối tài sản chung của vợ chồng cũng

không ngoài mục đích đó Khi vợ, chồng

tự quyết định nhập một số hay toàn bộ tài

sản riêng vào khối tài sản chung thì số tài

sản đó có ý nghĩa nhất định đối với đời

sống chung của gia đình Nếu cho phép

vợ, chồng lấy lại những tài sản riêng đ!

nhập vào tài sản chung sẽ làm ảnh hưởng

tới kinh tế gia đình, tới việc duy trì đời

sống của gia đình, tới quyền lợi của các

con và làm mất ổn định các quan hệ trong

gia đình

Khi vợ, chồng đ! nhập một phần hay

toàn bộ tài sản riêng của mình vào tài sản

chung thì vợ, chồng cũng phải chia sẻ và

gánh chịu nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi bên bằng khối tài sản chung của vợ chồng nếu phần tài sản riêng còn lại của

vợ, chồng không đủ thực hiện nghĩa vụ

đó Điều đó hoàn toàn phù hợp với tính chất cộng đồng của hôn nhân và đảm bảo

được lợi ích chính đáng của vợ chồng, củng cố được các quan hệ trong gia đình trên tinh thần yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống

Qua sự phân tích trên cho thấy Điều

16 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 cần được sửa đổi, bổ sung một cách cụ thể, rõ ràng hơn Quyền và nghĩa vụ của

vợ, chồng đối với tài sản riêng cần được quy định cụ thể, tạo cơ sở pháp lí trong việc điều chỉnh các quan hệ tài sản cũng như góp phần làm ổn định các mối quan

hệ gia đình Cần quy định các căn cứ cụ thể để xác định tài sản riêng của vợ, chồng được coi là đ! nhập vào khối tài sản chung Chẳng hạn, có thể quy định:

Được coi là vợ, chồng đ! nhập một phần hoặc toàn bộ tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung trong những trường hợp sau:

- Vợ, chồng thể hiện công khai ý chí của mình đồng ý đưa tài sản riêng vào khối tài sản chung;

- Tài sản đó đ! được sử dụng chung cho gia đình mà không còn tồn tại dưới bất cứ dạng nào nữa của tài sản;

- Vợ, chồng đ! định đoạt tài sản đó vì lợi ích của gia đình./

Tài sản

chung

Tài sản

đó còn

Tuyên bố

công khai

đưa vào TS

chung bằng

văn bản

hoặc lời nói

Đưa vào sử dụng chung trong gia đình

Tài sản

đó không còn

Thực hiện quyền định

đoạt

Vì lợi ích của gia

đình

Vì mục

đích SX-KD

TS

riêng chung TS chung TS riêng TS

Tài sản riêng của vợ, chồng

Ngày đăng: 17/03/2014, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w