Nếu coi đó là tài sản chung hợp nhất để chia đôi khi một bên chết trước thì khả năng đảm bảo quyền lợi chính đáng của hai bên được nhiều hơn nhưng lại không có cơ sở pháp luật.. Nếu coi
Trang 1Tạp chí luật học - 29
Một số vấn đề xác định di sản thừa kế
Trần Thị Huệ *
i sản thừa kế là đối tượng tranh chấp
trực tiếp của các đương sự trong án
kiện thừa kế Việc xác định đúng khối di
sản là một trong những yếu tố pháp lí cần
thiết, là bước khởi đầu quan trọng cho các
bước tiếp theo trong việc giải quyết các
tranh chấp về thừa kế
Muốn giải quyết tốt các tranh chấp về
thừa kế trước hết phải xác định đầy đủ,
chính xác di sản mà người chết để lại Có
như vậy mới bảo đảm được quyền của
người hưởng di sản (theo di chúc hoặc
theo pháp luật)
Điều 637 Bộ luật dân sự (BLDS) quy
định: "Di sản thừa kế bao gồm tài sản
riêng của người chết, phần tài sản của
người chết trong khối tài sản chung với
người khác Quyền sử dụng đất cũng
thuộc di sản thừa kế và được để lại thừa
kế theo quy định tại Phần thứ năm của Bộ
luật này" Như vậy, so với Pháp lệnh thừa
kế (30/8/1990) thì BLDS có điểm mới khi
quy định về di sản thừa kế phù hợp với
điều kiện kinh tế xP hội ở nước ta hiện
nay là "quyền sử dụng đất cũng thuộc di
sản thừa kế"
Di sản thừa kế được Điều 637 BLDS
quy định một cách ngắn gọn nhưng đầy
đủ và có tầm khái quát cao (không dùng
phương pháp liệt kê bao gồm những tài
sản gì như những quy định trước đây)
Bởi lẽ, quyền tài sản đP nằm trong khái
niệm tài sản được quy định tại Điều 172
BLDS Điều này thể hiện trình độ và kĩ
thuật lập pháp của nước ta đP đạt đến kết
quả nhất định Tuy vậy, đây là vấn đề
phức tạp và có liên quan đến nhiều vấn đề
khác trong quan hệ thừa kế mà chỉ được
dự liệu trong một điều luật (Điều 637)
nên đòi hỏi khi nghiên cứu cũng như khi
xét xử phải đặt nó trong mối liên hệ biện chứng với các quy phạm pháp luật khác liên quan trực tiếp đến việc xác định di sản thừa kế và phân chia di sản thừa kế Hiện nay, BLDS nước ta chỉ quy định các thành phần của di sản thừa kế, còn xung quanh vấn đề xác định di sản thì chưa có văn bản pháp luật nào quy định
cụ thể Bởi vậy, việc xác định quyền sở hữu của một người để từ đó xác định di sản khi người đó chết còn nhiều vấn đề cần quan tâm Trong bài viết này, chúng tôi xin đề cập một số vướng mắc về lí luận cũng như thực tiễn trong việc xác
định di sản thừa kế qua một số trường hợp
cụ thể
1 Xác định di sản thừa kế của người sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không kết hôn theo luật
định khi một bên chết trước
Đăng kí kết hôn là căn cứ làm phát sinh quan hệ vợ chồng trước pháp luật (Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình 1986) Hai người chung sống với nhau mà không
đăng kí kết hôn thì không được pháp luật thừa nhận và bảo hộ vì giữa họ không có mối liên hệ pháp lí nào cả Do đó, về phương diện tài sản, pháp luật không dự liệu chế độ riêng biệt nào Trên nguyên tắc, tài sản đứng tên ai thì thuộc quyền sở hữu riêng của người ấy, tài sản được làm
ra trong thời gian chung sống là tài sản chung theo phần Đây là vấn đề phức tạp khi một người chết trước và vấn đề xác
định di sản thừa kế được đặt ra
Khi một bên chết trước, nếu áp dụng
quan điểm "hôn nhân thực tế" để xác định
D
* Giảng viên Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội
Trang 230 - Tạp chí luật học
di sản mà tài sản của họ được chia đôi,
một nửa là di sản của bên đP chết và nửa
còn lại thuộc về người còn sống thì thiếu
cơ sở pháp luật Vì, mặc dù họ chung
sống với nhau và tự coi nhau như vợ
chồng nhưng không được pháp luật thừa
nhận họ là vợ chồng của nhau Có ý kiến
cho rằng nếu đồng nhất sự chung sống
này với hôn nhân thực tế được pháp luật
thừa nhận thì giá trị những quy định của
luật hôn nhân gia đình về vấn đề này bị
"triệt tiêu" và coi đây là thái độ tùy tiện
vừa bất hợp pháp vừa gây nguy hiểm đến
nếp sống và rộng hơn là nền tảng xP hội
Trong thực tế, việc giải quyết vấn đề này
gặp rất nhiều khó khăn Tuy không kết
hôn nhưng họ vẫn chung sống với nhau
như vợ chồng chính thức và thường là lâu
dài nên quyền lợi về vật chất của hai
người thường bị trộn lẫn vào một khối,
đứng tên chung hoặc đứng tên riêng của
một người Khi cuộc sống chung của họ
kết thúc do một bên chết trước thì khó có
thể xác định được tài sản này, tài sản kia
là của ai để từ đó xác định di sản thừa kế
của họ
Nhưng nếu căn cứ vào việc không
công nhận sự liên hệ pháp lí của họ mà
không áp dụng chế độ tài sản chung hợp
nhất để chia đôi có thể dẫn đến sự không
công bằng cho một trong hai người này
Với nguyên tắc tài sản của ai thì thuộc
quyền của người ấy (nếu chứng minh
được là tài sản riêng), nếu không chứng
minh được thì được coi là tài sản chung
để thanh toán Tài sản được làm ra trong
thời gian chung sống là tài sản chung
theo phần và hai người là đồng chủ sở
hữu Nhưng thực tế khi xác định tài sản
của họ lại không đơn giản như chúng ta
nghĩ Do sự liên kết, gắn bó của cuộc
sống chung, họ ngay tình nhập tài sản
riêng của mình vào khối tài sản chung mà
không qua một thủ tục pháp lí nào để làm bằng cớ Thậm chí, họ còn ngay tình cho
"vợ" hoặc "chồng" mình đứng tên quyền
sở hữu đối với đa phần tài sản chung và tài sản riêng nên khi có tranh chấp trong trường hợp này sẽ không có căn cứ pháp
lí để chứng minh tài sản đó là của mình Như vậy, không có cơ sở pháp luật để bảo
vệ quyền sở hữu đối với tài sản của họ Hai cách xác định di sản thừa kế mà chúng tôi vừa trình bày đều thể hiện tính bất cập trong thực tế Nếu coi đó là tài sản chung hợp nhất để chia đôi khi một bên chết trước thì khả năng đảm bảo quyền lợi chính đáng của hai bên được nhiều hơn nhưng lại không có cơ sở pháp luật
Nếu coi là sở hữu chung theo phần để phân định khối tài sản đó là của ai và bao nhiêu lại không có cơ sở để xác định chính xác, nhiều khi còn gây thiệt thòi
đáng kể cho một trong hai bên
Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng việc nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng kí kết hôn theo luật định là một tồn tại của thực tế xP hội
Đó là biểu hiện ý thức chấp hành pháp luật không nghiêm chỉnh của một số người trong xP hội, pháp luật hôn nhân và gia đình nên quy định những chế tài cụ thể để áp dụng cho hành vi vi phạm pháp luật này Pháp luật dân sự cần quy định
sở hữu của hai người trong trường hợp này là sở hữu chung theo phần để bản thân họ căn cứ vào quy định cụ thể của pháp luật mà tự đề phòng, bảo vệ lấy quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản của mình đồng thời giúp cơ quan xét xử có căn cứ pháp lí khi giải quyết tranh chấp
về di sản thừa kế liên quan đến vấn đề này
2 Tài sản mà người để lại di sản
Trang 3Tạp chí luật học - 31
tặng cho người thừa kế có tính vào di
sản thừa kế hay không?
Tặng cho tài sản có ý nghĩa gắn bó
tình cảm giữa con người với nhau trong
quan hệ thân quen, gần gũi đặc biệt là
trong quan hệ gia đình
Khi hợp đồng tặng cho tài sản có hiệu
lực pháp luật thì quyền sở hữu đối với tài
sản của người tặng cho sẽ được chuyển
sang cho người được tặng cho Pháp luật
quy định chỉ có những tài sản nào mà tại
thời điểm mở thừa kế thuộc quyền sở hữu
của người để lại di sản mới được coi là di
sản thừa kế Trong thực tế có những
trường hợp khi còn sống, bố mẹ cho con
cái tài sản của mình nhưng khi bố mẹ
chết mà có tranh chấp về thừa kế thì tài
sản mà bố mẹ đP cho con cái trước khi
chết đó có tính vào di sản thừa kế không?
Bộ dân luật Bắc kì và Bộ dân luật
Trung kì trước đây đều quy định: "Phàm
những tài sản lúc kia người mệnh một còn
sống đ= cho các người thừa kế thời đến
khi phân sản các người thừa kế ấy không
phải đem hoàn lại vào của di sản nữa
Nhưng số tiền gốc của người mệnh một
đ= cho mượn hoặc đ= giao cho mình thời
phải đem hoàn lại Nhưng không phải trả
tiền l=i gì cả trừ khi nào có ước riêng thời
không kể và số tiền sinh lợi đ= thu được
thời người thừa kế vẫn được hưởng hết"
(Điều 377 Hoàng Việt Trung kì hộ luật)
Bộ dân luật Bắc kì và Bộ dân luật Trung
kì coi "sinh - thời - tặng giữ" là khế ước
(hợp đồng) do bên tặng cho đP tặng và
phải được sự chấp nhận của người thụ
tặng Từ thời điểm ấy làm phát sinh
quyền sở hữu đối với tài sản của người
thụ tặng Bởi vậy, khi còn sống, bố mẹ đP
cho con cái hoặc những người thừa kế
khác tài sản thì lúc chia thừa kế họ không
phải trả lại tài sản ấy, tức là không tính
vào khối di sản Còn những tài sản mà
người quá cố cho mượn hoặc giao cho
con cái hoặc những người thừa kế khác bằng các khế ước mà không làm dịch chuyển quyền sở hữu thì phải đem trả lại trừ khi có thỏa thuận khác và lẽ dĩ nhiên
số tài sản đó được tính vào là di sản thừa
kế
Hiện nay pháp luật của chúng ta không quy định cụ thể vấn đề này nhưng theo nguyên tắc chung thì hành vi trao tặng tài sản của cha, mẹ đối với các con cũng như đối với những người thừa kế khác đP làm phát sinh hợp đồng tặng cho tài sản giữa cha mẹ với các con và những người thừa kế đó
Hành vi nhận tài sản làm chấm dứt quyền sở hữu của cha mẹ đối với tài sản tặng cho đồng thời làm phát sinh quyền sở hữu của những người con và những người thừa kế khác đối với tài sản được tặng cho ấy Như vậy, tại thời điểm mở thừa kế thì tài sản đP
được tặng cho không còn là tài sản thuộc quyền sở hữu của người để lại di sản nên tài sản đó không thể tính vào khối di sản của người quá cố
Về mặt thực tiễn nhiều khi lại không hợp tình và không thực hiện được chủ
định của người quá cố, vấn đề này vẫn còn tồn tại hai quan điểm như sau:
Quan điểm thứ nhất: Tài sản mà người quá cố đP cho một trong những người thừa kế thì khi xác định di sản, phần tài sản được tặng cho trước khi người có tài sản chết sẽ được tính vào khối di sản thừa
kế Với tinh thần này, luật dân sự của một
số nước trên thế giới cũng quy định:
"Trong trường hợp có bất kì đồng thừa kế nào đ= nhận được từ người để lại thừa kế một tặng vật theo di chúc hoặc tặng vật nhân đám cưới, nhận con nuôi hoặc như
là phương tiện sinh sống thì giá trị của cải mà người để lại thừa kế sở hữu ở thời
điểm mở thừa kế cộng với giá trị các tặng vật trên sẽ được coi là tài sản thừa kế
Và khoản tiền còn lại sau khi trừ đi giá trị của các tặng vật dù đó là tặng vật
Trang 432 - Tạp chí luật học
theo di chúc hay không, từ phần mà người
đó được nhận trong tài sản thừa kế sẽ là
phần của người đó
Nếu giá trị của vật tặng dù là theo di
chúc hay không theo di chúc bằng hoặc
vượt quá giá trị của phần được thừa kế thì
người được hưởng không được nhận phần
đó (Điều 903 BLDS Nhật Bản)
BLDS Pháp cũng quy định rằng: "Mỗi
đồng thừa kế phải đem trả vào tài sản
chung những tặng vật trước đây họ được
hưởng, những món tiền họ đ= vay, theo
những thể lệ quy định ".(1)
Bộ dân luật Sài Gòn năm 1972 cũng
quy định về việc hoàn trả tài sản tặng giữ
kể cả là vợ là chồng của người để lại di
sản thừa kế nhưng lại quy định cho người
thừa kế có quyền giữ lại vật tặng giữ hay
di tặng nếu người đó khước từ quyền
hưởng di sản
Nhìn chung, các điều luật trên đây
đều thể hiện nghĩa vụ giao hoàn lại tài
sản nhận được từ người để lại thừa kế
trước khi người này chết Việc những
người thừa kế phải giao hoàn lại tài sản
có thể dựa trên căn cứ sau:
- Nguồn gốc tài sản: Tài sản mà
người thừa kế đó có được dù là từ hợp
đồng tặng cho trước đây hay từ thừa kế
thì cũng đều là tài sản của người thừa kế
- Quan hệ thừa kế: Thường là quan hệ
giữa những người thân trong gia đình dựa
trên quan hệ hôn nhân, huyết thống và
nuôi dưỡng, bởi vậy mà tình đoàn kết,
thương yêu, gắn bó giữa những người
thừa kế luôn được coi trọng, đặc biệt là
khi trong gia đình có người qua đời
Việc quy định người thừa kế có nghĩa
vụ phải giao hoàn lại tài sản đP nhận được
từ người để lại thừa kế trước khi người
này chết nhằm xác định đầy đủ di sản của
người để lại thừa kế để có thể phân chia
một cách công bằng cho những người
đồng thừa kế, tránh được tình trạng người
thừa kế đP nhận tài sản của người để lại
thừa kế từ hợp đồng tặng cho (có thể lớn
hơn hoặc bằng một suất thừa kế) lại còn
được nhận di sản thừa kế bằng phần của người thừa kế khác Sự chênh lệch quá lớn trong việc nhận di sản như thế trên thực tế khó có thể được nhiều người chấp nhận
Quan điểm thứ hai: Những người thuộc quan điểm thứ hai lại cho rằng tài sản mà người để lại thừa kế đP cho một hoặc một số người trong những người thừa kế thì khi xác định di sản, phần tài sản được tặng cho trước khi người có tài sản chết sẽ không được tính vào khối di sản thừa kế nữa Về mặt pháp lí, hợp
đồng tặng cho tài sản có hiệu lực sẽ làm chấm dứt quyền sở hữu của người tặng cho và làm phát sinh quyền sở hữu đối với tài sản của người được tặng cho Khi quyền sở hữu đối với tài sản của người để lại di sản chấm dứt từ thời điểm hợp đồng
có hiệu lực thì tài sản đó đP thuộc quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản của người được tặng cho Như vậy càng khẳng định rằng tài sản đP tặng cho không thể thuộc quyền sở hữu của người
để lại thừa kế tại thời điểm mở thừa kế, vì thế phần tài sản đó không được tính vào khối di sản thừa kế
Điều 1747 BLDS và thương mại Thái Lan cũng quy định: "Trong thời gian người để lại tài sản còn sống nếu một người thừa kế đ= nhận được từ người để lại tài sản bất cứ tài sản nào hoặc bất cứ sự thuận lợi nào khác bằng cách trao tặng hay bằng hành vi khác một cách vô điều kiện thì các quyền của người thừa kế đó không vì thế mà trong việc chia di sản mà bị thiệt hại dưới bất kì hình thức nào".(2)
(xem tiêp strang 52)