Pháp luật hình sự thực định của nhà nước là toàn bộ các quy phạm pháp luật hình sự được quy định trong bộ luật hình sự, các đạo luật hình sự và các văn bản pháp luật khác có tính chất lu
Trang 1Một số vấn đề cơ bản
về nhập môn luật hình sự
TS Lê Cảm * rong giai đoạn hiện nay, việc nâng
cao trình độ và làm sâu sắc hơn nữa
các kiến thức về khoa học luật hình
sự của sinh viên, học viên cao học và
nghiên cứu sinh thuộc nhóm chuyên
ngành tư pháp hình sự là một trong những
nhiệm vụ quan trọng của công tác đào tạo
đại học và sau đại học Tuy nhiên, trong
các giáo trình đại học và các chuyên đề
giảng dạy sau đại học về luật hình sự
(Phần chung) cũng như trong sách báo
pháp lí hình sự Việt Nam, một số vấn đề
cơ bản sau đây về nhập môn luật hình sự
vẫn còn là khoảng trống - thiếu các phần
(mục) đề cập việc nghiên cứu các vấn đề
như:
a Các lĩnh vực thể hiện của luật hình
sự là gì ?
b Mục đích và chức năng của luật
hình sự là như thế nào ?
c Các quan hệ pháp luật hình sự có
mấy nhóm ?
d Các phương pháp nghiên cứu trong
khoa học luật hình sự là gì ?
Như vậy, điều này không chỉ cho phép
nói lên ý nghĩa lí luận - thực tiễn của việc
nghiên cứu một số vấn đề lí luận cơ bản
về nhập môn luật hình sự đJ nêu nhằm
góp phần bổ sung cho khoảng trống ấy
trong khoa học luật hình sự Việt Nam mà
còn là lí do luận chứng cho tính cấp thiết
của sự lựa chọn đề tài được đề cập trong
bài báo của chúng tôi
1 Các lĩnh vực thể hiện của luật
hình sự
Nghiên cứu nội dung các quy phạm pháp lí trong các văn bản luật hình sự (như bộ luật hình sự, các đạo luật hình sự khác, ) cũng như tính quyết định xJ hội
và hiệu quả của luật hình sự trong thực tiễn cho phép khẳng định rằng, thông thường luật hình sự được thể hiện trên ba lĩnh vực sinh hoạt chính được thừa nhận chung sau đây: Pháp luật hình sự (thực
định) hay còn gọi là lập pháp hình sự; thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự (mà thực tiễn xét xử là dạng đặc trưng, chủ yếu và quan trọng nhất); và khoa học luật hình sự Mỗi lĩnh vực thể hiện (sinh hoạt) này của luật hình sự đều có những đặc
điểm cơ bản riêng của nó và góp phần quan trọng trong việc đưa các quy phạm pháp luật hình sự trừu tượng vào đời sống thực tế mà dưới đây chúng ta sẽ lần lượt xem xét
a Pháp luật hình sự (thực định) của nhà nước là toàn bộ các quy phạm pháp luật hình sự được quy định trong bộ luật hình sự, các đạo luật hình sự và các văn bản pháp luật khác có tính chất luật hình
sự - "sản phẩm của nhà làm luật"(1) và nó
có những đặc điểm cơ bản như sau: + Nó là kết quả của thực tiễn hoạt
động sáng tạo pháp luật bởi cơ quan đại diện cao nhất thuộc nhánh quyền lực đầu tiên - quyền lập pháp của nhà nước (quốc hội, nghị viện, hay hội đồng lập pháp, ) tiến hành theo trình tự nhất định do luật
T
* Khoa luật - Trường đại học KHXH & nhân văn Đại học quốc gia Hà Nội
Trang 2định;
+ Nó thường được thể hiện dưới hình
thức là các văn bản luật hình sự của nhà
nước như bộ luật, các đạo luật ;
+ Nó ghi nhận các nguyên tắc của luật
hình sự, cơ sở và những điều kiện của
trách nhiệm hình sự (TNHS), quy định
phạm vi (giới hạn) những hành vi bị nhà
làm luật coi là các tội phạm - tội phạm
hóa cũng như các loại và các mức hình
phạt đối với việc thực hiện các tội phạm
ấy - hình sự hóa;
+ Nó là căn cứ pháp lí quan trọng
nhất của nhà nước (ví dụ: ở Việt Nam,
Bộ luật hình sự năm 1985 là căn cứ pháp
lí hình sự duy nhất) để các cơ quan bảo
vệ pháp luật và tòa án áp dụng trong thực
tiễn nhằm giải quyết vấn đề TNHS của
người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện
tội phạm (như truy cứu TNHS, định tội
danh, quyết định hình phạt, miễn TNHS,
miễn hình phạt, )
b Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự
là hình thức của thực tiễn pháp lí và nó có
những đặc điểm cơ bản như sau:
+ Là hoạt động tư pháp hình sự mà
trong đó bằng thực tiễn điều tra, truy tố
và xét xử, các cơ quan bảo vệ pháp luật
và tòa án áp dụng các quy phạm pháp luật
hình sự đối với từng trường hợp cụ thể;
+ Thực tiễn xét xử là dạng đặc trưng,
chủ yếu và quan trọng nhất của thực tiễn
áp dụng pháp luật hình sự vì bằng thực
tiễn xét xử, các quy phạm pháp luật hình
sự trừu tượng (được tạo nên bởi ý chí chủ
quan của nhà làm luật) được cụ thể hóa
vào đời sống xJ hội (thực tế khách quan);
+ Mục đích trực tiếp của áp dụng
pháp luật hình sự là đảm bảo cho các quy
phạm của nó được thực thi một cách hữu
hiệu nhằm bảo vệ vững chắc các quyền và
tự do của con người cũng như các lợi ích
của xJ hội và của nhà nước đồng thời thông qua đó để đạt được mục đích cuối cùng là biến các nguyên tắc tiến bộ của luật hình sự trong nhà nước pháp quyền thành hiện thực, góp phần xây dựng xJ hội công dân;
+ Kết quả thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự của nhà nước ở chừng mực nhất
định cho phép đánh giá một cách tương
đối xác thực và khách quan ý thức pháp luật và trình độ văn hóa pháp lí của cán
bộ các cơ quan bảo vệ pháp luật và tòa án nói riêng và của công dân trong xJ hội nói chung cũng như mức độ dân chủ, nhân đạo và pháp chế trong nhà nước đó
c Khoa học luật hình sự Nếu luật hình sự là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật của nhà nước thì khoa học luật hình sự với tính chất là hình thức nghiên cứu lí luận có thể được hiểu là bộ phận cấu thành của khoa học pháp lí, bao gồm hệ thống các tư tưởng và các quan
điểm lí luận về lịch sử xuất hiện và hình thành của luật hình sự; về đạo luật hình
sự và về TNHS, về tội phạm và về hình phạt, về các biện pháp tư pháp và về các chế định pháp lí hình sự khác; về tính quyết định xJ hội và hiệu quả của luật hình sự; về các quy luật và các xu hướng phát triển và hoàn thiện của pháp luật hình sự quốc gia cũng như về luật hình sự quốc tế và nghiên cứu so sánh luật hình
sự của nước ngoài Như vậy, từ định nghĩa này cho thấy, khoa học luật hình sự
có đặc điểm là phạm vi đối tượng của luật hình sự với tính chất là khoa học bao giờ cũng rộng hơn phạm vi đối tượng của luật hình sự với tính chất là ngành luật vì khoa học luật hình sự là bộ phận cấu thành của khoa học pháp lí, bao gồm hệ thống các tư tưởng và quan điểm lí luận với phạm vi các đối tượng nghiên cứu rộng lớn như sau:
Trang 3+ Lịch sử xuất hiện và hình thành của
luật hình sự;
+ Đạo luật hình sự và TNHS;
+ Tội phạm và hình phạt;
+ Các biện pháp tư pháp và các chế
định pháp lí hình sự khác;
+ Tính quyết định xJ hội và hiệu quả
của luật hình sự;
+ Các quy luật và các xu hướng phát
triển và hoàn thiện của pháp luật hình sự
quốc gia;
+ Luật hình sự quốc tế;
+ Nghiên cứu so sánh luật hình sự của
nước ngoài
2 Mục đích điều chỉnh của luật
hình sự
Mục đích điều chỉnh của bất kì ngành
luật nào đều là kết quả trong tương lai mà
nhà làm luật mong muốn sẽ đạt được
bằng sự điều chỉnh của ngành luật ấy Do
đó, mục đích của luật hình sự chính là
thiết lập lại trật tự của các quan hệ xJ hội
đJ tồn tại trước khi có việc thực hiện tội
phạm mà các quan hệ xJ hội đó bị sự xâm
hại của tội phạm gây nên (hoặc đe dọa
thực tế gây nên) thiệt hại đồng thời trong
quá trình thiết lập lại trật tự ấy tất cả các
công dân và những người có chức vụ
cũng như các cơ quan nhà nước và các tổ
chức xJ hội phải có nghĩa vụ tuân thủ
nghiêm chỉnh các đòi hỏi (yêu cầu) của
luật hình sự Ví dụ:
- Người bị án treo có nghĩa vụ chấp
hành đầy đủ các yêu cầu được quy định
tại Điều 44 Bộ luật hình sự năm 1985;
- Khi có đầy đủ căn cứ cho thấy người
phạm tội tự ý nửa chừng chấm dứt tội
phạm thì tùy từng giai đoạn tố tụng hình
sự, cơ quan tư pháp hình sự tương ứng
phải tuân thủ đòi hỏi tại Điều 16 Bộ luật
hình sự năm 1985 để miễn TNHS cho
người đó vì dạng miễn TNHS được quy
định tại điều luật ấy là có tính chất bắt buộc (chứ không phải là tùy nghi);
- Khi có đầy đủ căn cứ được quy định tại Điều 22 Bộ luật hình sự năm 1985 (như bị cáo "phạm tội ít nghiêm trọng và
có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng chưa
đến mức miễn hình phạt") thì tòa án phải quyết định hình phạt cảnh cáo đối với bị cáo vì đó là yêu cầu có tính chất bắt buộc (chứ không phải là tùy nghi) đối với tòa
án,
3 Chức năng của luật hình sự Chức năng của bất kì ngành luật nào
đều là sự phản ánh nội dung cơ bản của các nhiệm vụ mà ngành luật ấy thực hiện
để nhằm đạt được mục đích điều chỉnh của nó Với tính chất là ngành luật độc lập, luật hình sự có bốn chức năng chính là: Chức năng bảo vệ; chức năng ngăn ngừa; chức năng điều chỉnh; chức năng giáo dục Mỗi chức năng này của luật hình sự đều được thể hiện trên các bình diện khác nhau dưới đây:
+ Chức năng bảo vệ (là chức năng chủ yếu và quan trọng nhất của luật hình sự)
được thể hiện trong việc bảo vệ bằng những biện pháp và phương tiện riêng biệt các lợi ích của con người, của xJ hội
và của nhà nước tránh khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm;
+ Chức năng ngăn ngừa được thể hiện trong:
- Sự ngăn ngừa riêng của luật hình sự
có nghĩa là ngăn ngừa những người đJ phạm tội thực hiện tội phạm mới bằng việc áp dụng hình phạt và các biện pháp cưỡng chế về hình sự khác kèm theo việc tăng cường sự kiểm tra của xJ hội đối với những người bị kết án;
- Sự ngăn ngừa chung của luật hình
sự có nghĩa là ngăn ngừa những người khác phạm tội bằng sự tác động của điều
Trang 4cấm về hình sự và đe dọa áp dụng hình
phạt;
+ Chức năng điều chỉnh được thể hiện
trong việc:
- Điều chỉnh các quan hệ xJ hội tiêu
cực xuất hiện khi có việc thực hiện tội
phạm;
- Bảo đảm sự phối hợp bình thường
của các quan hệ xJ hội tích cực có ý
nghĩa và tầm quan trọng hơn cả mà các
quan hệ xJ hội này được điều chỉnh bằng
các ngành luật khác như luật hiến pháp,
luật hành chính, luật dân sự,
+ Chức năng giáo dục được thể hiện
trong việc giáo dục công dân ý thức tôn
trọng, tuân thủ và chấp hành nghiêm
chỉnh pháp luật cũng như ý thức đấu
tranh chống và phòng ngừa tội phạm
4 Các quan hệ pháp luật hình sự
Tổng thể các quan hệ xJ hội tạo thành
đối tượng điều chỉnh của luật hình sự và
về cơ bản, có thể phân chia chúng thành
ba nhóm quan hệ pháp luật hình sự chính
là: Nhóm các quan hệ pháp luật hình sự
mang tính chất bảo vệ; nhóm các quan hệ
pháp luật hình sự mang tính chất ngăn
ngừa chung; nhóm các quan hệ pháp luật
hình sự mang tính chất điều chỉnh Mỗi
nhóm quan hệ pháp luật hình sự đJ nêu
này đều có những đặc điểm cơ bản riêng
của chúng được chỉ ra dưới đây
+ Nhóm các quan pháp luật hình sự
mang tính chất bảo vệ có những đặc điểm
chủ yếu như sau:
- Chúng phát sinh (xuất hiện) khi có
sự việc phạm tội;
- Chúng là các quan hệ giữa một bên
là người đJ thực hiện hành vi nguy hiểm
cho xJ hội bị luật hình sự cấm và bên kia
là nhà nước (mà đại diện là các cơ quan
điều tra, viện kiểm sát và tòa án);
- Đối tượng của nhóm các quan hệ
pháp luật hình sự này là thực hiện TNHS
và hình phạt (mà việc thực hiện ấy liên quan với việc xác định sự kiện của tội phạm), quyết định hình phạt và các biện pháp cưỡng chế về hình sự khác (như các biện pháp tư pháp), áp dụng việc tha miễn TNHS và hình phạt;
+ Nhóm các quan hệ pháp luật hình
sự mang tính chất ngăn ngừa chung có những đặc điểm chủ yếu như sau:
- Chúng kìm giữ mọi người tránh khỏi việc thực hiện tội phạm bằng việc đe dọa áp dụng hình phạt (được quy định trong các quy phạm pháp luật hình sự);
- Thiết lập điều cấm về hình sự chính
là biểu hiện sự cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước nên sự vi phạm điều cấm ấy sẽ bị xử lí bằng biện pháp tác
động về mặt pháp lí hình sự;
- Điều cấm về hình sự buộc các công dân có trách nhiệm phải tự kìm giữ mình khỏi việc phạm tội;
- Nhóm quan hệ pháp luật hình sự này điều chỉnh cách xử sự của tất cả các thành viên trong xJ hội;
+ Nhóm các quan hệ pháp luật hình
sự mang tính chất điều chỉnh có những nét đặc điểm chủ yếu như sau:
- Chúng dành cho mọi người các quyền nhất định khi bảo vệ các lợi ích hợp pháp của họ, của người khác, của xJ hội hay của nhà nước như phòng vệ chính
đáng, gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết hoặc khi bắt giữ kẻ phạm tội
- Được hình thành trên cơ sở các quy phạm mang tính chất điều chỉnh (ví dụ: Giữa người phòng vệ chính đáng với cơ quan nhà nước tương ứng có thẩm quyền)
và chính chúng điều chỉnh hành vi (xử sự) hợp pháp và có ích cho xJ hội mà chủ thể của hành vi đJ thực hiện;
- Tuy nhiên, không phải tất cả mà chỉ
có một số cơ quan đại diện cho nhà nước (các cơ quan điều tra, truy tố xét xử mới
Trang 5có thẩm quyền xác định trong từng
trường hợp cụ thể hành vi tương ứng nào
là phù hợp với các đòi hỏi của pháp luật)
5 Các phương pháp nghiên cứu của
khoa học luật hình sự
Trong quá trình nghiên cứu các đối
tượng của mình, để thấy rõ hiệu quả của
các quy phạm và các chế định luật hình
sự đồng thời để nhận thức được một cách
sâu sắc và đầy đủ chức năng, bản chất
pháp lí và tính quyết định xJ hội của
chúng, khoa học luật hình sự sử dụng
nhiều phương pháp (cách tiếp cận vấn đề)
khác nhau Tuy nhiên, việc phân tích các
công trình nghiên cứu lí luận trong khoa
học luật hình sự của Việt Nam và của
nước ngoài cho phép khẳng định rằng, về
cơ bản có thể chỉ ra năm phương pháp
chính được thừa nhận chung là phương
pháp xJ hội học, phương pháp logic hình
thức, phương pháp luật học - lịch sử,
phương pháp luật học - so sánh và phương
pháp biện chứng (triết học) mà dưới đây
chúng ta sẽ lần lượt xem xét những đặc
điểm riêng của từng phương pháp:
a Phương pháp xJ hội học (còn gọi là
xJ hội học cụ thể) có những đặc điểm cơ
bản như sau:
+ Nó phân tích các quy phạm pháp
luật hình sự, đạo luật hình sự, tội phạm, hình
phạt và các chế định pháp lí hình sự khác với
tính chất là các hiện tượng xJ hội;
+ Nó được sử dụng trong việc lựa
chọn và phân tích theo một hệ thống (quy
trình) nhất định các sự kiện cụ thể của
đạo luật hình sự cũng như sự ảnh hưởng
của đạo luật hình sự đối với người phạm
tội và tội phạm;
+ Nó là cơ sở chủ yếu của việc dự báo
và hoạt động sáng tạo pháp luật trong lĩnh
vực luật hình sự nói riêng và tư pháp hình
sự nói chung vì phương pháp này đưa ra
các số liệu cụ thể thông qua các kết quả
điều tra xJ hội học bằng cách phỏng vấn (các biểu mẫu, các phiếu hỏi và đáp, các
đánh giá giám định, .) các đối tượng khác nhau như cán bộ thực tiễn của những cơ quan bảo vệ pháp luật và tòa án, cán bộ khoa học, cán bộ giảng dạy, học sinh, sinh viên, thầy cô giáo, bác sĩ, kĩ sư, các phạm nhân, đối với các vấn đề luật hình sự tương ứng;
+ Nếu không sử dụng phương pháp xJ hội học thì khoa học luật hình sự khó có thể đưa ra nhận xét xác thực và khách quan về tính quyết định xJ hội và hiệu quả của đạo luật hình sự, các quy phạm (hay các chế định) luật hình sự nào đó
b Phương pháp logic hình thức (còn gọi là phương pháp "giáo điều" hoặc phương pháp pháp lí riêng) có những đặc
điểm cơ bản như sau:
+ Nó là phương pháp truyền thống và chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu lí luận hình sự từ trước đến nay mà thiếu nó không thể nói gì đến phương pháp của khoa học luật hình sự và việc áp dụng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự; + Nó nghiên cứu tội phạm với tính chất là khái niệm pháp lí, nghiên cứu một hay nhiều quy phạm (hoặc chế định) của luật hình sự cũng như các khái niệm và các phạm trù pháp lí với đúng ý nghĩa hình sự của chúng - các "giáo điều" của luật hình sự;
+ Nó dựa trên việc sử dụng các quy tắc của logic hình thức và ngữ pháp nên chức năng ưu việt của phương pháp này
(xem tiếp trang 42)