Kết quả kiểm tra không gửi tới cơ quan soạn thảo mà trình ủy ban thường vụ Quốc hội để ủy ban thường vụ Quốc hội đóng góp ý kiến cho dự án nếu là thẩm tra sơ bộ hoặc được Quốc hội xem xé
Trang 1nghiên cứu - trao đổi
kiểm tra trước văn bản pháp luật
Ths Bùi Thị Đào * gày nay không ai còn nghi ngờ về
vai trò bảo đảm sự ổn định và phát
triển x hội của pháp luật Trong tương
lai, vai trò đó của pháp luật chắc chắn
không giảm đi mà còn lớn hơn lên Song
giá trị thực tế mà pháp luật có được tùy
thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, như: ý
thức pháp luật của người dân, các thiết
chế đảm bảo cho pháp luật được thực
hiện, đặc biệt chất lượng của chính hệ
thống pháp luật Khác với nhiều loại quy
phạm x hội khác, pháp luật được hình
thành một cách tự giác, được xây dựng
theo quy trình chặt chẽ, bởi những chủ
thể nhất định trong x hội Quy trình xây
dựng pháp luật khoa học, hợp lí là một
trong những yếu tố căn bản quyết định
chất lượng của mỗi văn bản pháp luật
Chính vì vậy, hoạt động xây dựng pháp
luật trên thực tế và các quy định về thủ
tục xây dựng pháp luật luôn được các nhà
khoa học, nhà làm luật và những người
quan tâm tìm mọi cách làm cho đầy đủ,
chặt chẽ và khách quan hơn Góp phần
vào mối quan tâm chung đó chúng tôi
muốn bàn đến vấn đề nằm ngay trong
quy trình xây dựng pháp luật - vấn đề
kiểm tra trước văn bản pháp luật Các
khía cạnh của vấn đề sẽ được xem xét
bao gồm: Sự cần thiết phải kiểm tra trước,
kiểm tra trước qua các giai đoạn xây
dựng văn bản và cuối cùng là một vài
nhận xét về kiểm tra trước được quy định
trong Luật ban hành văn bản quy phạm
pháp luật được Quốc hội nước Cộng hòa
x hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua
ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Nghị định
số 101/CP ngày 23 tháng 9 năm 1997 quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
a Sự cần thiết của hoạt động kiểm tra trước văn bản pháp luật
Hoạt động kiểm tra văn bản pháp luật
được tiến hành từ khi văn bản bắt đầu hình thành đến khi văn bản bị loại khỏi
hệ thống pháp luật Toàn bộ quá trình kiểm tra được chia thành hai giai đoạn khác nhau rõ rệt: Giai đoạn trước khi văn bản được ban hành (kiểm tra trước) và giai đoạn sau khi văn bản được ban hành (kiểm tra sau)
Hoạt động kiểm tra sau có mục đích phát hiện để hạn chế hay loại trừ các khiếm khuyết của văn bản đang được thực hiện, tức là sửa chữa những sai sót
đ mắc phải trong quá trình xây dựng văn bản hay khắc phục sự lỗi thời, lạc hậu của văn bản do điều kiện kinh tế x hội, cơ sở
để xây dựng nên văn bản, đ thay đổi Công việc này hết sức cần thiết song đó
là sự cần thiết của việc “chữa bệnh” vì nó
ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, giá trị thực tế của từng văn bản và của hệ thống pháp luật Cũng có khi sửa được sai thì hậu quả mà nó gây ra rất khó khắc phục cả về kinh tế và tâm lí x hội Ngược lại, hoạt động kiểm tra trước ngăn ngừa khả năng tạo ra những khiếm khuyết đó, nghĩa là tránh những sai sót
N
* Giảng viên Khoa hành chính - nhà nước Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2nghiên cứu - trao đổi
có thể mắc phải Hoạt động này có tính
chất “phòng bệnh” “Phòng bệnh hơn
chữa bệnh” vì đó là hoạt động chủ động,
ít tốn kém hơn (kiểm tra trước càng được
coi trọng, càng hiệu quả bao nhiêu thì
kiểm tra sau càng nhẹ nhàng, đơn giản
bấy nhiêu)
Các khiếm khuyết của văn bản có thể
rất đa dạng Đó có thể là chưa thể hiện
đúng đường lối, chính sách của Đảng,
không phù hợp với thực tế, không thống
nhất với các văn bản cùng thứ bậc, trái
với văn bản cấp trên hoặc không đúng
thẩm quyền Các khiếm khuyết này có
thể được sinh ra ở bất cứ giai đoạn nào
của quá trình xây dựng văn bản, do các
yếu tố khách quan hay chủ quan, cố ý
hay vô ý Chính vì vậy, việc phát hiện sai
sót trong quá trình xây dựng văn bản
nhằm kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn những
sai sót đó có ý nghĩa to lớn đối với việc
nâng cao chất lượng văn bản pháp luật
b Hoạt động kiểm tra qua các giai
đoạn của quá trình xây dựng văn bản
pháp luật
Xây dựng văn bản pháp luật là quá
trình liên tục của nhiều giai đoạn kế tiếp
nhau mà qua mỗi giai đoạn, văn bản được
soạn thảo tiến dần tới độ hoàn thiện ở
mỗi giai đoạn, hoạt động kiểm tra cũng
có những thay đổi về nội dung, cách thức
và chủ thể tiến hành Sau đây, chúng ta
xem xét hoạt động kiểm tra trước đối với
văn bản luật
ở giai đoạn lập chương trình xây
dựng luật: Đây là giai đoạn nhận thức
nhu cầu điều chỉnh pháp luật và thừa
nhận các nhu cầu đó bằng hình thức pháp
lí là chương trình xây dựng luật Chương
trình xây dựng luật đúng sẽ định hướng
cho hoạt động xây dựng pháp luật đáp ứng đúng nhu cầu của x hội, góp phần bảo đảm tính hợp thời của văn bản pháp luật Trong giai đoạn này, các ý kiến đề xuất xây dựng chương trình được kiểm tra bởi Chính phủ, cơ quan thẩm tra, ủy ban thường vụ Quốc hội Hoạt động này nhằm tránh khả năng nhìn nhận vấn đề phiến diện, chỉ xuất phát từ lợi ích của chủ thể nào đó, nó giúp cơ quan lập chương trình có cái nhìn khách quan, toàn diện, từ đó đưa ra được chương trình
có chất lượng cao Hoạt động kiểm tra ở giai đoạn này chủ yếu tập trung vào sự cần thiết phải ban hành văn bản (tính hợp thời)
ở giai đoạn soạn thảo và thông qua văn bản: Đây là giai đoạn cơ quan soạn thảo lần lượt cho ra đời các dự thảo khác nhau Việc kiểm tra được thực hiện bằng nhiều cơ quan, trong đó có những cơ quan được quy định trước như Chính phủ,
ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan thẩm tra, cũng có thể là cơ quan không
được ấn định trước mà tùy thuộc nội dung của từng văn bản cụ thể
Trước hết, hoạt động kiểm tra được thực hiện bởi Chính phủ Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ kiểm tra về sự phù hợp của dự án với các lĩnh vực x hội do các cơ quan đó phụ trách,
Bộ tư pháp kiểm tra về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của dự án với hệ thống pháp luật ý kiến kiểm tra được gửi tới cơ quan soạn thảo để cơ quan soạn thảo nghiên cứu, tiếp thu chỉnh lí dự án Sau đó, hoạt động kiểm tra được thực hiện bởi cơ quan thẩm tra Lúc này phạm
vi kiểm tra rất rộng, bao gồm: Tính hợp thời (sự cần thiết phải ban hành văn bản,
Trang 3nghiên cứu - trao đổi
tính khả thi của văn bản); sự phù hợp với
đường lối, chính sách của Đảng; tính hợp
pháp và thống nhất của dự án với hệ
thống pháp luật; việc tuân thủ thủ tục
soạn thảo Kết quả kiểm tra không gửi tới
cơ quan soạn thảo mà trình ủy ban
thường vụ Quốc hội để ủy ban thường vụ
Quốc hội đóng góp ý kiến cho dự án (nếu
là thẩm tra sơ bộ) hoặc được Quốc hội
xem xét trong phiên họp thông qua văn
bản (nếu là thẩm tra chính thức) Xen vào
đó là hoạt động kiểm tra của ủy ban
thường vụ Quốc hội tiến hành giữa hai
lần thẩm tra (sơ bộ và chính thức) của cơ
quan thẩm tra, kết quả kiểm tra này thực
chất là kết quả tổng hợp của thẩm tra sơ
bộ và kiểm tra do chính ủy ban thường
vụ Quốc hội thực hiện Kết quả đó được
gửi tới cơ quan soạn thảo để hoàn chỉnh
dự án
c Mấy nhận xét về kiểm tra trước
được quy định trong Luật ban hành văn
bản quy phạm pháp luật và Nghị định
số 101/CP ngày 23 tháng 9 năm 1997
+ Hoạt động kiểm tra trước được thực
hiện theo cách cơ quan đề nghị kiểm tra
yêu cầu (hỏi) và cơ quan kiểm tra tham
gia ý kiến Vậy, đây là quyền được hỏi
hay nghĩa vụ phải hỏi ?
Nếu là quyền được hỏi thì có thể hỏi
hoặc không Nếu không hỏi thì không có
hoạt động kiểm tra, điều đó là bất hợp lí
Nếu là nghĩa vụ phải hỏi thì cần có những
biện pháp bảo đảm cho nghĩa vụ đó được
thực hiện Chẳng hạn, đối với các dự án
luật, pháp lệnh để được Chính phủ trình
hoặc Chính phủ tham gia ý kiến phải
được Bộ tư pháp thẩm định Khoản 2
Điều 19 Nghị định số 101/CP nêu trên có
quy định rõ: “Chính phủ chỉ xem xét các
dự án luật, pháp lệnh để quyết định trình Quốc hội, ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc để tham gia ý kiến đối với dự án luật, pháp lệnh do các cơ quan khác, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình hoặc xem xét dự thảo nghị quyết, nghị định để ban hành, sau khi đJ có báo cáo thẩm định bằng văn bản của Bộ tư pháp” Điều đó
có nghĩa là khi nghĩa vụ hỏi chưa được thực hiện thì các giai đoạn tiếp theo của quá trình xây dựng văn bản không thể tiếp tục được Tuy nhiên, không phải bao giờ cũng có sự bảo đảm tương tự như vậy
Điều 22 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định về lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, tại khoản 2 quy
định ý kiến đề xuất xây dựng chương trình của các chủ thể có quyền trình dự
án luật theo Điều 87 Hiến pháp 1992 phải gửi đến Chính phủ để Chính phủ tham gia
ý kiến Tại khoản 4 của điều luật trên, ủy ban thường vụ Quốc hội căn cứ vào các ý kiến đề xuất và ý kiến thẩm tra của ủy ban pháp luật để lập dự kiến chương trình Như vậy, ở đây không có quy định
về việc xem xét ý kiến phát biểu của Chính phủ Vấn đề đặt ra là ý kiến của Chính phủ có ý nghĩa như thế nào và việc gửi ý kiến đề xuất xây dựng chương trình tới Chính phủ có bắt buộc không? Hay khoản 4 Điều 26 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định cơ quan soạn thảo phải lấy ý kiến của các cơ quan hữu quan nhưng cơ quan soạn thảo có lấy
ý kiến của các cơ quan đó không thì không thấy có các quy định tiếp theo Ví
dụ, Điều 33 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định cơ quan soạn thảo chỉ cần gửi dự án và tờ trình tới cơ quan thẩm tra để thẩm tra (mà không
Trang 4nghiên cứu - trao đổi
phải gửi ý kiến của các cơ quan cho ý
kiến, kể cả bản tổng hợp các ý kiến đó),
còn nếu hiểu khoản 3 Điều 34 của luật
này quy định thẩm tra “việc tuân thủ thủ
tục, trình tự soạn thảo” bao hàm cả thủ
tục lấy ý kiến cơ quan hữu quan thì lại
không có biện pháp xử lí nào nếu thủ tục
đó chưa được thực hiện (có chăng cũng
chỉ dừng ở mức thể hiện vấn đề đó trong
báo cáo thẩm tra trình trong phiên họp
xem xét, thông qua văn bản của cơ quan
có thẩm quyền) Vậy trong những trường
hợp này lấy gì để đảm bảo rằng các hoạt
động kiểm tra đ không bị bỏ qua Nói
cách khác, muốn văn bản được kiểm tra
trước cần phải có những biện pháp bảo
đảm cho hoạt động đó được thực hiện
+ ý kiến của cơ quan kiểm tra có giá
trị như thế nào, bắt buộc hay chỉ là tư
vấn, tham khảo?
Xuất phát từ vị trí của cơ quan kiểm
tra trong hoạt động xây dựng pháp luật là
cơ quan mà hoạt động của nó liên quan
trực tiếp tới vấn đề thuộc nội dung mà
văn bản hay là cơ quan am hiểu về vấn đề
văn bản đề cập hoặc là cơ quan trực thuộc
của cơ quan có thẩm quyền thông qua
văn bản (Bộ tư pháp đối với nghị định;
Hội đồng dân tộc, các ủy ban của Quốc
hội đối với luật) nên cơ quan kiểm tra
không thể có quyền quyết định tới nội
dung văn bản Như vậy, ý kiến thẩm tra
chỉ có thể là ý kiến tư vấn, tham khảo ý
kiến này có khả năng được chuyển tải vào
văn bản không, được chuyển tải bao
nhiêu và như thế nào còn tùy thuộc nhiều
yếu tố Vậy làm thế nào để hoạt động
kiểm tra trước thực sự có giá trị mà
không chỉ là hình thức Vấn đề này cần
được quan tâm từ hai phía: Một là, về
phía cơ quan kiểm tra phải có trách
nhiệm đối với ý kiến của mình sao cho ý kiến đó có chất lượng cao; hai là, về phía cơ quan yêu cầu kiểm tra phải nghiêm túc xem xét đến ý kiến của cơ quan kiểm tra thể hiện bằng việc nghiên cứu, tiếp thu ý kiến đó và có thể phải giải trình về các vấn đề không được chấp nhận trong trường hợp cần thiết
Nhân đây, chúng tôi cũng muốn bàn
về Điều 24 Nghị định số 101/CP Điều 24 quy định: “Bộ tư pháp thẩm định về đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản,
kĩ thuật soạn thảo văn bản, ngôn ngữ pháp lí và chịu trách nhiệm về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản trong hệ thống pháp luật” Quy định này đề cập hai vấn đề là phạm vi thẩm
định hay giới hạn của công việc mà Bộ tư pháp phải tiến hành và trách nhiệm của
Bộ tư pháp Nếu hiểu "Bộ tư pháp thẩm
định về và chịu trách nhiệm về " là hai yêu cầu khác nhau đối với Bộ tư pháp thì phạm vi thẩm định bao gồm: Đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản, kĩ thuật soạn thảo văn bản và ngôn ngữ pháp
lí Trong khi đó, Bộ tư pháp lại phải chịu trách nhiệm về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản trong hệ thống pháp luật - những vấn đề gần như hoàn toàn nằm ngoài phạm vi thẩm định
Có thể nói hoạt động thẩm định của Bộ tư pháp (với phạm vi như trên) không ảnh hướng gì tới tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản trong hệ thống pháp luật Thật khó mà tìm thấy mối liên
hệ giữa công việc mà Bộ tư pháp phải tiến hành và trách nhiệm mà Bộ tư pháp phải gánh chịu Nếu hiểu tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản trong
hệ thống pháp luật cũng thuộc phạm vi thẩm định của Bộ tư pháp thì chế độ trách
Trang 5nghiên cứu - trao đổi
nhiệm này cũng không hợp lí vì Bộ tư
pháp chỉ thẩm định dự án (dự thảo) mà
không thẩm định văn bản Đối với dự án
luật chẳng hạn, khi Bộ tư pháp thẩm định
thì dự án mới đang ở giai đoạn Chính phủ
chuẩn bị trình hoặc cho ý kiến, từ đó cho
đến khi văn bản được ban hành còn có sự
tham gia của rất nhiều chủ thể nữa, đó là
cơ quan soạn thảo, ủy ban thường vụ
Quốc hội, cơ quan thẩm tra và cuối cùng
là Quốc hội Dưới sự tác động của các cơ
quan đó còn rất nhiều dự thảo nối tiếp
nhau ra đời mà điều chắc chắn là dự thảo
cuối cùng không phải là bản sao của dự
thảo được Bộ tư pháp thẩm định Quy
định trên có thể hiểu theo hai cách:
Một là, ý kiến thẩm định của Bộ tư
pháp có giá trị bắt buộc, nghĩa là tất cả
các dự thảo sau phải tuân thủ những nhận
định và chỉ dẫn của Bộ tư pháp, có như
vậy Bộ tư pháp mới có thể chịu trách
nhiệm về văn bản khi nó được ban hành
Cách hiểu này chưa có đủ cơ sở vì như
trên đ nói sau khi Bộ tư pháp thẩm định
còn có nhiều cơ quan khác nhau tác động
vào quá trình hình thành văn bản, đặc biệt
trong đó có Quốc hội - cơ quan cuối cùng
và duy nhất có quyền quyết định một
cách độc lập về toàn bộ văn bản (thậm
chí bất chấp các ý kiến trước đó như thế
nào)
Hai là, ý kiến thẩm định của Bộ tư
pháp chỉ có giá trị tham khảo (giống như
các ý kiến kiểm tra khác) Trường hợp
này, các dự thảo sau hoàn toàn có thể
thay đổi những vấn đề được Bộ tư pháp
coi là đúng đắn hay giữ nguyên, những
nội dung đ được Bộ tư pháp khuyến cáo
là sai trái hoặc đề nghị đưa thêm vào dự
thảo những nội dung mới Nói cách khác,
ý kiến của Bộ tư pháp chỉ phù hợp với dự
thảo được đưa ra thẩm định, không có gì
đảm bảo rằng ý kiến đó vẫn còn nguyên giá trị đối với văn bản khi nó được ban hành Vì thế, việc buộc Bộ tư pháp “chịu trách nhiệm về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản trong hệ thống pháp luật” cũng không có cơ sở Chúng tôi cho rằng sẽ hợp lí hơn nếu quy định trên được sửa đổi theo một trong hai hướng sau:
Thứ nhất, chỉ nên quy định về phạm
vi thẩm định của Bộ tư pháp đối với dự án tương tự cách quy định phạm vi thẩm tra của cơ quan thẩm tra ở Điều 34 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật mà không quy định về trách nhiệm của cơ quan này Quy định như vậy tuy không
đề cao trách nhiệm của Bộ tư pháp đối với dự án như quy định hiện nay song lại tránh được sự bất hợp lí như đ phân tích
đồng thời điều đó cũng hoàn toàn thống nhất với các quy định khác trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật là không có cơ quan kiểm tra nào (kể cả cơ quan thẩm tra) phải chịu trách nhiệm về chất lượng của văn bản
Thứ hai, vẫn quy định trách nhiệm của Bộ tư pháp đối với chất lượng của văn bản nhưng chỉ giới hạn trong phạm vi ý kiến thẩm định Tức là Bộ tư pháp chỉ chịu trách nhiệm về khiếm khuyết của văn bản do sự tác động của ý kiến thẩm
định của mình mà thôi ở đây, trách nhiệm của Bộ tư pháp được đề cao một cách hợp lí (chỉ phải chịu trách nhiệm về việc mình làm chứ không chịu trách nhiệm về việc người khác làm) Song đến nay, lại có vấn đề không thể không quan tâm là nếu đ đặt ra trách nhiệm đối với
Bộ tư pháp thì tại sao không đặt trách nhiệm đối với cơ quan thẩm tra như Hội
Trang 6nghiên cứu - trao đổi
đồng dân tộc, các ủy ban của Quốc hội
(cũng có hoạt động tương tự như Bộ tư
pháp nhưng có vai trò quan trọng hơn
nhiều) Nghĩa là cần có thêm quy định về
trách nhiệm của cơ quan thẩm tra đối với
ý kiến thẩm tra khi chúng được chuyển
tải vào văn bản Cách làm này khó khăn,
phức tạp hơn so với cách thức thứ nhất
nhưng kết quả chắc chắn tốt hơn vì việc
quy định trách nhiệm cho cơ quan thẩm
tra, thẩm định sẽ buộc các cơ quan đó
thực hiện phần việc của mình một cách
thận trọng, có chất lượng và khi đó hoạt
động kiểm tra sẽ hiệu quả hơn
d Về Điều 35 của Luật ban hành văn
bản quy phạm pháp luật
* Về vấn đề thẩm tra một lần đối với
dự án luật, đoạn 2, đoạn 3 điều luật này
quy định “Đối với dự án luật trình ủy
ban thường vụ Quốc hội để xin ý kiến thì
phải được cơ quan thẩm tra tiến hành
thẩm tra sơ bộ
Đối với dự án luật trình Quốc hội
xem xét, thông qua thì phải được cơ quan
thẩm tra tiến hành thẩm tra chính thức”
Trong quy trình xây dựng luật do Chủ
tịch nước, Hội đồng dân tộc và các ủy
ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức thành viên, đại biểu Quốc hội
trình thì ủy ban thường vụ Quốc hội xem
xét, cho ý kiến là giai đoạn bắt buộc và
trong các phiên họp của ủy ban thường
vụ Quốc hội cho ý kiến về dự luật, Quốc
hội thông qua dự luật đều có một hoạt
động được tiến hành là do vậy, “đại diện
cơ quan thẩm tra trình báo cáo thẩm
tra” Như vậy, các dự án luật do các chủ
thể có quyền trình dự án luật theo Điều
87 Hiến pháp 1992 (trừ ủy ban thường vụ Quốc hội) đều được thẩm tra ít nhất hai lần (sơ bộ và chính thức) và “dự án luật
có thể được thẩm tra một lần ” theo quy
định ở đoạn 1 của điều luật chỉ có thể là
dự án luật do ủy ban thường vụ Quốc hội trình So sánh quy trình xây dựng luật do
ủy ban thường vụ Quốc hội trình với dự luật do các chủ thể khác trình thì thấy dự luật của ủy ban thường vụ Quốc hội đ không có giai đoạn ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến theo mục 5, chương III của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (vì dự án do chính cơ quan đó soạn thảo) lại không được thẩm tra sơ bộ (vì thẩm tra sơ bộ được thực hiện với dự
án trình ủy ban thường vụ Quốc hội để xin ý kiến) Tức là, trong quy trình này hoạt động kiểm tra được tiến hành ít hơn nhiều so với quy trình xây dựng luật do các chủ thể khác trình Một quy trình xây dựng như vậy có tương xứng với văn bản
được xây dựng không khi mà không có sự khác biệt nào về nội dung, tính chất của
dự án do các chủ thể khác nhau trình và liệu có đảm bảo chất lượng cho văn bản không, có đảm bảo tính khách quan, vô tư trong việc đưa ra các quy định của dự
án không?
* Về mối quan hệ giữa cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra, đoạn 1 Điều 35 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định: “Dự án luật có thể được thẩm tra một lần hoặc nhiều lần” Như vậy, mỗi dự luật (trừ dự luật do ủy ban thường vụ Quốc hội trình) đều được thẩm tra hai lần (sơ bộ và chính thức) “Hai lần” thẩm tra này có lẽ không hoàn toàn
đồng nghĩa với “nhiều lần” quy định ở
đoạn 1, vì nếu đồng nghĩa nhà làm luật đ
Trang 7nghiên cứu - trao đổi
quy định “ có thể được thẩm tra một lần
hoặc hai lần” Nói cách khác, nhiều lần
có thể là hơn hai lần Bây giờ chúng ta
xem xét hai trường hợp sau:
- Trường hợp thẩm tra hai lần: Lần
thẩm tra chính thức, báo cáo thẩm tra
được trình trước Quốc hội, kết quả thẩm
tra tác động vào quyết định của Quốc hội
chứ không tác động vào cơ quan soạn
thảo để đưa ra dự thảo mới Trong lần
thẩm tra này chỉ có quan hệ một chiều là
cơ quan soạn thảo yêu cầu cơ quan thẩm
tra tiến hành thẩm tra mà không có tác
động ngược lại từ cơ quan thẩm tra tới cơ
quan soạn thảo Lần thẩm tra sơ bộ, báo
cáo thẩm tra được trình trước ủy ban
thường vụ Quốc hội, ủy ban thường vụ
Quốc hội nghe thuyết trình dự án của cơ
quan soạn thảo và nghe cơ quan thẩm tra
trình báo cáo thẩm tra, trên cơ sở đó thảo
luận rồi đưa ra ý kiến của mình Kết quả
thẩm tra không tác động trực tiếp, nguyên
vẹn tới cơ quan soạn thảo mà được trung
chuyển qua nhận thức của ủy ban thường
vụ Quốc hội Trong trường hợp này, ảnh
hưởng của ý kiến thẩm tra tới quá trình
hình thành dự án của cơ quan soạn thảo
là rất yếu Do đó, nếu xảy ra tình huống
bất đồng ý kiến giữa cơ quan soạn thảo
và cơ quan thẩm tra, đặc biệt là khi thẩm
tra chính thức thì việc xem xét, thông qua
dự án của Quốc hội sẽ rất khó khăn, phức
tạp và quá trình ban hành văn bản có thể
bị chậm trễ Nên chăng ở đây cần có cơ
chế để quan điểm của cơ quan soạn thảo
và cơ quan thẩm tra có dịp cọ xát với
nhau, một mặt, cơ quan thẩm tra kịp thời
chỉ ra những khiếm khuyết trong dự án
của cơ quan soạn thảo nhằm mau chóng hoàn chỉnh dự án, mặt khác, cơ quan soạn thảo có cơ hội để tự bảo vệ quan điểm của mình nếu cho rằng ý kiến của cơ
quan thẩm tra không hoàn toàn thích
đáng
- Trường hợp thẩm tra hơn hai lần:
Vấn đề đặt ra là những lần thẩm tra ngoài thẩm tra sơ bộ và thẩm tra chính thức
được thực hiện vào lúc nào, trong trường hợp nào? Ai quyết định thẩm tra những lần đó (cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm tra hay một cơ quan nào khác)? Giá trị của các lần thẩm tra đó như thế nào, tác
động vào cơ quan soạn thảo bằng con
đường nào? Những vấn đề này dường như
chưa được quan tâm một cách thoả đáng, ngoại trừ trường hợp dự án đ được trình tới Quốc hội nhưng không thể thông qua
được mà phải quay lại giai đoạn soạn thảo để hoàn chỉnh hơn thì khi trình lại
đương nhiên phải thẩm tra lại Khi đó, nhận định trên về hậu quả của việc thiếu
sự tác động ngược trở lại của cơ quan thẩm tra tới cơ quan soạn thảo càng được chứng minh rõ ràng Còn nếu như có những lần thẩm tra khác nữa thì tương tự như thẩm tra sơ bộ và thẩm tra chính thức, nếu những lần thẩm tra đó xảy ra trước giai đoạn ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến và có sự liên hệ mật thiết giữa cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra thì chắc chắn chất lượng các dự thảo sau đó
sẽ được tăng lên và sự thống nhất ý kiến của các chủ thể tham gia quá trình xây dựng văn bản sẽ mau chóng đạt được Vì thế, để hoạt
động thẩm tra - một hình thức kiểm tra trước có giá trị thiết thực cần tạo ra mối quan hệ hai chiều giữa cơ quan soạn thảo dự
án và cơ quan thẩm tra./