1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Một số suy nghĩ về nguyên tắc xác định cha, mẹ và con (trong giá thú) theo pháp luật Việt Nam" doc

9 655 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 129,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, theo nguyên tắc suy đoán này, kể từ khi kết hôn, chỉ những đứa trẻ nào do người vợ sinh ra sau 180 ngày hoặc không quá 300 ngày kể từ khi hôn nhân chấm dứt trước pháp luật do ng

Trang 1

Một số suy nghĩ về nguyên tắc xác

định cha, mẹ và con (trong giá thú)

theo pháp luật Việt Nam

ấn đề xác định cha, mẹ và con nói

chung, trong đó có việc xác định cha,

mẹ và con (trong giá thú) là vấn đề

khá phức tạp nhưng rất cần thiết, nó đ%

gây nhiều tranh c%i về mặt lí luận và

trong thực tiễn xét xử Trong bài viết này,

trên cơ sở phân tích nội dung cơ bản của

nguyên tắc suy đoán pháp lí xác định cha,

mẹ và con (trong giá thú) theo Luật hôn

nhân và gia đình 1986 (LHNGĐ); so sánh

với quy định về vấn đề này của hệ thống

pháp luật dưới chế độ cũ ở nước ta chúng

tôi xin nêu một số hạn chế về việc xác

định cha, mẹ và con (trong giá thú) của

pháp luật hiện hành; từ đó đề nghị sửa

đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật

về xác định cha, mẹ và con (trong giá

thú) theo LHNGĐ Việt Nam

1 Sự cần thiết phải quy định vấn đề

xác định cha, mẹ và con trong pháp

luật

Gia đình là nền tảng của x% hội

Trong gia đình có sự liên kết của nhiều

người dựa trên cơ sở hôn nhân, huyết

thống, nuôi dưỡng Mỗi người đều được

sinh ra, được dưỡng dục và trưởng thành

trong môi trường gia đình Đó là mối

quan hệ huyết thống tự nhiên - quan hệ

giữa cha mẹ và con Vấn đề xác định cha,

mẹ và con có ý nghĩa sâu sắc cả về mặt

x% hội và pháp lí Người được xác định là

cha, là mẹ, là con của nhau, ngoài tình

cảm thương yêu "máu mủ, ruột thịt",

những người này còn được thực hiện các quyền và phải thực hiện các nghĩa vụ mà luật định cho họ Đó cũng là cơ sở pháp lí

để cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quan hệ nhân thân và tài sản trong mối quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con Ví dụ: Các tranh chấp về yêu cầu tòa án xác định cha, mẹ

và con thường liên quan đến các quyền về

họ tên, tôn giáo, quốc tịch, dân tộc, thừa

kế, cấp dưỡng Như vậy, cần phải quy

định vấn đề xác định cha, mẹ và con trong pháp luật Nhà làm luật quy định

"nguyên tắc suy đoán pháp lí xác định cha, mẹ và con", trên cơ sở đó quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con được xác lập (thừa nhận) "ở nước Cộng hòa x hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người

về chính trị, dân sự, kinh tế văn hóa và x hội được tôn trọng " (Điều 50 - Hiến pháp 1992); "mỗi cá nhân đều có quyền

có họ, tên Họ, tên của mỗi người được xác định theo họ, tên khai sinh của người

đó" (Điều 28 BLDS); "Nhà nước và x hội không thừa nhận việc phân biệt đối

xử giữa các con" (Điều 64 Hiến pháp 1992); "giữa con trong giá thú và con ngoài giá thú; con ngoài giá thú được cha, mẹ nhận hoặc được tòa án nhân dân cho nhận cha mẹ có mọi quyền và nghĩa

V

* Giảng viên Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

vụ như con trong giá thú" (Điều 32

LHNGĐ 1986) "Người không được nhận

là cha, mẹ hoặc là con của người khác có

quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm

quyền xác định mình là cha, mẹ hoặc là

con của người đó theo quy định của pháp

luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật

về hộ tịch; người được nhận là cha, mẹ

hoặc là con của người khác có quyền yêu

cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác

định mình không phải là cha, mẹ hoặc là

con của người đó theo quy định của pháp

luật " (Điều 39 BLDS) Trên đây là một

số quy định trong các văn bản pháp luật

của Nhà nước ta nhằm bảo đảm quyền

yêu cầu của công dân xác định cha, mẹ

và con

ở nước ta hiện nay, Nhà nước và x%

hội bảo vệ bà mẹ và trẻ em, giúp đỡ các

bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý

của người mẹ (Điều 3, LHNGĐ 1986)

Trong đời sống x% hội, việc người phụ nữ

(dù có chồng hay không có chồng) mà

sinh con, sau khi sinh con đ% đăng kí khai

sinh cho con theo thủ tục luật định là cơ

sở pháp lí làm phát sinh quan hệ pháp

luật mẹ - con, cha - con; quyền được làm

mẹ và quyền lợi của các con được bảo hộ

trước pháp luật

Vấn đề xác định cha, mẹ và con được

quy định trong pháp luật còn nhằm bảo

đảm sự ổn định của các quan hệ hôn nhân

và gia đình góp phần định hướng chiến

lược về dân số và kế hoạch hóa gia đình

2 Nội dung cơ bản của nguyên tắc

suy đoán pháp lí xác định cha, mẹ và

con theo hệ thống pháp luật ở nước ta

dưới chế độ cũ

2.1 Cổ luật phong kiến Việt Nam (Bộ

luật Hồng Đức dưới triều Lê, Bộ luật Gia

Long dưới triều Nguyễn) không quy định

về việc xác định cha, mẹ và con

Trong x% hội phong kiến, chế độ đa thê và quyền gia trưởng của người chồng

được thừa nhận, người vợ phải tuyệt đối chung tình với chồng, nếu phạm gian thì

đó là "tội" lớn mà người chồng có quyền

"hành xử" vợ hoặc bỏ vợ (thất xuất) Lẽ thường, khi người vợ sinh con, con đó là con chung của vợ chồng, trừ trường hợp người vợ có hành vi không đoan chính, ngoại tình, thông gian với người khác Trong trường hợp đó, người chồng thường

đối xử tệ bạc với vợ và con, không nhận

đứa con do người vợ mình sinh ra là con mình

Theo tục lệ, nếu nghi ngờ sự không

đoan chính của người vợ, từ bỏ đứa trẻ do người vợ sinh ra; người ta chích lấy hai giọt máu của đứa trẻ và của người chồng của mẹ đứa trẻ vào một bát nước l%, sau

đó khuấy lên, nếu thấy hai giọt máu không hòa đồng màu sắc, trước sự chứng kiến của các hương chức làng x% và gia

đình, đứa trẻ đó được coi là con riêng của

vợ có với người khác, người chồng không phải có trách nhiệm gì

Tục lệ trong x% hội phong kiến không

ấn định thời kì thai nghén tối thiểu và tối

đa của người phụ nữ là bao nhiêu Tuy người ta vẫn công nhận thời kì thai nghén thường chỉ là 9 tháng 10 ngày (280 ngày) nhưng cũng không loại trừ những trường hợp đứa trẻ sinh sau 5 tháng thai nghén (đẻ non) hoặc quá 12 tháng thai nghén (chửa trâu)

2.2 Các văn bản pháp luật dân sự ở nước ta dưới thời Pháp thuộc và ở miền Nam nước ta trước ngày giải phóng (30/4/1975) đ% mô phỏng quy định về thời kì thai nghén trong Bộ luật dân sự Cộng hòa Pháp 1804 (Điều 311, Điều 312) Theo đó, thời kì thai nghén được

Trang 3

xác định tối thiểu không quá 180 ngày,

tối đa không quá 300 ngày kể từ ngày thụ

thai Điều 152 Bộ dân luật Bắc Kì (1931)

quy định: "Khi nào sinh con sau khi

thành hôn hơn 180 ngày hay là sau khi

đoạn hôn chưa đến 300 ngày thì kể là đứa

con ấy đ được thụ thai trong thời kì giá

thú"(1) Điều 207 Bộ luật dân sự 1972

dưới chế độ ngụy quyền Sài Gòn cũng ghi

nhận: "Đứa trẻ thụ thai trong thời kì hôn

thú là con của chồng người mẹ

Được coi là thụ thai trong thời kì hôn

thú trẻ nào sinh đủ 180 ngày sau khi hôn

thú thành lập hay không quá 300 ngày

sau khi hôn thú đoạn tiêu"

Như vậy, theo nguyên tắc suy đoán

này, kể từ khi kết hôn, chỉ những đứa trẻ

nào do người vợ sinh ra sau 180 ngày

hoặc không quá 300 ngày kể từ khi hôn

nhân chấm dứt trước pháp luật (do người

chồng chết hoặc kể từ ngày phán quyết li

hôn của tòa án có hiệu lực pháp luật) mới

được xác định là con chính thức của

người chồng Nếu từ khi kết hôn chưa

được 180 ngày hoặc kể từ khi hôn nhân

chấm dứt trước pháp luật đ% quá 300 ngày

mà người vợ mới sinh con thì về nguyên

tắc, người chồng của mẹ đứa trẻ hay

những người thừa kế của người chồng

(trong trường hợp người chồng chết) có

quyền khước từ, đứa trẻ đó không phải là

con của người chồng mẹ nó Việc khước

từ của người chồng đương nhiên được

chấp nhận Tuy nhiên, nhà làm luật cũng

dự liệu: Trường hợp kết hôn chưa được

180 ngày mà người vợ đ% sinh con, người

chồng không được khước từ đứa con nếu

trước khi kết hôn đ% biết rằng người đàn

bà đ% thụ thai hoặc sau khi người vợ sinh

con, người chồng đ% có mặt khi lập giấy

khai sinh cho đứa trẻ hay đ% tự mình

đứng khai sinh cho đứa trẻ(2) Quy định này dựa trên cơ sở: Trước khi kết hôn người đàn ông đ% biết người

đàn bà đang có thai hoặc sau khi người vợ sinh con, người chồng bằng hành vi của mình đăng kí khai sinh cho con tại cơ quan hộ tịch là mặc nhiên thừa nhận đứa trẻ đó là con mình và do vậy không có quyền khước từ đứa con đó

Đối với đứa trẻ được thụ thai trong thời kì hôn nhân, theo nguyên tắc suy

đoán; nếu người chồng khước từ không nhận đứa trẻ đó là con mình thì phải chứng minh rằng trong thời gian 300 ngày tới 180 ngày trước ngày người vợ sinh con, người chồng không thể có quan

hệ sinh lí với vợ (như vì xa cách hoặc bị tai nạn rủi ro làm cho người chồng bất lực)

Ngoài ra, sự khước từ cũng có thể

được chấp nhận nếu sự sinh đẻ bị giấu giếm và nếu có sự kiện chứng tỏ người chồng không thể là cha đứa trẻ (Điều 209

Bộ luật dân sự 1972 của Việt Nam cộng hòa)

Bên cạnh việc quy định về nguyên tắc suy đoán xác định cha cho con, hệ thống pháp luật ở nước ta dưới chế độ cũ còn quy định về thời hiệu kiện áp dụng trong trường hợp này Tùy theo từng trường hợp

mà nhà làm luật dự liệu thời hiệu cụ thể khác nhau Thông thường, thời hiệu khởi kiện của người chồng theo luật định là hai tháng kể từ ngày người vợ sinh con Nếu trong thời gian đó mà người chồng đi vắng thì thời hiệu được tính từ ngày người chồng trở về Nếu việc sinh đẻ của người

vợ bị giấu giếm thì thời hiệu được tính từ ngày việc sinh đẻ của người vợ được phát hiện

3 Vấn đề xác định cha, mẹ và con

Trang 4

(trong giá thú) theo hệ thống pháp luật

hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta

từ năm 1945 đến nay

3.1 Ngày 2/9/1945, nước Việt Nam

dân chủ cộng hòa ra đời Do điều kiện

lịch sử lúc bấy giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đ% kí Sắc lệnh số 90/SL ngày 10/10/1945

cho phép vận dụng một số quy định của

pháp luật dưới chế độ thực dân, phong

kiến, trên nguyên tắc không được trái với

lợi ích của chính thể Nhà nước Việt Nam

dân chủ cộng hòa và của nhân dân lao

động Vì vậy, từ năm 1945 đến năm

1950, chế độ hôn nhân và gia đình nói

chung và vấn đề xác định cha mẹ và con

nói riêng được quy định theo ba bộ luật

dân sự mà thực dân Pháp ban hành trước

đó còn được áp dụng Năm 1950, Nhà

nước ta ban hành hai sắc lệnh điều chỉnh

quan hệ hôn nhân và gia đình: Sắc lệnh số

97/SL ngày 22/5/1950 về sửa đổi một số

quy định và chế định trong dân luật và

Sắc lệnh số 159/SL ngày 17/11/1950 quy

định vấn đề li hôn Trong đó, Sắc lệnh số

97/SL đ% quy định: "Trong thời kì tang

chế vẫn có thể lấy vợ, lấy chồng được

Song người vợ góa chỉ có thể lấy chồng

sau 10 tháng kể từ ngày chồng chết

Nhưng trong thời hạn ấy, người vợ góa

vẫn có thể tái giá nếu chứng tỏ được rằng

mình không có thai hoặc đ có thai với

chồng trước để tránh sự lẫn lộn về con

cái" (Điều 3) "Người đàn bà li dị có thể

lấy chồng khác ngay sau khi có án tuyên

li dị nếu dẫn chứng được rằng mình

không có thai hoặc đang có thai" (Điều

4)

Những quy định này tương tự với hệ

thống pháp luật trước năm 1945 ở nước

ta Mặc dù Sắc lệnh số 97/SL chưa quy

định rõ về nguyên tắc suy đoán pháp lí

xác định cha mẹ và con nhưng vẫn hạn chế quyền kết hôn của người vợ, khi hôn nhân chấm dứt trước pháp luật, phải sau thời hạn 10 tháng (300 ngày) mới được quyền tái giá hoặc kết hôn với người khác nhằm tránh lẫn lộn về con cái giữa người chồng trước (đ% chết hoặc đ% li hôn), với người chồng sau Như vậy, theo tinh thần của Sắc lệnh số 97/SL thì thời kì thai nghén tối đa của người vợ cũng được tính

là 300 ngày kể từ ngày người vợ thụ thai

đứa con đó

Cũng theo quy định tại Điều 3, Điều 4 của Sắc lệnh số 97/SL, khi hôn nhân chấm dứt trước pháp luật, người vợ sẽ không phải đợi sau hạn 10 tháng mà cũng

có quyền kết hôn ngay với người khác nhưng phải chứng minh rằng mình không

có thai hoặc đang có thai với người chồng trước

- Trường hợp khi hôn nhân chấm dứt trước pháp luật, nếu người vợ chứng minh

là mình không có thai sẽ được quyền kết hôn với người khác ngay mà không phải

đợi sau hạn 300 ngày Nếu sau này người

vợ sinh con trong thời kì hôn nhân với người chồng sau thì người chồng sau

được xác định là cha của đứa con đó

- Trường hợp khi hôn nhân chấm dứt trước pháp luật mà người vợ chứng minh

là mình đang có thai cũng được quyền kết hôn ngay với người khác, không phải đợi sau hạn 300 ngày Tuy nhiên, sau này người vợ sinh con trong thời kì hôn nhân với người chồng sau thì đứa trẻ đó được coi là con của người chồng trước của mẹ

nó hay người chồng trước của người mẹ

đứa trẻ được suy đoán là cha của đứa trẻ

đó Trường hợp này, người mẹ đứa trẻ đ%

có thai đứa trẻ đó với người chồng trước

và sinh đứa trẻ trong thời kì hôn nhân với

Trang 5

người chồng lấy sau

Theo chúng tôi, quy định này nhằm

mục đích xác định người cha đích thực về

mặt sinh học cho đứa trẻ

3.2 Trong 35 điều của LHNGĐ 1959,

không có điều nào quy định vấn đề xác

định cha mẹ và con Trên nguyên tắc bảo

vệ quyền lợi của con trong gia đình,

không phân biệt đối xử giữa các con; tại

Điều 21, Điều 22, Điều 23 của LHNGĐ

1959 chỉ quy định quyền xin nhận cha,

mẹ và con ngoài giá thú trước ủy ban

hành chính cơ sở (nay là ủy ban nhân dân

x%, phường hoặc thị trấn) hoặc kiện trước

tòa án Con ngoài giá thú được cha mẹ

nhận hoặc được tòa án nhân dân cho nhận

cha, mẹ có quyền và nghĩa vụ như con

chính thức (con trong giá thú)

Việc LHNGĐ 1959 không quy định

nguyên tắc suy đoán pháp lí xác định cha,

mẹ và con đ% là hạn chế trong việc thực

hiện và áp dụng luật Khi có tranh chấp

về việc xác định cha, mẹ cho con (trong

giá thú), tòa án thiếu cơ sở pháp lí để áp

dụng Điều đó đ% dẫn tới việc giải quyết

các tranh chấp về xác định cha, mẹ cho

con thường dựa vào cảm tính, ý thức chủ

quan của thẩm phán khi xét xử, khó tránh

được tùy tiện, không thống nhất giữa các

cấp tòa án Thông thường, khi có tranh

chấp, tòa án trưng cầu thẩm định về mặt y

học như thử máu, khả năng có con của

người chồng; thậm chí xem xét sự giống

nhau về mặt hình thức giữa người chồng

của mẹ đứa trẻ với đứa trẻ do người vợ

của người chồng sinh ra, với quan niệm

"giỏ nhà ai thì quai nhà ấy" và coi đó là

căn cứ, là cơ sở để khẳng định quan hệ

cha - con LHNGĐ 1959 cũng không quy

định về thời hiệu kiện, yêu cầu tòa án

nhân dân xác định quan hệ cha, mẹ và

con

3.3 Nguyên tắc suy đoán pháp lí xác

định cha, mẹ cho con (trong giá thú) lần

đầu tiên được quy định trong LHNGĐ

1986 của Nhà nước ta Điều 28 LHNGĐ

1986 quy định: "Con sinh ra trong thời kì hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kì đó là con chung của vợ chồng Trong trường hợp có yêu cầu xác định lại vấn đề này thì phải có chứng cứ khác" Như vậy, với quy định trên, nguyên tắc suy đoán pháp lí xác định cha, mẹ cho con (trong giá thú) theo LHNGĐ 1986 có

sự khác biệt căn bản so với hệ thống pháp luật ở nước ta dưới chế độ cũ Nhà làm luật Việt Nam ngày nay đ% dựa vào thời kì hôn nhân tồn tại giữa vợ và chồng là cơ

sở cho việc suy đoán quan hệ cha - con Thứ nhất, theo Điều 28 LHNGĐ

1986, "con sinh ra trong thời kì hôn nhân

là con chung của vợ chồng" Thời kì hôn nhân là thời gian quan hệ vợ chồng tồn tại

được tính từ khi vợ chồng kết hôn cho

đến khi hôn nhân chấm dứt trước pháp luật (kể từ khi người chồng chết hoặc

được tòa án xác định là đ% chết kể từ ngày quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật; trường hợp vợ chồng li hôn, quan hệ vợ chồng được chấm dứt kể từ ngày phán quyết li hôn của tòa án có hiệu lực pháp luật) Nếu người vợ sinh con trong thời kì hôn nhân này, con đó được coi là con chung của cả hai vợ chồng; có nghĩa là người chồng của mẹ đứa trẻ

đương nhiên được suy đoán là cha của

đứa trẻ đó Chúng ta thấy có hai trường hợp:

- Người mẹ đ% thụ thai đứa trẻ từ trước khi kết hôn và sinh đứa trẻ đó trong thời kì hôn nhân;

- Người mẹ thụ thai và sinh con đó

Trang 6

trong thời kì hôn nhân

Cần thấy rằng, theo Điều 28, nhà làm

luật sử dụng thuật ngữ "con chung của vợ

chồng" mà không dự liệu là "con chính

thức của người chồng mẹ nó" như hệ

thống pháp luật dưới chế độ cũ Quy định

này vừa có ý nghĩa x% hội sâu sắc, không

phân biệt đối xử giữa các con, vừa có ý

nghĩa trong việc xác định cha, mẹ cho

con Như vậy, trong thực tế, có trường

hợp người mẹ đ% sinh con từ trước khi kết

hôn, sau đó mới lấy chồng, nếu người

chồng của mẹ đứa trẻ thừa nhận thì con

đó cũng được coi là con chung của vợ

chồng Trường hợp này, nhà làm luật dưới

chế độ cũ dự liệu việc "chính thức hóa

con ngoại hôn" (con ngoài giá thú)

Thứ hai, Điều 28 cũng quy định con

do người vợ có thai trong thời kì hôn

nhân là con chung của vợ chồng Được

coi là "người vợ có thai trong thời kì hôn

nhân" nếu kể từ khi hôn nhân chấm dứt

trước pháp luật, trong hạn 300 ngày

(người vợ không kết hôn với người khác)

mà sinh con thì con đó vẫn được coi là

"con chung" của vợ chồng Đây là trường

hợp người vợ có thai trong thời kì hôn

nhân nhưng sinh con khi hôn nhân đ%

chấm dứt trước pháp luật Như vậy, người

chồng của mẹ đứa trẻ đ% chết hoặc đ% li

hôn với mẹ của đứa trẻ cũng được suy

đoán là cha của đứa trẻ đó Vậy, kết hợp

hai trường hợp đó thì nguyên tắc suy

đoán pháp lí xác định cha, mẹ cho con là

con sinh ra trong thời kì hôn nhân hoặc

do người vợ có thai trong thời kì đó là con

chung (con trong giá thú) của hai vợ

chồng

Nguyên tắc suy đoán này vẫn được áp

dụng cả trong trường hợp người vợ có thai

với người khác từ trước khi kết hôn và

con đó được sinh ra trong thời kì hôn nhân hoặc có thai với người khác trong thời kì hôn nhân (ngoại tình, thông gian với người khác); người chồng của mẹ đứa trẻ vẫn được suy đoán là cha của đứa trẻ

đó trừ trường hợp có yêu cầu xác định lại quan hệ cha - con và có chứng cứ chứng

tỏ rằng mình không phải (hoặc không thể) là cha của đứa trẻ đó

Đoạn 2 Điều 28 còn quy định: " Trong trường hợp có yêu cầu xác định lại vấn đề này thì phải có chứng cứ khác" Trong thực tế, trường hợp người chồng (hoặc những người thừa kế di sản của người chồng trong trường hợp người chồng chết) nghi ngờ đứa trẻ do người vợ sinh ra không phải là con của người chồng vì cho rằng người vợ đ% ngoại tình, thụ thai đứa trẻ đó với người khác và có yêu cầu tòa án xác định đứa trẻ đó không phải là con của người chồng của mẹ nó thì người thưa kiện phải có nghĩa vụ chứng minh đứa trẻ đó không phải là con của người chồng của mẹ nó Việc chứng minh của người chồng có thể dựa trên sự thừa nhận của người vợ là đ% có thai với người khác từ trước khi lấy chồng hoặc người chồng chứng minh mình đ% đi công tác xa vắng trong thời gian người vợ có khả năng thụ thai đứa con đó (Nghị quyết

số 01/HĐTP ngày 20/1/1988 của Hội

đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn tòa án nhân dân các cấp áp dụng một số quy định của LHNGĐ 1986)

Chúng tôi cho rằng, trường hợp người chồng nếu nghi ngờ vợ ngoại tình và có thai với người khác mà người chồng có yêu cầu xác định lại quan hệ cha - con thì người chồng có quyền đưa ra bất kì chứng cứ nào chứng tỏ đứa trẻ đó không

Trang 7

phải là con mình Nghĩa là ở vào thời kì

người vợ có khả năng thụ thai đứa con đó

(khoảng thời gian tối thiểu không quá

180 ngày và tối đa không quá 300 ngày

tính từ trước ngày người vợ sinh con),

người chồng không thể có quan hệ sinh lí

với vợ vì đi công tác xa hoặc vì bị bất lực,

mắc bệnh vô sinh không thể có con hoặc

bị tai nạn quá ốm yếu hoặc đang thi hành

án phạt tù

Nếu người chồng chỉ vì nghi ngờ,

ghen tuông mà không chứng minh được

một trong các căn cứ trên, quyền yêu cầu

của người chồng sẽ không được tòa án

chấp nhận, người chồng vẫn được xác

định là cha của đứa trẻ đó

Sở dĩ nhà làm luật dự liệu nội dung

nguyên tắc suy đoán pháp lí xác định cha,

mẹ cho con theo Điều 28 LHNGĐ 1986

trên đây là đ% dựa vào những lí do sau:

- Trong x% hội ngày nay, quyền tự do

tìm hiểu yêu đương của các bên nam nữ

được tôn trọng và bảo vệ, trên nguyên tắc

hôn nhân tự nguyện, tiến bộ Có nhiều

trường hợp, trước khi kết hôn, ở vào giai

đoạn tìm hiểu, yêu đương, hai bên nam

nữ thường đ% có quan hệ sinh lí với nhau;

có trường hợp người phụ nữ đ% thụ thai

đứa con đó rồi mới thông báo cho người

yêu, sau này là chồng mình biết Vì thế,

sau khi nam nữ kết hôn trở thành vợ

chồng, nhiều trường hợp kết hôn chưa

được 180 ngày thì người vợ đ% sinh con!

Trong thực tế và về mặt tình cảm, người

chồng đ% biết "chắc chắn" đứa trẻ đó

chính là con của mình do người vợ thụ

thai từ trước khi kết hôn Vì thế, trường

hợp yêu cầu tòa án xác định lại quan hệ

cha con là rất h%n hữu (trừ trường hợp có

chứng cứ chứng tỏ vào thời kì có khả năng thụ thai đứa con đó, người vợ đ% không đoan chính, "ăn nằm" với người khác) Nếu pháp luật quy định rằng "chỉ những trẻ nào sinh ra sau 180 ngày kể từ khi kết hôn mới là con chính thức của người chồng mẹ nó", sẽ tạo điều kiện cho người chồng có lí do để "bỏ vợ, bỏ con", không bảo đảm được lợi ích gia đình, đặc biệt là lợi ích của người con

- Mục đích của hôn nhân dưới chế độ

ta nhằm xác nhập quan hệ vợ chồng, thỏa m%n tình cảm yêu thương gắn bó trong

đời sống vợ chồng, xây dựng gia đình hạnh phúc Trong gia đình, quan hệ giữa cha mẹ và con là quan hệ huyết thống, rất thiêng liêng và cũng rất "riêng tư" của mỗi người Đời sống gia đình có những trường hợp "tế nhị", không phải cứ ai lấy

vợ, lấy chồng là đều "sinh con đẻ cái", có trường hợp vì bệnh tật hoặc lí do nào đó

mà người chồng "không thể có con

được"; có trường hợp vì hoàn cảnh, điều kiện nào đó mà người vợ "trót dại"có con với người khác nhưng vợ chồng không thể "chia lìa" vì họ còn rất yêu thương nhau, thông cảm và tha thứ cho nhau vì chính lợi ích của vợ chồng, của gia đình

họ và đặc biệt là của đứa trẻ "vô tội" kia;

có trường hợp người chồng đ% luống tuổi khó có con nên họ vẫn sẵn lòng vị tha cho người vợ và chấp nhận đứa con đó, dù biết nó không phải là con mình Nếu đặt mục đích phải xác định người cha đích thực về mặt sinh học thì sẽ không phù hợp với thực tế của đời sống x% hội trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

Vì vậy, nhà làm luật dự liệu nguyên tắc suy đoán pháp lí xác định quan hệ cha

- con để bảo đảm mục đích của hôn nhân

Trang 8

14 - Tạp chí luật học

là nhằm xây dựng gia đình dân chủ, hòa

thuận, hạnh phúc và bền vững (Điều 1

LHNGĐ 1986) Từ đó, điều quan trọng

về mặt pháp luật của quan hệ cha - con đ%

được thừa nhận

Thực tiễn qua hơn mười năm thực

hiện và áp dụng LHNGĐ 1986, nguyên

tắc suy đoán xác định cha, mẹ cho con

(trong giá thú) theo quy định tại Điều 28

là tương đối phù hợp, góp phần giải quyết

ổn thỏa các tranh chấp về quan hệ cha -

con (trong giá thú)

3.4 Tuy nhiên, qua nghiên cứu vấn đề

xác định cha, mẹ và con theo LHNGĐ

1986, chúng tôi thấy rằng:

- Mặc dù luật đ% quy định nguyên tắc

suy đoán pháp lí xác định cha, mẹ cho

con (trong giá thú) nhưng chưa định rõ

thời kì thụ thai pháp định (thời kì thai

nghén tối thiểu và tối đa của người mẹ)

Vì vậy, trong thực tế khi có tranh chấp,

tòa án vẫn thiếu cơ sở pháp lí để áp dụng;

- Luật hôn nhân gia đình 1986 cũng

không quy định thời hiệu kiện, yêu cầu

tòa án xác định cha, mẹ và con Nếu

không quy định thời hiệu kiện, dễ dẫn tới

tình trạng bất ổn định của các quan hệ

này

Ví dụ: Người vợ (chị X) sinh con

(cháu H) năm 1989 Người chồng (anh T)

dù biết cháu H không phải là con đẻ của

mình (vì chị X thụ thai cháu H vào thời

gian anh T đi công tác xa) nhưng vì

thương vợ con hoặc vì lí do nào đó mà

anh T vẫn nhận cháu H là con của mình

và đ% đăng kí khai sinh cho cháu H

Giả sử nếu 5 năm sau, 10 năm sau, có

khi là đến cuối đời anh T mới có yêu cầu

tòa án xác định cháu H không phải là con

của anh thì tòa án có thụ lí để giải quyết

không?

Thông thường đối với các quan hệ hôn nhân và gia đình thì không nên quy định thời hiệu kiện Tuy nhiên, trong trường hợp này, pháp luật hôn nhân - gia đình nên quy định thời hiệu kiện nhằm góp phần ổn định các quan hệ hôn nhân - gia

đình, nâng cao ý thức trách nhiệm của các chủ thể vì lợi ích của gia đình;

- Ngày nay, trên thế giới và ở Việt Nam, vấn đề thụ thai nhân tạo, có con trong ống nghiệm là hoàn toàn có thể tiến hành được Vấn đề đặt ra: Trường hợp người chồng mắc bệnh vô sinh hoặc bất lực hoàn toàn về sinh lí (không thể có con) đ% đồng ý để người vợ được thụ thai nhân tạo thì đứa con đó có được xác định

là con chung của vợ chồng hay không?

Nếu sau này người chồng có yêu cầu xác

định lại quan hệ cha - con thì tòa án có thụ lí giải quyết không?

- Trong thời đại văn minh, nền y học rất phát triển, các trường hợp "chửa hộ, đẻ thuê"; "có con với người đ% chết"; người

vợ vô sinh mà vẫn thụ thai và sinh con do

"xin trứng" của người phụ nữ khác; vấn

đề xác định về gens di truyền trong quan

hệ huyết thống đ% ảnh hưởng nhiều đến nguyên tắc xác định cha mẹ và con theo truyền thống

4 Hiện nay Nhà nước ta đang xây dựng Dự thảo Luật hôn nhân - gia đình (sửa đổi) nhằm thay thế LHNGĐ 1986, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình ở nước ta Theo

Điều 71 Dự thảo Luật hôn nhân và gia

đình (sửa đổi) "con sinh ra trong thời kì

hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kì đó là con chung của vợ chồng

Trong trường hợp người chồng không

20 năm trường đại học luật hà nội

dựng những chương trình nghiên cứu với quy mô lớn hơ

một số năm để thu hút đông đảo giáo viên, cán bộ nghiên cứu, học viên và sinh viên tham gia Trường cũng sẽ hình thành một số trung tâm nghiên cứu khoa học, trung tâm trợ giúp và tư vấn pháp luật để tạo ra sự chủ động trong công tác nghiên cứu khoa học và tìm hiểu thực tiễn pháp lí Bên cạnh đó trường sẽ có các biện pháp thiết thực để tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích kịp thời cán

bộ, giáo viên tích cực và có nhiều thành tích nghiên cứu khoa học Trường cũng

sẽ có những biện ph hướng dẫn, động viên học viên, sinh viên tập nghiên cứu khoa học, tìm tòi, sáng

Trang 9

thừa nhận con chung thì phải có chứng

cứ

Con sinh ra trước thời kì hôn nhân mà

sau đó cha mẹ kết hôn và thừa nhận cũng

là con chung của vợ chồng"

Ngoài ra, các Điều 72, Điều 73, Điều

74 và Điều 75 trong Chương V Dự thảo

Luật hôn nhân và gia đình cũng chỉ quy

định về quyền yêu cầu xác định cha, mẹ,

con; thẩm quyền công nhận, cho nhận

cha, mẹ, con;

Chúng tôi thiết nghĩ, cần phải sửa đổi,

bổ sung LHNGĐ 1986, trong đó có chế

định xác định cha, mẹ và con Một số hạn

chế của LHNGĐ 1986 về nguyên tắc suy

đoán pháp lí xác định cha, mẹ và con

(trong giá thú) cần được Dự thảo Luật

hôn nhân và gia đình (sửa đổi) kịp thời

hoàn thiện; tạo cơ sở pháp lí, bảo đảm

tính khả thi trong việc thực hiện và áp

dụng luật hôn nhân và gia đình./

(1) Xem: Điều 149 Bộ dân luật Trung Kì 1936; Điều

83 Bộ luật gia đình 1959 dưới chế độ Ngô Đình

Diệm; Điều 100 Sắc luật 15/64 ngày 23/7/1964 quy

định về giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng

(2) Xem: Điều 153 Bộ dân luật Bắc kì 1931; Điều

151 Bộ dân luật Trung kì; Điều 84 Bộ luật gia đình

1959 của Việt Nam cộng hòa; Điều 103 Sắc luật

15/64 ngày 23/7/1964; Điều 208 Bộ dân luật 1972

của Việt Nam cộng hòa

Ngày đăng: 17/03/2014, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w