Thông qua những hoạt động như vậy, công ti chứng khoán thu được các khoản phí, hoa hồng nhất định song họ không đầu tư thêm giá trị mới vào thị trường chứng khoán trừ phi thực hiện hoạt
Trang 1PGS PTS Lê hồng hạnh * rong thị trường chứng khoán, dù là thị
trường sơ cấp hay thị trường thứ cấp
đều có tổ chức môi giới, trung gian Sự tồn
tại của tổ chức môi giới và trung gian tạo
nên một trong những điểm đặc thù của thị
trường chứng khoán và kinh doanh chứng
khoán Tại Tạp chí luật học số 6 năm
1998, chúng tôi đ; phân tích địa vị pháp lí
của quỹ đầu tư chứng khoán và công ti
quản lí quỹ Trong bài viết này, chúng tôi
đề cập đặc trưng pháp lí của tổ chức trung
gian khác là công ti chứng khoán Để hiểu
được bản chất của công ti chứng khoán,
chúng ta cần tìm hiểu thực chất của việc
kinh doanh chứng khoán và những đặc thù
của nó
Kinh doanh chứng khoán là hoạt động
kinh tế phức tạp Kinh doanh chứng khoán
theo pháp luật Việt Nam bao gồm: Môi
giới, tự doanh, quản lí danh mục đầu tư,
bảo l;nh phát hành và tư vấn đầu tư chứng
khoán Xét trên bình diện tổng thể của nền
kinh tế thì kinh doanh chứng khoán là quá
trình hỗ trợ và điều tiết việc chu chuyển
vốn Quá trình này không sáng tạo ra giá
trị mới của đồng vốn mặc dù vẫn xảy ra
hiện tượng lời l;i trong quá trình kinh
doanh chứng khoán Trong nền kinh tế
luôn luôn tồn tại nhu cầu khách quan về sự
lưu chuyển vốn giữa các chủ thể khác
nhau Những chủ thể có nhu cầu về vốn thì
tìm mọi cách thu hút vốn Nhưng việc vay
vốn theo hợp đồng tín dụng truyền thống
không phải lúc nào cũng đáp ứng được
nhu cầu Vì thế, bằng việc phát hành cổ
phiếu ra công chúng, các chủ thể này có thể thu hút vốn về phía mình nếu như kinh doanh có hiệu quả Còn kinh doanh chứng khoán là hoạt động của tổ chức trung gian nhằm làm cho việc mua bán chứng khoán
được diễn ra thuận lợi Tổ chức trung gian xúc tiến các hoạt động như môi giới, tư vấn, bảo l;nh đều nhằm mục đích hỗ trợ người đầu tư và người phát hành chứng khoán Thông qua những hoạt động như vậy, công ti chứng khoán thu được các khoản phí, hoa hồng nhất định song họ không đầu tư thêm giá trị mới vào thị trường chứng khoán trừ phi thực hiện hoạt
động tự doanh, tức là hoạt động mua bán chứng khoán cho chính bản thân mình Trong trường hợp mua bán chứng khoán cho chính bản thân mình thì các công ti chứng khoán cũng trở thành nhà đầu tư Trong mối quan hệ mua bán chứng khoán cụ thể thì người mua chứng khoán
là người đầu tư còn người bán chứng khoán là người cần huy động vốn hoặc thu hồi vốn Người đầu tư cũng như người phát hành chứng khoán, đặc biệt là trên thị trường chứng khoán thứ cấp hầu như khó
có khả năng trực tiếp quan hệ với nhau, họ cần tới người trung gian Mặt khác, cũng cần phải thấy rằng phần lớn những người
đầu tư cũng như những người phát hành chứng khoán là những người không chuyên nghiệp trong lúc đó đầu tư vào chứng khoán là việc làm hết sức phức tạp
T
* Trường Đại học luật Hà Nội
Trang 2Với hàng hóa thông thường thì việc xác
định chất lượng và giá cả của hàng hóa
không phải là khó khăn lớn đối với cả
người mua và người bán Còn với chứng
khoán, việc này hoàn toàn không đơn giản
Khi tiến hành mua cổ phiếu, chẳng hạn cổ
phiếu của Công ti cơ điện lạnh thành phố
Hồ Chí Minh thì điều đó có nghĩa là người
mua đang đầu tư tiền vào doanh nghiệp
này Giá trị cổ phiếu của Công ti cơ điện
lạnh cao hay thấp phụ thuộc chủ yếu vào
năng lực và hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp này So với các loại chứng
khoán khác, cổ phiếu có điểm riêng về
tính chất song sự rủi ro và thị giá của
chúng về cơ bản vẫn chịu những ảnh
hưởng tương tự(1) Do phải chịu tác động
của quá nhiều yếu tố nên thị giá của chứng
khoán rất dễ dao động so với mệnh giá của
nó Có khi thị giá chứng khoán cao hơn rất
nhiều so với mệnh giá nhưng có khi hoàn
toàn ngược lại Thực tế hiển nhiên là khi
đầu tư vào chứng khoán, người đầu tư
đứng trước rủi ro lớn hơn rất nhiều so với
việc kinh doanh hàng hóa khác Do thị giá
của chứng khoán phụ thuộc rất lớn vào
tiềm lực và triển vọng của tổ chức phát
hành, vào những biến động rất phức tạp
của thị trường tài chính nói riêng và của
nền kinh tế nói chung nên có khi chỉ trong
một vài ngày, thậm chí một vài giờ, người
đầu tư chứng khoán có thể mất hàng chục
triệu, hàng tỉ đồng mà không có cách gì
cứu v;n được, hàng nghìn cổ phiếu trên
tay có khi thành nắm giấy vụn Chính vì
vậy, việc nắm vững tình hình tài chính,
quy mô hoạt động, các yếu tố chi phối
hoạt động kinh doanh của tổ chức phát
hành có ý nghĩa to lớn trong việc ngăn
ngừa rủi ro khi đầu tư vào chứng khoán
Tuy nhiên, không phải bất cứ ai cũng có
khả năng phân tích các hoạt động, thực
trạng tài chính của doanh nghiệp cũng như
tình hình thị trường Chỉ tổ chức chuyên nghiệp mới có khả năng thực hiện điều này Vì vậy, sự tồn tại của tổ chức trung gian trong thị trường chứng khoán dưới dạng công ti chứng khoán là nhu cầu khách quan Trong thị trường hàng hóa khác, người ta cố gắng loại bỏ bớt khâu trung gian, tìm cách làm cho hàng hóa của người sản xuất đến với người tiêu thụ một cách trực tiếp nhất để tăng hiệu kinh doanh còn trong thị trường chứng khoán thì khâu trung gian này không thể bỏ qua
Lí do khác mà chúng ta cần tính tới khi nói về sự cần thiết của công ti chứng khoán là những điều kiện ngặt nghèo mà
hệ thống pháp luật đòi hỏi ở doanh nghiệp tham gia thị trường chứng khoán với tư cách là người bán cũng như với công ti chứng khoán với tư cách là trung gian, môi giới Vì thế, tổ chức phát hành chứng khoán có quy mô nhỏ hoặc phát hành số lượng chứng khoán không lớn sẽ gặp khó khăn trong việc gia nhập thị trường này Cũng giống như địa vị của nhà đầu tư chứng khoán nhỏ, nhà phát hành quy mô nhỏ với khối lượng chứng khoán phát hành không lớn rất cần đến sự bảo l;nh, sự trợ giúp của tổ chức trung gian kiểu công ti chứng khoán mà chúng ta đang đề cập Toàn bộ những gì nêu trên phần nào cho chúng ta thấy sự cần thiết của công ti chứng khoán Vậy công ti chứng khoán là gì và địa vị pháp lí của chúng ra sao? Như bản thân thị trường chứng khoán, công ti chứng khoán và các định chế pháp
lí khác liên quan đến chứng khoán, công ti chứng khoán hoàn toàn mới đối với hệ thống pháp luật của nước ta Khái niệm công ti chứng khoán được đưa ra lần đầu tiên trong Nghị định của Chính phủ số 48/1998/NĐ-CP ngày 11/07/1998 về chứng khoán và thị trường chứng khoán (sau đây xin được viết tắt là Nghị định 48)
Trang 3Theo Điều 29 Nghị định 48 thì công ti
chứng khoán là doanh nghiệp được thành
lập theo hình thức công ti cổ phần hay
công ti trách nhiệm hữu hạn để thực hiện
một hoặc một vài hình thức kinh doanh
chứng khoán Qua định nghĩa trên của
Nghị định 48 và các quy định khác, chúng
ta có thể rút ra một số nét đặc trưng chủ
yếu sau đây của công ti chứng khoán
a Hình thức pháp lí của công ti chứng
khoán không có gì đặc biệt so với các
công ti cổ phần hay công ti trách nhiệm
hữu hạn hoạt động trong các lĩnh vực
khác Về bản chất thì chúng cũng là loại
hình doanh nghiệp nhiều chủ Điều này có
nghĩa là công ti chứng khoán cũng là công
ti trách nhiệm hữu hạn hay công ti cổ phần
được quy định trong Luật công ti năm
1990 Sự khác nhau cơ bản giữa công ti
chứng khoán với công ti trách nhiệm hữu
hạn, công ti cổ phần hoạt động trong các
lĩnh vực khác thể hiện chủ yếu ở thủ tục
thành lập và phạm vi hoạt động Pháp luật
ở một số nước khác cũng có cách tiếp cận
tương tự Chẳng hạn, theo pháp luật
Singapore và Australia, công ti chứng
khoán được thành lập theo luật công ti; địa
vị pháp lí của chúng được xác định như
những công ti hoạt động trong lĩnh vực
khác Tuy nhiên, để tham gia thị trường
chứng khoán, các công ti này phải đáp ứng
các điều kiện mà pháp luật về chứng
khoán đặt ra Theo pháp luật hiện hành
của Nhà nước ta, các điều kiện tham gia
thị trường chứng khoán với tư cách là công
ti chứng khoán bao gồm:
+ Công ti chứng khoán phải được ủy
ban chứng khoán nhà nước cấp giấy phép
kinh doanh còn giấy phép kinh doanh của
công ti trách nhiệm hữu hạn hay công ti cổ
phần hoạt động trong các lĩnh vực khác thì
do sở kế hoạch và đầu tư cấp
+ Mức vốn pháp định quy định đối với
công ti chứng khoán cao hơn nhiều so với công ti hoạt động trong các lĩnh vực khác
Đối với công ti chứng khoán có thực hiện việc bảo l;nh phát hành thì mức vốn pháp
định được quy định là 22 tỉ đồng; đối với công ti thực hiện việc kinh doanh môi giới chứng khoán, quản lí danh mục đầu tư, tư vấn đầu tư thì mức vốn pháp định được quy định là 3 tỉ đồng; đối với công ti chứng khoán hoạt động tự doanh thì mức vốn pháp định được quy định là 12 tỉ đồng Các mức vốn này đều cao hơn rất nhiều so với các mức vốn pháp định áp dụng đối với các loại doanh nghiệp được quy định tại Nghị định của Chính phủ số
26/1998/NĐ-CP ngày 07/5/1998 về việc điều chỉnh mức vốn pháp định đối với doanh nghiệp tư nhân, công ti trách nhiệm hữu hạn, công ti
cổ phần Theo Nghị định này, mức vốn pháp định cao nhất áp dụng với các công ti
cổ phần và công ti trách nhiệm hữu hạn là
1 tỉ đồng Việc áp dụng mức vốn pháp
định cao cũng là minh chứng cho sự thận trọng của hệ thống pháp luật nước ta đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán và các chủ thể kinh doanh chứng khoán + Các thành viên của công ti chứng khoán phải đáp ứng những điều kiện nhất
định So với các công ti hoạt động trong các lĩnh vực khác thì việc trở thành thành viên của công ti chứng khoán khó khăn hơn Không phải bất kì chủ thể nào có năng lực pháp luật cũng có thể trở thành thành viên của công ti chứng khoán Theo pháp luật hiện hành của Nhà nước ta thì một trong những điều kiện để trở thành thành viên của công ti chứng khoán là phải
có giấy phép hành nghề kinh doanh chứng khoán do ủy ban chứng khoán nhà nước cấp Mặt khác, thành viên của công ti chứng khoán không thể là cổ đông nắm trên 5% cổ phiếu có quyền biểu quyết của một công ti phát hành hoặc là thành viên
Trang 4hội đồng quản trị của công ti này
b Điểm đặc trưng khác trong địa vị
pháp lí của công ti chứng khoán là phạm vi
hoạt động của nó Công ti chứng khoán chỉ
tiến hành những hoạt động liên quan tới
chứng khoán như môi giới, tự doanh, quản
lí danh mục đầu tư, bảo l;nh phát hành, tư
vấn đầu tư chứng khoán Như vậy, phạm vi
hoạt động kinh doanh của công ti chứng
khoán hẹp hơn nhiều so với phạm vi hoạt
động kinh doanh của công ti hoạt động
trong các lĩnh vực khác Trong thực tế ở
các nước, có công ti chứng khoán chỉ tiến
hành đơn thuần việc tư vấn hay quản lí
danh mục đầu tư, tức là thực hiện hoạt
động cụ thể liên quan đến chứng khoán
Tuy nhiên, cũng có công ti tiến hành một
vài hoạt động kinh doanh chứng khoán
c Công ti chứng khoán được coi là
công ti môi giới Tính chất môi giới này
thể hiện ở chỗ các công ti chứng khoán
thực hiện việc mua bán chứng khoán theo
yêu cầu của người đầu tư hay người phát
hành Trong quan hệ này, họ đóng vai
người đại diện Quan hệ giữa các công ti
chứng khoán với bên phát hành và bên đầu
tư được pháp luật các nước xác định như là
mối quan hệ giữa khách hàng và người
phát hành (broker - client) Giấy phép kinh
doanh chứng khoán được cấp cho công ti
còn giấy phép hành nghề chứng khoán
được cấp cho cá nhân muốn hành nghề
chứng khoán Điều kiện cấp giấy phép
hành nghề chứng khoán được quy định
đơn giản hơn so với việc cấp giấy phép
kinh doanh chứng khoán Điều kiện được
cấp giấy phép hành nghề kinh doanh
chứng khoán bao gồm: Người xin hành
nghề chứng khoán phải tốt nghiệp phổ
thông trung học, đáp ứng các tiêu chuẩn về
đạo đức, chuyên môn và có đủ các chứng
chỉ hành nghề kinh doanh chứng khoán do
ủy ban chứng khoán nhà nước cấp Người
có giấy phép hành nghề chứng khoán tự
bản thân họ không phải là chủ thể của thị trường chứng khoán Giấy phép hành nghề chứng khoán chỉ là điều kiện để cá nhân
có thể trở thành thành viên của công ti chứng khoán hoặc được tuyển dụng vào làm việc ở công ti này Tuy nhiên, người
có giấy phép hành nghề chứng khoán không phải đương nhiên dễ dàng tham gia hoạt động kinh doanh chứng khoán trong công ti chứng khoán Người này cũng phải chịu những hạn chế nhất định Cụ thể là họ không được đầu tư hay làm việc cùng lúc cho hai hay nhiều công ti chứng khoán, không được làm giám đốc hay cổ đông nắm giữ trên 5% cổ phiếu có quyền biểu quyết của một tổ chức phát hành khác Công ti chứng khoán về cơ bản là loại hình doanh nghiệp liên kết các nhà kinh doanh chứng khoán chuyên nghiệp Bản thân bộ máy điều hành của công ti chứng khoán cũng bao gồm các nhà chuyên môn
về chứng khoán Trong công ti chứng khoán, ngoại trừ một vài chức danh như văn thư, kế toán, thủ quỹ, phần lớn nhân viên và thành viên công ti phải là những người có chứng chỉ hành nghề kinh doanh chứng khoán Chứng chỉ này do ủy ban chứng khoán nhà nước cấp Khi cần tuyển hoặc sa thải nhân viên có giấy phép hành nghề kinh doanh chứng khoán, công ti chứng khoán phải báo cáo với ủy ban chứng khoán nhà nước Nét đặc thù nữa trong bộ máy của công ti chứng khoán là người đại diện Người đại diện cho công ti chứng khoán là người thay mặt cho công ti tại các sở giao dịch chứng khoán, trung tâm giao dịch chứng khoán hoặc ở những nơi khác Khác với người đại diện cho các doanh nghiệp hoặc công ti hoạt động trong các lĩnh vực khác, người đại diện cho công
ti chứng khoán phải tuân theo những điều kiện rất nghiêm ngặt Người đại diện cho công ti chứng khoán phải là cử nhân luật hoặc kinh tế, có giấy phép hành nghề
Trang 5chứng khoán, không phải là giám đốc hoặc
thành viên hội đồng quản trị của doanh
nghiệp bị phá sản, không phải là người bị
ủy ban chứng khoán nhà nước tước giấy
phép hành nghề chứng khoán
d Công ti chứng khoán luôn luôn chịu
sự giám sát chặt chẽ của ủy ban chứng
khoán nhà nước và chịu những hạn chế
nhất định trong hoạt động Điều 37 Nghị
định 48 quy định công ti chứng khoán phải
thực hiện chế độ báo cáo với ủy ban
chứng khoán nhà nước Công ti chứng
khoán không được sử dụng quá 50% vốn
điều lệ để mua sắm trang thiết bị và tài sản
cố định, đầu tư quá 20% tổng số chứng
khoán đang lưu hành của một công ti niêm
yết; đầu tư vượt quá 15% tổng số chứng
khoán đang lưu hành của một công ti
không niêm yết, thực hiện việc bảo l;nh
phát hành vượt quá 4 lần hiệu số giữa tài
sản lưu động và tổng số nợ ngắn hạn của
mình Bên cạnh đó, công ti chứng khoán
phải báo cáo với ủy ban chứng khoán nhà
nước nhiều vấn đề liên quan đến hoạt động
kinh doanh chứng khoán Trường hợp vượt
quá các yêu cầu về sử dụng vốn, về đầu tư
vốn như đ; nêu ở trên, công ti phải thông
báo cho ủy ban chứng khoán nhà nước
Song song với việc báo cáo, công ti chứng
khoán phải điều chỉnh sao cho có thể đảm
bảo được mức quy định Nhìn chung các
hạn chế nêu trên chính là biểu hiện của sự
cần thiết phải ngăn chặn những rủi ro
mang tính chủ quan trong hoạt động kinh
doanh chứng khoán Ngay cả trong việc
giải thể, phân chia, sáp nhập, công ti
chứng khoán cũng phải chịu những ràng
buộc chặt chẽ hơn Công ti hoạt động
trong lĩnh vực khác nếu muốn giải thể,
phân chia hoặc sáp nhập thì người quyết
định là đại hội cổ đông Ngược lại, công ti
chứng khoán nếu muốn thực hiện việc
phân chia, sáp nhập thì phải xin phép ủy
ban chứng khoán nhà nước Những hạn chế này chúng ta ít tìm thấy trong pháp luật liên quan đến các loại hình doanh nghiệp khác
Những đặc điểm nêu trên trong địa vị pháp lí của công ti chứng khoán thể hiện những đòi hỏi đặc biệt của hoạt động kinh doanh chứng khoán Nhìn chung, những
đòi hỏi mà pháp luật nước ta đặt ra đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán và chủ thể tiến hành kinh doanh chứng khoán cũng có nhiều điểm tương đồng với pháp luật của một số nước Ví dụ: ở Singapore, chỉ có công ti chứng khoán (dealer) mới
được cấp giấy phép kinh doanh chứng khoán Cá nhân chỉ được cấp giấy phép hành nghề chứng khoán để có thể hoạt
động với tư cách là người đại diện của công ti chứng khoán Pháp luật của Singapore không quy định các điều kiện cấp giấy phép kinh doanh chứng khoán mà chỉ nêu rõ những hoàn cảnh mà việc cấp giấy phép kinh doanh chứng khoán sẽ bị từ chối Các hoàn cảnh đó bao gồm: Công ti xin cấp giấy phép kinh doanh chứng khoán
đang trong quá trình giải thể hoặc thanh lí;
đang có người thu nợ được chỉ định; đang
có sự dàn xếp với chủ nợ ở trong hoặc ngoài Singapore; cơ quan quản lí tiền tệ Singapore (MAS) thấy không thỏa m;n với trình độ văn hóa của các nhân viên công ti xin cấp giấy phép; cơ quan quản lí tiền tệ Singapore có cơ sở tin rằng công ti xin phép không thể thực hiện có hiệu quả, trung thực nghĩa vụ của công ti chứng khoán Pháp luật của Australia cũng có các quy định về cấp giấy phép kinh doanh chứng khoán cho công ti chứng khoán Nhiều điều kiện cấp giấy phép tuy diễn
đạt dưới những hình thức khác nhau nhưng cũng đều có nội dung tương tự Pháp luật Australia cũng quy định các
Trang 6trường hợp mà theo đó ủy ban chứng
khoán Australia (ASC) sẽ không cấp giấy
phép cho công ti chứng khoán Cụ thể là
nếu công ti đang ở trong giai đoạn thanh
lí hoặc đang ở trong sự điều hành của
quản lí viên hoặc đang có sự dàn xếp với
chủ nợ sẽ không được cấp giấy phép kinh
doanh chứng khoán Bên cạnh những điều
kiện đó, ủy ban chứng khoán Australia
phải xem xét liệu các nhân viên của công
ti chứng khoán có trình độ văn hóa, có
khả năng thực hiện các nhiệm vụ của
mình một cách trung thực và có trách
nhiệm hay không Pháp luật Australia còn
đòi hỏi điều kiện tài chính của công ti
chứng khoán Để được cấp giấy phép kinh
doanh chứng khoán, các công ti chứng
khoán phải duy trì lượng tài sản hữu hình
với giá trị từ 5.000 đến 20.000 đôla
Australia hoặc từ 3 đến 5% giá trị tài sản
nợ của công ti tùy theo mức nào lớn hơn
Ngoài ra, công ti chứng khoán cũng phải
nộp cho ủy ban chứng khoán khoản tiền
đảm bảo 20.000 đôla Australia để được
cấp giấy phép kinh doanh chứng khoán
Toàn bộ những điều kiện trên cho thấy
pháp luật của Australia đặc biệt quan tâm
đến thực trạng tài chính của các công ti
chứng khoán Các đòi hỏi tương tự như
vậy cũng được pháp luật Hoa Kỳ áp dụng
đối với công ti chứng khoán mặc dù hệ
thống pháp luật nước này theo đuổi chính
sách rất mềm dẻo và tự do trong việc tác
động vào thị trường chứng khoán Trước
cuộc khủng hoảng của thị trường chứng
khoán những năm 1929 - 1932, pháp luật
Hoa Kỳ ít quan tâm đến việc can thiệp
vào thị trường chứng khoán Học thuyết
về sự điều chỉnh của bàn tay vô hình được
áp dụng khá triệt để trong nền công
nghiệp chứng khoán Tuy nhiên, cuộc
khủng hoảng của thị trường hàng hóa vô
hình này và những hậu quả tai hại mà nó mang lại cho nền kinh tế Hoa Kỳ trong những năm 1929 - 1932 đ; buộc Chính phủ phải tính đến việc điều chỉnh mạnh
mẽ bằng pháp luật hoạt động của thị trường chứng khoán Năm 1933, Luật về chứng khoán (Security Act) được ban hành và năm 1934 đ; ban hành tiếp Luật
về ủy ban chứng khoán (Security Exchange Commission Act) Hai đạo luật này đ; quy định nhiều biện pháp nhằm hạn chế các hoạt động có thể gây hại cho
sự ổn định của thị trường chứng khoán Những hạn chế này được áp dụng đối với tất cả các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán, trong đó có công ti chứng khoán (Điều 15(b)7 Luật về ủy ban chứng khoán) Pháp luật Hoa Kỳ quy định số vốn tối thiểu của các công ti chứng khoán
và số tiền cần phải nộp với tư cách là khoản nộp đảm bảo; nghĩa vụ phải đăng kí; những đòi hỏi về trình độ chuyên môn của nhân viên tiến hành nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán Ngay cả các ngân hàng thương mại Hoa Kỳ, nơi có đội ngũ cán bộ chuyên môn cao cũng bị buộc phải tách riêng các nghiệp vụ ngân hàng với nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán khi tiến hành nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán./
(1).Xem: PGS.PTS Lê Hồng Hạnh, Quỹ đầu tư chứng khoán và công ti quản lí quỹ trong thị trường chứng khoán Tạp chí luật học số 6/1998