1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Công ty chứng khoán trong hệ thống pháp luật Việt Nam" pptx

6 524 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 81,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua những hoạt động như vậy, công ti chứng khoán thu được các khoản phí, hoa hồng nhất định song họ không đầu tư thêm giá trị mới vào thị trường chứng khoán trừ phi thực hiện hoạt

Trang 1

PGS PTS Lê hồng hạnh * rong thị trường chứng khoán, dù là thị

trường sơ cấp hay thị trường thứ cấp

đều có tổ chức môi giới, trung gian Sự tồn

tại của tổ chức môi giới và trung gian tạo

nên một trong những điểm đặc thù của thị

trường chứng khoán và kinh doanh chứng

khoán Tại Tạp chí luật học số 6 năm

1998, chúng tôi đ; phân tích địa vị pháp lí

của quỹ đầu tư chứng khoán và công ti

quản lí quỹ Trong bài viết này, chúng tôi

đề cập đặc trưng pháp lí của tổ chức trung

gian khác là công ti chứng khoán Để hiểu

được bản chất của công ti chứng khoán,

chúng ta cần tìm hiểu thực chất của việc

kinh doanh chứng khoán và những đặc thù

của nó

Kinh doanh chứng khoán là hoạt động

kinh tế phức tạp Kinh doanh chứng khoán

theo pháp luật Việt Nam bao gồm: Môi

giới, tự doanh, quản lí danh mục đầu tư,

bảo l;nh phát hành và tư vấn đầu tư chứng

khoán Xét trên bình diện tổng thể của nền

kinh tế thì kinh doanh chứng khoán là quá

trình hỗ trợ và điều tiết việc chu chuyển

vốn Quá trình này không sáng tạo ra giá

trị mới của đồng vốn mặc dù vẫn xảy ra

hiện tượng lời l;i trong quá trình kinh

doanh chứng khoán Trong nền kinh tế

luôn luôn tồn tại nhu cầu khách quan về sự

lưu chuyển vốn giữa các chủ thể khác

nhau Những chủ thể có nhu cầu về vốn thì

tìm mọi cách thu hút vốn Nhưng việc vay

vốn theo hợp đồng tín dụng truyền thống

không phải lúc nào cũng đáp ứng được

nhu cầu Vì thế, bằng việc phát hành cổ

phiếu ra công chúng, các chủ thể này có thể thu hút vốn về phía mình nếu như kinh doanh có hiệu quả Còn kinh doanh chứng khoán là hoạt động của tổ chức trung gian nhằm làm cho việc mua bán chứng khoán

được diễn ra thuận lợi Tổ chức trung gian xúc tiến các hoạt động như môi giới, tư vấn, bảo l;nh đều nhằm mục đích hỗ trợ người đầu tư và người phát hành chứng khoán Thông qua những hoạt động như vậy, công ti chứng khoán thu được các khoản phí, hoa hồng nhất định song họ không đầu tư thêm giá trị mới vào thị trường chứng khoán trừ phi thực hiện hoạt

động tự doanh, tức là hoạt động mua bán chứng khoán cho chính bản thân mình Trong trường hợp mua bán chứng khoán cho chính bản thân mình thì các công ti chứng khoán cũng trở thành nhà đầu tư Trong mối quan hệ mua bán chứng khoán cụ thể thì người mua chứng khoán

là người đầu tư còn người bán chứng khoán là người cần huy động vốn hoặc thu hồi vốn Người đầu tư cũng như người phát hành chứng khoán, đặc biệt là trên thị trường chứng khoán thứ cấp hầu như khó

có khả năng trực tiếp quan hệ với nhau, họ cần tới người trung gian Mặt khác, cũng cần phải thấy rằng phần lớn những người

đầu tư cũng như những người phát hành chứng khoán là những người không chuyên nghiệp trong lúc đó đầu tư vào chứng khoán là việc làm hết sức phức tạp

T

* Trường Đại học luật Hà Nội

Trang 2

Với hàng hóa thông thường thì việc xác

định chất lượng và giá cả của hàng hóa

không phải là khó khăn lớn đối với cả

người mua và người bán Còn với chứng

khoán, việc này hoàn toàn không đơn giản

Khi tiến hành mua cổ phiếu, chẳng hạn cổ

phiếu của Công ti cơ điện lạnh thành phố

Hồ Chí Minh thì điều đó có nghĩa là người

mua đang đầu tư tiền vào doanh nghiệp

này Giá trị cổ phiếu của Công ti cơ điện

lạnh cao hay thấp phụ thuộc chủ yếu vào

năng lực và hiệu quả kinh doanh của

doanh nghiệp này So với các loại chứng

khoán khác, cổ phiếu có điểm riêng về

tính chất song sự rủi ro và thị giá của

chúng về cơ bản vẫn chịu những ảnh

hưởng tương tự(1) Do phải chịu tác động

của quá nhiều yếu tố nên thị giá của chứng

khoán rất dễ dao động so với mệnh giá của

nó Có khi thị giá chứng khoán cao hơn rất

nhiều so với mệnh giá nhưng có khi hoàn

toàn ngược lại Thực tế hiển nhiên là khi

đầu tư vào chứng khoán, người đầu tư

đứng trước rủi ro lớn hơn rất nhiều so với

việc kinh doanh hàng hóa khác Do thị giá

của chứng khoán phụ thuộc rất lớn vào

tiềm lực và triển vọng của tổ chức phát

hành, vào những biến động rất phức tạp

của thị trường tài chính nói riêng và của

nền kinh tế nói chung nên có khi chỉ trong

một vài ngày, thậm chí một vài giờ, người

đầu tư chứng khoán có thể mất hàng chục

triệu, hàng tỉ đồng mà không có cách gì

cứu v;n được, hàng nghìn cổ phiếu trên

tay có khi thành nắm giấy vụn Chính vì

vậy, việc nắm vững tình hình tài chính,

quy mô hoạt động, các yếu tố chi phối

hoạt động kinh doanh của tổ chức phát

hành có ý nghĩa to lớn trong việc ngăn

ngừa rủi ro khi đầu tư vào chứng khoán

Tuy nhiên, không phải bất cứ ai cũng có

khả năng phân tích các hoạt động, thực

trạng tài chính của doanh nghiệp cũng như

tình hình thị trường Chỉ tổ chức chuyên nghiệp mới có khả năng thực hiện điều này Vì vậy, sự tồn tại của tổ chức trung gian trong thị trường chứng khoán dưới dạng công ti chứng khoán là nhu cầu khách quan Trong thị trường hàng hóa khác, người ta cố gắng loại bỏ bớt khâu trung gian, tìm cách làm cho hàng hóa của người sản xuất đến với người tiêu thụ một cách trực tiếp nhất để tăng hiệu kinh doanh còn trong thị trường chứng khoán thì khâu trung gian này không thể bỏ qua

Lí do khác mà chúng ta cần tính tới khi nói về sự cần thiết của công ti chứng khoán là những điều kiện ngặt nghèo mà

hệ thống pháp luật đòi hỏi ở doanh nghiệp tham gia thị trường chứng khoán với tư cách là người bán cũng như với công ti chứng khoán với tư cách là trung gian, môi giới Vì thế, tổ chức phát hành chứng khoán có quy mô nhỏ hoặc phát hành số lượng chứng khoán không lớn sẽ gặp khó khăn trong việc gia nhập thị trường này Cũng giống như địa vị của nhà đầu tư chứng khoán nhỏ, nhà phát hành quy mô nhỏ với khối lượng chứng khoán phát hành không lớn rất cần đến sự bảo l;nh, sự trợ giúp của tổ chức trung gian kiểu công ti chứng khoán mà chúng ta đang đề cập Toàn bộ những gì nêu trên phần nào cho chúng ta thấy sự cần thiết của công ti chứng khoán Vậy công ti chứng khoán là gì và địa vị pháp lí của chúng ra sao? Như bản thân thị trường chứng khoán, công ti chứng khoán và các định chế pháp

lí khác liên quan đến chứng khoán, công ti chứng khoán hoàn toàn mới đối với hệ thống pháp luật của nước ta Khái niệm công ti chứng khoán được đưa ra lần đầu tiên trong Nghị định của Chính phủ số 48/1998/NĐ-CP ngày 11/07/1998 về chứng khoán và thị trường chứng khoán (sau đây xin được viết tắt là Nghị định 48)

Trang 3

Theo Điều 29 Nghị định 48 thì công ti

chứng khoán là doanh nghiệp được thành

lập theo hình thức công ti cổ phần hay

công ti trách nhiệm hữu hạn để thực hiện

một hoặc một vài hình thức kinh doanh

chứng khoán Qua định nghĩa trên của

Nghị định 48 và các quy định khác, chúng

ta có thể rút ra một số nét đặc trưng chủ

yếu sau đây của công ti chứng khoán

a Hình thức pháp lí của công ti chứng

khoán không có gì đặc biệt so với các

công ti cổ phần hay công ti trách nhiệm

hữu hạn hoạt động trong các lĩnh vực

khác Về bản chất thì chúng cũng là loại

hình doanh nghiệp nhiều chủ Điều này có

nghĩa là công ti chứng khoán cũng là công

ti trách nhiệm hữu hạn hay công ti cổ phần

được quy định trong Luật công ti năm

1990 Sự khác nhau cơ bản giữa công ti

chứng khoán với công ti trách nhiệm hữu

hạn, công ti cổ phần hoạt động trong các

lĩnh vực khác thể hiện chủ yếu ở thủ tục

thành lập và phạm vi hoạt động Pháp luật

ở một số nước khác cũng có cách tiếp cận

tương tự Chẳng hạn, theo pháp luật

Singapore và Australia, công ti chứng

khoán được thành lập theo luật công ti; địa

vị pháp lí của chúng được xác định như

những công ti hoạt động trong lĩnh vực

khác Tuy nhiên, để tham gia thị trường

chứng khoán, các công ti này phải đáp ứng

các điều kiện mà pháp luật về chứng

khoán đặt ra Theo pháp luật hiện hành

của Nhà nước ta, các điều kiện tham gia

thị trường chứng khoán với tư cách là công

ti chứng khoán bao gồm:

+ Công ti chứng khoán phải được ủy

ban chứng khoán nhà nước cấp giấy phép

kinh doanh còn giấy phép kinh doanh của

công ti trách nhiệm hữu hạn hay công ti cổ

phần hoạt động trong các lĩnh vực khác thì

do sở kế hoạch và đầu tư cấp

+ Mức vốn pháp định quy định đối với

công ti chứng khoán cao hơn nhiều so với công ti hoạt động trong các lĩnh vực khác

Đối với công ti chứng khoán có thực hiện việc bảo l;nh phát hành thì mức vốn pháp

định được quy định là 22 tỉ đồng; đối với công ti thực hiện việc kinh doanh môi giới chứng khoán, quản lí danh mục đầu tư, tư vấn đầu tư thì mức vốn pháp định được quy định là 3 tỉ đồng; đối với công ti chứng khoán hoạt động tự doanh thì mức vốn pháp định được quy định là 12 tỉ đồng Các mức vốn này đều cao hơn rất nhiều so với các mức vốn pháp định áp dụng đối với các loại doanh nghiệp được quy định tại Nghị định của Chính phủ số

26/1998/NĐ-CP ngày 07/5/1998 về việc điều chỉnh mức vốn pháp định đối với doanh nghiệp tư nhân, công ti trách nhiệm hữu hạn, công ti

cổ phần Theo Nghị định này, mức vốn pháp định cao nhất áp dụng với các công ti

cổ phần và công ti trách nhiệm hữu hạn là

1 tỉ đồng Việc áp dụng mức vốn pháp

định cao cũng là minh chứng cho sự thận trọng của hệ thống pháp luật nước ta đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán và các chủ thể kinh doanh chứng khoán + Các thành viên của công ti chứng khoán phải đáp ứng những điều kiện nhất

định So với các công ti hoạt động trong các lĩnh vực khác thì việc trở thành thành viên của công ti chứng khoán khó khăn hơn Không phải bất kì chủ thể nào có năng lực pháp luật cũng có thể trở thành thành viên của công ti chứng khoán Theo pháp luật hiện hành của Nhà nước ta thì một trong những điều kiện để trở thành thành viên của công ti chứng khoán là phải

có giấy phép hành nghề kinh doanh chứng khoán do ủy ban chứng khoán nhà nước cấp Mặt khác, thành viên của công ti chứng khoán không thể là cổ đông nắm trên 5% cổ phiếu có quyền biểu quyết của một công ti phát hành hoặc là thành viên

Trang 4

hội đồng quản trị của công ti này

b Điểm đặc trưng khác trong địa vị

pháp lí của công ti chứng khoán là phạm vi

hoạt động của nó Công ti chứng khoán chỉ

tiến hành những hoạt động liên quan tới

chứng khoán như môi giới, tự doanh, quản

lí danh mục đầu tư, bảo l;nh phát hành, tư

vấn đầu tư chứng khoán Như vậy, phạm vi

hoạt động kinh doanh của công ti chứng

khoán hẹp hơn nhiều so với phạm vi hoạt

động kinh doanh của công ti hoạt động

trong các lĩnh vực khác Trong thực tế ở

các nước, có công ti chứng khoán chỉ tiến

hành đơn thuần việc tư vấn hay quản lí

danh mục đầu tư, tức là thực hiện hoạt

động cụ thể liên quan đến chứng khoán

Tuy nhiên, cũng có công ti tiến hành một

vài hoạt động kinh doanh chứng khoán

c Công ti chứng khoán được coi là

công ti môi giới Tính chất môi giới này

thể hiện ở chỗ các công ti chứng khoán

thực hiện việc mua bán chứng khoán theo

yêu cầu của người đầu tư hay người phát

hành Trong quan hệ này, họ đóng vai

người đại diện Quan hệ giữa các công ti

chứng khoán với bên phát hành và bên đầu

tư được pháp luật các nước xác định như là

mối quan hệ giữa khách hàng và người

phát hành (broker - client) Giấy phép kinh

doanh chứng khoán được cấp cho công ti

còn giấy phép hành nghề chứng khoán

được cấp cho cá nhân muốn hành nghề

chứng khoán Điều kiện cấp giấy phép

hành nghề chứng khoán được quy định

đơn giản hơn so với việc cấp giấy phép

kinh doanh chứng khoán Điều kiện được

cấp giấy phép hành nghề kinh doanh

chứng khoán bao gồm: Người xin hành

nghề chứng khoán phải tốt nghiệp phổ

thông trung học, đáp ứng các tiêu chuẩn về

đạo đức, chuyên môn và có đủ các chứng

chỉ hành nghề kinh doanh chứng khoán do

ủy ban chứng khoán nhà nước cấp Người

có giấy phép hành nghề chứng khoán tự

bản thân họ không phải là chủ thể của thị trường chứng khoán Giấy phép hành nghề chứng khoán chỉ là điều kiện để cá nhân

có thể trở thành thành viên của công ti chứng khoán hoặc được tuyển dụng vào làm việc ở công ti này Tuy nhiên, người

có giấy phép hành nghề chứng khoán không phải đương nhiên dễ dàng tham gia hoạt động kinh doanh chứng khoán trong công ti chứng khoán Người này cũng phải chịu những hạn chế nhất định Cụ thể là họ không được đầu tư hay làm việc cùng lúc cho hai hay nhiều công ti chứng khoán, không được làm giám đốc hay cổ đông nắm giữ trên 5% cổ phiếu có quyền biểu quyết của một tổ chức phát hành khác Công ti chứng khoán về cơ bản là loại hình doanh nghiệp liên kết các nhà kinh doanh chứng khoán chuyên nghiệp Bản thân bộ máy điều hành của công ti chứng khoán cũng bao gồm các nhà chuyên môn

về chứng khoán Trong công ti chứng khoán, ngoại trừ một vài chức danh như văn thư, kế toán, thủ quỹ, phần lớn nhân viên và thành viên công ti phải là những người có chứng chỉ hành nghề kinh doanh chứng khoán Chứng chỉ này do ủy ban chứng khoán nhà nước cấp Khi cần tuyển hoặc sa thải nhân viên có giấy phép hành nghề kinh doanh chứng khoán, công ti chứng khoán phải báo cáo với ủy ban chứng khoán nhà nước Nét đặc thù nữa trong bộ máy của công ti chứng khoán là người đại diện Người đại diện cho công ti chứng khoán là người thay mặt cho công ti tại các sở giao dịch chứng khoán, trung tâm giao dịch chứng khoán hoặc ở những nơi khác Khác với người đại diện cho các doanh nghiệp hoặc công ti hoạt động trong các lĩnh vực khác, người đại diện cho công

ti chứng khoán phải tuân theo những điều kiện rất nghiêm ngặt Người đại diện cho công ti chứng khoán phải là cử nhân luật hoặc kinh tế, có giấy phép hành nghề

Trang 5

chứng khoán, không phải là giám đốc hoặc

thành viên hội đồng quản trị của doanh

nghiệp bị phá sản, không phải là người bị

ủy ban chứng khoán nhà nước tước giấy

phép hành nghề chứng khoán

d Công ti chứng khoán luôn luôn chịu

sự giám sát chặt chẽ của ủy ban chứng

khoán nhà nước và chịu những hạn chế

nhất định trong hoạt động Điều 37 Nghị

định 48 quy định công ti chứng khoán phải

thực hiện chế độ báo cáo với ủy ban

chứng khoán nhà nước Công ti chứng

khoán không được sử dụng quá 50% vốn

điều lệ để mua sắm trang thiết bị và tài sản

cố định, đầu tư quá 20% tổng số chứng

khoán đang lưu hành của một công ti niêm

yết; đầu tư vượt quá 15% tổng số chứng

khoán đang lưu hành của một công ti

không niêm yết, thực hiện việc bảo l;nh

phát hành vượt quá 4 lần hiệu số giữa tài

sản lưu động và tổng số nợ ngắn hạn của

mình Bên cạnh đó, công ti chứng khoán

phải báo cáo với ủy ban chứng khoán nhà

nước nhiều vấn đề liên quan đến hoạt động

kinh doanh chứng khoán Trường hợp vượt

quá các yêu cầu về sử dụng vốn, về đầu tư

vốn như đ; nêu ở trên, công ti phải thông

báo cho ủy ban chứng khoán nhà nước

Song song với việc báo cáo, công ti chứng

khoán phải điều chỉnh sao cho có thể đảm

bảo được mức quy định Nhìn chung các

hạn chế nêu trên chính là biểu hiện của sự

cần thiết phải ngăn chặn những rủi ro

mang tính chủ quan trong hoạt động kinh

doanh chứng khoán Ngay cả trong việc

giải thể, phân chia, sáp nhập, công ti

chứng khoán cũng phải chịu những ràng

buộc chặt chẽ hơn Công ti hoạt động

trong lĩnh vực khác nếu muốn giải thể,

phân chia hoặc sáp nhập thì người quyết

định là đại hội cổ đông Ngược lại, công ti

chứng khoán nếu muốn thực hiện việc

phân chia, sáp nhập thì phải xin phép ủy

ban chứng khoán nhà nước Những hạn chế này chúng ta ít tìm thấy trong pháp luật liên quan đến các loại hình doanh nghiệp khác

Những đặc điểm nêu trên trong địa vị pháp lí của công ti chứng khoán thể hiện những đòi hỏi đặc biệt của hoạt động kinh doanh chứng khoán Nhìn chung, những

đòi hỏi mà pháp luật nước ta đặt ra đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán và chủ thể tiến hành kinh doanh chứng khoán cũng có nhiều điểm tương đồng với pháp luật của một số nước Ví dụ: ở Singapore, chỉ có công ti chứng khoán (dealer) mới

được cấp giấy phép kinh doanh chứng khoán Cá nhân chỉ được cấp giấy phép hành nghề chứng khoán để có thể hoạt

động với tư cách là người đại diện của công ti chứng khoán Pháp luật của Singapore không quy định các điều kiện cấp giấy phép kinh doanh chứng khoán mà chỉ nêu rõ những hoàn cảnh mà việc cấp giấy phép kinh doanh chứng khoán sẽ bị từ chối Các hoàn cảnh đó bao gồm: Công ti xin cấp giấy phép kinh doanh chứng khoán

đang trong quá trình giải thể hoặc thanh lí;

đang có người thu nợ được chỉ định; đang

có sự dàn xếp với chủ nợ ở trong hoặc ngoài Singapore; cơ quan quản lí tiền tệ Singapore (MAS) thấy không thỏa m;n với trình độ văn hóa của các nhân viên công ti xin cấp giấy phép; cơ quan quản lí tiền tệ Singapore có cơ sở tin rằng công ti xin phép không thể thực hiện có hiệu quả, trung thực nghĩa vụ của công ti chứng khoán Pháp luật của Australia cũng có các quy định về cấp giấy phép kinh doanh chứng khoán cho công ti chứng khoán Nhiều điều kiện cấp giấy phép tuy diễn

đạt dưới những hình thức khác nhau nhưng cũng đều có nội dung tương tự Pháp luật Australia cũng quy định các

Trang 6

trường hợp mà theo đó ủy ban chứng

khoán Australia (ASC) sẽ không cấp giấy

phép cho công ti chứng khoán Cụ thể là

nếu công ti đang ở trong giai đoạn thanh

lí hoặc đang ở trong sự điều hành của

quản lí viên hoặc đang có sự dàn xếp với

chủ nợ sẽ không được cấp giấy phép kinh

doanh chứng khoán Bên cạnh những điều

kiện đó, ủy ban chứng khoán Australia

phải xem xét liệu các nhân viên của công

ti chứng khoán có trình độ văn hóa, có

khả năng thực hiện các nhiệm vụ của

mình một cách trung thực và có trách

nhiệm hay không Pháp luật Australia còn

đòi hỏi điều kiện tài chính của công ti

chứng khoán Để được cấp giấy phép kinh

doanh chứng khoán, các công ti chứng

khoán phải duy trì lượng tài sản hữu hình

với giá trị từ 5.000 đến 20.000 đôla

Australia hoặc từ 3 đến 5% giá trị tài sản

nợ của công ti tùy theo mức nào lớn hơn

Ngoài ra, công ti chứng khoán cũng phải

nộp cho ủy ban chứng khoán khoản tiền

đảm bảo 20.000 đôla Australia để được

cấp giấy phép kinh doanh chứng khoán

Toàn bộ những điều kiện trên cho thấy

pháp luật của Australia đặc biệt quan tâm

đến thực trạng tài chính của các công ti

chứng khoán Các đòi hỏi tương tự như

vậy cũng được pháp luật Hoa Kỳ áp dụng

đối với công ti chứng khoán mặc dù hệ

thống pháp luật nước này theo đuổi chính

sách rất mềm dẻo và tự do trong việc tác

động vào thị trường chứng khoán Trước

cuộc khủng hoảng của thị trường chứng

khoán những năm 1929 - 1932, pháp luật

Hoa Kỳ ít quan tâm đến việc can thiệp

vào thị trường chứng khoán Học thuyết

về sự điều chỉnh của bàn tay vô hình được

áp dụng khá triệt để trong nền công

nghiệp chứng khoán Tuy nhiên, cuộc

khủng hoảng của thị trường hàng hóa vô

hình này và những hậu quả tai hại mà nó mang lại cho nền kinh tế Hoa Kỳ trong những năm 1929 - 1932 đ; buộc Chính phủ phải tính đến việc điều chỉnh mạnh

mẽ bằng pháp luật hoạt động của thị trường chứng khoán Năm 1933, Luật về chứng khoán (Security Act) được ban hành và năm 1934 đ; ban hành tiếp Luật

về ủy ban chứng khoán (Security Exchange Commission Act) Hai đạo luật này đ; quy định nhiều biện pháp nhằm hạn chế các hoạt động có thể gây hại cho

sự ổn định của thị trường chứng khoán Những hạn chế này được áp dụng đối với tất cả các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán, trong đó có công ti chứng khoán (Điều 15(b)7 Luật về ủy ban chứng khoán) Pháp luật Hoa Kỳ quy định số vốn tối thiểu của các công ti chứng khoán

và số tiền cần phải nộp với tư cách là khoản nộp đảm bảo; nghĩa vụ phải đăng kí; những đòi hỏi về trình độ chuyên môn của nhân viên tiến hành nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán Ngay cả các ngân hàng thương mại Hoa Kỳ, nơi có đội ngũ cán bộ chuyên môn cao cũng bị buộc phải tách riêng các nghiệp vụ ngân hàng với nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán khi tiến hành nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán./

(1).Xem: PGS.PTS Lê Hồng Hạnh, Quỹ đầu tư chứng khoán và công ti quản lí quỹ trong thị trường chứng khoán Tạp chí luật học số 6/1998

Ngày đăng: 17/03/2014, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w