1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính về đất đai

6 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 588,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với vụ án hành chính giải quyết tranh chấp đất đai, Kiểm sát viên cần chú ý về hệ thống chứng cứ, việc thu thập chứng cử khỉ không có giấy tờ chứng minh, nội dung tranh chấp; đối v

Trang 1

CÔNG TÁC KIỂM SÁT

KÝ NĂNG NGHIÊN cúy Hổ SG

VỤ ÁN HÀNH CHÍNH VỀ DẤT ĐAI

THÁI VĂN ĐOÀN *

*Thạc sĩ, Kiểm sát viên cao cấp, Vụ kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật (Vụ 10) Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Đối với vụ án hành chính giải quyết tranh chấp đất đai, Kiểm

sát viên cần chú ý về hệ thống chứng cứ, việc thu thập chứng cử khỉ

không có giấy tờ chứng minh, nội dung tranh chấp; đối với vụ án

hành chính về giải quyết khiếu nại trong quản lý và sử dụng đất, cần

quan tâm đến sổ lần khiếu nại, hiệu lực của quyết định, thời hiệu

Từ khóa: Hồ sơ vụ án hành chính về đất đai; tranh chấp đất đai; giải

\ quyết khiếu nại về đất đai.

> Nhận bài: 26/5/2021; biên tập xong: 22/6/2021; duyệt bài: 30/6/2021.

Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính (VAHC) về đất đai

rất rộng, bao gồm nhiều dạng

tranh chấp, khiếu kiện khác nhau như:

Khiếu kiện quyết định xử phạt hành chính

về đất đai, khiếu kiện về việc xác định giá

đất, loại đất, thu hồi đất, bồi thường, hồ

trợ, tái định cư khi thu hồi đất Mồi loại

khiếu kiện có những đặc điểm riêng, đặc

thù khác nhau Trong phạm vi bài viết, tác

giả tập trung vào 02 dạng khiếu kiện có

tính phổ biến hiện nay, đó là khiếu kiện

quyết định hành chính, hành vi hành chính

về việc giải quyết tranh chấp đất đai của

ủy ban nhân dân (UBND) và giải quyết khiếu nại trong quản lý, sử dụng đất

1 Yêu cầu chung trong nghiên cứu

hồ sơ vụ án hành chính về đất đai

Nghiên cứu hồ sơ VAHC nói chung và VAHC về đất đai nói riêng luôn là yêu cầu bất buộc và quyết định đến việc hoàn thành nhiệm vụ công tác kiểm sát việc giải quyết VAHC của Kiểm sát viên Đối với

lạp chí Sô20/2021 KIÊM SÁT 3

Trang 2

CÔNG TÁC KIỂM SÁT

hồ sơ VAHC về đất đai, đặc biệt là những

vụ án có tính chất phức tạp, khối lượng hồ

sơ lớn, nhiều đương sự tham gia, dư luận

xã hội đặc biệt quan tâm thì việc nghiên

cứu hồ sơ đòi hỏi Kiểm sát viên phải trang

bị những kỳ năng, phương pháp khoa hoc

để nắm bắt được toàn diện bản chất vụ án,

áp dụng đúng quy định pháp luật để giải

quyết Kiểm sát viên cần có những kỹ

năng nghiên cứu hồ sơ như sau:

Thứ nhất, cập nhật thường xuyên hệ

thống văn bản pháp luật liên quan đến giải

quyết VAHC về đất đai; ngoài ra, Kiểm

sát viên còn phải nắm vững những quy

định của ngành Kiểm sát, đặc biệt là các

văn bản sau đây: (1) Quyết định sổ

282/QĐ-VKSTC ngày 01/8/2017 về việc

ban hành Quy chế công tác kiểm sát việc

giải quyết các VAHC; (2) Quyết định số

286/QĐ-VKSTC ngày 08/7/2019 về việc

ban hành Quy định về quy trình kiểm sát

việc giải quyết các VAHC; (3) Hướng dẫn

số 28/HD-VKSTC ngày 19/10/2018 về

việc lập hồ sơ kiểm sát giải quyết vụ

VAHC, kinh doanh thương mại; (4) Hướng

dẫn số 22/HD-VKSTC ngày 05/6/2020 về

một số nội dung liên quan đến công tác

kiểm sát việc giải quyết các VAHC trong

lĩnh vực đất đai; (5) Hướng dẫn số 36/HD-

VKSTC ngày 30/12/2020 về hướng dẫn

hoạt động phát biểu của Kiểm sát viên tại

phiên tòa xét xử VAHC

Thử hai, Kiểm sát viên phải nghiên cứu

kỹ toàn bộ tài liệu có trong hồ sơ vụ án

(đối với vụ án phức tạp thì phải nghiên

cứu nhiều lần) để xác định những vấn đề

ì Tạp chí

4 i KI E M SÁI _ SÓ 20/2021

sau: Vụ án có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án hay không, người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những nội dung

cụ thể gì về quản lý nhà nước về đất đai; Tòa án xác định tư cách của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (người liên quan) có đúng không; người liên quan có yêu cầu độc lập hay không; các bên xuất trình được những tài liệu, chứng cứ gì liên quan đến nội dung tranh chấp, khiếu kiện Trong đó, quan trọng nhất là phải xác định được tính có căn cứ của quyết định hành chính, hành vi hành chính, cơ sở của việc khởi kiện, của yêu cầu độc lập

Thứ ba, trên cơ sở kết quả nghiên cứu

hồ sơ VAHC về đất đai, Kiểm sát viên lập

dự kiến diễn biến, những tình huống có thể xảy ra tại phiên tòa cần chú ý đến việc người bị kiện là UBND hoặc Chủ tịch UBND thường vắng mặt hoặc chỉ cử người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tham dự phiên tòa, nên Kiểm sát viên phải

dự kiến trước sự vắng mặt này có gây khó khăn cho việc xét xử hay không Thực tiễn cho thấy, trong nhiều phiên tòa, người khởi kiện hoặc người liên quan yêu cầu phải có mặt người bị kiện để họ được trực tiếp hỏi, tranh luận, đối đáp công khai thì Kiểm sát viên cần xem xét kỳ người bị kiện có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt hay không, trường hợp cần có mặt người

bị kiện thì vận dụng Chỉ thị só 26/CT-TTg ngày 15/11/2019 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chấp hành pháp luật tố tụng hành chính và thi hành án hành chính

Trang 3

CÔNG TÁC KIỂM SÁT

để đề nghị Tòa án kiến nghị người bị kiện

thực hiện trách nhiệm tham gia phiên tòa

2 Kỹ năng nghiên cứu hồ SO’ vụ án hành

chính về giải quyết tranh chấp đất đai

2.1 Hệ thống chửng cứ trong hồ sơ

vụ án hành chinh về giải quyết tranh

chấp đất đai

Hệ thống chứng cứ trong hồ sơ vụ án

hành chính về giải quyết tranh chấp đất

đai thường bao gồm:

- Các quyết định hành chính, hành vi

hành chính về giải quyết tranh chấp đất đai,

giải quyết khiếu nại trong quản lý và sử

dụng đất của Chủ tịch UBND các cấp kèm

theo các văn bản của cơ quan tham mưu

như cơ quan Tài nguyên và Môi trường, cơ

quan Thanh tra và hồ sơ do các cơ quan

hành chính này thiết lập; hoặc các hành vi

không giải quyết tranh chấp đất đai như các

chứng cứ thể hiện đương sự đã nộp đơn đề

nghị giải quyết tranh chấp đất đai nhưng

đến thời hạn luật định, UBND cấp có thẩm

quyền không giải quyết ;

- Biên bản hòa giải tranh chấp đất đai

tại UBND cấp xã (đây là chứng cứ quan

trọng, có tính bắt buộc trong giải quyết

tranh chấp đất đai của UBND);

- Các giấy tờ về nguồn gốc sử dụng đất

như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

(GCNQSDĐ), các giấy tờ của chế độ cũ

như chứng thư kiến điền, bằng khoán điền

thổ, trích lục địa bộ, văn tự đoạn mãi bất

động sản, văn tự mua bán nhà ở, tặng cho

nhà ở, thừa kế nhà ở gắn liền với đất ở có

chứng nhận của cơ quan thuộc che độ cũ,

di chúc hoặc giấy thỏa thuận tương phân

di sản về nhà ở được cơ quan thuộc chế độ

cũ chứng nhận; hoặc những giấy tờ sau này như các giấy tờ mua bán, chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế đất đai, nhà ở, biên lai nộp thuế sử dụng đất ;

- Các giấy tờ, chứng cứ thể hiện người đang quản lý, sử dụng đất, công sức bảo quản, duy trì, tôn tạo đất đai và các công trình, tài sản khác gắn liền với đất;

- Các giấy tờ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp như sổ đăng ký ruộng đất theo Chỉ thị số 299/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký ruộng đất trong cả nước, sổ đăng ký đất đai theo Nghị định số 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ về giao đất nông nghiệp cho

hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, sổ địa chính, sổ mục kê, bản đồ giải thửa ;

- Xác nhận của những người hàng xóm gần khu đất tranh chấp

2.2 về thu thập chứng cứ giải quyết tranh chấp đất đai khi không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất

Việc giải quyết tranh chấp đất đai khi không có GCNQSDĐ hoặc không có giấy

tờ khác theo Điều 100 Luật đất đai năm

2013 rất khó khăn Các đương sự phải cung cấp chứng cứ nguồn gốc và quá trình

sử dụng đất của mình (như chỉ có các giấy

tờ mua bán, chuyển nhượng, tặng cho viết tay, lời khai của những người hàng xóm sống lâu năm gần diện tích đất tranh chấp, chứng cứ về việc bảo quản, tôn tạo, sử dụng đất trong suốt quá trình sử dụng, cơ

Tạp chi Sỏ20/2021 KIÊM SÁ I 5

Trang 4

CÒNG TÁC KIẾM SÁT

quan có thẩm quyền xác nhận tình trạng

sử dụng đất có ổn định hay không, quy

hoạch sử dụng đất ở địa phương )

Bên cạnh đó, Kiểm sát viên cũng cần

chú ý đến các tài liệu, chứng cứ về ranh

giới, mốc giới thửa đất có chữ ký xác nhận

của người sử dụng đất liền kề, hồ sơ kỳ

thuật thửa đất, diện tích đất biến động

(tăng lên hay giảm xuống), nguyên nhân

của việc tăng giảm Ví dụ: Đất tranh chấp

có cây cối, kênh mương hoặc có hiện

tượng cây mọc sang đất bên cạnh, nước

chảy làm xói mòn đất bên cạnh làm thay

đổi hiện trạng ranh giới đất tranh chấp

Quá trình nghiên cứu hồ sơ, Kiểm sát viên

cần vận dụng Điều 91 Nghị định số

43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của

Chính phủ quy định chi tiết thi hành một

số điều của Luật đất đai năm 2013

2.3 Những lưu ý về nội dung khi giải

quyết vụ án hành chinh về đất đai

Thứ nhất, phải nắm vững khái niệm

“tranh chấp đất đai là tranh chấp về

quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất

giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất

đai” Theo đó, chỉ những tranh chấp xác

định được người có quyền sử dụng đất

(gồm cả việc tranh chấp ranh giới giữa các

thừa đất) mới là tranh chấp đất đai Việc

xác định loại tranh chấp rất quan trọng, vì

thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai và

tranh chấp liên quan đến đất đai là khác

nhau (Ví dụ: Giải quyết tranh chấp đất đai

thì bắt buộc phải có thủ tục hòa giải ở cơ

sở - Điều 202 Luật đất đai năm 2013) Vì

vậy, khi kiểm sát việc giải quyết VAHC

khởi kiện quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, cần phân biệt với những tranh chấp dân sự như: Tranh chấp về giao dịch (mua bán) quyền sử dụng đất, nhà ở; tranh chấp về di sản thừa kế là quyền sử dụng đất; tranh chấp tài sản chung là quyền sử dụng đất giữa vợ chồng khi ly hôn

Thứ hai, khi kiểm sát việc giải quyết các VAHC, Kiểm sát viên cần chú ý đến thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo từng thời kỳ Điều 203 Luật đất đai năm 2013 quy định:

- Tranh chấp đất đai mà đương sự có GCNQSDĐ hoặc có một trong các loại giấy tờ theo Điều 100 Luật đất đai năm

2013 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự theo hướng mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án

- Đối với tranh chấp đất đai mà đương

sự không có GCNQSDĐ hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 thì đương

sự được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai là: Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại UBND cấp có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa

án nhân dân (TAND)

Thứ ba, quá trình nghiên cứu hồ sơ VAHC về đất đai, Kiểm sát viên cần đi sâu phân tích những vấn đề cụ thể về tranh chấp đất đai, như nguồn gốc, vị trí, diện tích đất tranh chấp, số liệu đo đạc cụ thể các góc cạnh, sơ đồ đất, những giấy tờ liên quan đến đất tranh chấp; nguyên nhân

Tạp chí

6 KHAI SÁ I Sô20/2021

Trang 5

CÔNG TÁC KIỂM SÁT

phát sinh tranh chấp, quá trình giải quyết

của các cơ quan chức năng trước khi Tòa

án thụ lý giải quyết và phải vận dụng

chính sách pháp luật phù hợp với từng

thời kỳ xảy ra tranh chấp

Thứ tư, Kiểm sát viên cần lưu ý nguyên

tắc xuyên suốt trong giải quyết tranh chấp

đất đai là “Nhà nước không thừa nhận

việc đòi lại đất đã được giao theo quy định

của Nhà nước cho người khác sử dụng

trong quá trình thực hiện chính sách đất

đai của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng

hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng

hòa miền Nam Việt Nam và nhà nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”

(khoản 5 Điều 26 Luật đất đai năm 2013,

Điều 10 Luật đất đai năm 2003 và Luật

đất đai các năm trước đây) Trường hợp

này gặp nhiều trong giải quyết tranh chấp

đất đai, nên Kiểm sát viên cũng phải cân

nhắc, thận trọng, nắm vững quy định trên

3 Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án

hành chính về giải quyết khiếu nại

trong quản lý và sử dụng đất

Việc khiếu nại trong quản lý, sử dụng

đất, xét về tố tụng bao gồm lĩnh vực khiếu

nại theo quy định của Luật khiếu nại năm

2011 và các văn bản liên quan đến giải

quyết khiếu nại Tuy nhiên, xét về nội dung

thì phạm vi rất rộng, bao gồm phần lớn lĩnh

vực đất đai thuộc thẩm quyền ban hành các

quyết định hành chính, hành vi hành chính

mà cơ quan có thẩm quyền đã giải quyết

hoặc không giải quyết, đương sự không

đồng ý đã khiếu nại lên cơ quan có thẩm

quyền, sau đó khi cơ quan có thẩm quyền

giải quyết hoặc không giải quyết, đương sự khởi kiện ra Tòa án Theo nghĩa đó, việc khiếu nại trong lĩnh vực quản lý đất đai sẽ bao gồm những loại khiếu kiện phổ biến như: Khiếu nại về việc thu hồi đất, bồi thường, hồ trợ, tái định cư; khiếu nại về việc xác định giá đất, loại đất, xử phạt hành chính về đất đai, giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất Vì vậy, khi nghiên cứu hồ sơ loại khiếu kiện này, Kiểm sát viên cần lưu ý những vấn đề sau:

Thứ nhất, đương sự đã khiếu nại đến

những cơ quan nào, khiếu nại lần đầu hay lần hai, đương sự có cam kết khởi kiện ra Tòa án thì không khiếu nại đến UBND cấp có thẩm quyền Theo đó, cần xem xét nội dung đơn khởi kiện của đương sự có cam đoan về việc không đồng thời khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại hay không (theo điểm g khoản 1 Điều 118 Luật tố tụng hành chính năm 2015) Đồng thời, xem xét việc Tòa án tiến hành xác minh, thu thập tài liệu về việc đương sự đồng thời khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết Từ đó, có căn cứ xác định việc khởi kiện của đương

sự đảm bảo về điều kiện khởi kiện vụ án theo quy định của pháp luật

Khi nghiên cứu hồ sơ VAHC về giải quyết khiếu nại trong quản lý và sử dụng đất, thường gặp vi phạm về nội dung của quyết định giải quyết khiếu nại lần hai (vượt quá thẩm quyền nội dung theo quy định pháp luật) Khoản 2 Điều 40 Luật khiếu nại năm 2011 quy định: “Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai phải có các nội

Tạp chí Sôí 20/2021 KI I M SÁ I

Trang 6

CÔNG TÁC KIỂM SÁT

dung sau đây: h) Kết luận nội dung

khiếu nại là đúng, đúng một phần hoặc sai

toàn bộ Trường họp khiếu nại là đúng hoặc

đúng một phần thì yêu cầu người có quyết

định hành chính, hành vi hành chính bị

khiếu nại sửa đổi, hủy bỏ một phần hay

toàn bộ quyết định hành chính, chấm dứt

hành vi hành chính bị khiếu nại”

Như vậy, đối với quyết định giải quyết

khiếu nại lần hai thì người có thẩm quyền

ban hành quyết định không có thẩm quyền

trực tiếp sửa đổi hay hủy bỏ toàn bộ hay một

phần quyết định hành chính; chấm dứt hành

vi hành chính vi phạm, mà chỉ yêu cầu

người có quyết định hành chính, hành vi

hành chính bị khiếu nại sửa đổi, hủy bỏ một

phần hay toàn bộ quyết định hành chính,

chấm dứt hành vi hành chính đó Trong

trường họp quyết định giải quyết khiếu nại

có nội dung về việc trực tiếp sửa đổi, hủy bỏ

quyết định hành chính, chấm dứt hành vi

hành chính thì Kiểm sát viên cần phân tích

và đánh giá về thẩm quyền ban hành quyết

định, từ đó đề nghị Hội đồng xét xử tuyên

hủy quyết định giải quyết khiếu nại lần hai

Th ứ hai, trường hợp đã có quyết định giải

quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật nhưng

vẫn ban hành quyết định giải quyết lại

Điều 11 Luật khiếu nại năm 2011 quy

định quyết định giải quyết khiếu nại lần

hai có hiệu lực pháp luật thì người khiếu

nại không có quyền khiếu nại tiếp và

người có thẩm quyền không giải quyết đối

với loại đon này Trong trường hợp UBND

cấp trên trực tiếp vẫn thụ lý giải quyết là vi

phạm thẩm quyền về mặt nội dung, vì vậy

Kiểm sát viên cần đề nghị tuyên hủy quyết định hành chính của UBND cấp trên trực tiếp bị khởi kiện (trừ trường hợp phát hiện việc giải quyết khiếu nại vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức hoặc có tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ việc nên phải xem xét lại việc giải quyết có vi phạm pháp luật theo Điều 20 Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật khiếu nại hay không?)

Thứ ba, trường hợp đã hết thời hiệu

khiếu nại nhưng vẫn thụ lý, giải quyết Điều 9 Luật khiếu nại năm 2011 quy định thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính, trừ trường hợp vì ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác thì thời gian trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại Vì vậy, Kiểm sát viên cần xem xét, nếu hết thời hiệu khiếu nại nhưng UBND vẫn thụ lý và giải quyết là trái với quy định về thẩm quyền, cần đề nghị tuyên hủy quyết định hành chính đó

Th ứ tư, trường hợp áp dụng văn bản

chưa có hiệu lực để giải quyết

Thực tế có nhiều VAHC, Chủ tịch UBND áp dụng văn bản pháp luật chưa có hiệu lực để giải quyết vấn đề và văn bản đó cũng không có hiệu lực hồi tố Đây là vi phạm về việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật theo Điều 156 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 Nếu phát hiện vi phạm này, Kiểm sát viên đề nghị hủy quyết định hành chính □

Tạp chí

8 KIÉM SÁT_/ SỐ20/2021

Ngày đăng: 29/10/2022, 22:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w