1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Cơ sở pháp lý để ngân hàng tham gia vào kinh doanh chứng khoán" docx

4 379 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 7,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không chỉ Pháp lệnh ghi nhận quyền kinh doanh chứng khoán của ngân hàng mà Điều lệ tổ chức và hoạt động của các ngân hàng quốc doanh được Thống đốc Ngân hàng nhà nước phê chuẩn cũng khẳ

Trang 1

CƠ SỞ PHấP LÍ Dé NGAN HANG THAM GIA KINH DOANH CHUNG KHOAN

Ho: động kinh doanh chứng khoán là

một trong những nội dung kinh

doanh quan trọng của các ngân hàng

Ngân hàng cung cấp các địch vụ tài chính

nhiều hơn bất kì một trung gian tài chính

nào khác, kể cả chính phủ Tùy theo từng

mô hình hệ thống ngân hàng mà các ngân

hàng thương mại tham gia vào thị trường

chứng khoán một cách trực tiếp, toàn

diện hoặc tham gia gián tiếp trong từng

lĩnh vực cụ thể

Các ngân hàng chuyên doanh (như hệ

thống ngân hàng Mỹ, Nhật) chỉ được

phép kinh doanh chứng khoán thông qua

các công ty chứng khoán độc lập Các

ngân hàng thương mại chịu sự chi phối

của luật ngân hàng và được đặt dưới sự

kiểm soát của ngân hàng trung ương;

trong khi đó các công ty chứng khoán

độc lập lại được điều chỉnh bởi luật

chứng khoán và chịu sự kiểm soát của ủy

ban chứng khoán quốc gia Hệ thống

ngân hàng này còn được gọi là hệ thống

ngân hàng ngoại biên (outside system)

Các ngân hàng đa năng (như hệ thống

ngân hàng châu Âu lục địa), ngân hàng

thương mại kinh doanh cả chứng khoán

và tiền tệ Luật ngân hàng ảnh hưởng

mạnh tới ngân hàng kinh doanh chứng

khoán Các ngân hàng có thể được ngân

hàng trung ương cấp giấy phép kinh

doanh nhưng khi giao dịch tại sở giao

dịch chứng khoán phải có giấy phép chấp

nhận của cơ quan quản lí chứng khoán và

phải chịu sự giám sát của cả ngân hàng

PHAẠM GIANG THỦ *

trung ương và cơ quan quản lí chứng

khoán Hệ thống ngân hàng này còn gọi

là hệ thống ngân hàng nội bién (inside system)

Mặc dù hoạt động kinh doanh chứng

khoán là hoạt động phổ biến của các ngân hàng nhưng ở Việt Nam hoạt động này là mới mẻ với các chủ thể nêu trên

Thị trường chứng khoán chưa hiện diện

đầy đủ tại Việt Nam nhưng pháp luật hiện hành cũng đã đề cập nội dung này ở

mức độ nhất định

Điều 32, Pháp lệnh ngân hàng thương

mại, hợp tac xã tín dụng và công ty tài chính quy định ngân hàng thương mại, công ty tài chính, hợp tác xã tín dụng

(sau đây gọi tất là phái; lệnh) được kinh doanh chứng khoán Không chỉ Pháp lệnh ghi nhận quyền kinh doanh chứng khoán của ngân hàng mà Điều lệ tổ chức và hoạt động của các ngân hàng quốc doanh được Thống đốc Ngân hàng nhà nước phê

chuẩn cũng khẳng định quyền năng này

Chẳng hạn, khoản 12 Điều 8, Điều lệ Ngân hàng ngoại thương ghi nhận quyền

“kimh doanh chứng khoán và làm môi giới, đại lí chứng khoán cho khách hàng” Hoạt động kinh doanh chứng khoán của các trung gian tài chính hiện nay là giao dịch chứng khoán và tư vấn cho khách hàng Tuy các trung gian tài chính hiện nay đã thực hiện kinh doanh chứng khoán

nhưng đối tượng kinh doanh hiện nay

* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế

Trường Đại học luật Hà Nội

TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 39

Trang 2

| NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI |

mới chỉ là trái phiếu kho bạc, tín phiếu

kho bạc tại thị trường mua bán lại tín

phiếu kho bạc mà thôi Những loại chứng

khoán khác đều chưa phải là đối tượng

của kinh doanh Những nội dung kinh

doanh chứng khoán khác như môi giới

chứng khoán, bảo lãnh phát hành thì pháp

luật chưa cho phép hoặc các trung gian

tài chính chưa có đủ điều kiện để thực

hiện, nếu có thì chỉ ở mức độ rất đơn

giản Theo Điều 27 khoản I, 2 Thể lệ

phát hành trái phiếu ngân hàng thương

mại, ngân hàng đầu tư ban hành theo

Quyết định số 212/QĐÐ - NHI 22/09/1994

của Thống đốc Ngân hàng nhà nước, các

tổ chức này thực hiện hoạt động cất trữ

trái phiếu, môi giới chuyển nhượng cho

khách hàng để hưởng dịch vụ Đó chính

là biểu hiện hoạt động lưu giữ chứng

khoán và môi giới chứng khoán Trong

thời gian gần đây nhất, để đẩy nhanh quá

trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà

nước, tránh tâm lí cho rằng xác định giá

trị doanh nghiệp là không chính xác, các

ngân hàng thương mại được phép mua

buôn cổ phiếu theo phương thức đấu thầu

(người trúng thầu là người trả giá cao), -

sau đó sẽ bán lẻ lại cho công chúng Hoạt

động này thực sự là một bước tiến trong

kinh doanh chứng khoán của ngân hàng

đồng thời cũng giải quyết nhu cầu vốn

ngay cho công ty cổ phần Tuy nhiên,

trong thực tế, hoạt động mua buôn của

các ngân hàng cũng chưa được thực hiện

Điều này có thể lí giải bởi nhiều lí do

khác nhau Lí do đầu tiên là số lượng

doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa

còn quá ít, tính đến thời điểm này mới có

16 công ty cổ phần được thành lập từ con

đường cổ phần hóa Một lí do khác rất

quan trọng thuộc về phía các ngân hàng

hiện nay là họ chưa quen với việc bán lẻ,

chưa tổ chức được hệ thống bán lẻ đồng

40 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC

thời hoạt động kinh doanh chứng khoán

không phải là phổ biến trong các ngân

hàng tại Việt Nam nên chưa có ai đứng ra đấu thầu, mua buôn Gần đây nhất, Nhà

máy cáp và vật liệu viễn thông (SACOM) của Tổng công ty bưu chính viễn thông

đã tiến hành cổ phần hóa và bán cổ phiếu cho người lao động cũng như các chủ thể khác theo Quyết định số 955/1997/QĐ-

TTG ngày I1/11/1997 Theo chúng tôi, đây là những hoạt động phát hành theo

phương thức bản lẻ chứ không phải là bán

buôn

Những hoạt động được nêu trên cho

thấy, hệ thống ngân hàng Việt Nam theo Pháp lệnh đã đi dần tới hệ thống ngân

hàng đa năng

Ngày 12 tháng I2 năm 1997, Quốc hội thông qua Luật tổ chức tín dụng nhằm thay thế Pháp lệnh hiện hành vào ngày 1/10/1998 Tuy nhiên, Luật tổ chức tín dụng không có một điều khoản nào đề cập vai trò của ngân hàng trên thị trường chứng khoán Theo ý kiến chúng tôi, mặc

dù Luật tổ chức tín dụng không ghi nhận

bản chất của hệ thống ngân hàng nhưng

hệ thống ngân hàng theo Luật này là hệ thống ngân hàng ngoại biên Điều 32

khoản 2 Luật tổ chức tín dụng quy định

các ngân hàng được phép “(hành lập công ty trực thuộc có tt cách pháp nhân, hạch toán độc lập bằng vốn tu cé để hoạt

động trên một số lĩnh vực tài chính theo quy định của Chính phứ” Điều nầy có

nghĩa là các ngân hàng khi tham gia vào

thị trường chứng khoán phải thành lập

các công ty con (công ty cổ phần hoặc

công ty trách nhiệm hữu hạn) Các ngân

hàng mẹ chịu sự điều chỉnh, chi phối của

Luật tổ chức tín dụng, trong khi đó các

công ty con lại chịu sự chi phối điều chỉnh của Pháp lệnh chứng khoán và thị trường chứng khoán Nếu so sánh với hệ

Trang 3

mm mm |

thống ngân hàng và luật điều chỉnh của

các nước có hệ thống ngân hàng ngoại

biên điển hình như Mỹ, Nhật Bản về cơ

bản không có gì khác biệt Việc xác định

hệ thống ngân hàng Việt Nam là hệ

thống ngân hàng ngoại biên xuất phát từ

những lí do khác nhau Hiện nay, hoạt

động kinh doanh chứng khoán còn mới

mẻ và độ rủi ro lớn, nếu cho phép ngân

hàng kinh doanh trực tiếp vào thị trường

chứng khoán có thể san sẻ bớt rủi ro từ

hoạt động kinh doanh này sang hoạt động

kinh doanh khác của ngân hàng Tuy

nhiên, điều toy rõ ràng sẽ không bảo vệ

được quyền lợi của người gửi tiền - khách

hàng quan trọng của ngân hàng

Theo khoản 2, Điều 20 Luật tổ chức

tính dụns hệ thống ngân hàng trung gian

bao gồm ngân hàng thương mại, ngân

hàng phát triển, ngân hàng đầu tư; ngân

hàng chính sách, ngân hàng hợp tác

nhưng không có một điều khoản nào làm

rõ khái niệm những ngân hàng trên Theo

chúng tôi, ngân hàng chính sách là loại

ngân hàng quốc doanh, hoạt động không:

nhằm mục đích thu lợi nhuận mà nhằm

thực hiện các chính sách xã hội của Nhà

nước Ví dụ của loại hình ngân hàng

chính sách là Ngân hàng phục vụ người

nghèo Việt Nam Ngân hàng chính sách

hoạt động trên cơ sở bảo toàn vốn, việc

cấp tín dụng cho khách hàng có độ rủi ro

cao hơn so với các loại ngân hàng khác

Ngân hàng hợp tác là loại ngân hàng do

các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình tự

nguyện thành lập nhằm mục tiêu chủ yếu

là tương trợ nhau phát triển sản xuất và

đời sống Hiện nay, loại hình ngân hàng

này chưa hình thành ở nước ta Cũng

giống như các loại hình tổ chức tập thể

khác, hoạt động của ngân hàng này

không mang tính đối vốn cao như các

loại doanh nghiệp khác Điều chúng tôi

muốn quan tâm ở đây là việc có nên hạn chế loại ngân hàng này tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán (mặc dù là gián tiếp thông qua thành lập các công ty con) hay nên để các ngân hàng thành lập các công ty con để tiến hành kinh doanh Các loại ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát triển hoàn toàn có khả năng tham gia vào hoạt động này nhưng đối với ngân hàng chính sách

và ngân hàng hợp tác liệu có nên hạn chế

sự tham gia của nó vào kinh doanh chứng khoán? Điều này có thể được xem xét cho từng ngân hàng khác nhau Ngân

hàng chính sách được thành lập nhằm

mục đích thực hiện chính sách xã hội của Nhà nước là chủ yếu, vốn pháp định được Nhà nước cấp nên nếu thành lập các công

ty con dé.kinh doanh chứng khoán sé không thực hiện đúng mục đích cấp vốn cho loại ngân hàng này Ngân hàng hợp tác hoạt động chủ yếu cũng là tương trợ nhưng các khách hàng khi tham gia góp vốn, thực hiện đầu tư chứng khoán (mua trái phiếu ngân hàng) phải chấp nhận rủi

TO trong đầu tư của mình, những rủi ro luôn có thể xảy ra trong kinh doanh chứng khoán Tuy nhiên, khi ngân hàng

đa thành lập công ty, những công ty này

có chức năng khác, không có chức năng nhận tiền gửi như ngân hàng.mẹ đồng thời chúng là các công ty hạch toán độc

lập nên không ảnh hưởng tới quyền lợi của người gửi tiền Vì vậy, theo ý kiến chúng tôi, ngân hàng hợp tác được quyền

_ tham gia gián tiếp vào thị trường chứng khoán như các ngân hàng khác

Về sự tham gia của ngân hàng nước

ngoal cung ftươnơ tư nhiy nodan han Việt

“7S” al ee

CROW AR Ey FEE AÃÃÂ (Q2 ngan Â11CL1 nề Y1

Nam Trước đây, Pháp lệnh ngân hàng Nhà nước-xác định chi nhánh ngân hàng

(Xem tiếp trang 46)

TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 41

Trang 4

TEEN

đưa ra tuyên bố bảo lưu hoặc rút bảo lưu,

uyên bố chấp nhận hoặc phản đối bảo

lửu đều phải được thể hiện bằng văn bản

và phải thông báo cho các quốc gia hữu

quan biết

Trong thời gian qua, Cộng hòa xã hội

chủ nghĩa Việt Nam đã gia nhập rất nhiều

điều ước quốc tế đa phương như bốn công

ước Giơnevơ về bảo hộ nan nhân chiến

tranh năm 1949, Công ước New York

1958 về công nhận và thi hành các quyết

định của trọng tài nước ngoài, Công ước

Viên năm 1961 vé quan hệ ngoại giao,

Công ước Viên năm 1963 về quan hệ

lãnh sự Với những điều ước không cấm

bảo lưu, chúng ta đã sử dụng quyền bảo

lưu để thể hiện quan điểm, nguyên tắc

của Đảng và Nhà nước ta trong các lĩnh

vực hợp tác quốc tế, phù hợp với lợi ích

của quốc gia và các nguyên tắc cơ bản

của luật quốc tế

Nói chung, những quy định về bảo

lưu hiện nay về cơ bản đã đáp ứng được

yêu cầu và thực tiễn của quan hệ quốc tế

Nó giúp cho các chủ thể của luật quốc tế

nói chung và các quốc gia nói riêng đảm

bảo được thực chất của các thỏa thuận

đồng thời cho phép một số quốc gia khắc

phục được những khó khăn của riêng họ

Nhưng những quy định về bảo lưu điều

ước quốc tế có thể còn thay đổi Yếu tố

tác động đến sự thay đổi này là ngày

càng có nhiều quốc gia và các chủ thể

của luật quốc tế tham gia vào việc kí kết

điều ước quốc tế và lĩnh vực kí kết cũng

ngày càng được mở rộng./

(1) Xem: G Fizmanrice, Dự thảo về luật điều ước

quốc tế

(2) Xem: Tunkin, Luật pháp quốc tế Matxcœva,

1974

46 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC

wa

CƠ SỞ PHÁP LÍ ĐỂ

(Tiếp trang 41)

nước ngoài tại Việt Nam là một pháp

nhân Theo Luật tổ chức tín dụng, các chi

nhánh ngân hàng nước ngoài không phải :

là pháp nhân mà hoạt động phụ thuộc vào

ngân hàng mẹ, chịu sự chi phối của Luật

tổ chức tín dụng và các luật khác có liên quan Để tham gia gián tiếp vào thị

trường chứng khoán, chi nhánh ngân

hàng nước ngoài cần phải tham gia góp vốn nhằm thành lập các công ty trách

nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần có hoạt động kinh doanh chứng khoán Đối với các ngân hàng liên doanh giữa bên ngân hàng Việt Nam và bên ngân hàng: nước ngoài, khi tham gia thị trường

chứng khoán cũng có thể thành lập các

công ty con hoặc góp vốn cùng các tổ chức khác thành lập các pháp nhân có

quyền tham gia vào thị trường này Tuy

nhiên, để tạo điều kiện cho bên Việt Nam

tham gia vững vàng vào thị trường chứng

khoán đồng thời tận dụng khả năng về

vốn cũng như kinh nghiệm của bên nước

ngoài, phần vốn tham gia của các chủ thể

có yếu tố nước ngoài tối đa chỉ nên ở

mức 25% mà thôi

Như vậy, do có sự khác biệt giữa Pháp lệnh ngân hàng thương mại, công ty tài chính và hợp tác xã tín dụng với Luật

tổ chức tín dụng, quyền năng của ngân

hàng tham gia vào thị trường chứng

- khoán có những thay đổi cơ bản Hi vọng

trong thời gian ngắn nhất, Pháp lệnh

chứng khoán và thị trường chứng khoán

cũng như các văn bản hướng dẫn Luật tổ chức tín dụng sớm được ban hành để làm

rõ những quyền năng trên Đây là một

nội dung rất quan trọng nhằm tạo ra các

giao dịch đầy đủ với độ tin cậy cao tại thị

trường chứng khoán./

Ngày đăng: 17/03/2014, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w