1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Bàn về việc xác định "hai phần ba xuất của một người thừa kế theo pháp luật" " pdf

4 490 3
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 5,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 672 BLDS quy định: “Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu như di sản được chia theo pháp luật, trong trường

Trang 1

Frrrmmm

BAN VE VIEC XAC DINH “HAI PHAN BA SUAT

CUA MOT NGUOI THUA KE THEO PHAP LUAT"

rong Bo luat dan su (BLDS), tai Diéu

634 quy định: “Cá nhân có quyền lập

di chúc để định đoạt tài sẳn của mình; để

lại tài sản của mình cho người thừa kế

theo pháp luật; hưởng di sản theo đi chúc

hoặc theo pháp luật`

Như vậy, pháp luật thừa nhận quyền

tự do định đoạt đối với tài sản thuộc sở

hữu của mỗi cá nhân Việc định đoạt tài

sản cho ai? bao nhiêu? hay truất quyền

thừa kế của ai trong diện thừa kế theo

pháp luật trước hết thuộc về người để lại

đi sản Người lập di chúc có quyền: “Chỉ

định người thừa kế, truất quyền hưởng di

sản của người thừa kế” (khoản L Điều

651 BLDS) Nhung để bảo vệ lợi ích của

một số người thừa kế theo pháp luật có

quan hệ hôn nhân, có quan hệ gần gũi về

huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng với

người để lại đi sản, pháp luật đã hạn chế

quyền định đoạt di sản của người lập đi

chúc

Điều 672 BLDS quy định: “Những

người sau đây vẫn được hưởng phần di

sản bằng hai phần ba suất của một người

thừa kế theo pháp luật, nếu như di sản

được chia theo pháp luật, trong trường

hợp họ không được người lập di chúc cho

hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di

sdn ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ

là những người từ chối hưởng di sản hoặc

họ là những người không có quyền hưởng

di sẵn theo quy định tại Điều 645 hoặc

khoản I Điều 646 của Bộ luật này:

1 Con chưa thành niên, cha, mẹ, Vợ,

2 Con đã thành niên mà không có

TRẦN THỊ HUỆ *

khả năng lao động”

Điều luật này đã quy định rõ các đối

tượng được hưởng “kỉ phần bắt buộc”

(bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật) Nhưng điều luật này không quy định cụ thể các trường hợp để xác định “hai phần ba suất của

một người thừa kế theo pháp luật” dẫn

đến việc hiểu điều luật không cùng một

nghĩa, việc áp dụng luật không thống nhất

Việc xác định “k phân bắt buộc” sẽ _

dễ dàng và chính xác khi những người

thừa kế theo luật không bị truất quyền

hưởng di sản; không từ chối nhận di sản

(Điều 645 BLDS); không bị tước quyền

hưởng di sản (Điều 646 BLDS); và không

chết trước người để lại di sản khi người chết trước người để lại di sản có con hoặc chau hưởng thừa kế thế vị (Điều 680 BLDS)

Ví dụ: Ông Q có khối di sản trị giá

150 triệu đồng, ông có 5 người thừa kế

- theo luật là:

- Bà A (vợ ông Q)

- Các con của ông Q:B-C-D-E

Trước khi chết ông Q viết di chúc cho

Bà A hưởng 10 triệu đồng Còn 140 triệu

đồng ông cho 4 con hưởng Vụ thừa kế này sẽ giải quyết như sau:

Ba A được ông Q cho hưởng di sản 10 triệu đồng, như vậy chưa đủ hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nên phải xác định cho bà A hưởng

kỉ phần bắt buộc theo Điều 672 BLDS

Suất của một người thừa kế theo pháp

* Giảng viên Khoa tư pháp

Trường Đại học luật Hà Nội

TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 21

Trang 2

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

luật là:

150 triệu đồng : 5 = 30 triệu đồng

Ba A được hưởng hai phần ba suất

của một người suất thừa kế theo pháp luật

là:

30 triệu đồng xXx

đồng

Nhung ba A đã được ông Q cho

hưởng I0 triệu theo luật vậy, còn thiếu I0

triệu đồng nữa, khoản thiếu này lấy từ di

sản được hưởng của B,C, D, E:

140 triệu đồng - 10 triệu đồng = 130

triệu đồng

B,C, D,E mỗi người được hưởng

130 triệu đồng : 4 = 32,5 triệu đồng

Nhưng việc xác định “kỶ' phần: bắt

buộc” khi có những người được hưởng kỉ

phần bắt buộc theo Điều 672 BLDS bị

truất quyền hưởng di sản; người từ chối

quyền hưởng di sản còn nhiều lúng

túng, vướng mắc, bởi còn nhiều cách hiểu

khác nhau trong việc xem xét những ai

được tính vào “nhân suất” để xác định

suất của một người thừa kế theo pháp

luật Mỗi cách hiểu đều có những lí do

riêng cần phải được nghiên cứu

+ Cách hiểu thứ nhất: Người thừa kế

từ chối quyền hưởng di sản thì không

được coi là nhân suất để xác định suất

của một người thừa kế theo pháp luật Chỉ

có người thừa kế theo Điều 672 BLDS bị

người để lại di chúc truất quyền hưởng di

sản được tính là nhân suất khi xác định

suất của một người thừa kế theo pháp

luật Những người hiểu theo cách này cho

rằng các đối tượng nêu trên không được

coi là người thừa kế theo pháp luật,

không được coi là nhân suất

+ Cách hiểu thứ hai: Những đối tượng

kể trên mặc dù bị truất, bị tước, từ chối

quyền hưởng di sản (không được hưởng

di sản) nhưng vẫn là một nhân suất khi

xác định suất của một người thừa kế theo

pháp luật Theo chúng tôi cách hiểu thứ

2/3 = 20 triệu

22 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC

hai hợp lí hơn, bởi những lí do sau:

- Một là: Quy định tại Điều 672

BLDS là để hạn chế quyền định đoạt di sản của người để lại di sản khi họ không làm tròn “bổn phận” của mình đối với

những người thân thích, chứ không phải

tước bỏ hoặc phủ nhận hoàn toàn quyền

định đoạt của người để lại di san

Ví dụ: Ông A có khối di sản trị giá

90 triệu đồng Ba người thừa kế của ông

là bà M (vợ ông), con N và T (T 13 tuổi) Trước khi chết ông lập di chúc truất

quyền thừa kế của T,M và cho N hưởng

toàn bộ di sản

Như vậy, nếu ông A không dé lai di

chúc thì M - N - T, mỗi người được hưởng phần di sản theo pháp luật là 90 : 3

= 30 triệu đồng

Mặc dù A lập di chúc truất quyền

hưởng di sản của T nhưng theo Điều 672 BLDS thì T vẫn được hưởng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật là:

30 triệu x 2/3 = 20 triệu đồng

- Hai là: Nên hiểu “kỉ phần bắt buộc” luôn ít hơn suất của một người thừa kế

theo pháp luật mà không thể bằng hoặc lớn hơn mới đúng với tinh thần của điều

luật: “ vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật"

Xét ví dụ trên, nếu ông A truất quyền

thừa kế của T và tòa án tước quyền thừa

kế của M,N, thì:

+ Theo cách hiểu thứ nhất, vụ thừa kế

này được giải quyết như sau:

Suất của một người thừa kế theo pháp luật là:

90 triệu đồng :

90 triệu đồng

T được hưởng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật là:

90 triệu đồng x 2/3 = 60 triệu đồng, là

gấp đôi số tiền mà T được hưởng trong trường hợp chia theo pháp luật như Điều

l nhân suất (cháu T) =

Trang 3

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

672 BLDS giả định:

90 triệu đồng : 3 (M,N, T) =

đồng

+ Nếu hiểu theo cách hiểu thứ hai thì

suất của một người thừa kế theo pháp luật

là:

90 triệu đồng : 3 nhân suất (M, N, T)

= 30 triệu đồng

T được hưởng hai phần ba của một

suất thừa kế theo luật là:

30 triệu đồng x 2/3 = 20 triệu đồng

(luôn ít hơn một suất của người thừa kế

theo pháp luật)

- Ba là: Nhà làm luật đã dự liệu:

“ nếu chia theo pháp luật ” Vậy cần

hiểu quy định này của điều luật là đưa ra

giả thiết nếu chia theo pháp luật trong

trường hợp bình thường thì một suất là

bao nhiêu để từ đó xác định 2/3 suất của

một người thừa kế theo pháp luật cho

người nào hưởng theo Điều 672 BLDS

chứ không phải chia cho tất cả người thừa

kế theo pháp luật hưởng Bởi vậy, phải

lấy toàn bộ di sản thừa kế chia cho tất cả

những người thừa kế theo luật để xác

định 2/3 suất của một người thừa kế theo

pháp luật Có như vậy mới bảo đảm trong

mọi trường hợp người được hưởng theo

Điều 672 BLDS luôn hưởng ít hơn suất

của một người thừa kế theo pháp luật

- Bốn là: Nếu không lấy toàn bộ di

sản chia cho tất cả những người thừa kế

theo luật để xác định 2/3 suất của một

người thừ kế theo pháp luật thì sẽ dẫn đến

trường hợp “kỉ phần bắt buộc” có thể ít

hơn, bằng hay thậm chí lớn hơn một suất

30 triệu

của người thừa kế theo pháp luật trong

trường hợp bình thường

Ở ví dụ nêu trên nếu:

+ Lấy toàn bộ di sản chia cho ba nhân

suất thì “kỉ phẩn bắt buộc” ít hơn suất

của một người thừa kế theo pháp luật

+ Lấy toàn bộ di san chia cho 2 nhân

suất thì “kỷ phần bắt buộc” bằng suất của

một người thừa kế theo pháp luật

_+ Lấy toàn bộ di san chia cho l nhân

suất thi “ki phần bat buộc” lớn hơn suất

của một người thừa kế theo pháp luật

- Năm là: Những người bị truất, bị tước, từ chối nhận di sản (người thừa kế theo pháp luật) được coi là nhân suất để xác định suất của một người thừa kế theo pháp luật mới đảm bảo tính hợp lí và thống nhất trong mọi cách chia khi lấy toàn bộ di sản để chia

Ở ví dụ nêu trên, nếu ông A chỉ định đoạt một phần đi sản (60 triệu đồng) cho

bà M, truất quyền thừa kế của N và 30 triệu đông còn lại ông không định đoạt

thì theo cách hiểu thứ nhất, vụ thừa kế

này được giải quyết như sau:

Di chúc hợp pháp nên chia theo di chúc:

- Bà M được hưởng 60 triệu đồng

- Còn 30 triệu đồng không định đoạt trong di chúc nên chia theo luật (M=T)

30 triệu đồng : 2 = 15 triệu đồng Như vậy, T được hưởng ít hơn 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật nên phải xác định 2/3 một suất thừa kế theo pháp luật:

- Suất của một người thừa kế theo pháp luật là:

90 triệu đồng : 2 nhân suất (M, T) =

45 triệu đồng

- Cháu T được hưởng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật là:

45 triệu đồng x 2/3 = 30 triệu đồng Như vậy, cách chia này không thống

nhất với cách hiểu thứ nhất vì lấv toàn bộ

di sản khi ông A chưa định doa dé chia

cho những người thừa kế và một người đã

bị truất quyền hưởng di sản là N Nếu để thống nhất với cách hiểu đó thì chỉ lấy 30 triệu đồng không được định đoạt trong khi đi chúc chia cho hai nhân suất (M, T)

để xác định một suất thừa kế theo luật

Nếu vậy thì “kỉ phẩn bắt buộc” chỉ được

tính là:

TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 23

Trang 4

| NGHI

Í NGHIÊN RE L2 91:9 7

30 triệu đồng : 2 x 2/3 = 10 triệu

déng va “ki phần bắt buộc” ít hơn phần T

được hưởng theo pháp luật của phần di

sản không được ông A định đoạt Như

vậy, việc quy định kỉ phần bắt buộc trong

Điều 672 BLDS không còn ý nghĩa nữa

Theo cách hiểu thứ hai, vụ thừa kế sẽ

được giải quyết như sau:

Bà M hưởng 60 triệu đồng còn 30

triệu đồng : 2 (M, T) = 15 triệu (chưa du

2/3 một suất của người thừa kế theo pháp

luật là 90 triệu đồng : 3 nhân suất (M,N,

T) = 30 triệu đồng

T được hưởng 2/3 một suất của người

thừa kế theo pháp luật:

30 triệu đồng x 2/3 =20 triệu đồng (ít

hơn 30 triệu đồng suất của một người

thừa kế theo pháp luật theo Điều 672

BLDS)

Trong bai viét nay, chúng tôi thấy cần

bàn thêm một khía cạnh cũng liên quan

đến việc xác định “kj phần bắt buộc”

theo Điều 672 BLDS Trường hợp phải

xác định kỉ phần bắt buộc khi có người

thừa kế theo luật chết trước người để lại

di sản nhưng người này có con hưởng thế

vị theo Điều 680 BLDS thì được coi là

nhân suất để xác định suất của một người

thừa kế theo pháp luật Vì khi chia đi sản

thừa kế theo pháp luật, mặc dù người

thừa kế không còn sống vào thời điểm

mở thừa kế nhưng để bảo vệ quyền lợi

cho người hưởng thế vị thì pháp luật quy

định phải chia cho họ (như còn sống) để

con họ được hưởng thế vị

Trên đây, chúng tôi đưa ra hai cách

hiểu về Điều 672 BLDS để so sánh và có

thể đi đến quan điểm thống nhất trong

việc xác định: “Hai phần ba suất của một

người thừa kế theo pháp luật” với mong

muốn góp phần giải quyết những vướng

mắc trong điều luật, bảo đảm quyển

hưởng di sản của những người thừa kế

khi phải xác định “kỶ phần bắt buộc” theo

Điều 672 BLDS./

24 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC

MOT SO VAN DE VE

(Tiép trang 5) nguoi vi phạm cũng không bị xử lí kỉ luật

vì đã hết thời hiệu luật định Do đó, theo chúng tôi, để đảm bảo mục đích, ý nghĩa của kỉ luật lao động nên chăng thời điểm

để xác định thời hiệu xử lí kỉ luật là “kể

từ ngày phát hiện người lao động vi phạm”

3 Theo quy định tại khoản | Điều 88

Bộ luật lao động, ” : Nguoi bị xử lí kỉ luật chuyển làm cong VIỆC khác sau 6 tháng,

kể từ ngày bị xử lí, nếu không tái phạm thì đương nhiên được xóa kỉ luật”, trong khi đó, khoản 1 Điều 12 Nghị định 41/CP quy dinh: “Khi quyét dinh gidm thoi han hoặc xóa kỶ luật đối với người lao động bị

xử lí vi phạm kỉ luật lao động theo hình thức chuyển làm công việc khác có mức lương thấp hơn thì người sử dụng lao động ra quyết định bằng văn bản ” Ö đây, có ý kiến cho rằng khi xóa bỏ kỉ luật đối với người lao động bị xử lí bằng hình thức chuyển làm công việc khác có mức lương thấp hơn thì phải có quyết định bằng văn bản của người sử dụng lao động, do đó mâu thuẫn với quy định

“đương nhiên xóa kỉ luật lao động” tại khoản l Điều 88 Bộ luật lao động Tuy nhiên, theo chúng tôi, các quy định nói trên hoàn toàn không mâu thuẫn với nhau Bởi vì, khoản I Điều 12 Nghị định 41/CP cho phép chúng ta hiểu trong thời gian 6 tháng kể từ ngày bị xử lí kỉ luật chuyển làm công việc khác có mức lương thấp hơn, nếu người sử dụng lao động giảm hoặc xóa kỉ luật cho người vi phạm thì phải ra quyết định bằng văn bản Còn khi hết thời hạn theo quy định của Điều

88 Bộ luật lao động, dù người sử dụng lao động không có ý định xóa kỉ luật thì người lao động vẫn “đương nhiên được xóa kỉ luật” mà không cần quyết định bằng văn bản của người sử dụng lao động /

Ngày đăng: 17/03/2014, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm