Bởi vậy, những điều trình bày trong bài viết về việc giải quyết đơn từ khiếu tố của dân dưới chế độ phong kiến chỉ là những nhận xét sơ bộ qua một số dữ kiện mà sử cũ đã ghi lại.. Các q
Trang 1
Bi thời phong kiến, cách quản lí của
nhà nước quân chủ quan liêu và sự
tha hóa, lạm dụng quyền lực của một số
quan lại các cấp không tránh khỏi làm
cho nhiều người dân bị oan ức, phải đi
khiếu kiện Vi vậy, nhà nước đã đề ra các
giải pháp đề ` đân được Ì kêu oan
Tuy nhiên, sử cũ ghi chép về vấn đề
này quá ít Bởi vậy, những điều trình bày
trong bài viết về việc giải quyết đơn từ
khiếu tố của dân dưới chế độ phong kiến
chỉ là những nhận xét sơ bộ qua một số
dữ kiện mà sử cũ đã ghi lại Hi vọng rằng
khi có nhiều nguồn tư liệu mới, vấn đề sẽ
được làm sáng to hon
1 Các quy định về xét kiện
Việc giải quyết đơn từ khiếu tố của
dân gắn liên với các quy định của nhà
nước về kiện tung và xét kiện Sử cũ ghi
chép sớm nhất về quy định này là vào
năm Canh Thìn, niên hiệu Càn Phù Hữu
Đạo (1040) tháng 4 ngày I1, vua Lý Thái
Tông xuống chiếu “( nay tro di, pham
nhân dân trong nước ai có kiện tụng gì
đều giao cho Khai Hoàng vương xử đoán
rồi tâu lên”) Khai Hoàng vương là con
vua, được lập làm thái tử, lại được g1ao
quyển việc xét kiện tụng là không đúng
nguyên tắc hành chính nhà nước Về vấn
dé này, str than Ngo Si Lién ban rang:
“Chức việc của thái tử, ngoài việc thăm
hỏi, hầu cơm vua ra, khi ở lại giữ nước
thì gọi là giám quốc, khi đem quân di thì
gọi là phử quán, có thế mà thôi, chưa
nghe thấy sai xử kiện bao giờ Phàm việc
` ĐƠN TƯ K
ke
PTS BÙI XUÂN ĐÍNH *
xử kiện là việc của hữu ty” Thái Tông sai Hoàng vương làm việc đó không phải
là chức phận của thái tử, lại lấy điện Quảng Vũ làm nơi vương xử kiện là không đúng chổ”® Có lẽ vì việc giao xét kiện không đúng chức trách này mà “việc kiện tụng trong nước phiển nhiễu til it; quan lại giữ luật pháp câu nệ luật văn, cốt làm _ cho khắc nghiệt, thậm chí nhiều người bị oan uổng quá đáng Vua lấy làm thương xót”®, Bởi vậy, tháng 10 nim Nhâm Ngo (1042), vua sai “san định luật lệ, châm chước cho thích dụng với thời thế, chia ra môn loại, biên thành điều khoản, làm thành sách hình thư của một triéu dai, dé _cho người xem dễ hiểu” Đáng tiếc là,
bộ luật đầu tiên này của nước ta đã bị mất nên chúng ta khong" thể biết được các quy định của nhà Lý về xét kiện, giải quyết được nỗi oan uống của dân ra sao, song
sử cũ ghi lại rằng “sách làm xong, XHỐng chiếu ban hành, dân lấy làm tiện Đến đây phép xử án được bằng thẳng rõ ràng, cho nên mới đổi niên hiệu là Minh
Đạo » (6)
Sang thời Trần, không một quy định
nào về việc giải quyết việc khiếu tố và
oan ức của dân được sử cũ ghi lại te nhiên, một thực tế diễn ra là có nhiề người bị oan ức đã tìm cách kêu kiện lên tận nhà vua Điển hình là vào năm Canh Thìn (1280), có một người dân tranh kiện
* Viện dân tộc học
Trung tâm KHXIH & NV quốc gia
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 15
Trang 2| NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI )
với Đỗ Thiên Thư là em ruột quan đại
thần Đỗ Khắc Chung Cả tình và lí Đỗ
Thiên Thư đều trái nên các quan xử kiện
đã xử thắng cho người dân nọ Nhưng khi
án đã xử xong, do các hình quan vì nể đại
thần Đỗ Khắc Chung nên không cho thi
hành y án Nhân kì đi kinh lí của vua
Trần Nhân Tông, người dân kia bèn đón
xa giá vua để kêu oan Trần Nhân Tông
hỏi các quan xử kiện Khi được nghe tâu
lại đầu đuôi câu chuyện, vua đã trách cứ
các quan: Đó chẳng qua là do sợ mà né
tránh Khác Chung; rồi ngay giữa đường
sai các quan chuẩn y bản án đã được xử
Về sự kiện này, sử thần Ngô Sĩ Liên bàn:
“Người kiện có điều oan uổng mà được
dé dang tau lên, nhà vua làm được như
vậy thì dân tình được thấu lên trên, án
kiện đọng được xử ngay”)
Thời Lê sơ, vào tháng 7 năm Giáp
Dần (1434), dưới triều vua Lê Thái Tông,
lần đầu tiên ban hành quy định về trình tự
khiếu kiện, cũng là trình tự xét kiện Vua
du: “Trdm thấy các quân nhân đều tâu
báo vượt cấp với nhau để đi kiện người,
phế bỏ mọi việc của dân, quấy rối triều
đình, không gì tệ hơn Từ nay, quân hay
đân có vụ kiện nhỏ thì đến chỗ xã quan)
của xã mình mà trình bày, xã không giải
quyết được mới lên huyện, huyện không
giải quyết được mới lần lượt lên lộ, lên
phú; phú không giải quyết được thì bấy
giờ mới được tâu lên triều đình Các vụ
kiện ruộng đất cũng thế Các quan xét xử
phải giữ phép công bằng, không được
nhận đút lót mà làm sai, để có người bị
oan wuổng, các vụ kiện lớn mới cho tâu
thẳng lên”®)
Lên ngôi vua, Lê Thánh Tông cũng
rất lưu ý tới tình trạng kêu kiện vượt cấp,
gây khó khăn cho công tác xử án Ông đã
16 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC
quy định việc cấm kiện vượt bậc thành một điều khoản trong chương Đoán ngục của bộ Quốc triều hình luật: “Thần dân khiêu nại việc rất nhỏ thì trình bày với xã quan, việc nhỏ thì kêu ở lộ quan, việc trung bình thì ở phú quan, việc lớn mới được lên kinh đô Các xã quan và các nha môn ở lộ, phú phải xử công bằng, đúng pháp luật Nếu ở xã không xử được mới đưa lên lộ, lộ không xử được mới đưa lên phú, phú không xử được mới đưa lên trên Làm trái luật thì xứ đánh trượng và biến chức” (Điều 672)09)
Đến thời Lê - Trịnh, vào năm Quý Hợi niên hiệu Chính Hòa (1683), chúa Trịnh Căn ban lệnh: “Việc khám xứ ngục tạng đã có lệ định xếp theo thứ bậc Hễ
ai vượt bậc dâng tờ khải mà kiện cáo thì phải phạt 20 quan cổ tiền; viên quan nào nhận tờ cẩn khải vượt bậc thì cũng phạt tiền như thế Nha môn nào đáng phải nhận xử kiện mà không nhận xử hoặc nha môn nào không đáng nhận xử mà lại xử thì cho phép người đi kiện kêu ở nha môn khác Khi đã tra xét được sự thực rồi thì
cả hai nha môn trên đều bị phạt 20 quan tiên cổ Nha môn đáng phải nhận xử kiện
ấy sẽ giao phó cho quan đương thứ phân xử; còn nha môn không đáng nhận xử ấy s€ giao phó cho quan tày thứ khám xét phân xứ Người đi kiện nào dd bi toa án đòi gọi nhiều lần mà cố ý trốn tránh thì đáng luận vào tội “tại đào” (đi trốn), nếu
có việc công cán phải đi xa hoặc bị đau yếu mà có lời cáo trình rồi thì mới được hoán lại Như vậy, lí lế về việc kiện tung mới được giấi t0, Với điều luật này, lần đầu tiên, nhà nước phong kiến Việt Nam đã có quy định trách nhiệm của thần dân và của các cơ quan pháp luật
Trang 3| NGHIÊN CỨU - TRAO Đổi |
trong việc khiếu kiện; phạt bằng tiền
những người đi kiện vượt cấp và những
cơ quan thoái thác việc giải quyết khiếu
nại của dân cũng như những cơ quan giải
quyết khiếu kiện không thuộc phạm viị
trách nhiệm của mình
Vào cuối thời Lê - Trịnh ở Đàng
Trong, năm Mậu Thân (1788), chúa
Nguyễn Ánh cũng “định lệ cấm kêu thay
và kêu vượt Phàm nhân dân có oan
khuất thì cho tự mình đi kêu Nếu đem
tiền, của ÿ thác người khác, hay đi kêu hộ
cho ai, việc bị phát giác đều bị xử 100 roi
và bắt làm phu dịch một tháng Các lại
viên có đơn kêu oan thì do sở quản và đại
viên thống lĩnh phân xử; dân kêu oan thì
do quan công đường sở tại xét đoán; nếu
xét thấy không thỏa đáng thì kêu ở sé
công đồng?) , nếu vẫn chưa phục tính thì
mới được đón kêu khi vua đi, làm trái thì
bi tor’
Thời Nguyễn, dưới triểu vua Minh
Mệnh (1820 - 1840) có quy định về việí
khống tức kiện cáo vượt bậc, không theo
trình tự cấp bậc của tòa án?)
Tỉnh thần “không kiện cáo vượt cấp”
trên đây của nhà nước phong kiến đã
được quán triệt xuống tận các làng xã
Trong hương ước của khá nhiều làng trên
vùng đồng bằng Bắc Bộ đều có điều
khoản quy định, người nào có việc kiện
cáo trước hết phải thông qua làng xử,
làng xử không được mới được đưa lên
huyện phủ Nếu tự tiện đi kiện cáo lên
trên không thông qua hàng làng thì sẽ bị
phạt hoặc nếu không đồng tình với kết
quả xử kiện của làng mà tiếp tục khiếu
kiện lên quan trên nhưng quan trên xử
cũng giống như làng xử thì không những
phải chịu phạt mà còn phải chịu tất cả
những chi phí mà làng phải bỏ ra cho
việc khiếu kiện ấy Nhiều làng đưa ra hình phạt rất nặng đối với những người vi
phạm như hạ hoặc truất ngôi thứ, đuổi
khỏi làng, tẩy chay đấm tang của đương
sự và của cả thân nhan ho “
2 Những hình thức để dân được
kêu oan Mặc dù các triều vua phong kiến đã
có những biện pháp ngăn chặn hiện tượng kêu kiện vượt cấp nhưng trên thực tế tình trạng đó vẫn thường xuyên xảy ra vì người dân bị oan ức (đương nhiên không loại trừ những kẻ xúi bẩy kiện cáo vượt cấp để kiếm lợi) Nguyên nhân chính của việc người dân bị oan ức phải đi khiếu kiện vượt bậc là do sự quan liêu, thiếu trách nhiệm và đặc biệt là tệ ăn hối lộ, bẻ cong phép nước, làm sai lệch các vụ án của các cơ quan pháp luật Vào đời Lê, trước những tai dị liên tiếp xảy ra, các vua Thái Tông và Nhân Tông từng cho rằng, đấy một phần là “do nạn hối lộ công khai mà việc hình ngục có nhiều oan trái”0®) Bởi vậy, một số triều vua đã
đề ra các biện pháp để cho dân được kêu oan
- Năm Nhâm Thìn (1052), vua Lý Thái Tông cho đúc chuông lớn ở Long Tri (sân rồng) để dân có oan ức gì không bày tö được thì đến đánh chuông tâu lênŠ”3
- Năm Mậu Dần (1158), theo lời tâu của Nguyễn Quốc vừa di sứ nước Tống
về, vua Lý Anh Tông cho đặt mọt hòm ở giữa sân rồng để ai muốn bày tỏ việc gì thì bỏ thư vào hòm ấy Chỉ trong một tháng, thư kêu oan đã đầy hòm Tuy nhiên, trong số thư ấy lại có thư nặc danh nói quan đại thần Đỗ Anh Vũ lộng quyền
và làm loạn Anh Vũ cho người truy tìm
kẻ viết bức thư ấy nhưng không được,
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 17
Trang 4
uống thuốc doc tu tu"
- Năm At Ty (1725), theo đề nghị của
Tham tụng Nguyễn Công Hãng, chúa
Trịnh Cương cho yết bảng ở các lị sở để
dân phản ánh những điều hay đở, thiện ác
của các quan và nỗi oan của minh”
- Năm Nhâm Tý (1732), chúa Trịnh
Giang lại cho đặt hòm ở phủ chúa để
nhận đơn kêu oan của dân”?)
- Năm Canh Thân (1751), Chua Trinh
Doanh cho đặt chuông, mõ ở cổng phủ
đường để người tài tự tiến cử và người bị
ức hiếp hay bị xử chưa thỏa đáng đánh
mõ kêu lên Các khiếu nại phải ghi vào
giấy và phong kín, gửi lên lại phiên °”
rồi dâng lên chúa xem xét”
- Năm Tân Mùi (1751), chúa Trịnh
lệnh cho thần dân cả nước được viết thư
trình bày các nỗi oan ức, dán kín dâng
lên “”)
- Ở Đàng Trong, vào năm Mậu Thân
(1788), Nguyễn Ánh cũng cho đặt một
hòm ở dưới cửa khuyết để ai có oan khuất
hay bị người khác hãm hại thì cho trình
bày trong đơn, ghi rõ họ tên, quê quán,
bỏ vào hòm ấy để tiện tra xét ngay gian
mà tỏ oan khuất Kẻ nào bỏ thư nặc danh,
vu tội cho người mà bị phát giác thì bị trị
tội nặng khong tha”
- Năm Quý Hợi (1803), vua Gia Long
sắc cho xã dân các xứ từ Nghệ An ra Bắc,
ai có việc đau khổ, oan khuất thì cho đến
hành tai? để tâu bày Vua sai văn thần
nhận các đơn kiện tâu lên xin xét đoán
Kẻ nào vu cáo thêu đệt thì bị tội”)
- Từ thời Minh Mệnh (1820-1840) trở
đi, đặt ra T¡ tam pháp gồm Đại lí tự, Bộ
hình và Viện đô sát để xét xử những vụ
án quan trọng, thụ lí những vụ kiện tham
tang, áp chế bức bách theo đơn tố cáo của
18 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC
nhân dân Mỗi tháng, vào các ngày 6, l6
và 26 (âm lịch), Pháp ty nhận đơn khống
tố và cáo tố của dân để trình lên vua Vào
những ngày khác, ai có điều mạt tâu và oan khúc khẩn thiết thì được đến cửa bên trái của văn phòng Pháp ty - nơi có đặt một chiếc trống lớn (gọi là trống Đăng Văn) đánh một hồi trống, nhân viên Pháp
ty sẽ đến nhận đơn và trình lên Pháp ty
- Ngoài các biện pháp trên, thời phong kiến, các vua còn cử các đoàn thanh tra đặc biệt để xem xét tình hình dân chúng, theo lời tâu hặc của các quan
và theo đơn tố cáo của dân Thời Nguyễn
có chế độ Kinh lược đại sứ: Trong những trường hợp đặc biệt, nhất là ở những địa phương mất mùa đói kém, dân tình tao
- loạn, quan lại hà lạm và ức hiếp dân chúng hoặc vừa trải qua binh đao thì cử phái đoàn thanh tra, đứng đầu là một hoặc hai quan đại thần có uy tín, có toàn quyền giải quyết các vụ việc đã xảy ra tại nơi đó rồi tâu báo vua sau”),
3 Tính hai mặt của các biện pháp giải quyết khiếu tố, những bài học kinh nghiệm
Các biện pháp giải quyết đơn thư khiếu tố của dân của nhà nước phong kiến trên đây có tác dụng gì?
Trước hết, là các biện pháp “cấm kêu kiện vượt bậc” Các biện pháp này có mục đích (và trên thực tế đã ít nhiều có hiệu quả) là đưa việc khiếu kiện và xét
kiện vào nề nếp, theo trình tự đúng thẩm
quyền pháp luật, không để kiện cáo tràn lan và ngăn- chặn những người xấu lợi
dụng xúi bẩy kiện cáo, gây khó khăn cho
hoạt động của các cơ quan pháp luật, gây tốn kém thì giờ, tiền của của dân và nhà nước, thậm chí gây mất đoàn kết trong
Trang 5| mi cỨU - TRAO ĐỔI |
dân chúng v và cả hàng ngũ quan lại, gây
rối loạn xã hội
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, các
biện pháp trên đây không tránh khỏi
những tác động tiêu cực Đó là, tạo ra sự
trì trệ, quan liêu, hách dịch, thái độ vô
trách nhiệm, đùn đẩy của các cơ quan
pháp luật và các quan lại trông coi pháp
luật Một số trong họ lợi dụng quy định
“cấm kêu kiện vượt bậc” để ức hiếp dân
chúng, vòi vĩnh hối lộ Đặc biệt, các chức
dịch làng xã đã triệt để lợi dụng điều
khoản này (được cụ thể hóa trong hương
ước) để khống chế và áp bức nông dân
trong những luật tục hà khắc của làng xã
cổ truyền, làm cho luật nước ít nhiều
giảm hiệu lực trong từng lũy tre xanh đó
Câu thành ngữ “phép vua thua lệ làng”
bắt nguồn một phần từ đó và nạn cường
hào làng xã nay sinh một phần từ đó
Còn với các biện pháp kêu oan? Đáng
tiếc là sử cũ không ghi lại đầy đủ kết quả
các biện pháp để nhân dân được kêu oan
của nhà nước phong kiến, ngoại trừ hai
trường hợp diễn ra dưới triều Nguyễn
Trường hợp thứ nhất: Vào thời Tự
Đức, tại một làng quê ở tỉnh Biên Hòa,
một số người giàu có dựa vào thế lực của
các quan cai trị đầu tỉnh đã tranh chấp với
những người nghèo một con lạch mà dân
nghèo khai phá từ lâu và được vua Gia
Long cho miễn thuế Bùi Hữu Nghĩa là tri
phủ đã đứng về phía người nghèo Hai
bên xảy ra xô xát làm tám người phía nhà
giàu bị chết Bọn cường hào ở thế viên
tổng đốc Biên Hòa đã đóng gông Bùi
Hữu Nghĩa giải về Gia Định và làm sớ
tâu lên vua, buộc ông vào tội chết vì “xui
đân làm loạn và giết người” Thấy chồng
bị oan ức, bà Nguyễn Thị Tồn - vợ của
Bùi Hữu Nghĩa đã đi từ Biên Hòa ra Huế
đến T¡ tam pháp đánh trống Đăng Văn
kêu lên vua Tự Đức xin minh xét cho chồng Sau đó, sự thật vụ án được phanh phui, vua Tự Đức đã phê tha tội chết cho Bùi Hữu Nghĩa nhưng phải “tiến quân hiệu lực” (ra mặt trận lập công chuộc tội)
Trường hợp thứ hai: Vào năm Đinh Hợi (1827), nghe tin dân ở vùng Nam Định bị đói khổ vì quan lại địa phương hà
lạm, sách nhiễu và ức hiếp dân chúng,
Vua Minh Mệnh đã phái một đoàn thanh tra đặc biệt Sau hơn một tháng, đoàn Kinh lược sứ đã bắt và trị tội tất cả bọn quan lại đầu sở đã nhụng lạm, hà hiếp dân chúng, giải quyết được nhiều vụ án oan ức cho dân
Mặc dù sử cũ không ghi đủ các kết quả của các biện pháp để dân được “giải oan” của nhà nước phong kiến nhưng qua các nghiên cứu trên đây, có thể rút ra một
số nhận xét như sau:
1 Một trong những mục đích của việc
“cấm kêu kiện vượt cấp” của nhà nước phong kiến là đưa việc khiếu kiện và xét kiện theo trình tự đúng thẩm quyền, đúng pháp luật, không để kiện cáo tràn lan gây khó khăn cho hoạt động xét xử của các
cơ quan pháp luật, gây tốn kém thì giờ, tiền của của nhà nước và của nhân dan,
có khi làm mất trật tự xã hội Bởi vậy, để việc khiếu kiện và xét kiện theo đúng trình tự thì:
a Về phía nhà nước
- Đề ra trình tự khiếu kiện và xét kiện một cách hợp lí và tuyên truyền, giải thích cho nhân dân hiểu
= Quy định rõ trách nhiệm của các c
quan pháp luật các cấp trong VIỆC giải quyết các đơn từ, khiếu tố của dân cũng như trong việc xử lí các bản án dây dưa, kéo dài Xử lí nghiêm các cơ quan pháp luật không làm đúng chức trách của mình
28
TAP CHÍ LUẬT HỌC - 19
Trang 6| Ễ 2
| NGHIEN CỨU - TRAO ĐÔI |
trong việc nhận và giải quyết đơn thư
khiếu tố của dân Nghiêm khắc xử lí
những người xui bẩy kiện cáo vượt cấp,
những người cố tình không chấp hành các
quyết định, kết luận đúng của cơ quan
pháp luật đã xử để khiếu kiện lên trên
b Về phía các cơ quan pháp luật
- Nhận đơn khiếu tố của dân đúng
phạm vi trách nhiệm của mình Khi gặp
đơn thư không đúng thẩm quyền, cần giải
thích kĩ cho dân hiểu để đệ đơn ở cơ quan
pháp luật được phép
- Giải quyết nhanh chóng đúng pháp
luật đơn thư khiếu tố của dân và giải
thích rõ cho đương sự hiểu và tin ở kết
luận của bản án đã xử
- Tạo lòng tin cho công dân mỗi khi
đệ đơn đến cơ quan pháp luật cũng như
khi nhận được kết luận, quyết định giải
quyết su viéc
c Đối với công dân
- Khi có việc phải đi khiếu kiện, cần
tìm hiểu kĩ vấn đề mình khiếu kiện thuộc
phạm vi cấp nào giải quyết để nộp đơn
đúng chỗ, không gây phiền hà cho cơ
quan pháp luật Khi được nhận đơn cần
tuân thủ sự hướng dẫn và xử lí của cơ
quan pháp luật
- Trường hợp không đồng ý với kết
luận về vụ việc của cơ quan pháp luật,
cần bình tĩnh xem xét để có hướng xử lí
đúng trong việc khiếu kiện tiếp, không
khiếu kiện tràn lan
2 Đối với những trường hợp oan ức
kiện vượt cấp của dân, chúng ta nên tham
của nhà nước phong kiến đồng thời cần
có thái độ tích cực đối với việc giải quyết
các nỗi oan đó như một số triều vua đã
làm, không trả lại đơn hoặc chỉ ra chỉ thị,
công văn đơn thuần
20 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC
Tiếng trống Đăng Văn thời Nguyễn, treo bảng, đặt hòm nhận đơn thời Lê - Trịnh, tiếng chuông sân rồng thời Lý là những hình thức thích hợp để nhân dân được kêu kiện, phải chăng vẫn có gia tri tham khảo cho công tác giải quyết đơn từ
khiếu tố của nhân dân ta hiện nay./
(1),() Xem: Đại Việt sử kí toàn thư Nxb KHXH,
1983, tap I, tr.269
-_ (2) Hữu ty: Cơ quan về hình pháp thời Lý, khác với
Tả ty là cơ quan hành chính
(4).(5).(6) Xem: Đại Việt sử kí toàn thu, Sdd, tr.271, ca:
(7) Xem: Đại Việt sử kí toàn thu, Sdd tap II, Nxb KHXH, 1985, tr.43
(8) Xd quan: Những người dứng đầu bộ máy chính quyền cấp xã từ đời Trần, đến năm 1466 đổi thành xã trưởng
(9) Xem: Đại Việt sử kí toàn thư, tập Ul, sdd, tr.319
(10) Xem: Quốc triều hình luật, Nxb KHXH, 1992 (11) Xem: Lịch triều tạp kỉ, tập I, Nxb KHXH, Hà
Nội 1975, tr.89
(12) Sở công đồng: Có lẽ là nha môn ở trấn - đơn vị hành chính như cấp tỉnh sau này
(13) Xem: Đại Nam thực lục, tập IL, Nxb Sử học,
1964, tr.81
(14) Xem: Nguyễn Minh Tường, Cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh, Nxb KHÄXXI, Hà Nội,
1996
(15) Xem: Bùi Xuân Đính, Lệ làng phép nước, Nxb
Pháp lí Hà Nội, 1985
(16) Xem: Đại Việt sử kí toàn thu, Sdd, tap U,
tr.351, 374
(17) Xem: Đại Việt sử kí toàn thư, Sdd, tập I, tr.279 (18) Xem: Đại Việt sử kí toàn thư, Sảd, tập I, tr.344 (19) Xem: Lịch triều tập kỉ, tập II, tr.110
(20) Xem: Đại Việt sử kí tục biên, Nxb KHXH, H
1991, tr.140
(21) Lại phiên: Cơ quan phụ trách việc thăng bổ quan lại ở phủ chúa, tương đương Bộ lại của vua Lê (22).(23) Xem: Đại Việt sử kí tục biên, Sdd,
tr.165,229
(24) Xem: Đại Nam thực lục, Sdd, tr.84
(25) Hành tại: Nguyên nghĩa là nơi vua nghỉ trên
3
a 4 : a +
sy 'rYr1
ở các địa phương Ở dây chỉ nơi đường đi kinh lí
dừng chân của vua
(26) Xem: Đại Nam thực lục, tập II, Nxb Sử học,
1964, tr.143
(27),(28) Xem: Nguyễn Minh Tường, Sdd, tr.103,
104, 198.