1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Việc giải quyết đơn thư khiếu tố của dân trong xã hội phong kiến" doc

6 1,3K 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 10,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi vậy, những điều trình bày trong bài viết về việc giải quyết đơn từ khiếu tố của dân dưới chế độ phong kiến chỉ là những nhận xét sơ bộ qua một số dữ kiện mà sử cũ đã ghi lại.. Các q

Trang 1

Bi thời phong kiến, cách quản lí của

nhà nước quân chủ quan liêu và sự

tha hóa, lạm dụng quyền lực của một số

quan lại các cấp không tránh khỏi làm

cho nhiều người dân bị oan ức, phải đi

khiếu kiện Vi vậy, nhà nước đã đề ra các

giải pháp đề ` đân được Ì kêu oan

Tuy nhiên, sử cũ ghi chép về vấn đề

này quá ít Bởi vậy, những điều trình bày

trong bài viết về việc giải quyết đơn từ

khiếu tố của dân dưới chế độ phong kiến

chỉ là những nhận xét sơ bộ qua một số

dữ kiện mà sử cũ đã ghi lại Hi vọng rằng

khi có nhiều nguồn tư liệu mới, vấn đề sẽ

được làm sáng to hon

1 Các quy định về xét kiện

Việc giải quyết đơn từ khiếu tố của

dân gắn liên với các quy định của nhà

nước về kiện tung và xét kiện Sử cũ ghi

chép sớm nhất về quy định này là vào

năm Canh Thìn, niên hiệu Càn Phù Hữu

Đạo (1040) tháng 4 ngày I1, vua Lý Thái

Tông xuống chiếu “( nay tro di, pham

nhân dân trong nước ai có kiện tụng gì

đều giao cho Khai Hoàng vương xử đoán

rồi tâu lên”) Khai Hoàng vương là con

vua, được lập làm thái tử, lại được g1ao

quyển việc xét kiện tụng là không đúng

nguyên tắc hành chính nhà nước Về vấn

dé này, str than Ngo Si Lién ban rang:

“Chức việc của thái tử, ngoài việc thăm

hỏi, hầu cơm vua ra, khi ở lại giữ nước

thì gọi là giám quốc, khi đem quân di thì

gọi là phử quán, có thế mà thôi, chưa

nghe thấy sai xử kiện bao giờ Phàm việc

` ĐƠN TƯ K

ke

PTS BÙI XUÂN ĐÍNH *

xử kiện là việc của hữu ty” Thái Tông sai Hoàng vương làm việc đó không phải

là chức phận của thái tử, lại lấy điện Quảng Vũ làm nơi vương xử kiện là không đúng chổ”® Có lẽ vì việc giao xét kiện không đúng chức trách này mà “việc kiện tụng trong nước phiển nhiễu til it; quan lại giữ luật pháp câu nệ luật văn, cốt làm _ cho khắc nghiệt, thậm chí nhiều người bị oan uổng quá đáng Vua lấy làm thương xót”®, Bởi vậy, tháng 10 nim Nhâm Ngo (1042), vua sai “san định luật lệ, châm chước cho thích dụng với thời thế, chia ra môn loại, biên thành điều khoản, làm thành sách hình thư của một triéu dai, dé _cho người xem dễ hiểu” Đáng tiếc là,

bộ luật đầu tiên này của nước ta đã bị mất nên chúng ta khong" thể biết được các quy định của nhà Lý về xét kiện, giải quyết được nỗi oan uống của dân ra sao, song

sử cũ ghi lại rằng “sách làm xong, XHỐng chiếu ban hành, dân lấy làm tiện Đến đây phép xử án được bằng thẳng rõ ràng, cho nên mới đổi niên hiệu là Minh

Đạo » (6)

Sang thời Trần, không một quy định

nào về việc giải quyết việc khiếu tố và

oan ức của dân được sử cũ ghi lại te nhiên, một thực tế diễn ra là có nhiề người bị oan ức đã tìm cách kêu kiện lên tận nhà vua Điển hình là vào năm Canh Thìn (1280), có một người dân tranh kiện

* Viện dân tộc học

Trung tâm KHXIH & NV quốc gia

TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 15

Trang 2

| NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI )

với Đỗ Thiên Thư là em ruột quan đại

thần Đỗ Khắc Chung Cả tình và lí Đỗ

Thiên Thư đều trái nên các quan xử kiện

đã xử thắng cho người dân nọ Nhưng khi

án đã xử xong, do các hình quan vì nể đại

thần Đỗ Khắc Chung nên không cho thi

hành y án Nhân kì đi kinh lí của vua

Trần Nhân Tông, người dân kia bèn đón

xa giá vua để kêu oan Trần Nhân Tông

hỏi các quan xử kiện Khi được nghe tâu

lại đầu đuôi câu chuyện, vua đã trách cứ

các quan: Đó chẳng qua là do sợ mà né

tránh Khác Chung; rồi ngay giữa đường

sai các quan chuẩn y bản án đã được xử

Về sự kiện này, sử thần Ngô Sĩ Liên bàn:

“Người kiện có điều oan uổng mà được

dé dang tau lên, nhà vua làm được như

vậy thì dân tình được thấu lên trên, án

kiện đọng được xử ngay”)

Thời Lê sơ, vào tháng 7 năm Giáp

Dần (1434), dưới triều vua Lê Thái Tông,

lần đầu tiên ban hành quy định về trình tự

khiếu kiện, cũng là trình tự xét kiện Vua

du: “Trdm thấy các quân nhân đều tâu

báo vượt cấp với nhau để đi kiện người,

phế bỏ mọi việc của dân, quấy rối triều

đình, không gì tệ hơn Từ nay, quân hay

đân có vụ kiện nhỏ thì đến chỗ xã quan)

của xã mình mà trình bày, xã không giải

quyết được mới lên huyện, huyện không

giải quyết được mới lần lượt lên lộ, lên

phú; phú không giải quyết được thì bấy

giờ mới được tâu lên triều đình Các vụ

kiện ruộng đất cũng thế Các quan xét xử

phải giữ phép công bằng, không được

nhận đút lót mà làm sai, để có người bị

oan wuổng, các vụ kiện lớn mới cho tâu

thẳng lên”®)

Lên ngôi vua, Lê Thánh Tông cũng

rất lưu ý tới tình trạng kêu kiện vượt cấp,

gây khó khăn cho công tác xử án Ông đã

16 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC

quy định việc cấm kiện vượt bậc thành một điều khoản trong chương Đoán ngục của bộ Quốc triều hình luật: “Thần dân khiêu nại việc rất nhỏ thì trình bày với xã quan, việc nhỏ thì kêu ở lộ quan, việc trung bình thì ở phú quan, việc lớn mới được lên kinh đô Các xã quan và các nha môn ở lộ, phú phải xử công bằng, đúng pháp luật Nếu ở xã không xử được mới đưa lên lộ, lộ không xử được mới đưa lên phú, phú không xử được mới đưa lên trên Làm trái luật thì xứ đánh trượng và biến chức” (Điều 672)09)

Đến thời Lê - Trịnh, vào năm Quý Hợi niên hiệu Chính Hòa (1683), chúa Trịnh Căn ban lệnh: “Việc khám xứ ngục tạng đã có lệ định xếp theo thứ bậc Hễ

ai vượt bậc dâng tờ khải mà kiện cáo thì phải phạt 20 quan cổ tiền; viên quan nào nhận tờ cẩn khải vượt bậc thì cũng phạt tiền như thế Nha môn nào đáng phải nhận xử kiện mà không nhận xử hoặc nha môn nào không đáng nhận xử mà lại xử thì cho phép người đi kiện kêu ở nha môn khác Khi đã tra xét được sự thực rồi thì

cả hai nha môn trên đều bị phạt 20 quan tiên cổ Nha môn đáng phải nhận xử kiện

ấy sẽ giao phó cho quan đương thứ phân xử; còn nha môn không đáng nhận xử ấy s€ giao phó cho quan tày thứ khám xét phân xứ Người đi kiện nào dd bi toa án đòi gọi nhiều lần mà cố ý trốn tránh thì đáng luận vào tội “tại đào” (đi trốn), nếu

có việc công cán phải đi xa hoặc bị đau yếu mà có lời cáo trình rồi thì mới được hoán lại Như vậy, lí lế về việc kiện tung mới được giấi t0, Với điều luật này, lần đầu tiên, nhà nước phong kiến Việt Nam đã có quy định trách nhiệm của thần dân và của các cơ quan pháp luật

Trang 3

| NGHIÊN CỨU - TRAO Đổi |

trong việc khiếu kiện; phạt bằng tiền

những người đi kiện vượt cấp và những

cơ quan thoái thác việc giải quyết khiếu

nại của dân cũng như những cơ quan giải

quyết khiếu kiện không thuộc phạm viị

trách nhiệm của mình

Vào cuối thời Lê - Trịnh ở Đàng

Trong, năm Mậu Thân (1788), chúa

Nguyễn Ánh cũng “định lệ cấm kêu thay

và kêu vượt Phàm nhân dân có oan

khuất thì cho tự mình đi kêu Nếu đem

tiền, của ÿ thác người khác, hay đi kêu hộ

cho ai, việc bị phát giác đều bị xử 100 roi

và bắt làm phu dịch một tháng Các lại

viên có đơn kêu oan thì do sở quản và đại

viên thống lĩnh phân xử; dân kêu oan thì

do quan công đường sở tại xét đoán; nếu

xét thấy không thỏa đáng thì kêu ở sé

công đồng?) , nếu vẫn chưa phục tính thì

mới được đón kêu khi vua đi, làm trái thì

bi tor’

Thời Nguyễn, dưới triểu vua Minh

Mệnh (1820 - 1840) có quy định về việí

khống tức kiện cáo vượt bậc, không theo

trình tự cấp bậc của tòa án?)

Tỉnh thần “không kiện cáo vượt cấp”

trên đây của nhà nước phong kiến đã

được quán triệt xuống tận các làng xã

Trong hương ước của khá nhiều làng trên

vùng đồng bằng Bắc Bộ đều có điều

khoản quy định, người nào có việc kiện

cáo trước hết phải thông qua làng xử,

làng xử không được mới được đưa lên

huyện phủ Nếu tự tiện đi kiện cáo lên

trên không thông qua hàng làng thì sẽ bị

phạt hoặc nếu không đồng tình với kết

quả xử kiện của làng mà tiếp tục khiếu

kiện lên quan trên nhưng quan trên xử

cũng giống như làng xử thì không những

phải chịu phạt mà còn phải chịu tất cả

những chi phí mà làng phải bỏ ra cho

việc khiếu kiện ấy Nhiều làng đưa ra hình phạt rất nặng đối với những người vi

phạm như hạ hoặc truất ngôi thứ, đuổi

khỏi làng, tẩy chay đấm tang của đương

sự và của cả thân nhan ho “

2 Những hình thức để dân được

kêu oan Mặc dù các triều vua phong kiến đã

có những biện pháp ngăn chặn hiện tượng kêu kiện vượt cấp nhưng trên thực tế tình trạng đó vẫn thường xuyên xảy ra vì người dân bị oan ức (đương nhiên không loại trừ những kẻ xúi bẩy kiện cáo vượt cấp để kiếm lợi) Nguyên nhân chính của việc người dân bị oan ức phải đi khiếu kiện vượt bậc là do sự quan liêu, thiếu trách nhiệm và đặc biệt là tệ ăn hối lộ, bẻ cong phép nước, làm sai lệch các vụ án của các cơ quan pháp luật Vào đời Lê, trước những tai dị liên tiếp xảy ra, các vua Thái Tông và Nhân Tông từng cho rằng, đấy một phần là “do nạn hối lộ công khai mà việc hình ngục có nhiều oan trái”0®) Bởi vậy, một số triều vua đã

đề ra các biện pháp để cho dân được kêu oan

- Năm Nhâm Thìn (1052), vua Lý Thái Tông cho đúc chuông lớn ở Long Tri (sân rồng) để dân có oan ức gì không bày tö được thì đến đánh chuông tâu lênŠ”3

- Năm Mậu Dần (1158), theo lời tâu của Nguyễn Quốc vừa di sứ nước Tống

về, vua Lý Anh Tông cho đặt mọt hòm ở giữa sân rồng để ai muốn bày tỏ việc gì thì bỏ thư vào hòm ấy Chỉ trong một tháng, thư kêu oan đã đầy hòm Tuy nhiên, trong số thư ấy lại có thư nặc danh nói quan đại thần Đỗ Anh Vũ lộng quyền

và làm loạn Anh Vũ cho người truy tìm

kẻ viết bức thư ấy nhưng không được,

TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 17

Trang 4

uống thuốc doc tu tu"

- Năm At Ty (1725), theo đề nghị của

Tham tụng Nguyễn Công Hãng, chúa

Trịnh Cương cho yết bảng ở các lị sở để

dân phản ánh những điều hay đở, thiện ác

của các quan và nỗi oan của minh”

- Năm Nhâm Tý (1732), chúa Trịnh

Giang lại cho đặt hòm ở phủ chúa để

nhận đơn kêu oan của dân”?)

- Năm Canh Thân (1751), Chua Trinh

Doanh cho đặt chuông, mõ ở cổng phủ

đường để người tài tự tiến cử và người bị

ức hiếp hay bị xử chưa thỏa đáng đánh

mõ kêu lên Các khiếu nại phải ghi vào

giấy và phong kín, gửi lên lại phiên °”

rồi dâng lên chúa xem xét”

- Năm Tân Mùi (1751), chúa Trịnh

lệnh cho thần dân cả nước được viết thư

trình bày các nỗi oan ức, dán kín dâng

lên “”)

- Ở Đàng Trong, vào năm Mậu Thân

(1788), Nguyễn Ánh cũng cho đặt một

hòm ở dưới cửa khuyết để ai có oan khuất

hay bị người khác hãm hại thì cho trình

bày trong đơn, ghi rõ họ tên, quê quán,

bỏ vào hòm ấy để tiện tra xét ngay gian

mà tỏ oan khuất Kẻ nào bỏ thư nặc danh,

vu tội cho người mà bị phát giác thì bị trị

tội nặng khong tha”

- Năm Quý Hợi (1803), vua Gia Long

sắc cho xã dân các xứ từ Nghệ An ra Bắc,

ai có việc đau khổ, oan khuất thì cho đến

hành tai? để tâu bày Vua sai văn thần

nhận các đơn kiện tâu lên xin xét đoán

Kẻ nào vu cáo thêu đệt thì bị tội”)

- Từ thời Minh Mệnh (1820-1840) trở

đi, đặt ra T¡ tam pháp gồm Đại lí tự, Bộ

hình và Viện đô sát để xét xử những vụ

án quan trọng, thụ lí những vụ kiện tham

tang, áp chế bức bách theo đơn tố cáo của

18 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC

nhân dân Mỗi tháng, vào các ngày 6, l6

và 26 (âm lịch), Pháp ty nhận đơn khống

tố và cáo tố của dân để trình lên vua Vào

những ngày khác, ai có điều mạt tâu và oan khúc khẩn thiết thì được đến cửa bên trái của văn phòng Pháp ty - nơi có đặt một chiếc trống lớn (gọi là trống Đăng Văn) đánh một hồi trống, nhân viên Pháp

ty sẽ đến nhận đơn và trình lên Pháp ty

- Ngoài các biện pháp trên, thời phong kiến, các vua còn cử các đoàn thanh tra đặc biệt để xem xét tình hình dân chúng, theo lời tâu hặc của các quan

và theo đơn tố cáo của dân Thời Nguyễn

có chế độ Kinh lược đại sứ: Trong những trường hợp đặc biệt, nhất là ở những địa phương mất mùa đói kém, dân tình tao

- loạn, quan lại hà lạm và ức hiếp dân chúng hoặc vừa trải qua binh đao thì cử phái đoàn thanh tra, đứng đầu là một hoặc hai quan đại thần có uy tín, có toàn quyền giải quyết các vụ việc đã xảy ra tại nơi đó rồi tâu báo vua sau”),

3 Tính hai mặt của các biện pháp giải quyết khiếu tố, những bài học kinh nghiệm

Các biện pháp giải quyết đơn thư khiếu tố của dân của nhà nước phong kiến trên đây có tác dụng gì?

Trước hết, là các biện pháp “cấm kêu kiện vượt bậc” Các biện pháp này có mục đích (và trên thực tế đã ít nhiều có hiệu quả) là đưa việc khiếu kiện và xét

kiện vào nề nếp, theo trình tự đúng thẩm

quyền pháp luật, không để kiện cáo tràn lan và ngăn- chặn những người xấu lợi

dụng xúi bẩy kiện cáo, gây khó khăn cho

hoạt động của các cơ quan pháp luật, gây tốn kém thì giờ, tiền của của dân và nhà nước, thậm chí gây mất đoàn kết trong

Trang 5

| mi cỨU - TRAO ĐỔI |

dân chúng v và cả hàng ngũ quan lại, gây

rối loạn xã hội

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, các

biện pháp trên đây không tránh khỏi

những tác động tiêu cực Đó là, tạo ra sự

trì trệ, quan liêu, hách dịch, thái độ vô

trách nhiệm, đùn đẩy của các cơ quan

pháp luật và các quan lại trông coi pháp

luật Một số trong họ lợi dụng quy định

“cấm kêu kiện vượt bậc” để ức hiếp dân

chúng, vòi vĩnh hối lộ Đặc biệt, các chức

dịch làng xã đã triệt để lợi dụng điều

khoản này (được cụ thể hóa trong hương

ước) để khống chế và áp bức nông dân

trong những luật tục hà khắc của làng xã

cổ truyền, làm cho luật nước ít nhiều

giảm hiệu lực trong từng lũy tre xanh đó

Câu thành ngữ “phép vua thua lệ làng”

bắt nguồn một phần từ đó và nạn cường

hào làng xã nay sinh một phần từ đó

Còn với các biện pháp kêu oan? Đáng

tiếc là sử cũ không ghi lại đầy đủ kết quả

các biện pháp để nhân dân được kêu oan

của nhà nước phong kiến, ngoại trừ hai

trường hợp diễn ra dưới triều Nguyễn

Trường hợp thứ nhất: Vào thời Tự

Đức, tại một làng quê ở tỉnh Biên Hòa,

một số người giàu có dựa vào thế lực của

các quan cai trị đầu tỉnh đã tranh chấp với

những người nghèo một con lạch mà dân

nghèo khai phá từ lâu và được vua Gia

Long cho miễn thuế Bùi Hữu Nghĩa là tri

phủ đã đứng về phía người nghèo Hai

bên xảy ra xô xát làm tám người phía nhà

giàu bị chết Bọn cường hào ở thế viên

tổng đốc Biên Hòa đã đóng gông Bùi

Hữu Nghĩa giải về Gia Định và làm sớ

tâu lên vua, buộc ông vào tội chết vì “xui

đân làm loạn và giết người” Thấy chồng

bị oan ức, bà Nguyễn Thị Tồn - vợ của

Bùi Hữu Nghĩa đã đi từ Biên Hòa ra Huế

đến T¡ tam pháp đánh trống Đăng Văn

kêu lên vua Tự Đức xin minh xét cho chồng Sau đó, sự thật vụ án được phanh phui, vua Tự Đức đã phê tha tội chết cho Bùi Hữu Nghĩa nhưng phải “tiến quân hiệu lực” (ra mặt trận lập công chuộc tội)

Trường hợp thứ hai: Vào năm Đinh Hợi (1827), nghe tin dân ở vùng Nam Định bị đói khổ vì quan lại địa phương hà

lạm, sách nhiễu và ức hiếp dân chúng,

Vua Minh Mệnh đã phái một đoàn thanh tra đặc biệt Sau hơn một tháng, đoàn Kinh lược sứ đã bắt và trị tội tất cả bọn quan lại đầu sở đã nhụng lạm, hà hiếp dân chúng, giải quyết được nhiều vụ án oan ức cho dân

Mặc dù sử cũ không ghi đủ các kết quả của các biện pháp để dân được “giải oan” của nhà nước phong kiến nhưng qua các nghiên cứu trên đây, có thể rút ra một

số nhận xét như sau:

1 Một trong những mục đích của việc

“cấm kêu kiện vượt cấp” của nhà nước phong kiến là đưa việc khiếu kiện và xét kiện theo trình tự đúng thẩm quyền, đúng pháp luật, không để kiện cáo tràn lan gây khó khăn cho hoạt động xét xử của các

cơ quan pháp luật, gây tốn kém thì giờ, tiền của của nhà nước và của nhân dan,

có khi làm mất trật tự xã hội Bởi vậy, để việc khiếu kiện và xét kiện theo đúng trình tự thì:

a Về phía nhà nước

- Đề ra trình tự khiếu kiện và xét kiện một cách hợp lí và tuyên truyền, giải thích cho nhân dân hiểu

= Quy định rõ trách nhiệm của các c

quan pháp luật các cấp trong VIỆC giải quyết các đơn từ, khiếu tố của dân cũng như trong việc xử lí các bản án dây dưa, kéo dài Xử lí nghiêm các cơ quan pháp luật không làm đúng chức trách của mình

28

TAP CHÍ LUẬT HỌC - 19

Trang 6

| Ễ 2

| NGHIEN CỨU - TRAO ĐÔI |

trong việc nhận và giải quyết đơn thư

khiếu tố của dân Nghiêm khắc xử lí

những người xui bẩy kiện cáo vượt cấp,

những người cố tình không chấp hành các

quyết định, kết luận đúng của cơ quan

pháp luật đã xử để khiếu kiện lên trên

b Về phía các cơ quan pháp luật

- Nhận đơn khiếu tố của dân đúng

phạm vi trách nhiệm của mình Khi gặp

đơn thư không đúng thẩm quyền, cần giải

thích kĩ cho dân hiểu để đệ đơn ở cơ quan

pháp luật được phép

- Giải quyết nhanh chóng đúng pháp

luật đơn thư khiếu tố của dân và giải

thích rõ cho đương sự hiểu và tin ở kết

luận của bản án đã xử

- Tạo lòng tin cho công dân mỗi khi

đệ đơn đến cơ quan pháp luật cũng như

khi nhận được kết luận, quyết định giải

quyết su viéc

c Đối với công dân

- Khi có việc phải đi khiếu kiện, cần

tìm hiểu kĩ vấn đề mình khiếu kiện thuộc

phạm vi cấp nào giải quyết để nộp đơn

đúng chỗ, không gây phiền hà cho cơ

quan pháp luật Khi được nhận đơn cần

tuân thủ sự hướng dẫn và xử lí của cơ

quan pháp luật

- Trường hợp không đồng ý với kết

luận về vụ việc của cơ quan pháp luật,

cần bình tĩnh xem xét để có hướng xử lí

đúng trong việc khiếu kiện tiếp, không

khiếu kiện tràn lan

2 Đối với những trường hợp oan ức

kiện vượt cấp của dân, chúng ta nên tham

của nhà nước phong kiến đồng thời cần

có thái độ tích cực đối với việc giải quyết

các nỗi oan đó như một số triều vua đã

làm, không trả lại đơn hoặc chỉ ra chỉ thị,

công văn đơn thuần

20 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC

Tiếng trống Đăng Văn thời Nguyễn, treo bảng, đặt hòm nhận đơn thời Lê - Trịnh, tiếng chuông sân rồng thời Lý là những hình thức thích hợp để nhân dân được kêu kiện, phải chăng vẫn có gia tri tham khảo cho công tác giải quyết đơn từ

khiếu tố của nhân dân ta hiện nay./

(1),() Xem: Đại Việt sử kí toàn thư Nxb KHXH,

1983, tap I, tr.269

-_ (2) Hữu ty: Cơ quan về hình pháp thời Lý, khác với

Tả ty là cơ quan hành chính

(4).(5).(6) Xem: Đại Việt sử kí toàn thu, Sdd, tr.271, ca:

(7) Xem: Đại Việt sử kí toàn thu, Sdd tap II, Nxb KHXH, 1985, tr.43

(8) Xd quan: Những người dứng đầu bộ máy chính quyền cấp xã từ đời Trần, đến năm 1466 đổi thành xã trưởng

(9) Xem: Đại Việt sử kí toàn thư, tập Ul, sdd, tr.319

(10) Xem: Quốc triều hình luật, Nxb KHXH, 1992 (11) Xem: Lịch triều tạp kỉ, tập I, Nxb KHXH, Hà

Nội 1975, tr.89

(12) Sở công đồng: Có lẽ là nha môn ở trấn - đơn vị hành chính như cấp tỉnh sau này

(13) Xem: Đại Nam thực lục, tập IL, Nxb Sử học,

1964, tr.81

(14) Xem: Nguyễn Minh Tường, Cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh, Nxb KHÄXXI, Hà Nội,

1996

(15) Xem: Bùi Xuân Đính, Lệ làng phép nước, Nxb

Pháp lí Hà Nội, 1985

(16) Xem: Đại Việt sử kí toàn thu, Sdd, tap U,

tr.351, 374

(17) Xem: Đại Việt sử kí toàn thư, Sdd, tập I, tr.279 (18) Xem: Đại Việt sử kí toàn thư, Sảd, tập I, tr.344 (19) Xem: Lịch triều tập kỉ, tập II, tr.110

(20) Xem: Đại Việt sử kí tục biên, Nxb KHXH, H

1991, tr.140

(21) Lại phiên: Cơ quan phụ trách việc thăng bổ quan lại ở phủ chúa, tương đương Bộ lại của vua Lê (22).(23) Xem: Đại Việt sử kí tục biên, Sdd,

tr.165,229

(24) Xem: Đại Nam thực lục, Sdd, tr.84

(25) Hành tại: Nguyên nghĩa là nơi vua nghỉ trên

3

a 4 : a +

sy 'rYr1

ở các địa phương Ở dây chỉ nơi đường đi kinh lí

dừng chân của vua

(26) Xem: Đại Nam thực lục, tập II, Nxb Sử học,

1964, tr.143

(27),(28) Xem: Nguyễn Minh Tường, Sdd, tr.103,

104, 198.

Ngày đăng: 17/03/2014, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w