1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Góp ý dự thảo nghị định quy định chi tiết luật bảo vệ môi trường

4 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 405,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy định này cần xem xét ở các điểm sau đây: Quy định “hạn chế các hoạt động sản xuất kinh doanh có nguy cơ ÔNMT” với vùng bảo vệ nghiêm ngặt, “hạn chế thực hiện các dự án đầu tư thuộc p

Trang 1

NGHIẾN CỨU - TRAO Đổl

Góp ý Dự thảo Nghị định quy định chi tiết

Luật Bảo vệ môi trùừhg

Q ĐĂNG TUYÊN

Luật Bảo vệ môi trường có tác động sâu rộng đến các tầng lớp nhân ơân, đặc biệt là đối với doanh nghiệp Chính vì vậy, khi Dự thảo Nghị định quy định chi tiết

một sô điểu của Luật Bảo vệ môi trường được lây ý kiến rộng rãi, cộng đồng doanh

nghiệp Việt Nam đã tích cực phản hổi, góp ý gửi về Phòng Thương mại và Cóng

nghiệp Việt Nam Bài báo này gửi đến bạn đọc ý kiến của các doanh nghiệp, được

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổng hợp gửi đến cơ quan soạn thảo.

Định hướng bảo vệ môi trường với các phân

vùng môi trường

Điều 22.4, Dự thảo đã bổ sung các quy định vể

định hướng các hoạt động BVMT đối với vùng bảo

vệ nghiêm ngặt, vùng hạn chế nghiêm ngặt Quy

định này cần xem xét ở các điểm sau đây:

Quy định “hạn chế các hoạt động sản xuất kinh

doanh có nguy cơ ÔNMT” với vùng bảo vệ nghiêm

ngặt, “hạn chế thực hiện các dự án đầu tư thuộc phụ

lục 6” với vùng hạn chế phát thải chưa rõ ràng ở điểm

việc “hạn chế” được hiểu như thế nào? Khi nào thì

các dự án đầu tư này vào các vùng trên được cho

phép? Khi nào không được cho phép? Các nội dung

thắt chặt với các dự án đầu tư này là gì (chẳng hạn:

Yêu cầu đánh giá tác động môi trường (ĐTM), giấy

phép môi trường (GPMT) ở mức cao hơn?) Do vậy,

cần làm rõ các nội dung trên

Quy định giám sát thông qua thiết bị, hệ thống

quan trắc tự động, liên tục: Quy định này dường như

chưa thống nhất với Điều 118.1.b của Dự thảo Điều

118.1 b chỉ yêu cầu các dự án này có lưu lượng nước

thải từ 200 m3/ngày mới phải quan trắc tự động Do

vậy, điều chỉnh lại cho thống nhất

Quản lý các dự án đầu tư trong các phân

vùng môi trường

Điều 22.5, Dự thảo quy định thẩm quyền của

UBND cấp tỉnh trong quản lý các dự án đầu tư trong

phân vùng môi trường (PVMT) Tuy nhiên, quy định

này cần xem xét ở các điểm sau: Dự thảo cho phép

UBND tỉnh đặt ra các yêu cầu về BVMT của hoạt

động sản xuất kinh doanh có nguy cơ gây ÔNMT

Quy định này có thể tạo ra sự tùy tiện hoặc các yêu

cầu không phù hợp so với thực tế Trong khi đó, việc

đảm bảo không gây ÔNMT đã được thực hiện thông

qua ĐTM, GPMT, quy chuẩn kỹ thuật môi trường Do

vậy, xem xét quy định trên

Dự thảo quy định việc xác định lộ trình di dời hoặc dừng hoạt động với các hoạt động sản xuất không phù hợp với PVMT Quy định này có thể tạo

ra ảnh hưởng không tốt với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, gây rủi ro với hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Do vậy, cần bổ sung quy định về bồi thường toàn bộ thiệt hại từ việc di dời hoặc dừng hoạt động của doanh nghiệp bằng một trong số các biện pháp sau: Khấu trừ thiệt hại thực

tế của nhà đầu tư vào số tiền thuế phải nộp; hỗ trợ bằng tiền chi phí hợp lý để nhà đầu tư thực hiện di dời nhà máy

Mối quan hệ giữa phân vùng môi trường, kê hoạch quản lý chất lượng môi trường, khoảng cách

an toàn với giấy phép về môi trường

Dự thảo quy định về mối liên hệ giữa PVMT, kế hoạch quản lý chất lượng môi trường (tức khả năng chịu tải của môi trường), khoảng cách an toàn với môi trường, cụ thể:

Điều 29.2.C quy định PVMT, khả năng chịu tải của môi trường, khoảng cách an toàn với môi trường

là một nội dung trong báo cáo đề nghị cấp lại GPMT Điều 32 quy định việc cấp điều chỉnh GPMT được thực hiện trong trường hợp có thay đổi về PVMT, khả năng chịu tải của môi trường Tuy nhiên, Dự thảo chưa có quy định rõ ràng về tác dụng của các yếu tố này lên việc cấp GPMT, đặc biệt trong các lần cấp lại (sau khi hết thời hạn) Nếu tại thời điểm cấp lại,

có sự thay đổi khiến doanh nghiệp không thể đáp ứng về PVMT hay khả năng chịu tải của môi trường hay khoảng cách an toàn thì xử lý như thế nào? cần lưu ý rằng, các yếu tố này thay đổi theo thời gian, có thể trở nên bất lợi hơn, chẳng hạn khu vực hoạt động của doanh nghiệp chuyển từ vùng khác sang vùng hạn chế phát thải, hoặc có thay đổi trong khả năng chịu tải của môi trường Việc không được cấp phép lại trong trường hợp đó sẽ khiến doanh nghiệp không

Tài nguyên và Môi trưởng

Kỳ 1 - Tháng 9/2021

Trang 2

thể tiếp tục hoạt động, từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng

đến quyền được đảm bảo về tài sản của nhà đầu tư

nói riêng, cũng như ảnh hưởng đến tính ổn định của

môi trường đầu tư nói chung Do vậy, bổ sung quy

định làm rõ nội dung này

Tham vấn thông qua hình thức điện tử

Điều 25.4.a Dự thảo quy định tham vấn qua hình

thức điện tử là việc đăng tải lên trang thông tin điện

tử của cơ quan thẩm định ít nhất 15 ngày Tuy nhiên,

Dự thảo chưa có quy định về trình tự, thủ tục tiếp

nhận, đăng tải và truyền đạt lại các ỷ kiến nhận được

qua hình thức này Việc này có thể gây khó khăn cho

nhà đầu tư vì không xác định được chính xác thời

gian đăng tải và tiếp nhận phản hồi để triển khai các

bước tiếp theo Do vậy, bổ sung, làm rõ vấn đề này

Cú sở sản xuất kinh doanh dịch vụ có nguy

cơ gây ô nhiễm môi trường tại Phụ lục 6

Phụ lục 6 quy định phân loại các cơ sở chế biến

mủ cao su có nguy cơ gây ÒNMT theo công suất

như sau: (i) mức lớn: Từ 10.000 tấn/ năm trở lên; (ii)

mức trung bình: Từ 500 đến dưới 10.000 tấn/năm;

(iii) mức nhỏ: Dưới 500 tấn/năm Tuy nhiên, theo

phản ánh của doanh nghiệp, việc xác định công suất

như vậy chưa phù hợp với thống kê và số liệu hiện

có về các cơ sỏ chế biến cao su thiên nhiên, cụ thể:

các dự án có công suất nhỏ có công suất dưới 6.000

tấn/năm; từ 6.000 đến dưới 15.000 tấn/ năm là công

suất trung bình; từ 15.000 tấn trở lên là công suất

lớn Do vậy, đề nghị cân nhắc sửa đổi quy định theo

hướng phân loại như trên

Cơ sở chế biến mủ cao su theo phân nhóm

dự án đầu tư

Phụ lục 7a Dự thảo hiện đang xếp các dự án mủ

cao su có công suất lớn (trên 10.000 tấn/năm) thuộc

diện các dự án nhóm I (có nguy cơ gây ÔNMT mức

độ cao) Tuy nhiên, theo phản ánh của doanh

nghiệp, quy định này là chưa phù hợp do các dự án

chế biến mủ cao su thiên nhiên có lượng chất thải

không thực sự ở mức nguy hại cao: Nước thải không

có chất độc hoặc kim loại nặng, chủ yếu là chất dinh

dưỡng, có hàm lượng chất hữu cơ cao Do vậy, cân

nhắc sửa đổi theo hướng xếp các cơ sở chế biến mủ

cao su về nhóm II hoặc nhóm III

Báo cáo đề xuất cấp giấy phép môi trường

Điều 28 Dự thảo quy định về nội dung của báo

cáo đề xuất cấp GPMT Tuy nhiên, theo phản ánh của

doanh nghiệp, các nội dung trên là quá dài và trùng

lặp với các nội dung đã được phê duyệt trong báo cáo

ĐTM Do vậy, để giảm thiểu thời gian thực hiện TTHC

cho doanh nghiệp, đề nghị rà soát và loại bỏ các nội

dung đã được phê duyệt trong các thủ tục trước đó

Hồ sự cố, hổ chỉ thị sinh học với khu sản xuất, kinh doanh dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp

Điều 59.6, Dự thảo quy định về công trình, thiết

bị phòng ngừa, ứng phó sự cô' môi trường, trong đó

có quy định như sau: Công trình, thiết bị phòng ngừa

và ứng phó sự cố nước thải có thể là các hồ, bể, thiết

bị, dụng cụ hoặc phương tiện chứa nước thải; khuyến khích bố trí hồ chỉ thị sinh học (hồ kiểm chứng) Dựa trên từ ngữ cùa quy định, có thể hiểu càc quy định này chỉ mang tính chất tự nguyện (không bắt buộc) Tuy nhiên, quy định như vậy có thể khiến các cơ quan nhà nước địa phương hiểu nhầm và bắt buộc doanh nghiệp thực hiện Đồng thời, theo thông thường, cách thiết

kế quy định như vậy không có tính quy phạm (và thường không đi kèm với chê' tài) nên không phù hợp với văn bản mang tính quy phạm như Nghị định Do vậy, đề nghị bỏ các quy định này Bên cạnh đó, Điều 59.6.h,

Dự thảo quy định về việc xử lý trong trường hợp các

cơ sở sản xuất không còn đất để xây hồ sự cố Ngoài các trường hợp đã quy định, đề nghị bổ sung quy định cho phép doanh nghiệp được xây dựng phương án

và đưa vào phương án ứng phó sự cố môi trường

Khoảng cách an toàn về môi trường

Điều 62 Dự thảo quy định về khoảng cách an toàn về môi trường đối với khu dân cư Tuy nhiên, quy định này cần xem xét ở một số nội dung sau: Dự thảo chưa quy định cụ thể khoảng cách an toàn có

áp dụng với cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hiện hữu hay không? Và nếu có, thì xử lý như thê' nào trong trường hợp các cơ sở này không đáp ứng quy định về khoảng cách an toàn? Dự thảo cũng chưa

có quy định về việc chấp thuận địa điểm đầu tư hoặc giới thiệu địa điểm đầu tư trong trường hợp Nghị định

đã có hiệu lực nhưng chưa có quy định về khoảng cách an toàn Dự thảo chưa có quy định xử lý trường hợp dự án đầu tư đã được cấp phép hoạt động nhưng sau đó có sự thay đổi trong khoảng cách an toàn (chẳng hạn do các khu dân CƯ mới hình thành) Việc chưa có các quy định trên sẽ gây rủi ro cho doanh nghiệp, với các dự án đang hoạt động và các dự án

dự định đầu tư, trong việc có nguy cơ bị dừng hoạt động vì không đáp ứng khoảng cách môi trường Do vậy, để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp, đề nghị bổ sung quy định làm rõ vấn đề trên

Tỷ lệ tái chê' bắt buộc

Điều 89.6 Dự thảo quy định tỷ lệ tái chế bắt buộc được điểu chỉnh tăng dần hàng năm Tuy nhiên, theo phản ánh của doanh nghiệp, chu kỳ điều chỉnh như vậy là tương đối ngắn và có thể gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc lên kế hoạch kinh doanh trung hạn Do vậy, nên cân nhắc sửa đổi chu kỳ điều

Tàl nguyên và Môi trựửng

Kỳ 1 - Tháng 9/202’

Trang 3

chỉnh theo hướng dài hơn (chẳng hạn 24 hoặc 36

tháng) Ngoài ra, do việc tái chế liên quan đến nhiều

ngành, đề nghị cân nhắc sửa đổi quy định về thẩm

quyền phê duyệt tỷ lệ tái chế bắt buộc theo hướng

thẩm quyển thuộc Thủ tướng Chính phủ

Hình thức thực hiện trách nhiệm tái chế

Điều 88 Dự thảo quy định hình thức thực hiện

trách nhiệm tái chế gồm: (i) hình thức tổ chức tái chế

(tự thực hiện hoặc ủy quyền cho bên khác); (ii) đóng

góp tài chính, về lý thuyết, chi phí để đóng góp tài

chính trên một đơn vị sản phẩm cần tái chế sẽ cao

hơn chi phí so với hình thức thứ nhất nhằm thúc đẩy

doanh nghiệp chủ động thực hiện các biện pháp tái

chế, thay vì chỉ đóng góp tài chính để Nhà nước thực

hiện thay Tuy nhiên, Dự thảo lại chỉ cho phép doanh

nghiệp lựa chọn một trong hai hình thức trên, chứ

không được lựa chọn kết hợp cả hai Theo phản ánh

của doanh nghiệp, quy định này có thể sẽ gây bất lợi

cho doanh nghiệp ở chỗ: (i) các doanh nghiệp buộc

phải đáp ứng năng lực tái chế cần thiết với hình thức

thứ nhất ở thời điểm thực hiện; (ii) các doanh nghiệp

buộc phải thực hiện tái chế với các sản phẩm bán

cùng sản phẩm chính (thường với số lượng không lớn)

vì sản phẩm chính đã thực hiện theo hình thức thứ

nhất Do vậy, đề nghị sửa đổi quy định theo hướng

cho doanh nghiệp lựa chọn một hoặc kết hợp cả hai

hình thức trên để thực hiện trách nhiệm tái chế

Lộ trình thực hiện trách nhiệm tái chế với nhà

sản xuất

Phụ lục 50 Dự thảo quy định thời gian bắt đầu

thực hiện trách nhiệm tái chế Tuy nhiên, thời hạn

này tương đối ngắn khi phần lớn các sản phẩm đều

phải thực hiện bắt đầu từ 1/1/2023 (tức doanh nghiệp

chỉ có 1 năm để chuẩn bị), và chậm nhất là 1/1/2025

Thời hạn này được cho là không đủ để doanh nghiệp

thực hiện xây dựng hệ thống thu gom và tái chế, đặc

biệt trong bối cảnh dịch Covid-19 đang gây nhiều

khó khăn và thiệt hại cho doanh nghiệp Do vậy, để

đảm bảo tính phù hợp với khả năng của doanh

nghiệp, đề nghị sửa đổi theo hướng lùi các thời gian

này từ 1 - 2 năm so với Dự thảo

Trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân khác

trong việc thực hiện trách nhiệm tái chế của nhà

sản xuất, nhập khẩu

Trách nhiệm tái chế của nhà sản xuất, nhập

khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp này phải thực hiện ít

nhất hai công đoạn sau: (i) thu gom sản phẩm thải

bỏ; (ii) tổ chức tái chế các sản phẩm này Theo phản

ánh của doanh nghiệp, công đoạn khó khăn nhất mà

doanh nghiệp đang gặp phải là công đoạn thứ nhất

Lý do là vì sau khi người tiêu dùng mua sản phẩm,

họ thường không có thói quen và động lực đưa sản phẩm thải bỏ về nơi tiếp nhận của nhà sản xuất, nhập khẩu, mà thay vào đó là thải bỏ sản phẩm không đúng cách hoặc đưa đến các nơi tái chế phi chính thức khác Việc này gây khó khăn cho các nhà sản xuất, nhập khẩu trong việc thiết lập được hệ thống thu gom sản phẩm thải bỏ hiệu quả, từ đó đảm bảo mục tiêu tái chế Do vậy, nghiên cứu, bổ sung các quy định trên

Danh mục các sản phẩm thuộc diện đóng góp tài chính để hỗ trợ xử lý chất thải

Phụ lục 56 Dự thảo quy định kẹo cao su và thuốc

lá thuộc diện phải đóng góp tài chính để hỗ trợ xử lý chất thải Các sản phẩm này được cho là khó thu gom,

xử lý do khối lượng không lớn và sản phẩm có kích thước rất nhỏ Theo phản ánh của các doanh nghiệp, quy định này là không phù hợp vì việc thu tiền xử lý chất thải trên mỗi sản phẩm sẽ đánh đồng giữa người tiêu dùng có trách nhiệm (thải bỏ đúng cách, đúng chỗ) với người tiêu dùng không có trách nhiệm (là đối tượng thải ra các sản phẩm cần thu gom, xử lý) Thay vào đó, việc thu gom, xử lý chất thải của các sản phẩm này nên được thực hiện bằng phương pháp khác để đảm bảo xàc định đúng mục tiêu và đối tượng cần xử lý Đề nghị bỏ hai sản phẩm trên ra khỏi danh mục sản phẩm đóng góp tài chính để hỗ trợ xử lý

Yêu cẩu kỹ thuật với tổ chức quan trắc môi trường tự động nhằm cung cấp, công bố thông tin

Điều 117.2 Dự thảo quy định tổ chức thực hiện quan trắc tự động, liên tục chất lượng môi trường để cung cấp, công bố thông tin cho cộng đồng phải đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật nhất định Tuy nhiên, Dự thảo chưa làm rõ các yêu cầu về thiết bị, vị trí lắp đặt, năng lực vận hành, quy trình kiểm soát chất lượng

mà lại ủy quyền cho Bộ TN&MT quy định chi tiết Việc này là không phù hợp với Điều 11.2 Luật Ban hành văn bản pháp luật 2015 Đồng thời, thủ tục đăng ký với cơ quan nhà nước trước khi công bố thông tin cho cộng đồng cũng chưa rõ ràng, chưa phù hợp với các quy định về kiểm soát thủ tục hành chính tại Nghị định 63/2010/NĐ-CP

Đối tượng quan trắc nưổc thải tự động, liên tục

Điều 118.1 Dựthảoquy định đối tượng phải quan trắc nước thải tự động, liên tục, trong đó có: Dự án đầu tư thuộc loại hình gây õ nhiễm môi trường tại Phụ lục 6 có lưu lượng xả nước từ 200 m3/ngày Dự án đầu

tư khác có lưu lượng xả nước thải ra mòi trường từ 500 m3/ngày trở lên Có thể thấy, đối tượng thực hiện quan trắc nước thải đã mở rộng hơn đáng kể so với Nghị định 40/2019/NĐ-CP (áp dụng với các dự án đầu tư

có lưu lượng xả thải từ 1.000 m3/ngày) Tuy nhiên,

Tài nguyên và Môi trưởng

Kỳ 1 - Tháng 9/2021

Trang 4

việc lắp đặt quan trắc tự động vố cùng đắt đỏ (bao

gồm chi phí lắp đặt hàng tỷ đồng, chưa kể duy trì, lắp

đường truyền, camera giám sát, thuốc thử) và độ

chính xác không cao Quy định này có thể đặt gánh

nặng về chi phí và thời gian tuân thủ tương đối lớn lên

các doanh nghiệp Do vậy, đề nghị cân nhắc lại phạm

vi đối tượng phải thực hiện quan trắc tự động

Thông số quan trắc nước thải tự động, liên tục

Điều 118.2.a Dự thảo quy định cơ quan cấp

GPMT được đặt ra thêm yêu cầu vể thống số cần

quan trắc tự động, liên tục Tuy nhiên, quy định này

dường như chưa thực sự minh bạch vì không rõ từ

các tiêu chí được liệt kê tại Dự thảo, làm thế nào để

cơ quan cấp Giấy phép cỏ thể xác định được thông

số cần yêu cầu quan trắc bổ sung? Chẳng hạn,

thông số đặc trưng cho ò nhiễm của ngành được quy

định tại đâu? Nếu quy chuẩn kỹ thuật môi trường có

10 chỉ tiêu thì một, một sổ hay cả 10 chỉ tiêu đó đều

là đặc trưng? Khi nào thì thông số đó thuộc diện cần

đạt theo mục tiêu quản lý (khi thông sô' đó tại nguồn

tiếp nhận đang ố mức cao hay ở trường hợp khác?)

Việc này có thể tạo ra sự tùy tiện trong việc thực thi,

trong khi hiệu quả giám sát không thực sự cao (vì

theo phản ánh của doanh nghiệp thì kết quả quan

trắc thường kém chính xác hơn nhiều so với quan

trắc định kỳ) Do vậy, cân nhắc bỏ quy định này, và

thay vào đó cho phép doanh nghiệp thực hiện quan

trắc theo phương thức định kỳ

Tần suất quan trắc nưổc thải định kỳ

Điều 118.5 Dự thảo quy định tần suất q ,’an trắc

nước thải định kỳ phân theo lượng xả thải, theo đó

cơ sở có lưu lượng dưới 5000 m3/ngày thực hiện tối

thiểu 3 tháng/lần; từ 5000-15000 m3/ngày thực hiện

2 tháng/lần; từ 15C00 m3/ngồy ĩnực hiện 1 tháng/lần

Tuy nhiên, việc thực hiện quá thường xuyên các biện

pháp quan trắc như vậy cũng gây tốn kém rất lớn

cho doanh nghiệp Do vậy, nên sửa đổi theo hướng

áp dụng cơ chế quản lý rủi ro, theo đó cho phép các

cơ sở có chỉ tiêu kiểm tra đạt kết quả trong liên tục

12 tháng được giảm tần suất kiểm tra, và cơ quan

nhà nước có thể kiểm tra ngẫu nhiên để kiểm soát

nếu giảm tần suất

Thông số quan trắc nước thải định kỳ

Điều 118 Dự thảo quy định về quan trắc nước

thải định kỳ Tuy nhiên, Luật BVMT năm 2020 và Dự

thảo chưa có quy định về các thông số quan trắc

nước thải định kỳ Trong thực tế, có tình trạng doanh

nghiệp phản ánh về hiện tượng quy định chưa rõ

ràng, cụ thể, dẫn đến tình trạng doanh nghiệp không

biết phải thực hiện đo các thõng số nào với ngành

không có tiêu chuẩn mòi trường riêng Liệu doanh

nghiệp có phải thực hiện cả 40 thông sô' theo quy chuẩn môi trường chung hay không trong khi quy chuẩn ngành thường chỉ có khoảng 10 thông số? Do vậy, để đảm bảo tính minh bạch và không gây tổn kém cho doanh nghiệp, đề nghị làm rõ nội dung này

Lộ trình thực hiện kinh tê tuần hoàn

Điều 90.2 Dự thảo quy định lộ trình áp dụng kinh tê' tuần hoàn với các ngành, lĩnh vực, cụ thể như sau: (i) ngành nhựa, giấy: trước năm 2025; (ii) ngành dệt may, thép, hóa chất, xi măng, thạch cao, điện tử, ô

tô, xe máy, trồng trọt, chăn nuôi, chế biến thủy hải sản: trước năm 2030; (iii) ngành, lĩnh vực khác: trước năm 2045 Tuy nhiên, Dự thảo không có quy định cụ thể về tiêu chí cụ thể hoặc định mức kỹ thuật để doanh nghiệp thực hiện Không rõ doanh nghiệp căn

cứ vào đâu để thực hiện chuyển đổi sang kinh tê' tuần hoàn Cần bổ sung quy định làm rõ nội dung này

Cơ chê'khuyến khích thực hiện kinh tếtuần hoàn

Điều 162 Dự thảo quy định về các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện nền kinh tê' tuần hoàn Tuy nhiên, các quy định này chưa rõ ràng, cụ thể để doanh nghiệp xác định được cách thức nhận các hỗ trợ này, chẳng hạn: Điều 162.1.a quy định thực hiện chuyển giao công nghệ để thực hiện kinh tê' tuần hoàn Làm thế nào để doanh nghiệp có thể nhận được thông tin về cơ hội chuyển giao các công nghệ này, và điều kiện như thê' nào để nhận chuyển giao? Điều 162.1 b quy định hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi với hoạt động sản xuất, kinh doanh, liên kết trong thực hiện kinh tế tuần hoàn Tuy nhiên, không rõ các biện pháp hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi này là gì? vấn đề tương tự với Điều 162.1.Ơ; 162.2; 162.3 Dự thảo Điều 162.1 e quy định việc giảm tần suất thanh, kiểm tra với các cơ sở áp dụng kinh tê' tuần hoàn Tuy nhiên, cơ sở nào để xác định mức độ “giảm” tần suất của các cuộc thanh, kiểm tra do pháp luật chưa

có cụ thể về vấn đề này, trong khi việc thanh kiểm tra lại thuộc thẩm quyền của nhiều cơ quan nhà nước khác nhau Ngoài ra, cơ sở nào để xác định một cơ

sở đã àp dụng kinh tê' tuần hoàn hay không? Đề nghị

bổ sung quy định làm rõ các nội dung trên

Công khai thông tin môi trường

Điều 123 Dự thảo quy định trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc thực hiện công khai các thông tin về kết quả quan trắc nước thải, bụi, khí thải công nghiệp Tuy nhiên, theo phản ánh của các doanh nghiệp, các dữ liệu này đã được báo cáo hoặc chuyển về cho các cơ quan QLNN về môi trường

Do vậy, đề nghị sửa đổi quy định theo hướng cơ quan nhà nước là đầu mối tập hợp và thực hiện công khai các nội dung này.B

Tài nguyên và Môi trương

Kỳ 1 - Tháng 9/202’

Ngày đăng: 29/10/2022, 21:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w