1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Báo cáo đánh giá tác động môi trường nhà máy thủy điện sông Bung

305 1,7K 12
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo đánh giá tác động môi trường Nhà máy Thủy điện Sông Bung
Trường học Trường Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Môi trường và Bảo tồn Thiên nhiên
Thể loại Báo cáo đánh giá tác động môi trường
Năm xuất bản 2007
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 305
Dung lượng 8,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo đánh giá tác động môi trường nhà máy thủy điện sông Bung

Trang 1

Asian Development Bank

Electricity of Vietnam

TA 4625-VIE Song Bung 4 Hydropower Project

Trang 2

ASIAN DEVELOPMENT BANK ELECTRICITY OF VIETNAM

TA 4625-VIE Song Bung 4 Hydropower Project, Phase II

FINAL REPORT

ENVIRONMENTAL IMPACT ASSESSMENT (EIA)

January 2007

Trang 3

Tài liệu này được dịch từ nguyên bản tiếng Anh nhằm phục vụ đông đảo bạn đọc Trong khi Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đã cố gắng xác định tính chính xác của bản dịch, tiếng Anh vẫn là ngôn ngữ chính của ADB và chỉ có nguyên bản tiếng Anh của tài lieụe này mới đáng tin cậy (nghĩa là chỉ nguyên bản tiếng Anh được chính thức công nhận và có hiệu lực) Bất cứ trích dẫn nào cần phải dựa vào nguyên bản tiếng Anh của tài liệu này

This document has been translated from English in order to reach a wider audience While the Asian Development Bank (ADB) has made efforts to verify the accuracy of the translation, English is the working language of ADB and the English original of this document is the only authentic (that is, official and authoritative) text Any citations must refer to the English original of this document

Trang 4

1 Giới thiệu

1.1 Giới thiệu về báo cáo ĐTM của Dự án

Dự án thủy điện Sông Bung 4 nằm ở phía thượng nguồn sông Vũ Gia thuộc huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam, thuộc miền Trung Việt Nam Sông chảy xuôi ra biển và gặp biển tại Đà Nẵng Vị trí của

Dự án được mô tả trên bản đồ trong Hình 1.1 Dự án gồm có đập, hồ chứa và nhà máy thủy điện 156

MW Lưu vực của Dự án rộng 1,477 km2 Phía nam của lưu vực là một phần của khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Sông Thanh, một phần nhỏ của khu BTTN này bị trực tiếp ảnh hưởng bởi hồ chứa Dự

án nằm trong khu vực hành lang bảo tồn sinh học được được xác nhận bởi Hội nghị thượng đỉnh các nước tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng năm 2005

Hình 1.1 Vị trí của công trình thủy điện Sông Bung 4

Hợp đồng dịch vụ tư vấn cho việc chuẩn bị Dự án đầu tư được kỹ giữa ADB và công ty tư vấn

SWECO International ngày 3/11/2005 Báo cáo Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là một phần của tài liệu chuẩn bị Dự án Dự án được đánh giá là Dự án loại A theo các tiêu chính đánh giá về môi trường của ADB

Nhóm công tác thực hiện Báo cáo ĐTM của công ty tư vấn SWECO International gồm những thành viên được liệt kê trong Bảng 1.1

Bảng 1.1 Nhóm lập Báo cáo ĐTM của công ty tư vấn SWECO International

Trang 5

Vị trí Tên

Tư vấn quốc tế

Chuyên gia lập kế hoạch về môi trường - Nhóm

Chuyên gia về sinh thái cạn/ rừng Shivcharn S Dhillion

Chuyên gia tư vấn trong nước

Chuyên gia lập kế hoạch về môi trường - Nhóm

trưởng các chuyên gia tư vấn trong nước

Đặng Kim Nhung

Chuyên gia về động vật Nguyễn Quang Trường

Kỹ sư mỏ Phạm Thái Nam

1.2 Mục tiêu

Mục tiêu chính của Hỗ trợ kỹ thuật chuẩn bị Dự án (PPTA) (4625-VIE) này là chuẩn bị để ADB tài trợ

tài chính cho dự án thủy điện Sông Bung 4 tại tỉnh Quảng Nam, thuộc miền Trung Việt Nam Mục tiêu

của Báo cáo ĐTM theo như Điều kiện tham chiếu của PPTA là xem xét lại báo cáo ĐTM do Công ty

tư vấn xây dựng điện 3 lập cho Dự án trong giai đoạn lập Báo cáo nghiên cứu khả thi (ECC3 2005A),

và chuẩn bị, cập nhật báo cáo ĐTM tuân thủ Chính sách môi trường và Hướng dẫn về đánh giá tác

động môi trường của ADB cũng như phù hợp với các yêu cầu của Việt Nam

1.3 Phạm vi công việc và những hạn chế

Phạm vi công việc của Điều kiện tham chiếm (TOR) được ghi đầy đủ trong PPTA, những vấn đề chi

tiết đã được phản ánh chi tiết trong Báo cáo ban đầu của Dự án này

Những thành phần chính của Báo cáo này bao gồm:

• Soát xét báo cáo EIA hiện có;

• Soát xét những báo cáo và các tài liệu liên quan;

• Gặp gỡ các cơ quan quản lý nhà nước, các viện nghiên cứu để thu thập số liệu và thực hiện vịêc

soát xét Danh mục những cơ quan, cá nhân đã gặp trong quá trình soát xét được trình bày tại Phụ

lục xx;

• Thực hiện những nghiên cứu cần thiết để bổ sung cho các nghiên cứu trước đây để thỏa mãn

những yêu cầu đặc biệt của TOR;

• Tổ chức tham vấn cộng đồng và các hoạt động công bố thông tin cho khu vực bị ảnh hưởng bởi

Dự án;

• Chuẩn bị các báo cáo kỹ thuật, Báo cáo ĐTM chính và Báo cáo ĐTM tóm tắt phù hợp với các yêu

cầu của ADB

Trang 6

Các nghiên cứu thực địa, phần mô tả điều kiện nền của dự án và đánh giá tác động môi trường được dựa trên những mô tả kỹ thuật của Dự án được Ban QLDA thủy điện 3 cung cấp cho Nhóm chuyên gia

tư vấn vào tháng 1/2006 Phần mô tả chung về Dự án trong khu vực được đánh giá được trình bày tại Chương 2 Các công tác nghiên cứu hiện trường chủ yếu được thực hiện từ tháng 2 đến tháng 3 năm

2006

Những nhận định, khuyến nghị trong Gian đoạn nghiên cứu thứ nhất về tài nguyên nước, những vấn

đề xã hội, môi trường của PPTA (Bird và cộng sự 2005), đã cung cấp những số liệu đầu vào quan trọng cho báo cáo ĐTM này

Những biện pháp giảm thiểu, công tác quan trắc được khuyến nghị trong Báo cáo ĐTM này đã được thảo luận với ADB và EBN Chương trình quản lý môi trường và kinh phí thực hiện đã được EVN xác nhận, cam kết thực hiện trong tháng 8/2006

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Hệ sinh thái thủy sinh và chất lượng nước

Việc đánh giá tác động của hoạt động khai thác vàng đến chất lượng nước, chất lượng của trầm tích, của các mô cá được thực hiện trong khu vực dự án như là một phần của nghiên cứu về chất lượng nước trong quá trình lập ĐTM Để làm sáng tỏ hơn tác động của việc khai thác mỏ Nhóm chuyên gia

tư vấn đã thực hiện thêm những nghiên cứu về các chỉ tiêu chất lượng nước nói chung, tác động của các họat động khác của con người như các khu dân cư, các hoạt động nông nghiệp v.v Việc khảo sát sinh thái thủy sinh được thực hiện trên sông Vũ Gia- Thu Bồn, nghiên cứu này đã thực hiện việc lấy mẫu cho hầu như tất cả những nhóm sinh vật chính: thực vật nổi, các loài rêu, động vật nổi, động vật đáy và cá Đối với nhóm các sinh vật bậc thấp, nhóm chuyên gia tư vấn thực hiện việc lấy mẫu thực tế Nghiên cứu về cá chủ yếu dựa vào việc phỏng vấn những người đánh cá, người dân địa phương sử dụng cá Việc thực hiện lấy mẫu cá cũng được thực hiện tại nơi các nhánh sông giao nhau để tìm hiểu

kỹ hơn những loài cá có kích thước nhỏ

Hệ sinh thái cạn

Khu vực dự án thủy điện Sông Bung 4 được chia thành những khu vực nghiên cứu riêng biệt để có thuận tiện cho việc đánh giá môi trường, được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2006 Phần thực vật được thực hiện bằng cách quan sát tại hiện trường, kiểm kê các giống, loài theo các ô lấy mẫu, theo các trục lấy mẫu, phỏng vấn nhân dân địa phương và dựa vào những tài liệu đã có trước đó Những loài hoang dã được thống kê trong những chuyến khảo sát hiện trường, theo các lối đi và những dấu vết trong rừng, phỏng vấn nhân dân địa phương, những người có trách nhiệm chủ chốt trong việc cung cấp thông tin tại các bản, và dựa vào những nghiên cứu trước đó Ngoài ra việc khảo cứu những phần xương (chủ yếu là sừng và xương sọ động vật) còn lưu giữ lại tại các hộ hoặc đang được bán trên thị trường, trong các quán ăn cũng được thực hiện Nhóm công tác cũng gặp gỡ các cán bộ làm trong bộ máy chính quyền tỉnh, huyện để phỏng vấn Phần lưu vực cũng được nghiên cứu và cân nhắc nhiều do chúng đóng vai trò là các khu cư trú của động vật di chuyển trên toàn khu vực cảnh quan cũng như chúng cung cấp những nhận định chung nhất về hệ thống rừng tồn tại trong khu vực

Khai thác mỏ

Những nguồn tài nguyên khoáng sản có tiềm năng khai thác đã được nghiên cứu trong toàn bộ lưu vực của Dự án thủy điện Sông Bung 4 Các họat động khai thác mỏ hiện nay, xác định các khu vực đã khai thác xong cũng được nghiên cứu trong luôn khổ báo cáo ĐTM Các báo cáo về vấn đề địa chất, các bản đồ đã được soát xét cùng với các thông tin về cơ sở dữ liệu địa chất đã được xem xét để đưa ra được bức tranh tổng thể về các nguồn tài nguyên khoáng sản trong khu vực Nhóm chuyên gia tư vấn

đã tiến hành gặp gỡ các cán bộ của chính quyền tỉnh, chính quyền huyện, phỏng vấn với đại diện cơ quan hành chính địa phương, dân bản và các thợ đào vàng Nhóm tư vấn đã tiến hành khảo sát, thăm hiện trường tất cả các vị trí đang khai thác mỏ cũng như thăm một số các khu vực có tiềm năng khai thác khác Thông tin thu thập được qua quá trình khảo sát, việc soát xét các số liệu hiện cứ, các bản

đồ, các báo cáo đều được kiểm tra, kiểm chứng tại thực địa

Trang 7

Hướng dẫn về đường giao thông

Những kinh nghiệm về xây dựng và bảo dưỡng đường trong khu vực được thu thập lại, cùng với những kinh nghiệm làm đường nói chung tại những khu vực đồi, núi Các đại diện của cơ quan quản lý đường giao thông trong vùng, các công ty chịu trách nhiệm bảo dưỡng đường 14D đã được phỏng vấn Những tài liệu hiện có được thu thập và soát xét

Vấn đề xã hội

Những vấn đề xã hội được đánh giá trong một nghiên cứu riêng trong khuôn khổ Dự án, được báo cáo lại trong Báo cáo về tái định cư và kế hoạch phát triển dân tộc thiểu số (REMDP) Những vấn đề khác nhau giữa các nghiên cứu về môi trường và xã hội được kết nối lại và những nét chính về các vấn đề

xã hội được đưa ra tại phần 3.2 và phần tóm tắt các tác động xã hội tại phần 5.2

Nhiệm vụ đặt ra đối với các nghiên cứu về xã hội là đánh giá các điều kiện hiện nay, điều kiện nền của đời sống nhân dân trong vùng Dự án, các tác động có thể có của Dự án gây ra đối với cuộc sống của

họ, hệ thống thực phẩm hỗ trợ và các điều kiện khác về văn hóa và xã hội Khu vực Dự án và những nghiên cứu tiếp theo được chia thành 3 khu vực bị tác động, mỗi một khu vực được đề cập rất chi tiết trong Báo cáo REMDP: 1) Khu vực tái định cư cho nhân dân thuộc vùng hồ chứa; 2) Khu vực công trình của Dự án; 3) Khu vực hạ lưu

Cách tiếp cận có sự tham vấn các bên liên quan được áp dụng trong tất cả quá trình thu thập thông tin Phương pháp chính trong quá trình thu thập thông tin, số liệu về xã hội bao gồm: khảo sát các số liệu

về kinh tế hộ goa đình, về công tác đánh bắt cá; họp nhóm các đại diện của nhân dân địa phương; họp tham vấn ý kiến cộng đồng tại các bản; phỏng vấn một số cá nhân chủ chốt trong bản và chính quyền xã; phỏng vấn đại diện các cơ quan trên địa bàn khu vực Dự án, các bộ, ngành, cơ quan đại chúng tại các cấp xã, huyện, tỉnh; lập bản đồ về những địa điểm có các tài nguyên về văn hóa, lịch sử, sinh cảnh, các khu dân cư hiện nay tại khu vực dự án; và thực hiện các chuyến tham quan thực địa

Những thông tin chi tiết về các báo cáo xã hội có thể được xem trong Báo cáo REMDP- tập1 -

Chương 4

Tham vấn các bên liên quan

Ngoài việc tham vấn ý kiến dân bản, các hộ gia đình, Nhóm chuyên gia về xã hội học còn thực hiện việc phỏng vấn một số đại diện của đồng bào bị ảnh hưởng và tổ chức 3 cuộc hội thảo để tham vấn các bên liên quan về nội dung của Báo cáo đánh giá tác động môi trường Hội thảo thứ nhất thực hiện trước khi triển khai các nghiên cứu thực địa, hội thảo thứ hai tổ chức sau khi đã thực hiện gần xong hết các khảo sát thực địa và hội thảo thứ ba tổ chức sau khi nghiên cứu hoàn tất và thông báo cho các đại biểu biết về những tác động xác định được và các biện pháp giảm thiểu khuyến nghị thực hiện

1.5 Tổng quan vấn đề

1.5.1 Việt nam

Nước Việt Nam có chiều dài 1.600 km chạy dọc theo bờ phía đông của Bán đảo Đông dương với diện tích gần 330.000 km2 Dân số của Việt Nam trong năm 2001 được ước tính khoảng gần 80 triệu dân, là nước có dân số đông thứ 13 trên thế giới Khoảng 80% dân số Việt Nam là người dân tộc Kinh, số còn lại gồm khoảng 50 dân tộc thiểu số với ngôn ngữ khác nhau Việt Nam là nước nông nghiệp với 80% dân số sống ở vùng nông thôn, hoàn toàn phụ thuộc vào sản phẩm trồng trọt, cấy hái của họ Tổng thu nhập trên một đầu người của Việt Nam đang nàgy càng được tăng trưởng ở mức xấp xỉ 500 USD/ năm, tốc độ tăng trưởng hàng năm khoảng 6%

Ba phần tư diện tích của Việt Nam là đất đồi, núi, tài nguyên nước của Việt Nam rất nhiều ước tính khoảng 880 tỷ m3 Việt nam có khí hậu nhiệt đới, nóng, ẩm và mưa nhiều do vậy chúng ảnh hưởng rất nhiều đến khối lượng và sự phân bổ nước Lượng mưa phân bố rất không đều, thường gây ra nạn lũ lụt hàng năm Lượng mưa trung bình năm đạt 2.000 mm Lượng mưa hầu hết tập trung vào tháng 5 đến tháng 11, trong thời gian này lưu lượng dòng chảy năm đạt từ 70% đến 75% Địa hình đồi núi và tài nguyên nước dồi dào là tiềm năng lớn để phát triển thủy điện, đáp ứng nhu cầu điện năng cho vieejc phát triển bền vững của đất nước Tuy vậy, những sự phát triển này cũng còn góp phần cung cấp nước cho các hoạt động nông nghiệp, hạn chế nạn lũ lụt Lưu vực sông Vũ Gia- Thu Bồn nằm trong khu vực

Trang 8

miền trung Việt Nam, sông đổ ra biển Đông tại khu vực gần thành phố Đà Nẵng Đây là lưu vực có tiềm năng thủy điện rất đáng kể Công trình thủy điện Sông Bung thuộc phần lưu vực của hệ thống sông của tỉnh Quảng Nam

1.5.2 Tỉnh Quảng Nam

Quảng Nam là một tỉnh miền trung của nước Việt Nam có tọa độ địa lý tại 14057' - 16005' độ vĩ Bắc

và 107012' – 108045' độ Đông Tỉnh Quảng Nam giáp tỉnh Thừa Thiên- Huế và thành phố Đà Nẵng ở phía Bắc; giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ở phía tây; giáp tỉnh Quảng Ngãi và vùng duyên hải tại phía đông Diện tích của Quảng Nam là 10.408,78 km² , tỉnh có 15 huyện và hai thị trấn Dân số tính đến cuối năm 2004 đạt 1.438.818 người, mật độ dân số trung bình là 138 người/km² và tốc độ gia tăng dân số hàng năm là 12.85% Quảng Nam là một tỉnh nghèo với GDP đạt 5.991.177 triệu đồng Trong đó 35,66% là nguồn thu từ nông nghiệp và lâm nghiệp; 30.19% là từ sản xuất công nghiệp; 34,15% từ thương mại

Mười hai trong số 15 huyện đều có sự che phủ của rừng Sáu huyện được xếp loại là huyện miền núi, bốn huyện được coi là huyện cao nguyên, năm huyện và hai thành phố nằm dọc theo bờ biển Quảng Nam có đường bờ biển dài 125 km Tại Quảng Nam có bảy nhóm người dân tộc thiểu số, người Kinh chiếm đa số và chủ yếu sống ở vùng đồng bằng hoặc miền cao nguyên, ngoài ra họ sống rải rác trên toàn tỉnh Dân tộc chiếm số dân lớn thứ hai trong tỉnh là người Cà Tu, sau đó là người Xơ Đăng, những người này rất giống những người Cà Dông; tiếp theo là người M’Nông; người Gié Triêng, những người này rất giống người Tà Riêng và cuối cùng là người Co

Quảng Nam có độ ẩm rất cao, khí hậu nhiệt đới với hai mùa nóng, khô kéo dài từ tháng Tư đến tháng Tám; mùa nóng và ẩm kéo dài từ tháng Chín đến tháng Mười Hai và mùa mát mẻ, khô ráo từ Tháng Một đến Tháng Ba Nhiệt độ trung bình năm tại Tam Kỳ năm 2003 đạt 26 ºC trung bình dao động từ 21,2ºC trong Tháng Một đến 29,3 vào Tháng Sáu Độ ẩm thay đổi theo từng khoảng thời gian trong năm, đạt mức trung bình năm là 84% tại Tam Kỳ và 88% tại Trà My Lượng mưa đạt 2,072 mm tại Tam Kỳ và đạt 3,931mm tại huyện Trà My trong năm 2003, phần lớn lượng mưa này chủ yếu tập trung giữa Tháng Tám và Tháng Mười Hai Khi lượng mưa vượt quá 2.000 mm/năm, nhiều vùng đất thấp của tỉnh Quảng Nam sẽ bị ngập lụt

Phía Bắc tỉnh Quảng Nam là núi Bạch Mã - Hải Vân; Phía đông là vùng núi Annamite (???); Cao nguyên Kon Tum có một phần nhỏ ăn vào phía nam của tỉnh Quảng Nam, với đỉnh núi cao Ngọc Linh (2.598 m a.s.l.) và ăn liền vào dãy núi rộng hơn ở phía nam của tỉnh Tỉnh Quảng Nam có ba mặt giáp với núi, một mặt là bờ biển, phần lớn diện tích của tỉnh là lưu vực của sông Thu Bồn Dòng sông Thu Bồn rộng lớn chia tỉnh Quảng Nam thành hai phần: phần lưu vực sông Thu Bồn (diện tích 3,350 km2) thu nước của phần phía nam của tỉnh, bao gồm cả khu vực núi Ngọc Linh; phần hệ thống sông Vũ Gia (rộng 5,500 km2) thu nước từ các huyện phía bắc, phía tây, sông Cái và sông Bung, các sông này hợp lưu với sông Thu Bồn ở huyện Đại Lộc Một hệ thống thu nước nhỏ; Tam Kỳ (800 km2), nằm tại phía đông nam tỉnh và thu nước tại vùng duyên hải thuộc huyện Thanh Bình, Tam Kỳ và Núi Thành Trên vùng duyên hải có rất nhiều sông lớn, nỏ chảy rất chậm, một số chỗ tạo thành những đầm, phá Tất cả tạo thành hệ thống sông Vũ Gia- Thu Bồn và mở rộng vùng đất bằng phẳng, thấp tạo ra hàng năm sau những cơ lũ lớn trong năm vào mùa mưa

Quảng Nam nằm trong khu vực địa động vật bị ảnh hưởng bởi vùng Ấn độ và Mã Lai (theo Corbet và Hill,1992) và theo đánh giá của MacKinnon (1997) đây là một bộ phận của núi Mã (dãy núi miền Trung Việt Nam) Trên quy mô tòan cầu, các quá trình môi trường của Quảng Nam thuộc về vùng từng rậm nhiệt đới ẩm Anamite (Olson & Dinnerstein, 1998) Với quy mô vùng, một phần của tỉnh có

3 vùng sinh thái, đó là Vùng đồng bằng phía Bắc Việt Nam, Rừng mưa nhiệt đới vùng đất thấp, Vùng rừng khô phía nam Việt nam và Rừng mưa trên núi cao tại miền Nam

Số liệu thống kê của tỉnh cho đánh giá 539.869 ha của tỉnh Quảng Nam là đất rừng, trong đó có 173.414 ha rừng sản xuất; 288.420 ha rừng phòng hộ và 78.035 ha là rừng đặc dụng Rừng tự nhiên của Quảng Nam là rừng thường xanh, cây lá rộng với thành phần và cấu trúc phụ thuộc nhiều vào cao

độ, hướng và độ ẩm Lượng mưa thay đổi tùy vào các địa điểm khác nhau của tỉnh, nhưng nhìn chung dao động từ mức trung bình đến cao Do vậy mà các khu rừng ở những khi đất thấp có mặt tại Khu vực vùng sinh thái rừng đất thấp, khô lại có độ ẩm rất cao, ngay cả tại những khu chuyển tiếp giữa

Trang 9

rừng thường xanh và rừng bán thường xanh (Tordoff và cộng sự., 2003) 110.958 ha diện tích của Quảng Nam là đất nông nghiệp, trong số đó 87.248 ha là cây trồng hàng năm (kể cả lúa, đất trồng cỏ

để chăn nuôi) và 23.710 ha trồng cây lưu niên

1.5.3 Rừng và đa dạng sinh học tại Việt Nam

Rừng của Việt Nam là rừng nhiệt đới ẩm, có rất nhiều loài chiếm ưu thế, có rất nhiều số lượng loài thực vật và động vật, kể cả vi sinh vật Do các tác động phá hoại của chiến tranh cũng như tác động của chiến lược phát triển kinh tế trước đây còn thiếu những cân nhắc về vấn đề bảo vệ môi trường, những khu rừng này đã bị tàn phá một cách nặng nề Mức độ che phủ rừng giảm từ 43% trong năm

1943 đến 33% vào năm 1976 và chỉ còn 27% trong năm 1990 Từ năm 1994, do kết quả của Chương trình trồnh rừng quốc gia số "327" , chính sách của Nhà nước về giao đất, giao rừng cho dân cùng với những chính sách bảo vệ tốt hơn nên tỷ lệ che phủ rừng đã dần tăng trở lại, đạt mức 28,8% trong đầu năm 1999 Nhiệm vụ đặt ra là đạt độ che phủ của rừng đến 45% đến hết năm 2010 thông qua Chương trình trồng lại 5 triệu ha rừng

Việt Nam được biết đến với mức độ đa dạng sinh học rất cao và đặc biệt cả về thực vật và động vật Việt Nam được coi như là một trong số 10 trung tâm đa dạng sinh học của Thế giới Tuy vậy, những hiểu biết về thực vật ở Việt nam còn rất ít do mới chỉ có những điều tra thực vật chưa được đầy đủ thực hiện từ thế kỷ trước Hệ thực vật của Việt Nam ước tính có đến 12.000 loài thực vật cao có mạch Những nghiên cứu gần đây nhất cho biết có khoảng 10.000 loài thực vật bậc cao là loài bản địa thuộc

2260 giống và 307 họ; và có khoảng 750 loài du nhập và loài được trồng cấy (theo Phan Kế Lộc và cộng sự, 1998) Đối với thực vật, có 15 giống và hơn 200 loài được tìm thấy trong vòng 12 năm vừa qua (theo Phan Kế Lộc và cộng sự, 2005) Sự đa dạng về các điều kiện môi trường, điều kiện khí hậu, đất đai, cảnh quan, địa hình cùng với lịch sử địa chất lâu đời đã tại nên tính đa dạng sinh học cao cho thực vật sống ở khu vực này Hầu hết số loài thực vật ở Việt Nam là các loài bản địa, trong số đó có ít nhất từ 10 % đến 20% là loài đặc hữu (theo Averyanov và các cộng sự, 2003) Thực vật sống tại những khu vực rừng tái sinh là những loài phân bố tại những nơi còn ít có sự can thiệp của con người,

ít có giá trị như thực phẩm bổ sung và giá trị kinh tế không cao chiếm đại đa số các loài thực vật Có

356 loài thực vật, hầu hết là thực vật có mạch bậc cao được biết đến như là những loài bị đe dọa và có trong danh mục Sách đỏ của Việt Nam (1996) Số lượng thực vật bậc cao, có mạch có ở khu vực này tương đương với vùng rừng trên đất thấp thuộc tỉnh Quảng Nam, lên tới con số từ 1200-2000 loài Trong những năm qua Việt Nam được biết đến nhiều vì có nhiều loài động vật có vú đã được phát hiện mới tại Việt Nam Ông Đặng Huy Huỳnh và các cộng sự đã ghi nhận sự có mặt của 223 loài động vật có vú Từ năm 1992 đến 2003, có ba loài động vật kích thước lớn và ít nhất năm loài động vật nhỏ được thế giới công nhận là loài mới phát hiện từ Việt Nam (đó là các loài Pseudoryx nghetinhensis, Muntiacus vuquangensis, Muntiacus truongsonensis, Muntiacus puhoatensis, Viverra tainguensis Lê

Vũ Khôi (2000) soát xét và cập nhật danh sách có đến 289 loài và các loài phụ (subspecies) của động vật tại Việt Nam Tổng số các loài chim là 850 loài (theo Nguyễn Cư và các cộng sự, 2000) Danh mục các loài bò sát gồm có 458 loài gồm 162 loài lưỡng cư và 296 loài bò sát (theo Nguyễn Văn Sáng

và cộng sự, 2005) Theo báo cáo gần đây thì ở đây có 106 loài bướm Những báo cáo hoàn chỉnh hơn hiệu nay vẫn đang được thực hiện, sau khi những nghiên cứu này được thực hiện xong chúng ta sẽ có con số chắc chắn về số loài tăng lên như được ghi nhận

Hệ sinh thái thủy sinh tại Việt Nam rất phong phú về thực vật và động vật Cho đến nay ở Việt Nam ghi nhận được sự có mặt của 1.402 loài tảo, 782 loài động vật không xương sống (bao gồm 48 loài giáp xác, 53 loài tôm, 141 loài sò, hến và 544 loài cá nước ngọt)

1.5.4 Những nguy cơ đối với tài nguyên và sinh kế vùng nông thôn

Sinh cảnh của Việt Nam đã và đang chịu ảnh hưởng lớn của sự phá rừng (mặc dù đã có những kế hoạch tái trồng rừng, phục hồi tương đối lớn đang được thực hiện) Sinh cảnh bị tàn phá do những nguyên nhân sau đây: lượng dân số quá lớn; sự tàn phá trực tiếp của chiến tranh; không có sự quản lý rừng hợp lý cũng như do những hiện tượng tự nhiên như bão gây ra Tất cả những nguyên nhân này gây ra những áp lực đến môi trương, ví dụ như suy thoái hiệu quả, lợi ích của thiên nhên (giảm tính sản xuất của rừng), làm suy thoái các dịch vụ sinh thái (ví dụ như gây xáo động, gây ô nhiễm rừng, các khu đầm lầy) và gây suy giảm đa dạng sinh học Tầm quan trọng của việc bảo vệ nguồn nước thông

Trang 10

qua việc phục hồi rừng đầu nguồn và bảo tồn các hệ thống sông là rất lớn và càng ngày càng phát triển Nước cần cho việc tưới tiêu đất đai dưới hạ du, dùng cho phát điện, sử dụng cho các mục đích dân dụng và công nghiệp của địa phương Thêm vào đó, việc quản lý hợp lý rừng đầu nguồn sẽ hạn chế được những ảnh hưởng của lũ lụt, hạn hán và cung cấp được sinh kế cho một số lớn những nhóm người dân tộc thiểu số sống trên vùng núi cao

Những nguyên nhân chính gây ra suy thoái môi trường tự nhiên là: công nghiệp hóa, đô thị hóa, phát triển nông thôn, phát triển nông nghiệp, khai thác, phát triển các nguồn tài nguyên thiên nhiên như năng lượng, khoáng sản, nước; và sự phát triển của các ngành như giao thông và du lịch Liên quan đến những sự phát triển này, những vấn đề môi trường chính cần được Việt Nam tiếp tục quan tâm là: suy thoái rừng; mất mát tính đa dạng sinh học; suy thoái đất; ô nhiễm nước; và quản lý chất thải Những công việc mà Việt Nam phải làm để bảo vệ môi trường một cách bền vững là: phát triển, hình thành và truyền bá hệ thống quy định về bảo vệ môi trường và kế hoạch hành động; giám sát môi trường và kiểm soát ô nhiễm; và xây dựng, củng cố hệ thống thể chế cho công tác quản lý môi trường

1.6 Quy định pháp luật và hệ thống các cơ quan về môi trường

1.6.1 Quy định về môi trường

Luật Bảo vệ Môi trường (LEP) đầu tiên của Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 1993 và có hiệu lực từ ngày 10/1/1994, với sự hướng dẫn thực hiện của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường trước đây Vào năm 2002, Bộ KHCN &MT (KHCN) tách làm hai bộ mới là Bộ Khoa học, Công nghệ (MOST) và Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN &MT), hiện nay Bộ TN&MT chịu trách nhiệm quản lý

về các vấn đề môi trường Luật Môi trường cập nhật và sửa đổi được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua tháng 6 năm 2006 Luật quy định việc bảo vệ môi trường cùng với việc bảo vệ sức khỏe con người, phục vụ cho sự phát triển bền vững của đất nước, góp phần bảo vệ môi trường trong khu vực và trên toàn cầu Luật Bảo vệ môi trường đưa ra khung pháp lý chung cho công tác quản lý và bảo vệ môi trường tại Việt Nam, vai trò quan trọng đầu tiên là của Bộ TN &MT Cục Bảo vệ môi trường (VEPA) là cơ quan hỗ trợ Bộ Tài nguyên và Môi trường, hay còn được hiểu là cơ quan thực hiện việc quản lý môi trường chung tại Việt Nam Bên cạnh Cục Môi trường còn có các Cục, Vụ, phòng ban chuyên môn tại các Bộ, các viện nghiên cứu, các tổ chức phi chính phủ, cơ quan đoàn thể cấp tỉnh, các tổ chức nghiên cứu cùng tham gia vào công tác quản lý

Ngoài ra còn có một số các bộ Luật khác cũng có ý nghĩa quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên thiên nhiên Bên cạnh Luật Bảo vệ môi trường, các chương trình, kế hoạch về quản lý môi trường là Kế hoạch quốc gia về Môi trường và phát triển bền vững, 1991-2000 (1991), Chương trình hành động quốc gia về Đa dạng sinh học (1995) cũng như Chương trình hành động về rừng nhiệt đới Cùng với những chương trình nói trên, Nhà Nước còn ban hành nhiều Luật, quy định liên quan đến công tác bảo vệ môi trường như: Luật về Phát triển và Bảo vệ rừng (1991); Luật về bảo vệ sức khỏe của nhân dân (1989); Luật về sử dụng đất (1993); Luật về dầu và dầu khí; Luật về tài nguyên khoáng sản (1996); Luật Tài nguyên nước (1998); Luật hình sự (1999); Pháp lệnh

về bảo vệ đê điều (1989); Pháp lệnh về thuế tài nguyên (1989); Pháp lệnh về bảo vệ các nguồn tài nguyên thủy sinh (1989); Pháp lệnh về kiểm soát và an toàn phóng xạ (1996); Pháp lệnh về kiểm dịch

và bảo vệ thực vật (1993) Cùng với những văn bản pháp luật này còn có nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện luật do Chính phủ, Bộ TN &MT và các Bộ liên quan khác ban hành

1.6.2 Xây dựng và triển khai chiến lược bảo vệ môi trường

Các chính sách cho phát triển bền vững tại Việt Nam lần đầu tiên được trình bày một cách có hệ thống tại “Chương trình quốc gia cho môi trường và phát triển bền vững, 1991-2000” đã được Nhà nước thông quan năm 1991 Từ đó đến nay Chính phủ đã phổ biến hàng loạt các chính sách cho công tác bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, như chính sách giao đất, giao rừng cho nhân dân; chính sách phủ xanh đất trống, đồi núi trọc; chính sách về sản xuất sạch hơn; chính sách về bảo vệ đa dạng sinh học; chính sách đóng cửa rừng tự nhiên; chính sách về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường tại các vùng nông thôn; và các chương trình giảm thiểu việc gia tăng dân số v.v Trong năm 2003, Bộ

Trang 11

TN &MT đã xây dựng “Chiến lược quốc gia về bảo vệ môi trường đến năm 2010 có xét đến triển vọng năm 2020” Các tỉnh, các thành phố cũng xây dựng chiến lược bảo vệ môi trường cho địa phương mình đến năm 2010 Gần đây nhất, dự thảo Luật về Đa dạng sinh học đã được Cục Bảo vệ môi trường thuộc Bộ TN &MT chuẩn bị

Liên quan đến phát triển bền vững có bốn chính sách và kế hoạch cần được đề cập: Chiến lược bảo tồn quốc gia Năm 1985 dự thảo Chiến lược bảo tồn quốc gia đã được xây dựng Chiến lược đã chỉ ra những nguyên tắc, biện pháp để xây dựng thói quen, cách nghĩ về công tác bảo tồn trong người dân Việt Nam Cho đến nay Chiến lược quốc gia về bảo tồn vẫn chưa được thông qua như văn bản chính sách chính thức Thay vào đó, năm 1990, Chương trình quốc gia về môi trường và phát triển bền vững được xây dựng Chương trình này được Chính phủ thông qua ngày 12/7/1992, cho đến ngày nay nó vẫn là văn bản chính sách chính thức của Nhà nước về môi trường Mục đích rộng hơn của Chương trình này là giải quyết những vấn đề do Chiến lược quốc gia và Kế hoạch hành động về bảo vệ môi trường Tiếp theo Chương trình quốc gia về môi trường và phát triển bền vững, năm 1995 Bộ Khoa học và Công nghệ với sự trợ giúp của Ngân hàng Thế giới và Cơ quan phát triển quốc tế Canada với

sự hỗ trợ kỹ thuật của Viện nghiên cứu quốc tế đã xây dựng Chương trình hành động môi trường quốc gia Báo cáo này chưa bao giờ được thông qua một cách chính thức và cũng chưa bao giờ được in ra như một văn bản chính thức Kế hoạch hành động về đa dạng sinh học, một kế hoạch hành động khác được chuẩn bị năm 1993, 1994 sau khi Việt Nam phê chuẩn Công ước về Đa dạng sinh học Kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học được xây dựng trên cơ sở Chiến lược quốc gia về Đa dạng sinh học và Chiến lược quốc gia về môi trường và phát triển bền vững Kế hoạch hành động quốc gia

về đa dạng sinh học bổ sung thêm thông tin và đưa ra phạm vi tổng hợp rộng hơn cho các hành động

và các dự án ưu tiên thực hiện Kế hoạch này được Nhà nước phê duyệt ngày 22/10/1995

1.6.3 Kiểm soát và giám sát môi trường

Từ năm 1994, sau khi Luật Môi trường có hiệu lực, hàng loạt những nỗ lực đáng kể đã được các cơ quan chức năng thực hiện để kiểm soát ô nhiễm không khí, nước, nước biển và đất; để quản lý và xử

lý các chất thải rắn, nhất là chất thải nguy hại; để làm việc với những đơn vị sản xuất kinh doanh là đối tượng gây ô nhiễm; và có những ứng cứu kịp thời với các sự cố môi trường như sự cố tràn dầu ra biển Báo cáo đánh giá tác động môi trường được lập cẩn thận cho các dự án phát triển cũng như cho những

cơ sở sản xuất đã họat động trước khi Luật Bảo vệ môi trường có hiệu lực Việc giám sát môi trường được thực hiện tại cấp tỉnh cũng như cấp Nhà nước

Mạng lưới quan tắc môi trường quốc gia lúc đầu được thành lập năm 1994 và được Bộ Khoa học, Công nghệ quản lý Đến năm 1999, mạng lưới này có 19 trạm chịu trách nhiệm quan trắc môi trường tại 63 vị trí, với tần suất 3 tháng/lần (một năm 4 lần từ năm 1995) Những chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng không khí, nước trong lục địa, nước biển, môi trường đất, chất thải rắn, tiếng ồn do việc giao thông và độ phóng xạ (chỉ tại 4 vị trí) đã được đo đạc bởi các trạm quan trắc Thêm vào đó một số các cơ quan nghiên cứu, viện chịu trách nhiệm về tài nguyên nước, khí tượng, thủy văn cũng thực hiện công tác giám sát môi trường nước, môi trường không khí để phục vụ cho các mục đích nghiên cứu và quản lý

1.6.4 Những văn bản pháp luật của Việt Nam liên quan tới việc lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường

Có rất nhiều các công cụ pháp lý trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến công tác đánh giá môi trường tại Việt Nam đã được chúng tôi cân nhắc trong quá trình lập báo cáo ĐTM này Những văn bản này là: Luật về đất đai, 14/7/2003 được soát xét và Quốc hội thông qua năm 2003; Luật Bảo vệ môi trường, 10/1/1994 được Chủ tịch nước ban hành; Luật Bảo vệ môi trường mới có hiệu lực từ 1/7/2006; Nghị định 175CP Hướng dẫn về việc thực hiện Luật BVMT; Nghị định 143/2004/ND-CP ngày 18/10/1994 của Nhà nước soát xét lại điều 14 của Nghị định 175/CP; Quyết định số 806-QD/Mtg của Bộ KHCN (nay là MONRE), 31/10/1994 về việc tổ chức và các công tác phê duyệt báo cáo ĐTM; Luật Khoáng sản 20/3/1996 được Quốc hội thông qua; Nghị định 68-CP của Nhà nước Việt Nam, hướng dẫn thực hiện Luật Khoáng sản được ban hành ngày 18/10/1994; Thông tư số 490/1998/TT-BKHCNMT của Bộ KHCN (nay là bộ TN &MT), ngày 29/4/1998 về Hướng dẫn lập và thông quan EIA cho các dự án đầu tư; Luật về Tài nguyên nước được Quốc hội thông qua ngày 20/5/1998; Quyết định số 35/2002/QD,

Trang 12

2002 của Bộ KHCN (nay là Bộ TN &MT); Nghị định số 149/2004/ND-CP ngày 27/7/2004 của Nhà nước Việt nam về cấp phép sử dụng và xả ra nguồn nước; Luật Lao động được Quốc hội thông qua ngày 23/7/1994 được Quốc hội thông qua; hướng dẫn lập EIA cho các dự án thủy điện do Bộ KHCN (nay là Bộ TN &MT) ban hành năm 2001

1.6.5 Các cơ quan và trách nhiệm tại Việt Nam

Luật Bảo vệ môi trường chỉ rõ trách nhiệm quản lý Nhà nước về công tác bảo vệ môi trường, điều 38 chỉ rõ “Nhà nước chiểu theo quyền hạn và trách nhiệm sẽ thực hiện việc quản lý Nhà nước một cách thống nhất về bảo vệ môi trường trên toàn quốc” Hiện nay Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm Nhà nước về thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về Bảo vệ và quản lý môi trường Vụ Môi trường của Bộ TN &MT có trách nhiệm trợ giúp Bộ Trưởng thực hiện công tác quản lý và bảo vệ môi trường trong các hoạt động như hoạch định ra các chính sách, xây dựng các văn bản pháp lý, chiến lược và kế hoạch Vụ Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường trợ giúp Bộ trưởng thực hiện công tác quản lý Nhà nước về đánh giá tác động môi trường và thẩm định Cục Bảo vệ Môi trường là đơn vị thực hiện những hoạt động quản lý cấp Nhà nước về bảo vệ môi trường trong các vấn đề như giám sát, thanh tra, ngăn chặn ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường, bảo tồn thiên nhiên, hỗ trợ phát triển công nghệ môi trường và tăng cường nhận thức cộng đồng về BVMT

1.6.6 Xây dựng và hệ thống thể chế về quản lý môi trường

Năm 1993, Cục Bảo vệ Môi trường được thành lập để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về Bảo

vệ môi trường trong cả nước Tính đến năm 1999, Cục Bảo vệ môi trường có 9 phòng vơi 79 nhân viên Phòng Quản lý Môi trường có tại tất cả các Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường và có khoảng từ 2 đến 5 nhân viên Nhiều huyện và thị trấn có cả các nhóm công tác về vấn đề quản lý môi trường Hiện nay tại cấp tỉnh là các Sở Tài nguyên và Môi trường (DONRE), tại cấp huyện là Phòng Tài nguyên thiên nhiên và Môi trường (SONRE), cả hai đơn vị này đều trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường Đơn vị thực hiện chức năng về quản lý môi trường do Sở TN &MT thực hiện cũng được thành lập tại một số Bộ và các ngành kinh tế Nhìn chung, năng lực quản lý môi trường của các cơ quan tại Việt Nam vẫn còn yếu và chưa tương xứng với nhiệm vụ cần thực hiện Những người làm công tác quản lý và điều phối môi trường trong hệ thống còn chưa được đầy đủ cả về số lượng lẫn chất lượng

1.6.7 Năng lực hiện nay tại các cơ quan làm công tác môi trường

¾ Vụ Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường của Bộ TN &MT có 15 nhân viên (4 người có bằng tiến sĩ, 5 người có bằng thạc sĩ và 6 người là kỹ sư, cử nhân) Vụ có khả năng thẩm định các Báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án thủy điện

¾ Sở TN &MT tỉnh Quảng Nam có 66 nhân viên, có 1 người có bằng thạc sĩ, 50 người là kỹ sư, cử nhân Sở TN &MT có 10 phòng gồm: phòng về Đất đai (7 nhân viên); phòng Khoáng sản, nước và khí tượng thủy văn (4 nhân viên); Phòng Quản lý môi trường (6 nhân viên), Hành chính (13 nhân viên), phòng Tài nguyên thiên nhiên và Thanh tra môi trường (5 nhân viên), Trung tâm tài nguyên thiên nhiên và Công nghệ Môi trường và thông tin (20 nhân viên); Trung tâm khảo sát và phân tích (8 nhân viên); Văn phòng nhà đất (10 nhân viên) Đối với một dự án thủy điện, Sở có khả năng kiểm soát, giám sát việc thực hiện các biện pháp giảm thiểu và kế hoạch quản lý môi trường trong giai đoạn xây dựng và vận hành Sở còn có khả năng thực hiện những hoạt động liên quan đến giám sát môi trường như giám sát chất lượng nước, không khí, xói mòn và ô nhiễm

¾ Phòng Tài nguyên thiên nhiên và Môi trường của huyện Giang Nam có 6 nhân viên

Phòng Môi trường và Tái định cư của Ban Quản lý dự án thủy điện 3 có 25 nhân viên, trong số đó có

20 kỹ sự về thủy điện, thủy lợi nhưng chưa có chuyên gia về môi trường

Trang 13

2 Mô tả dự án

2.1 Giới thiệu khái quát

Dự án thủy điện Sông Bung 4 được xây dựng trên sông Bung, một nhánh của sông Vũ Gia- Thu Bồn

Dự án được xây tại xã Zuôi và Tà Bhing của huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam tại miền Trung Việt Nam (xem Hình 1) Những thành phần chính của Dự án bao gồm: đập, tuyến năng lượng và nhà máy điện Đập thủy điện Sông Bung 4 được xây trên sông Bung, 3 km phía trên vị trí hợp lưu với sông A Vương Hồ thủy điện sẽ được thiết lập với mức nước dâng cao nhất là 222,5 m, mực nước chết là

195m

Nước của hồ chứa Sông Bung 4 sẽ chảy qua đường ống của tuyến năng lượng, vào nhà máy nằm cách đập 5 km về phía hạ lưu Chênh lệch mức nước của hồ chứa và nhà máy là khoảng 125 m tại mức

nước dâng cao nhất Sau khi đi qua nhà máy nước lại được chảy vào sông Bung

Vị trí của dự án thủy điện Sông Bung 4 được mô tả trong Hình 2.1

Hình 2.1 Sơ đồ tổng thể dự án thủy điện Sông Bung 4

Tổng chi phí ước tính cho dự án thủy điện Sông Bung 4 là 250 triệu USD, kể cả các loại thuế, chi phí

dự phòng Công tác chuẩn bị xây dựng (đường giao thông, đường thi công v.v ) dự kiến được thực hiện vào cuối năm 2007, công tác xây dựng công trình dự kiến được thực hiện vào đầu năm 2008

Công trình dự kiến được đưa vào vận hành vào cuối năm 2011 Vào thời kỳ xây dựng cao điểm sẽ có khoảng 2000 tham gia xây dựng công trình

Các thông tin mô tả trên đây của dự án được trích từ báo cáo đầu tư của Dự án do Công ty tư vấn xây

Trang 14

dựng điện 3 lập, những thông tin này có thể được tiếp tục hiệu chỉnh, sửa chữa trong giai đoạn thiết kế

kỹ thuật, dự kiến được bắt đầu thực hiện trong khoảng tháng 8 và 9 năm 2006

Dự án thủy điện Sông Bung 4 là một phần trong kế hoạch phát triển một loạt các dự án thủy điện trên

hệ thống sông Vũ Gia- Thu Bồn của tỉnh Quảng Nam Hiện nay trên hệ thống sông này có hai công trình thủy điện đang được xây dựng

2.2.1 Tổng quát

Dự án thủy điện Sông Bung 4 được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng điện ngày càng tăng của miền Trung Việt Nam, để hỗ trợ việc phát triển kinh tế trong khu vực Điện năng được sản xuất nhờ vào cột nước do đập tạo ra Những hạng mục công trình sẽ được xây dựng bao gồm:

• Một đập trên sông Bung để tạo ra hồ chứa;

• Tuyến năng lượng để chuyển nước từ hồ chứa qua nhà máy;

• Nhà máy với những thiết bị cần thiết để phát điện;

• Đường dây truyền tải điện từ nhà máy đấu nối với lưới điện quốc gia;

• Đường xá nối khu vực dự án với các khu tái định cư và hệ thống đường giao thông quốc gia;

• Các khu vực phụ trợ cho công tác xây dựng và vận hành Dự án

Các thành phần của Dự án sẽ được mô tả chi tiết ở phần dưới đây với vị trí được mô tả trong các Hình

Rd2

Rd1

H14D Rd4

So ng T han h

So ai

Song A Nhat

S

T ra V inh

So

ng A Vu on g

LEGEND

Transmission line 35kV Rd1 - Access road from Rd3 - Road from dam s Commune boundary

H14D - Highway 14D Rd4 - Road within rese

Proposed land for agri Reservoir

2

Hình 2.2 Các thành phần của Dự án: Khu công trường (C),Hồ chứa (R),Đường dây truyền tải (T),

Trang 15

Đường tạm thi công (Rd),Phần đường quốc lộ 14D xây mới (H 14 D),Khu tái định cư (RA)

Rd1 - Access road from Highway Rd2 - Access road from dam site t Rd3 - Road from dam site to reset Commune boundary

Trang 16

Kết cấu của móng đập được thiết kế để chống thấp và gắn chặt vào tầng đá nền Trong đập sẽ có những rãnh để đo đạc, kiểm soát thấm, được trang bị những thiết bị hiện đại phù hợp với những kinh nghiệm an toàn đập quốc tế ion of the dam structure will be grouted for seepage control and for consolidation of the bedrock, and the dam will include inspection and drainage galleries, and be equipped with instrumentation consistent with modern international dam safety practice

Đập tràn

Đập tràn gồm 6 cửa được thiết kế là một phần của đập chính và thiết kế cho lũ cực tiểu (PMF) với lượng nước về khoảng 20,000 m3/s Đường lan can của đập xây cao đến 229m sẽ được xây dựng trên đỉnh đập để tránh nước tràn qua đập khi có lũ PMF Hố tiêu năng được thiết kế sau đập tràn để giải phóng năng lượng của nước khi xả qua đập tràn

Lũ sẽ được suy yếu đi sau khi đổ vào hồ và được xả qua đập tràn với lưu tốc 18,400 m3/s đối với lũ PMF Đập tràn được thiết kế để làm việc rất hiệu quả với lũ nhỏ hơn lũ PMF, bằng việc đóng, mỏ các cửa xả để kiểm soát mức nước trong hồ

Để bảo trì các cửa xả, người ta sẽ đóng phần cửa nhận nước lại During maintenance of the spillway gates, stoplogs will be placed in front of the intake

Một hệ thống cảnh báo bằng âm thanh được khuyến nghị lắp đặt từ phía sau đập đến hợp lưu của sông Cái để cảnh báo nhân dân trong vùng về việc xả lũ qua đập tràn

Trang 17

2.2.3 Hệ thống tuyến năng lượng

Cửa nhận nước

Cửa nhận nước cao 50 m sẽ được xây dựng tại 150 m về phía nam của đập để đưa nước vào đường hầm dẫn nước Cửa nhận nước có một cửa mở, được trang bị cửa phục vụ hạ lưu và cửa bảo vệ phía thượng lưu Phần được trang bị lưới ngăn rác Khi cần bảo hành cửa bảo vệ phía thượng lưu người ta đóng phía cửa nhận nước lại Khi cần xả nước ra khỏi đường ống dẫn nước để kiểm tra , bảo dưỡng người ta đóng cửa phục vụ hạ lưu và cửa bảo vệ thượng lưu lại

Đường ống dẫn nước

Đường ống dẫn nước gần như nằm ngang, có độ dài khoảng 3 km, đường kính trong là 6,8 m Đường ống này được đào từ phần cửa nhận nước tới tháp điều áp Đường ống sẽ đường đổ bằng bê tông, phía trong lót thép hoặc được gia cố thêm ở những phần dựa vào nền đá yếu

Việc xây dựng đường ống dẫn nước sẽ được xây từ hai phía thượng lưu và hạ lưu lại

Tháp điều áp

Tại điểm cuối cùng của đường ống dẫn nước là tháp điều áp Tháp điều áp cao 75 m (54 m ở dưới mặt đất và 21 m nổi lên trên mặt đất ) được xây dựng để giảm áp lực tạo ra khi tua bin khởi động và vận hành Tháp điều áp được xây bằng bê tông, phía trong đường kính 24 m ở phần nổi trên mặt đất, phần chìm dưới mặt đất có đường kính 15 m

Tháp điều áp sẽ được xây từ phần cuối phía hạ lưu của đường ống dẫn nước

Đường ống áp lực

Phía dưới tháp điều áp là đường ống áp lực, có chiều dài khoảng 245 m, đường kính 5,2 m Phần đầu đường ống này nằm ngang, sau đó bố trí theo phương thẳng đứng, phần cuối lại nằm ngang và dẫ nước vào khu vực nhà máy

Việc xây dựng đường ống áp lực được thực hiện từ hai phía lại, phía thứ nhất từ phía đầu cuối của đường ống dẫn nước và một phía từ phía cuối của đường ống áp lực

2.2.4 Nhà máy

Nhà máy

Khu nhà máy được đặt gần sông Bung, khoảng 5 km về phía hạ lưu của đập Nhà máy được bố trí cao

68 m, trên một diện tích dài 58 m, rộng 24 Nhà máy bao gồm 2 tổ máy phát điện với tổng công suất phát là 156 MW, erection bay, khu phụ trợ phục vụ vận hành và bảo dưỡng Hai máy biến áp ba pha sẽ được đặt ở ngoài trời, phía sau nhà máy

Nhà điều hành, phục vụ vận hành dự án đượv xây cạnh khu nhà máy

Các tòa nhà này được xây dựng tại cao trình 125m, trên cốt nền 0.5 m, trên mức lũ 5,000 năm Kênh xả

Kênh xả dài 20 m sẽ dẫn nước trả lại Sông Bung

Sân phân phối nhà máy

Các máy biến áp của nhà máy sẽ được đấu nối với đường dây truyền tải qua sân phân phối Sân phân phối có kích thước 70 m x 143 m, được đặt ở vị trí 500 m về phía hạ lưu nhà máy

2.2.5 Đường dây truyền tải

Điện sản xuất từ nhà máy thủy điện Sông Bung 4 sẽ được chuyển vào hệ thống lưới điện quốc gia thông qua 35 km đường dây 220 kV mạch kép đến trạm biến áp 22/110kV Thanh Mỹ

Vào thời điểm hiện nay xuất tuyến và thiết kế của đường dây chưa được xác định chính xác Theo quy chuẩn thiết kế đường dây 220 kV thì sẽ cần xây dựng khoảng 100 cột thép cao 40 m, rộng 10 m Một đường dây truyền tải 35 kV sẽ truyền tải điện từ Thanh Mỹ về để cung cấp điện cho nhà máy

Trang 18

trong quá trình xây dựng dự án Đường dây này sẽ dài khoảng 38 km, đi dọc theo đường quốc lộ 14 Đ, qua đường thi công đi vào khu vực dự án

2.2.6 Các công trình đường xá

Đường thi công vào khu vực dự án

Để xây dựng được Dự án Sông Bung 4, một lượng lớn nguyên vật liệu cần phải được chuyển từ Đà Nẵng, khoảng 100 km về phía đông Đường Quốc lộ 14 D hiện nay được xác định đủ để phục vụ công tác vận chuyển này mà không cần phải nâng cấp Để có thể vận chuyển được những thiết bị siêu trường, siêu trọng như các tổ máy phát điện thì phần cuối cùng của Quốc lộ 14D phía khu vực Nam Giang cần phải được chặn lại (need to be closed) để sử dụng riêng trong quá trình vận chuyển

Từ đường Quốc lộ 14D, đường thi công dẫn vào khu vực đập dài 5,4 km sẽ được xây dựng Đoạn đường này chạy dọc theo Sông Bung Đường sẽ được xây dựng theo tiêu chuẩn đường cấp 4 miền núi,

có trải nhựa đường

Hướng đi cụ thể và thiết kế cho đọan đường này sẽ được xác định rõ trong những giai đoạn sau của Dự

án

Đường thi công trong khu vực dự án

Một loạt các đường thi công với tổng chiều dài khoảng 20 km sẽ được xây dựng trong khu vực công trường để sử dụng trong quá trình thi công xây dựng cũng như trong quá trình vận hành Đường dẫn từ

vị trí đập đến nhà máy sẽ được trải nhựa đường, những đoạn đường khác chủ yếu được rải sỏi Một cầu tạm 150 m vượt qua sông Bung dự kiến sẽ được xây ở phần hạ lưu đập Cầu này được xây dựng để sử dụng trong quá trình xây dựng đập, sau đó sẽ được dỡ bỏ Đường đi qua sông sau khi xây dựng xong sẽ là phần đường đi trên đỉnh đập

Hướng đường và thiết kế cho những đoạn đường thi công hiện nay chưa được xác định cụ thể Các nhà thầu sẽ tham gia một phần trong công tác xác định tuyến và thiết kế cụ thể của các đoạn đường thi công này

Đọan thay thế Quốc lộ 14 D

Khoảng 6km đường Quốc lộ 14D sẽ được xây dựng đền bù do một phần đường Quốc lộ 14D sẽ ngập trong hồ Đọan đường này còn bao gồm một chiếc cầu dài 350 m, cao 60 m

Đường dẫ tới khu tái định cư

20 km đường mới dẫn đến các khu tái định cư gần các làng Pa Pang và Pa Rum – Pa Dhi (xem Hình 2.2) sẽ được xây dựng

Hướng đường và thiết kế cho những đoạn đường dẫn đến khu tái định cư hiện nay chưa được xác định

cụ thể

2.2.7 Khu phụ trợ công trường

Những khu phụ trợ công trường sau đây sẽ được xây dựng, xem vị trí các khu này trong Hình 2.2 đến 2.5

Khu vực Mô tả Vị trí Diện tích (ha)

Khu phụ trợ 1 Phục vụ thi công Phía cuối đường QL 14D 28,9 Khu nghiền đá Nghiền đá, sản xuất vật liệu xây dựng Dọc theo đường QL 14D 10,2

Mỏ đá Khai thác đá làm nguyên vật liệu xây

dựng Dọc theo đường QL 14D 73,1 Khu phụ trợ 2 Phục vụ thi công Dọc theo đường thi công dẫn

đến đập 5,7

Mỏ đất Khai thác đất làm nguyên vật liệu xây

dựng Dọc theo đường thi công dẫn đến đập 183,7 Khu trộn bê tông Trộn bê tông để xây đập RCC Dọc theo đường thi công dẫn

đến đập 4,1

Trang 19

Khu phụ trợ 3 Phục vụ thi công 500 m phía bên phải đập,

phần hạ lưu 0,1 Khu kho bãi Tập kết nguyên vật liệu 500 m phía bên phải đập,

phần hạ lưu 1,2 Khu bãi thải 2 Bãi thải các nguyên vật liệu bóc dỡ không

sử dụng đến trong quá trình xây dựng

750 m phía bên trái đập, phần

hạ lưu

0,7 Khu bãi thải 1 Bãi thải các nguyên vật liệu bóc dỡ không

sử dụng đến trong quá trình xây dựng 950 m phía bên trái đập, phần hạ lưu 0,6 Khu phụ trợ 4 Phục vụ thi công 1 km phía thượng lưu của nhà

máy 14,2 Khu trộn bê tông Trộn bê tông để xây nhà máy Gần vị trí nhà máy 0,2 Khu phụ trợ 5 Phục vụ thi công Gần vị trí nhà máy 0,2 Khu bãi thải 3 Bãi thải các nguyên vật liệu bóc dỡ không

sử dụng đến trong quá trình xây dựng 200 m phía hạ lưu của nhà máy 0,3

Mỏ cát Khai thác cát làm nguyên vật liệu xây

dựng Trên sông Cái, 30 km phía hạ lưu của nhà máy 44,584

Trang 20

3 Môi trường nền

3.1 Môi trường vật lý và sinh học

3.1.1 Địa hình

Sông Bung là nhánh lớn nhất của sông Vũ Gia, nằm ở phía Tây Bắc của lưu vực sông Vũ Gia Sông

Bung có chiều dài khoảng 130 km, chảy từ biên giới Lào đến sông Cái gần huyện Thanh Mỹ Phần sau

hợp lưu với sông Cái gọi là sông Vũ Gia

Sông Vũ Gia có rất nhiều đoạn giao với sông lớn phía Nam, sông Thu Bồn Hệ thống sông Vũ Gia-

Thu Bồn là hệ thống sông lớn nhất tỉnh Quảng Nam Hai sông này có lưu vực chiếm khoảng 86% diện

tích của toàn tỉnh (nguồn Cty TVXD Điện 3) Sông Vũ Gia đổ ra biển tại Đà Nẵng, sông Thu Bồn đổ

ra biển tại Hội An

Phía nam của lưu vực sông Bung có độ cao lên tới 1200 m (a.s.l.) so với mực nước biển, phía Bắc có

độ cao lên tới 1800 m a.s.l Tổng diện tích lưu vực sông Bung tính tới điểm hợp lưu với sông Cái là

khoảng 2500 km² Tính đến khu vực đập, lưu vực là 1519 km² Sông A Vương (diện tích lưu vực 767

km²) là một nhánh lớn ở phía Bắc của Sông Bung và ở ngay phía dưới đập (nguồn SWECO

International 2006) Trên nhánh sông này công trình thủy điện A Vương đang được xây dựng

3.1.2 Không khí

Không có một trạm quan trắc môi trường cố định nào được đặt trong khu vực Dự án, tuy vậy Công ty

tư vấn xây dựng điện 3 đã tiến hành đo đạc chất lượng không khí tại khu vực này vào năm 2004

(nguồnPECC3 2005A) Kết quả quan trắc cho thấy chất lượng không khí trong khu vực rất tốt Ở đây

không có nguồn phát thải khí nào do các hoạt động công nghiệp trong khu vực Dự án, mật độ giao

thông trong khu vực cũng không cao Kết quả quan trắc được trình bày trong Bảng 3.1

Bảng 3.1 Chất lượng không khí tại khu vực Dự án Sông Bung 4 (thực hiện năm 2004)

Vị trí lấy mẫu Bụi CO SO2 NO2

Khu hồ chứa, nơi hợp lưu với sông

Dự án được đặt tại vị trí trũng của thung lũng sông Bung, xung quanh là các ngọn núi cao Có một số

nhà dân rải rác trong khu vực Dự án dọc theo Quốc lộ 14D, có 4 bản sẽ bị ngập trong lòng hồ Ngoài

đường Quốc lộ 14D dẫn đến biên giới Lào còn có một số đường giao thông khác trong khu vực Dự án

Quan trắc tiếng ồn được thực hiện năm 2004 tại một số vị trí trong khu vực Dự án, kết quả đo đạc chỉ

ra mức tiếng ồn trong khu vực ở mức khá thấp (PECC3 2005A) Kết quả đo đạc được trình bày trong

Bảng 3.2 Các thuyền đãi vàng trên sông Bung sẽ gây ra mức ồn nhất định trong khu vực Những

thuyền, máy đãi vàng này hoạt động suốt cả ngày lẫn đêm

Trang 21

Bảng 3.2 Mức tiếng ồn tại khu vực Dự án (đo năm 2004)

Vị trí lấy mẫu Mức tiếng ồn

dBA

Khu vực đập 38-40

Khu vực đập 36-40

Khu vực hồ chứa, phía thượng lưu đập 38-40

Khu vực hồ chứa, vị trí hợp lưu với

Trang 22

Hình 3.1 Các trạm khí tượng- thủy văn tại lưu vực sông Vũ Gia- Thu Bồn (nguồn SWECO

International 2006)

Bảng 3.3 trình bày lượng mưa đo được tại 12 trạm đo mưa trên lưu vực (SWECO International 2006) Lượng mưa trung bình năm khoảng 2000 mm tại vùng duyên hải, lượng mưa này cao hơn một chút tại khu vực trên sông Vu Gia, lượng mưa lớn nhất là ở phía Nam với lượng mưa cao nhất tại Trà My với hơn 4000 mm

Bảng 3.3 Mean annual rainfall in mm (1977-2004) in Vu Gia – Thu Bon basin

Hội

An

Cau Lau

Cẩm

Lệ

Giao Thủy

Ái Nghĩa

Khâm Đức

Trà

My

Nông Sơn

Bung River Basin

Thu Bon

Upper part of delta Vu Gia - Thu Bon

Lower part of delta Vu Gia - Thu Bon

Hình 3.2 Lượng mưa trung bình thánh (1977-2004) trên lưu vực sông Vũ Gia- Thu Bồn

Lượng mưa bắt đầu được đo tại vị trí đập Sông Bung 4 từ năm 2003 Lượng mưa trung bình tháng

Trang 23

trong giai đoạn từ 1977 - 2004 được tính toán và được trình bày tại Bảng 3.4 và Hình 3.3

Bảng 3.4 Lượng mưa trung bình tháng và lượng mưa trung bình năm (mm) đo tại vị trí đập Sông Bung

Mean Monthly Rainfall at Song Bung 4 Dam Site

Trang 24

Hình 3.4 Nhiệt độ trung bình tháng (trung bình, cao nhất, thấp nhất) đo được tại trạm Sông Bung 4 trong năm 2003

3.1.4.3 Sự bốc hơi

Lượng bốc hơi tại lưu vực Sông Bung 4 được tính toán dựa vào số liệu về sự bốc hơi tại hai trạm đo khí tượng Đà Nẵng và Trà My, cũng như tại trạm khí tượng Nam Đông phía bắc lưu vực Vũ Gia- Thu Bồn (SWECO International 2006) Lượng nước bốc hơi trên bề mặt hồ chứa Sông Bung 4 cũng được tính toán Lượng bốc hơi trung bình tháng và lượng bốc hơi tiềm năng dự kiếncủa bề mặt hồ chứa được trình bày trong Bảng 3.5

Bảng 3.5 Lượng bốc(E) hơi trung bình tháng bằng mm trong lưu vực Sông Bung 4 và lượng bốc hơi

dự kiến (PE) của hồ chứa

Trang 25

thuộc vào lượng nước tức thời mỗi ngày Cả hai dòng sông này đều chảy ra biểm tại Đà Nẵng và Hội

An

Diện tích lưu vực đến biển là 1209 km² (SWECO International 2006), với tổng lượng dòng chảy trung

bình năm của hai dòng sông là khoảng 640 m³/s

Sông Vũ Gia có rất nhiều nhánh, nhánh lớn nhất là sông Cái và sông Bung, các nhánh quan trọng khác

là sông A Vương, sông Thanh và sông Con

Trên hệ thống sông Vũ Gia- Thu Bồn có hai trạm discharge gauging stations Trạm Thanh Mỹ trên

sông Cái (sông Vũ Gia) và trạm Nông Sơn trên sông Thu Bồn, với các số liệu xả discharge data từ

năm 1977 Bổ sung vào đó có các số liệu đo đạc, ghi nhận được về mực nước tại 7 vị trổctng cùng

thời gian, các trạm đo đó là Đà Nẵng, Hội An, Giao Thủy, Cau Lau, Cẩm Lệ, Ái Nghĩa và Hội Khách

(xem Hình 3.1.)

Tại vị trí đập Sông Bung 4, mức nước được đo đạc từ năm 2003 Trong khoảng thời gian đó đã thực

hiện rất nhiều lần đo lượng At Song Bung 4 dam site water levels have been registered daily since

2003 During that period several discharge measurements have been undertaken Dựa trên các số liệu

đó, đường cong tỷ lệ được xây dựng cho giai đoạn từ sau năm 2003 (SWECO International 2006)

Bảng 3.6 trình bày một số các số liệu trong một phần lưu vực của hệ thống sông (SWECO

3.1.5.2 Mô hình hóa

Theo phương pháp mô phỏng chuỗi dòng chảy, chuỗi số liệu về mực nước tại các vị trí khác nhau

được tính toán (SWECO International 2006) Dựa trên các số liệu đầu vào về lượng nước bốc hơi,

lượng mưa, mô hình nước mưa chảy tràn rainfall-runoff được thiết lập Các đoạn giao cắt dọc sông Vũ

Gia và Sông Bunh được thiết lập và mô hình thủy lực được tính toán dựa trên các số liệu đo đạc được

về các mực nước

Bằng phương pháp mô hình, dòng chảy tự nhiên và mực nước trong giai đoạn 1978-2004 tại những vị

trí khác nhau trên hệ thống sông được tính toán Mô hình dòng chảy tự nhiên còn tính toán đến cả việc

sử dụng nước cho các mục đích khác như cấp nước, 20 hệ thống tưới tiêu và 5 hồ chứa nước hiện hữu

cấp nước cho các mục đích khác ngoài thủy điện

Mô hình cũng được sử dụng để mô tả dòng chảy dự kiến và sự dao động mực nước trong tương lai

trên sông Bung và sông Vũ Gia, sau khi có công trình thủy điện Sông Bung 4 (xem Chương 5) Tương

tự như vậy là các điều kiện dòng chảy trên sông Vũ Gia và sông Thu Bồn khi vận hành hệ thống bậc

thang thủy điện (Xem Chương 6)

Trang 26

3.1.5.3 Tính toán dòng chảy tự nhiên

Bằng phương pháp mô hình, chuỗi dòng chảy tự nhiên tại vị trí đập Sông Bung 4 được tính toán

(SWECO International 2006) Số liệu về dòng chảy trung bình tháng trong giai đoạn 1978-2004 được trình bày trong Bảng 3.7 Hình 3.5 mô tả dòng chảy trung bình tháng Các tháng trong mùa mưa, từ tháng Chín đến tháng Mười Hai chiếm 65% lượng dòng chảy trung bình năm Thông thường trong tháng Năm đến tháng Sáu dòng chảy cũng tăng một chút Mặc dù dòng chảy trung bình tháng thường cao hơn 25 m³/s trong tất cả các tháng, nhưng lượng mưa trung bình tháng nhỏ nhất có thể thấp hơn 5 m³/s

Bảng 3.7 Dòng chảy trung bình tháng (m³/s) tại khu vực đập Sông Bung 4

Năm

Trung bình

Trang 27

Hình 3.5 Dòng chảy trung bình tháng, tối thiểu tháng tại vị trí đập Sông Bung 4 từ 1978- 2004

Tính không chắc chắn khi sử dụng số liệu dòng chảy tại Sông Bung sẽ giảm dần do về sau này đã có các số liệu đo đạc cụ thể tại vị trí đập

Hình 3.6 trình bày dòng chảy tự nhiên tại 3 vị trí trên sông Bung và sông Vũ Gia Các vị trí đó là tại đập Sông Bung 4, trước hợp lưu với sông Cái và trên sông Vũ Gia tại Hội Khách (SWECO

International 2006)

Trang 28

Calculated Natural Mean Monthly Flow s in Song Bung and Song Vu Gia

Hình 3.6 Dòng chảy trung bình tháng trên sông Bung và sông Vũ Gia 1978-2004

3.1.5.4 Sự dao động mực nước tự nhiên

Sự thay đổi mực nước sẽ dao động từ vị trí này đến vị trí kia phụ thuộc vào vào các đọan sông giao

nhau tại từng vị trí Tại vùng thượng lưu sông Vũ Gia, sông Thu Bồn, phần phía trên đồng bằng xuôi xuống biển mức nước sẽ dao động từ 6 đến 8 m do khu vực này lòng sông hẹp, dốc (SWECO

International 2006) Bảng 3.8 mô tả mực nước cao nhất, thấp nhất, trung bình tại một số vị trí

Bảng 3.8 Mực nước đo được (m a.s.l.) tại các trạm

Tại khu vực đồng bằng, mực nước không chỉ phụ thuộc vào độ lớn của dòng chảy và các phần giao cắt

mà còn phụ thuộc vào nước thủy triều Mực nước quan sát được tại 4 trạm gần biển được trình bày tại Bảng 3.9 (SWECO International 2006)

Bảng 3.9 Mức nước quan sát được so với mực nước biển (m a.s.l.) tại các trạm đo khu vực đồng

bằng, gần vị trí cửa sông đổ ra biển

Trang 29

Cao nhất Thấp nhất Trung bình

Khi có các đợt lũ lớn, phần lớn vùng đồng bằng cửa sông sẽ bị ngập trong nước Dựa vào kết quả tính toán của mô hình tính cho đợt lũ tháng Mười Một năm 1999, diện tích đất ngập vào thời điểm lũ lớn nhất được mô tả trong Hình 3.7 Khu vực bị ngập được hiển thị bằng màu xanh nước biển

Hình 3.7 Khu vực ngập tại đợt lũ lớn tháng 11 năm 1999 (SWECO International 2006)

3.1.5.5 Tình hình lũ

Các giá trị đỉnh lũ tính toán cho vị trí đập thủy điện Sông Bung 4 với các sác xuất tính toán khác nhau được trình bày tại Bảng 3.10 (PECC3 2005B) Các con lũ hàng năm được ghi nhận tại trạm Thanh Mỹ trên sông Cái được sử dụng làm cơ sở cho việc tính toán Lũ thiết kế cho Dự án là lũ 5000 năm Lũ PMF ở mức 20,000 m³/s được sử dụng để kiểm tra cho thiết kế đập tràn

Bảng 3.10 Giá trị đỉnh lũ tính toán (m³/s)cho vị trí đập Sông Bung 4

Trang 30

3.1.5.6 Sự vận chuyển các chất bồi lắng (dòng chảy cát, bùn)

Các số liệu về các chất bồi lắng thu được sau hai lần lấy mẫu đo đạc trên sông Bung trong năm 2005

và từ các số liệu thu được từ Hệ thống quan trắc quốc gia tại hai trạm Thanh Mỹ và Nông Sơn

(SWECO International 2006) Trạm Thanh Mỹ được coi như là trạm mang tính đại diện cao nhất cho

sông Bung Tại trạm Thanh Mỹ, lượng mưa, dòng chảy và lượng bùn cát lơ lủng được quan trắc

Lượng bùn cát liên quan rất rõ ràng đến lượng mưa và dòng chảy In the Thanh My station where

rainfall, discharge and suspended solids are measured the amount of sediments is clearly related to

rainfall events and discharges DISCHARGE Ở ĐÂY NGHĨA LÀ GÌ??? Xem xét chuỗi số liệu trong

một khoảng thời gian dài hơn cho thấy rất rõ ràng rằng hiện tượng xói mòn đất không những chỉ phụ

thuộc vào cường độ mưa mà còn phụ thuộc nhiều vào thời gian kéo dài của các cơn mưa, tức là nếu

như đất bị ướt trong một thời gian dài nó sẽ trở nên dễ bị xói mòn như được mô tả trong Hình 3.8

Hình 3.8 Dòng chảy và lượng bùn cát lơ lửng tại Thanh Mỹ (Tháng Giêng 1992)

Bảng 3.1 Trình bày sự so sánh giá trị về lượng bùn cát lơ lửng của các mẫu lấy năm 2005 với số liệu

trung bình tại trạm Thanh Mỹ Các số liệu về các chất bồi lắng trên sông Bung nhìn chung rất ít

Không có một mẫu nào được lấy trong các cơn lũ Các số liệu đo tại trạm Thanh Mỹ cho thấy rõ ràng

rằng lượng bùn cát trong các cơn lũ là những số liệu rất quan trọng

Bảng 3.11 Lượng bùn cát lơ lửng (g/l) tại Thanh Mỹ và tại vị trí đập Sông Bung 4

Trạm quan trắc quốc gia Thanh Mỹ 1978-01

Số liệu của quy hoạch thủy điện quốc gia cho Sông Bung 2004-

05 NHP và của PECC3 Tháng

Trang 31

Loại đất và cơ cấu sử dụng đất của lưu vực sông Bung cũng tương tự như vùng Thanh Mỹ, do vậy có thể coi việc xói mòn tại hai khu vực này cũng tương tự như nhau (SWECO International 2006) Lượng bùn cát lơ lửng trung bình tháng được trình bày trong Bảng 3.12 Giá trị trung bình tháng được tính chuyển đổi sang trung bình năm, ước tính khoảng 1,05 triệu tấn/năm

Bảng 3.12 Lượng bùn cát lơ lửng trung bình tháng tại Thanh Mỹ (kg/s)

Khu vực hồ chứa và đường ống dẫn nước được đặt ở phía tây của đứt gãy Trường phía The reservoir and headwork area is located on the eastern part of the Truong fold zone on the northern margin of the Quang Nam structural zone belonging to the northern margin of the Kon Tum uplift

3.1.6.1 Địa chất thủy văn

Điều kiện địa chất thủy văn tại khu vực đập có thể được tóm tắt như sau:

¾ Khí hậu trong khu vực nóng, ẩm, mưa nhiều, do vậy hệ thực vật tương đối phát triển tạo điều kiện giữ được tầng nước ngầm khá dày (gần với mực nước bề mặt) vào mùa mưa;

¾ Độ dày của tầng ngước ngầm thay đổi theo mùa và dao động từ 15 đến 30 m giữa mùa khô và mùa mưa Các tầng nước ngầm thường không bị giới hạn và do đặc điểm khí hậu, các tầng nước này tháo đi cũng nhanh

¾ Tính chất hóa học của các tầng nước về cơ bản tương tự như nhau, có độ khoáng hóa thấp, nhỏ hơn 300 mg/l, chủ yếu tồn tại dưới dạng hydro các bon nát can xi, ma nhê hoặc hydro các bon nát natri, kali Tính chất hóa học của nước ngầm không gây ăn mòn đối với bê tông

3.1.6.2 Địa chất kiến tạo

Dự án thủy điện Sông Bung 4 đặt tại vị trí sường phía đông của vùng địa chất cổ của dãy Trường Sơn, gần đứt gãy Tha Khét - Trà Bồng Đứt gãy này tạo ra ba khu vực địa chất kiến tạo là: khu vực Trường Sơn, khu vực khiến tạo Kaledonite-Sêkông và khu vực cao nguyên Công Tum Hình 3.9 mô tả bản đồ địa chất kiến tạo trong khu vực Dự án

Trang 32

Hình 3.9 Bản đồ mô tả địa chất kiến tạo

Khu vực Dự án nằm giữa 4 đứt gãy sâu, có thể sẽ gây ra địa chấn: Rào Quán - A Lưới, đứt gãy Trường Sơn ở phía Tây, An Điềm - Hội An ở phía Bắc và Tam Kỳ- Phước Sơn ở phía Nam Thông tin về các đứt gãy như sau:

¾ Đứt gãy Rào Quan-A Lưới có độ dài khoảng 100 km, nằm dọc theo vùng châu thổ của sông A Vương kéo dài đến tận sông Bung theo hướng Tây Bắv- Đông Nam is located along the young valley of A Luoi extending to Song Bung in a Northwest – Southeast direction This fault manifests high activity, with uplift - extended crust mechanism prone to cause moderate earthquakes, however, landslides might be triggered Khu vực đập nằm 4 km cách đứt gãy Rào Quán- A Lưới và Đắk Krabat và khu vực nhà máy cách đứt gãy Rào Quán- A Lưới 7 km

¾ Đứt gãy Tam Kỳ - Phước Sơn kéo dọc theo hướng gần song song với vùng từ sông Bung đến

Trang 33

Phước Hào, đi theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, dọc theo châu thổ Sông Chang (?) đến phía bắc thị xã Tam Kỳ ra đến Biển Đông Tổng chiều dài của đứt gãy này là hơn 125 km Khoảng cách gần nhất từ Dự án thủy điện Sông Bung 4 đến đứt gãy này là khoảng 3 km

¾ Đứt gãy An Điềm - Hội An dài khoảng 125 km và đặc trưng bởi các nếp uốn khúc The An Diem – Hoi An fault extends about 125 km and is characterized by changes in the strike direction Đứt gãy này có khoảng 650 nếp theo hướng A Sở đến Tam-Prang Sau đó đứt gãy này đổi hướng và đi song song với hướng Thanh Den Từ Thanh Den đến sông Vũ Gia đứt gãy này có khoảng 300 nếp theo hướng Tây Bắc, sau đó đổi hướng chạy song song với Ha Nha qua Ái Nghĩa đổ ra Biển Đông

Độ sâu của đứt gãy này là khoảng30 km

Trong khu vực dự án còn rất nhiều những vết đứt gãy nhỏ nữa

3.1.6.3 Địa chấn

Hiện tượng động đất trong khu vực Dự án được Viện Địa vật lý thực hiện (??? VIỆN VẬT LÝ ĐỊA CẦU???) trong năm 2004 The earthquake activity in the project area was assessed by Institute of Geophysics in 2004 Có thể rút ra 3 kết luận từ Báo cáo của Viện: (i) Khu vực công trình đầu mối đặt tại khu vực có kết cấu tương đối bền vững trên phương diện địa chất kiến tạo, địa động lực Tất cả các đứt gãy của địa chất kiến tạo đi quan khu vực dự án đều tính hoạt động thấp; (ii) Điều kiện địa chất, địa chất kiến tạo, địa động lực tại khu vực dự án phù hợp cho việc xây dựng nhà máy thủy điện; (iii) Khu vực giữa của miền Trung Việt Nam nằm trong vùng lục địa bền vững với khả năng động đất thấp Theo số liệu từ năm 1666 đến nay chỉ có 17 hiện tượng động đất với cường độ bằng hoặc lớn hơn 4 độ Richter, trong đó lần động đất lớn nhất có cường độ 5,7 độ Richter xuất hiện cách vị trí đập hiện nay

300 km Không có lần động đất nào với cường độ M>4 độ Richter xảy tra trong vòng bán kính 50 km

kể từ vị trí đập

Các số liệu cho thấy cường độ động đất lớn nhất trong khu vựclà M=5.7 (Richter) Đập được thiết kế

cho cấp động đất lớn nhất MDE (Maximum Design Earthquake ) là 0.127 g

3.1.6.4 Khu vực hồ chứa

Các vỉa đá hiện hữu trong khu vực hồ chứa gồm Núi Vũ, Sông Bung, An Điềm và Bến Giang, Quế Sơn Vỉa đá cổ nhất trong khu vực hồ chứa là Núi Vũ với đá thạch anh Vỉa đá Sông Bung là đá các kết xanh xám giao kết với đá các kết hạt mịn màu tím The Song Bung formation comprises bluish grey sandstone inter-bedded with violet-like siltstone Vỉa đá An Điềm là đá cát kết Acco và đá cát kết hạt thô Vỉa đá Bến Giang- Quế Sơn là đá lửa, chủ yếu là loại granodiorit Trong khu vực hồ chứa không có đá vôi

Tính thấm của đất, đá tàn tích là ở mức 3x10-4 m/s Độ thấm của các lớp đá đứt gãy là ở mức 2x10-4 m/s Tuy vậy có một số đứt gãy cắt qua hồ chứa và có thể làm cho khu vực thấm nhiều hơn

Phía bên trái của hồ chứa là vùng châu thổ sông A Vương Khoảng cách giữa hai dòng nước ở khoảng

từ 1 đến 5 km Mực nước ngầm giữa hai dòng nước nằm ở 750 m đến 770 m, tức là ở mức cao hơn nực nước hồ chứa

Vùng châu thổ sông Thanh nằm ở phía bên phải của hồ chứa Mực nước ngầm trong khoảng cách giữa hai con sông ở độ cao hơn 1000 m, tức là cũng cao hơn mực nước hồ chứa

Do vậy sự mất nước của hồ chứa sẽ giới hạn lại tại vị trí móng đập nơi có độ dốc lớn Leakage from the reservoir is therefore restricted to the abutments and the foundation of the dam where high gradients are present HỎI CÁC CHUYÊN GIA THỦY ĐIỆN

Tính toán sơ bộ chỉ ra rằng sự mất nước trong khu vực này ở mức 120 m3/ngày Lượng nước mất đi này bằng 0,2 ‰ lượng nước dự kiến bốc hơi từ hồ chứa

3.1.7 Đất

Đất trong lưu vực sông Bung chủ yếu là các loại đất fluvisols (diện tích khoảng 17 km²), ferric acrisols (1935 km²), đất acrisols ẩm (465 km²), rhodic ferrisols (4 km²) và umbric gleysols (6 km²) (SWECO International 2006)

Trang 34

Broadly the soils in the Song Bung Basin comprise district fluvisols (area of 17 km²), ferric acrisols (1935 km²), humic acrisols (465 km²), rhodic ferrisols (4 km²) and umbric gleysols (6 km²) (SWECO International 2006) Acrisols là loại đất chiếm ưu thế, đất này yếu, rất dễ bị xói mòn Loại đất có kết cấu chắc Ferrisols chỉ có trên một diện tích nhỏ, loại đất này rất bền, khó bị xói mòn Bản đồ đất tại khu vực dự án Sông Bung 4 (Hình 3.10) cho thấy khu vực Dự án chỉ có loại đất ferric acrisols, là loại đất rất dễ bị xói mòn, do vậy sẽ có nhiều chất bùn cát bị rửa trôi và sẽ gây ra những vấn đề môi trường liên quan Loại đất ferrisols nhìn chung cũng không có nhiều phốt pho do có chỉ số chelat cao và có độ

pH thấp Phốt pho là nguyên tố chi phối sự phát triển của thực vật vùng nhiệt đới Điều đó cũng phản ánh việc đất nghèo chất dinh dưỡng, không thuận lợi cho phát triển sản xuất

Trang 35

Hình 3.10 Bản đồ đất của lưu vực sông Bung

Năm 1978 Viện Quy hoạch nông nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã thực hiện nghiên cứu chi tiết về đất và phân loại đất cho tỉnh Quảng Nam (PECC3 2005A) Việc phân loại đất được thực hiện theo hệ thống phân loại của Việt Nam (vẫn được sử dụng cho đến thời điểm hiện nay) Việc đánh giá dựa vào mức độ ưu tiên sử dụng và các kiến thức có từ những năm 1970, hoặc trước đó nữa

¾ Đất vàng đỏ on octagơnal rock (Fs): Diện tích đất này là khoảng 70.079 ha Bề mặt của đất này có lẫn đá Đất nghèo dinh dưỡng, kết cấu rời rạc, không có khả năng giữ nước Đất này chủ yếu có mặt trên các sườn núi, không sử dụng cho mục đích nông nghiệp

¾ Đất đỏ on octagơnal rock (Fa): Diện tích đất này khoảng 61.736 ha, phân bố tại các phần đất dốc, nhưng chủ yếu tập trung tại phía tây nam Tỉnh Kết cấu ở mức trung bình, tỷ lệ đá khoảng từ 30 –

Trang 36

50 % Lượng sét <30 % và tạo thành một lớp dày >10 cm Loại đất này phù hợp với việc trồng rừng sản xuất hoặc rừng nông lâm kết hợp

¾ Đất vàng nhạt trên nền đá cát kết (Fq): Diện tích đất này chiếm khoảng 34.325 ha, chủ yếu tập trung tại vùng núi cao của thị xã Thanh Mỹ và xã Cà Dy Đất có bề mặt “nhẹ” đến “trung bình”, tạo thành một lớp dày hơn 100 cm lẫn với đá Đất trong khu vực này phù hợp cho mục đích phát triển lâm nghiệp, nhất là các khu rừng bảo vệ

¾ Đất vàng nhạt trên nền đá granit (Ha): Diện tích đất này khoảng 8.066 ha, phân bố chủ yếu tại khu vực núi phía bắc của xã Đắc Pree

¾ Đất xám trên nền đá cát kết (Xa): Diện tích loại đất này chiếm 3.501 ha, chủ yếu phân bố tại xã Đắc Pring và La Đee Lớp đất này tạo thành một lớp dày >30 cm, một phần nhỉ có lẫn đá, nghèo chất dinh dưỡng

Ngoài những loại đất chủ yếu kể trên còn có các loại đất sau đây: đất phù sa của các dòng sông và dòng suối (Pb, Py), 589 ha; Đất đen các bon nát (Rv), 94 ha; Đất đen trên nền các sản phẩm phù sa (Rdv), 21 ha; Đất nâu violet (Fe), 169 ha; Đất nâu đỏ trên nền đá vôi, 710 ha; Đất mùn nâu đỏ trên nền

đá sét và đất thoái hóa, 1.178 ha; Đất mùn vàng nhạt trên nền đá các kết (Hq), 1,126 ha; đất trầm tích (D), 43 ha; đất trơ sỏi, đá (E), 27 ha

3.1.8 Mỏ

Lưu vực dự án Sông Bung 4 có tổng diện tích là 1477 km², phân bổ trên diện tích của 12 xã thuộc hai huyện Nam Giang và Tây Giang Trong lưu vực có 6 loại tài nguyên khoáng sản, đó là vàng, kể cả vàng sa khoáng và quặng vàng, đồng, pyrit, sắt, uranium và nước khoáng Trong toàn lưu vực xác định được 36 vị trí phân bố của các tài nguyên này, trong đó có 26 điểm có vàng Cho đến nay trong khu vực này người ta chỉ khai thác có vàng Số lượng các vị trí các nguồn tài nguyên khoáng sản được tóm tắt trong Bảng 3.13

Bảng 3.13 Các nguồn tài nguyên khoáng sản trong lưu vực của dự án TĐ Sông Bung 4

Tài nguyên khoáng

Uranium 1 Chưa khai thác

Vàng hiện hữu dưới dạng quặng lẫn trong đá hoặc dưới dạng sa khoáng dưới đáy sông Phương pháp tách, chiết vàng khác nhau Đối với quặng vàng, người ta dùng phương pháp nổ mìn Đá sau đó được nghiền nhỏ, mịn như cát sau đó được trộn với nước Việc tách vàng sau đó được thực hiện kết hợp bởi phương pháp lắng theo trọng lượng và dung dịch xianua sau đó cho vàng kết tủa với kim loại, thông thường người ta dùng các mảnh thiếc vụn hoặc bột thiếc Bằng cách gia nhiệt người ta tách được các kim loại ra dựa vào nhiệt độ nóng chảy khác nhau của thiếc và vàng Đối với vàng sa khoáng người ta dùng các thuyền đào sục hút cát từ trầm tích đáy sông Vàng và cát mịn được tách ra từ các chất trầm tích hút lên qua nhiều công đoạn khác nhau Công đoạn cuối cùng người ta trộn các nguyên liệu tuyển được với thủy ngân sau đó đúc trong vải Thủy ngân tác dụng với vàng tạo thành một hợp chất Hợp chất này sau đó được gia nhiệt, đun nóng cho thủy ngân bay hơi, còn lại vàng nguyên chất và một ít

Trang 37

bạc Công đoạn gia nhiệt cuối cùng thường không thực hiện tại hiện trường, trong khu vực lưu vực công trình Sông Bung 4

Các nguồn tài nguyên khoáng sản phân bố tại 7 trong số 12 xã trong vùng lưu vực Các khu vực có vàng nằm tại các xã Lạng, Zuoih, Cha Val, P’ring, Tà B’Hing Chi tiết về vị trí và hiện trạng khai thác được trình bày trong Hình 3.11 và Bảng 3.14

Hình 3.11 Các vị trí khoáng sản trên vùng Dự án Sông Bung 4

Trang 38

Bảng 3.14 Hiện trạng các nguồn tài nguyên khoáng sản và các họat động khai thác

D6 Vàng sa khoáng Nhánh đổ vào suối Ta Vinh, Dak P’Ring Chưa khai thác

D8 Vàng sa khoáng Nhánh đổ vào suối Ta Vinh, Dak P’Ring Chưa khai thác

Không có một giấy phép nào cấp cho các hoạt động khai thác này nói chung và cho khai thác vàng nói

Trang 39

riêng Tất cả các hoạt động khai thác vàng là khai thác trái phép Hiện nay chỉ có một số ít các động thái kiểm tra các họat động này và rất hy hữu mới được thực hiện trong khu vực Một số các khu vực khai thác vàng ở xa các vị trí đường giao thông và khu dân cư, do vậy rất khó kiểm soát, và có vẻ như các hoạt động kiểm soát cũng không được chú trọng lắm Có rất nhiều các thuyền đãi vàng họat động trên sông Bung, gần các bản làng ở phía thượng nguồn hồ chứa dự kiến xây dựng

Có hai mỏ quặng vàng (D5 và D7), nằm dọc theo vùng thượng nguồn sông Tà Vinh, phía nam hồ chứa Số lượng công nhân ở tập trung ở đây lên đến 120 người vào mùa khô và khoảng 200 người vào mùa mưa Công nhân đến từ rất nhiều địa phương trong cả nước Tuy vậy, tại hai mỏ này công an biên phòng kiểm soát rất chặt chẽ Trong quá trình khảo sát hiện trường vào tháng 2, đoàn tư vấn chúng tôi gặp 120 công nhân đang làm việc tại các mỏ này

Trong khu vực hồ chứa có mười một thuyền đãi vàng đang hoạt động trên sông Bung (D19 và D21), với tổng số công nhân khoảng 65 người Trên nhánh sông A Kia (D24-D29, D31), có 80 người làm việc trên 14 thuyền đãi vàng Trên một thuyền khác trên nhánh sông Ta Vinh (D3) có 6 người làm việc Hầu hết các công nhân này là người trong vùng Trên 11 thuyền đãi vàng làm việc dọc sông Bung có khoảng 40% người là người làm thuê cho chủ thuyền, 60% công nhân là con cháu và các thành viên trong gia đình chủ thuyền

Ngoài việc khai thác vàng một cách tương đối có tổ chức trên các thuyền, nhân dân địa phương tại các bản gần sông vào mùa khô cũng tham gia khai thác bằng các dụng cụ đơn giản, thô sơ, chủ yếu bằng phương pháp thủ công Những người này làm theo từng nhóm từ 5 đến 15 người, làm tại những chỗ có nhiều dấu hiệu có vàng trong tầng cát đáy sông

Trong tương lai những hoạt động khai thác vàng này vẫn còn được tiếp tục thực hiện Đối với những loại tài nguyên khoáng sản hiệu hữu khác, nguồn Uranium (D1) có thể sẽ được khai thác Vị trí có Uranium rộng khoảng 5 km², ở rất gần đường Quốc lộ 14D

3.1.9 Chất lượng nước

3.1.9.1 Phương pháp lấy mẫu nước và các mẫu trầm tích

Bảy vị trí trên dòng sông chính và 4 vị trí trên các dòng nhánh đã được lấy mẫu Có hai nhánh bị ảnh hưởng bởi hoạt động khai thác vàng sa khoáng, một số các nhánh khác bị ảnh hưởng bởi khai thác quặng vàng trên thượng nguồn Các vị trí lấy mẫu được trình bày tại Hình 3.12 Thủy ngân và các kim loại nặng thường không tan trong nước Chúng bám vào các chất hạt và lắng đọng vào đáy sông và chúng gây ô nhiễm trầm tích đáy sông Rất nhiều các động vật đáy như giun đất ăn trầm tích đáy sông

và bị nhiễm kim loại nặng vào cơ thể Cá lại ăn những động vật đáy này và do vậy vô hình đã gián tiếp

bị nhiễm kim loại nặng Một số các kim loại nặng dễ thâm nhập vào cơ thể cá nhưng lại rất khó đào thải ra ngoài, do vậy kim loại nặng có xu hướng tích tụ trong cơ thể Điều này khiến cho những con cá lâu năm, cá to thì có nồng độ kim loại nặng nhiều hơn cá non (hiện tượng này gọi là hiện tượng tích tụ sinh học bio-accumulation) Thủy ngân, là kim loại hoàn toàn không đào thải ra khỏi cơ thể sẽ tăng dần nồng độ theo chuỗi thức ăn (gọi là khuyếch đại sinh học) Do vậy việc xem xét mức độ ô nhiễm kim loại nặng trong những con cá lớn, ăn động vật Những loài cá ăn thịt là nguồn thức ăn rất thông dụng của nhân dân trong vùng do những loài cá này có kích thước cơ thể lớn và vị ngon Có 3 loại mẫu được lấy: mẫu nước, mẫu trầm tích, mẫu thịt cá lớn (trong trường hợp không lấy được mẫu của các lớn thì lấy cá bé)

Trang 40

Hình 3.12 Vị trí lấy mẫu để nghiên cứu nồng độ thủy ngân và chất lượng nước tại khu vực Sông Bung

4

Ô xi hòa tan và nhiệt độ được đo tại hiện trường bằng dụng cụ YSI Mẫu trầm tích được lấy tại những vũng nước tĩnh, nơi các chất hạt được lắng đọng thành một lớp mềm tại đáy sông Các chỉ tiêu sau đây được phân tích cho các mẫu nước: nhiệt độ, pH, độ dẫn điện, độ đục, ô xi hòa tan, ô xi bão hòa, độ kiềm, tổng phốt pho, tổng ni tơ, amonium, nitrat, chlorid, sun phát, cyanid (cho các mẫu trên các nhánh sông), flourid, Ca, Mg, K, Na, Fe, Mn, Cd, Co, Cr, As, Cu, Hg, Ni, Pb, Zn Các chỉ tiêu sau đây được phân tích cho các mẫu trầm tích As, Cd, Co, Cr, Cu, Fe, Mn, Hg, Ni, Pb, Zn

3.1.9.2 Chất lượng nước nói chung

Một số các chỉ tiêu đặc trưng của chất lượng nước của dòng chính sông Bung được trình bày tại Hình 3.13, các chỉ số này trên các dòng nhánh được trình bày tại Hình 3.14 Nhiệt độ dao động từ 26oC đến

28 oC Ô xi đạt mức bão hòa tại tất cả các vị trí lấy mẫu trên dòng chính và trên các dòng nhánh pH đạt ở mức kiềm nhẹ từ 7,8 đến 8,1 Nước tương đối mềm với độ dẫn điện đạt 9-10 mS/m, và độ kiềm đạt mức 0.9 mmol/l Độ đục đạt mức trung bình tại tất cả các trạm tại thời điểm lấy mẫu, và đạt giá trị

từ 8-35 FTU, kể cả trên các dòng nhánh Mối quan hệ giữa độ đục theo đơn vị FNU và lượng chất rắn

lơ lửng đạt mức gần 1:1, cũng có nghĩa là nồng độ các chất rắn đạt ở mức 10-30 mg/l Các giá trị này

là những giá trị bình thường trong mùa khô, khi các yếu tố xói mòn nói chung thấp Theo nghiên cứu của PECC3 và nghiên cứu mô hình thủy động lực học cho thấy có thể mức này đạt 200 mg/l trong mùa mưa (SWECO International 2006) Vào thời điểm lấy mẫu phân tích các thuyền khai thác vàng đang hoạt động hết tốc độ (11 thuyền trên sông Bung giữa khu vực Pa Dhi và Tà Vinh), nhưng họat động này không làm tăng độ đục của nước sông, và độ đục cũng ở mức rất thấp, chưa thể gây ra những tác động đến hệ sinh thái thủy sinh Theo như tiêu chuẩn về chất lượng nước do Ủy ban nuôi cá lục địa châu Âu thiết lập thì nếu như hàm lượng các chất rắn lơ lửng thấp hơn 35 mg/l thì không gây nguy hại

Ngày đăng: 17/03/2014, 10:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  2.1 Sơ đồ tổng thể dự án thủy điện Sông Bung 4 - Báo cáo đánh giá tác động môi trường nhà máy thủy điện sông Bung
nh 2.1 Sơ đồ tổng thể dự án thủy điện Sông Bung 4 (Trang 13)
Hình 2.4 Khu vực công trường cạnh khu xây dựng nhà máy - Báo cáo đánh giá tác động môi trường nhà máy thủy điện sông Bung
Hình 2.4 Khu vực công trường cạnh khu xây dựng nhà máy (Trang 15)
Hình 2.5 Khu vực công trường dọc theo hồ chứa kể cả phần đường quốc lộ 14 D xây mới. - Báo cáo đánh giá tác động môi trường nhà máy thủy điện sông Bung
Hình 2.5 Khu vực công trường dọc theo hồ chứa kể cả phần đường quốc lộ 14 D xây mới (Trang 16)
Hình 3.4 Nhiệt độ trung bình tháng (trung bình, cao nhất, thấp nhất) đo được tại trạm Sông Bung 4  trong năm 2003 - Báo cáo đánh giá tác động môi trường nhà máy thủy điện sông Bung
Hình 3.4 Nhiệt độ trung bình tháng (trung bình, cao nhất, thấp nhất) đo được tại trạm Sông Bung 4 trong năm 2003 (Trang 24)
Hình  3.6  Dòng chảy trung bình tháng trên sông Bung và sông Vũ Gia 1978-2004 - Báo cáo đánh giá tác động môi trường nhà máy thủy điện sông Bung
nh 3.6 Dòng chảy trung bình tháng trên sông Bung và sông Vũ Gia 1978-2004 (Trang 28)
Bảng 3.10 Giá trị đỉnh lũ tính toán (m³/s)cho vị trí đập Sông Bung 4. - Báo cáo đánh giá tác động môi trường nhà máy thủy điện sông Bung
Bảng 3.10 Giá trị đỉnh lũ tính toán (m³/s)cho vị trí đập Sông Bung 4 (Trang 29)
Hình 3.8 Dòng chảy và lượng bùn cát lơ lửng tại Thanh Mỹ (Tháng Giêng 1992) - Báo cáo đánh giá tác động môi trường nhà máy thủy điện sông Bung
Hình 3.8 Dòng chảy và lượng bùn cát lơ lửng tại Thanh Mỹ (Tháng Giêng 1992) (Trang 30)
Hình 3.9 Bản đồ mô tả địa chất kiến tạo - Báo cáo đánh giá tác động môi trường nhà máy thủy điện sông Bung
Hình 3.9 Bản đồ mô tả địa chất kiến tạo (Trang 32)
Hình 3.10  Bản đồ đất của lưu vực sông Bung. - Báo cáo đánh giá tác động môi trường nhà máy thủy điện sông Bung
Hình 3.10 Bản đồ đất của lưu vực sông Bung (Trang 35)
Hình 3.11 Các vị trí khoáng sản trên vùng Dự án Sông Bung 4. - Báo cáo đánh giá tác động môi trường nhà máy thủy điện sông Bung
Hình 3.11 Các vị trí khoáng sản trên vùng Dự án Sông Bung 4 (Trang 37)
Hình 3.21 Việc phân chía dòng sông làm 5 đoạn để nghiên cứu  đời sông thuỷ sinh, - Báo cáo đánh giá tác động môi trường nhà máy thủy điện sông Bung
Hình 3.21 Việc phân chía dòng sông làm 5 đoạn để nghiên cứu đời sông thuỷ sinh, (Trang 49)
Hình  3.22 Vị trí các điểm lấy mẫu - Báo cáo đánh giá tác động môi trường nhà máy thủy điện sông Bung
nh 3.22 Vị trí các điểm lấy mẫu (Trang 52)
Hình 3.24 Che phủ thực vật tại khu vực công trường, lòng hồ và khu tái định cư - Báo cáo đánh giá tác động môi trường nhà máy thủy điện sông Bung
Hình 3.24 Che phủ thực vật tại khu vực công trường, lòng hồ và khu tái định cư (Trang 69)
Hình 3.27  Vùng lõi (được gọi là khu bảo tồn) và vùng đệm của khu BTTN Sông Thanh - Báo cáo đánh giá tác động môi trường nhà máy thủy điện sông Bung
Hình 3.27 Vùng lõi (được gọi là khu bảo tồn) và vùng đệm của khu BTTN Sông Thanh (Trang 79)
Hình 5.2 Mực nước dao động đặc trưng hàng năm trên hồ chứa. - Báo cáo đánh giá tác động môi trường nhà máy thủy điện sông Bung
Hình 5.2 Mực nước dao động đặc trưng hàng năm trên hồ chứa (Trang 96)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w