1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử trong tuyên ngôn thế giới về quyền con người và trong pháp luật việt nam

8 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phiên bản cuối cùng của nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xứ được Uy ban Nhân quyên đưa ra là: Tát cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và đều được hướng sự bảo vệ bình đẳ

Trang 1

PHÁP LUẬT THẾ GIỚI _ — <« 9ỈỊỊÍ)ề Vílật

NGUYÊN TẮC BÌNH đang , không phân biệt Đốl xử trong tuyên ngôn THÊ'GIỚI VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Phạm Hữu Nghị'

Tóm tắt: Sự kiện Liên hợp quôc thông qua Tuyên ngôn the giới ve quyền con người vào tháng

12 năm 1948 là một sự kiện vĩ đại của nhãn loại Một trong những giá trị noi bật cùa Tuyên ngôn

là đã khẳng định mạnh mẽ nguyên tẳc bình đằng, không phản biệt đối xử Bài viết này khải lược quá trình soạn thảo nguyền tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948; phân tích các nội dung cùa nguyên tắc bình đắng, không phản biệt đối xử trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 và trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966; nêu sự the hiện nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xứ trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam.

Từ khóa: Bình đẳng, nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử.

Nhận bài: 10/5/2021; Hoàn thành biên tập: 14/6/2021; Duyệt đăng: 17/6/2021.

Abstract: The event that the United Nations passes the Universal Declaration of Human Rights

on December, 1948 is a great event of humankind One of outstanding values of the Declaration

is strongly affirming principle of equality, non-discrimination This article briefly mentions process

of drafting principle of equality, non-discrimination in the Universal Declaration of Human Rights

in 1948; analyzes contents of the Principle of equality, non-discrimination in the Universal Declaration of Human Rights in 1948 and in the international Convention on civil, political rights

in 1966; mentions the expression of principle of equality, non-discrimination in Vietnam’s Constitution and laws.

Keywords: Equality, principle of equality, non-discrimination.

Date of receipt: 10/5/2021; Date of revision:

1 Quá trình soạn thảo nguyên tắc bình

đẳng, không phân biệt đối xử trong Tuyên

ngôn thế giói về quyền con người năm 1948

Điều 7 Tuyên ngôn thê giới vê quyên con

người năm 1948 khẳng định: “Mọi người đều

bình đăng trước pháp luật và được pháp luật bảo

vệ một cách binh đẳng mà không cóbất kỳ sự

phân biệt nào Mọi người đều có quyền được

bảo vệ một cách bình đẳng chống lại bất kỳ sự

phân biệt đối xử nào vi phạm bản Tuyên ngôn

này, và chống lại bất kỳ sựkích động phân biệt

đốixừnào như vậy”12

1 Phó Giáo sư, Tiến sỹ, Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

2 All are equal before the law and are entitled without any discrimination to equal protection of the law All are entitled

to equal protection against any discrimination in violation of this Declaration and against any incitement to such discrimination.

Đe đi đến được ghi nhận chính thức trong

14/6/2021; Date of approval: 17/6/2021.

Tuyên ngônthếgiới về quyền con ngườinguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đoi xứ như trích dẫn trên đày, đãtrải qua một quá trình soạn thảo, tranh luận, phản biện rất SÔI động, lý thú, nhiều khi khá gay cấn Đã cónhiều phiên họp của ủy ban soạnthảo,ủy ban nhânquyền, Đạihội đồng bànvề nguyên tắcnày.Các quốc giacũngđưa ra nhiều ý kiếnbinh luận, đóng góp Trước các ý kiến sửa đổi phưong án, chủ tọa các phiênhọp

đã lấy phiếubiểu quyết để quyết định có chấp nhận ỷkiến nêura hay không

Trong suốt quá trình soạn thảo, Điều 7 Tuyên ngônthế giới vềquyền con người được

0

Trang 2

HỌC VIỆN Tư PHÁP

diễn đạt dưới nhiều hình thức và cũng cónhiều

thay đổi Việc nó có nằm trongTuyên ngôn hay

không, nếu có thì “bình đẳng” thậtsựcó nghĩa

như thế nào, vẫn còn là một vấn đề gây tranh

cãi Vì thế, quá trình chuẩn bị soạn thảo còn

nhiều điều không rõràngvà cho đến nayý nghĩa

và phạm vichính xác củanhững nguyên tấcmà

điều khoản bảo vệ vẫn là vấn đề gây tranh cãi

trong giới học giả, cụthể là cáckhái niệm“bình

đẳng trước pháp luật”, “được pháp luật bảo vệ

một cách bình đẳng”, “bảo vệ chống lại phân

biệt đối xử”3

3 Cách viết lúc bấy giờ tập trung chủ yếu vào ý nghĩa và phạm vi cùa Điều 26 tương đương trong Công ước quốc tế

về quyền dân sự, chính trị.

4 Thậm chí ngay cả trước khi Bộ luật nhân quyền quốc tế được quyết định là chi bao gồm Tuyên ngôn, hay công ước, hay cả hai (Xem tài liệu Liên Hợp Quốc E/CN.4/SR.25), nguyên tắc bình đẳng về các quyền và không phân biệt đối

xử được nói đến trong các nghị quyết của Đại hội đồng, ví dụ Nghị quyết 44(1), 56(1), 96(1) và 103(1) G Alfredsson

và A Eide (eds), Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền, tr 153-186 © 1999 Kluwer Law International, in tại Hà Lan.

5 Xem tài liệu Liên Hợp Quốc E/CN.4/AC.1/3, Phần phụ lục và bổ sung 1.

Một trong những vấn đề gây tranh cãi nhất

đó là liệu “bình đẳng trướcpháp luật”có được

xếp vào cùng với nguyên tắc chung về không

phânbiệt đốixử (Điều 2 đoạn 1) hay không; liệu

“bình đẳngtrướcpháp luật” có liên kếtchặt chẽ

với kháiniệm chung về không phân biệt đối xử

mà hoàn toàn nằm trong điều khoản chung về

không phân biệt đối xử hay không; hay liệu khái

niệm “bình đẳng trước luật” có tạo nên một

nguyên tắc riêng biệt, bổ sung vào nguyên tắc

không phân biệt đối xử haykhông? Trước hết,

khái niệmkhông phân biệt đối xửrõ ràng phải

mang đặc tính pháp lý bằng việc khẳng định

rằng binh đẳng có nghĩa là “bình đẳng trước

pháp luật”4

Dự thảo đầutiên của Bộ luật Nhân quyền

Quốc tếdo Ban thưkýđưa ra có câu: “Khôngai

phải chịu phân biệt đối xử bất kể về chủng tộc,

giới tính, ngôn ngữ, tôngiáo hayniềm tin chính

trị Mọi người phải được hường quyền bình

đẳng đầyđủ trước pháp luậtnhư đã đề ra trong

Bộluật Nhân quyền này” Ở thời điểmkhởi đầu

này, khôngphân biệtđối xừvà bìnhđẳngtrước

pháp luật là hai khái niệm gắn liền với nhau

Khái niệm bình đẳngtrước pháp luật đã mang lại đặc tính pháp lý cho khái niệm không phân biệt đối xừ5

Tại kỳ họp thứ nhất, ủy ban Soạn thảo đã đưa ra phươngánsừa đổi như sau:

Mọi người đều được hường tất cả các quyền

và sự tự do như quy định trong Tuyên ngôn này, không có bất kỳ sự phân biệt nào, chang hạn, về chủng tộc, giới tỉnh, ngôn ngữ, tôn giáo, quan diêm chinh trị hay quan đỉêm khác, tình trạng tài sản, nguồn gốc dán tộc, xã hội.

Bản thảo Tuyên ngôn thếgiới vềquyềncon người tiếp đó được đưa ra xem xét tại kỳ họp thứ hai của ủy banNhân quyềnhọp từngày 02 đến 17/12/1947 Trong báo cáo trình lên ủy ban, Nhóm Công tác vềTuyên ngôn đãđưa ra phương án:

1 Mọi người đều được quyển hưởng tất cả các quyên và sự tự do như được quy định trong Tuyên ngôn này, không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, tư tưởng chính trị, tình trạng tài sản, nguồn gốc dân tộc, xã hội.

2 Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật bát kê địa vị hay chức vụ, và được pháp luật bào

vệ một cách bình đăng chong lại bất kỳ sự phân biệt đối xử tùy tiện nào vi phạm Tuyên ngôn này.

Từ đây, cáccuộc tranhluận về thực chất bắt đầu trong toàn thể ủy ban Sau khi thảo luận, tranh luận,một phương ánsửa đổiđượcđưa ra:

1 Mọi người đều được quyền hường tất cả các quyền và tự do như được quy định trong Tuyên ngôn này, không phân biệt chủng tộc, bao gồm cả màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan diêm chỉnh trị và quan diêm khác, tình trạng tài sán, nguồn gốc dãn tộc hoặc xã hội.

2 Mọi người đều bình đắng trước pháp luật

Trang 3

9ỉfií|ề Vuật

bất kê địa vị hay chức vụ, và được pháp luật bảo

vệ một cách bình đẳng chống lại sự phân biệt

đối xử tùy tiện hoặc chống lại bất kỳ’ sự kích

động phân biệt đối xử nào mà vi phạm Tuyên

ngôn này.

Tại kỳ họp thứ ba củaủy banNhân quyền

nhiêu thành viên đã của ủy ban như Pháp, Án

Độ, Anh, Mỹ, Chi Lê, Trung Quốc, Lebanon,

Nam Tư, Ghana, Hàn Quốc đãtham gia tranh

luận, nêu ý kiến Phiên bản cuối cùng của

nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xứ

được Uy ban Nhân quyên đưa ra là:

Tát cả mọi người đều bình đẳng trước pháp

luật và đều được hướng sự bảo vệ bình đẳng của

pháp luật mà không có bất kỳ phản biệt đối xử

nào nhằm chong lại bất kỳ sự phân biệt đối xử

nào vi phạm Tuyên ngôn này và chống lại bất

kỳ hành động xúi giục nào nhằm gây ra những

phân biệt đoi xử như vậy.

Phương án trên đây được đưa raxem xét tại

ủyban thứba của Đại hội đồng liên hợpquốc

Tại ủy ban này, đại diện các nước Nam Phi,

Mehico, Philippines, Hy Lạp, úc, Anh,

Venezuela nêura nhiều ý kiếntranh luận, góp ý

Thí dụ, đại diện của úc đã đề xuất nên đưa cụm

từ “và sựbảo vệ binh đẳng” vào sau cụm từ “sự

bảo vệ cùa phápluật” để bảo đảm tính minh bạch

củaquyđịnh Đề xuất của úc đã được thông qua

với 34 phiếu thuận, 1 phiếu chống và 2 phiếu

trắng6, ủy ban thứ ba đã bỏ phiếu (45 phiếu

thuận, 1 phiếu chống, 8 phiếutrắng) cho phương

án:

6 Gudmundur Alfredsson và Asbjom Eide (Chủ biên): Tuyên ngôn quốc tế nhãn quyền 1948- Mục tiêu chung cùa

nhãn loại, Nxb Lao động- Xã hội, Hà Nội- 2011, tr 181.

7 Gudmundur Alfredsson và Asbjom Eide (Chủ biên): Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền 1948- Mục tiêu chung cùa nhân loại, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội- 2011, tr 182.

Tất cà mọi người đều bình đắng trước pháp

luật và đêu được hưởng sự bảo vệ bình đẳng của

pháp luật mà không có bất kỳ sự phân biệt đổi

xử nào và sự bảo vệ bình đẳng chổng lại bất kỳ ’

sự phân biệt đối xử nào vi phạm Tuyên ngôn này

và chống lại bất kỳ kích động phân biệt đối xử

nào như vậy.

Với nội dung như trên (lúc đó là Điều 6) được đưa ra xemxét tại Tiểu ban sổ 4 của ủy ban thứ ba Tiểu ban số 4 của ủy ban thứ ba được thànhlập để xem xét tổngthểTuyênngôn thế giới về quyền con ngườichỉ dựa trênsự sắp xếp, tính tương thích, đồng nhất và văn phong Tiêuban đã lập ranhómngôn ngữgồm 5 thành viên, mỗi thành viên sừ dụng một thứ tiếng chính thức đê kiêmtra và bảođảm sự tương ứng chính xác của vãn bảntrongnămngônngôn ngữ chính thức tại Liên hợp quốc7 Đây là công việc rât cần thiết tạo ra một bước hoàn thiện quan trọng cho Điều 6 Phương án sau khi đã chỉnh sửa được thể hiện như sau:

Tât cả mọi người đều bình đắng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đang mà không có bất kỳ sự phân biệt đổi xử nào Mọi người đều có quyền được bảo vệ một cách bình đằng chổng lại bất kỳ sự phân biệt đối

xử nào vi phạm Tuyên ngôn này, và chổng lại bât kỳ ’ kích động phân biệt đối xừ nào như vậy.

Cuôi cùng, Dự thảoTuyên ngôn thế giới về quyên con người đã được đưa ra phiên họp toàn the của Đại hội đồng Liên hợp quốc vào ngày 10/12/1948 Điều 8 và Điều 9 (trong Dự thảo lúc đó) đã được đồng thuận thông qua nhưng được đánh số lại theo thứ tự thành Điều 7 và Điều 8 sau khi thông qua đềxuất cùa nước Anh xóa bỏĐiều 3(“Cácquyền đã được nêu ra trong Tuyên ngôn này áp dụngmột cách bình đẳng đối với tất cã cư dân cùa các vùng lãnh thổ quàn thác vàtự trị”) và thay vào đólà bổ sung khoản

2 của Điều 2

Do mối liên hệvềlịchsử soạn thảocủa Điều

2 đoạn 1, Điều 7 và Điều 8, văn bản được ban hành như sau:

Điêu 2, đoạn 1: Mồi người đều có quyền được hưởng tất cả các quyền và tự do nêu ra trong bản Tuyên ngônnàymà không có bất kỳ

Trang 4

HỌC VIỆN Tư PHÁP

Sựphân biệt đối xừ dưới bất kỳ hình thức nào

như chủngtộc,màuda,giớitính, ngôn ngữ, tôn

giáo, quan điểm chínhtrị hoặc quanđiểmkhác,

nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành

phần xuất thân haycác địavị khác

Điều 7: Mọi ngườiđều bình đẳng trướcpháp

luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình

đẳng màkhông có bấtkỳ sự phân biệtnào.Mọi

người đều có quyền đượcbảo vệmộtcách bình

đẳng chốnglại bất kỳ sự phân biệt đối xừnào vi

phạm bản Tuyênngôn này, và chống lại bâtkỳ

sự kích động phân biệt đốixử nàonhư vậy

Điều 8: Mọingười đều có quyền được các

tòa ánquốc gia có thẩm quyền bào vệ bằng các

biệnpháp hữu hiệu đểchốnglạinhững hành vi

vi phạm các quyền cơ bản của họ mà đã được

hiến pháp hay luật pháp công nhận

2 Nội dung của nguyên tắc bình đẳng,

không phân biệt đối xử trong Tuyên ngôn thế

giói về quyền con người năm 1948 và trong

Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính

trị năm 1966

Nguyên tắcbình đẳng, khôngphân biệt đối

xử được ghi nhận trong các Điều 1, 2, 6, 7, 8

Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm

1948; các Điều 2, 3, 16 và 26 Công ướcquốc tế

về các quyền dân sự, chínhtrị năm 1966

Đây cũng chính là quyền bình đẳng trước

pháp luật, không bị phân biệt đối xử Nó đãtrở

nguyên tắc cơ bàn củaluật nhân quyền quốc tế

Bởi vậy, có thể nói,nội dungcủa nguyên tắc này

được đề cậptrực tiếphoặc gián tiếp trong tất cả

các vãnkiệnquốc tếvềquyềncon người

Nội dung của nguyên tắc bao gồm ba khía

cạnh liên kếtvới nhau (mà đôi khi được đềcập

nhưcác quyền hàm chứa(unenumeratedrights),

đó là: (i) Không bị phân biệt đối xử, (ii) Được

thừa nhậntư cách conngười trước pháp luật,và

(iii) Có vị thế bình đẳng trước pháp luậtvàđược

pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng8

Quy định về nguyêntắc quyền quan trọng

này đầutiên được đề cập trong các Điều 1, 2,

6, 7, 8 Tuyên ngôn thế giới về quyền con ngườinăm 1948, sau đó, đượctái khẳng định trong các Điều 2, 3, 16 và 26 Côngước quốc

tế về các quyền dân sự, chínhtrị năm 1966, cụ thể như sau:

về khía cạnh thứ nhất, Điều 1 Tuyênngôn thế giới về quyền conngười nêu rõ, mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và các quyền Điều 2 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người quy định, mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và tự do mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủngtộc, màuda, giới tính, ngônngữ, tôngiáo, quan điểmchínhtrị hoặc quan điểmkhác, nguồn gốc dântộc hoặc xã hội,tài sản, thành phần xuất thân haycác địa vị khác

Điều 2 Tuyênngôn thế giới về quyền con ngườicấm phân biệt đốixử dựa trên địa vị chính trị, pháplý củaquốc gia hoặclãnhthổ,bất kể là lãnh thổ độclập, uỷtrị, quản thác, chưa được tự quàn hay đang phải chịu bất kỳ hạn chế nào khác về chủ quyền Hai điều kể trên cùa Tuyên ngônthế giới về quyềncon người đượcnhắc lại

và cụ thể hóa trong các Điều 2 và 3 Công ước quốctế về các quyềndân sự,chínhtrịnãm 1966 Theo Điều 2 Côngước quốctế về cácquyền dân

sự,chinh trịnăm 1966 xáclậptrách nhiệm:Các quốc gia thành viên Công ướccamkếttôn trọng

và bảo đảm cho mọi người trong phạm vi lãnh thổvà thẩm quyền tài phán của mình các quyền

đã được công nhận trong Công ước mà không

có bất kỳ sựphân biệt nào về chủng tộc, màu

da, giới tính, ngôn ngừ, tôn giáo, quan diêm chính trị hoặc quan điếm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc địa vị khác (Khoản 1)

CácKhoản2 và 3 Điều2 Công ước quốc tế

về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 ghi nhận nghĩa vụcùacác quốc gia thành viênphải tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thực hiện cácquyền được côngnhận trong Công ước

vàbảo đàm rằngbất cứngười nào bị xâmphạm

8 Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội: Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 2011, ư 191.

©

Trang 5

9ỈỊỊt)ề Vllột

các quyền và tự do như được công nhận trong

Công ước đều nhận được các biện pháp khắc

phục hiệu quả, cho dù sự xâmphạm nàylà do

hành vi của những người thừa hành công vụ

gây ra

Điều 3 Côngước quốc tế về cácquyền dân

sự, chính trị năm 1966 chú ý đến bình đẳng

giữa nam và nữ, theo đó, các quốc gia thành

viên Công ước cam kết bảo đảm quyền bình

đẳng giữanam vànữ trong việc thực hiện tất cả

các quyềndân sự và chínhtrị như Công ước đã

quy định

vềkhía cạnh thứhai,Điều 6 Tuyênngôn thế

giới về quyền con người quy định: Mọi người

đều có quyền được công nhận tư cách là con

người trướcpháp luật ở mọinơi Quyđịnh này

được tái khẳng định nguyên văntrong Điều 16

Côngước quốctế về cácquyền dân sự, chính trị

năm 1966

về khía cạnhthứba, Điều 7Tuyên ngôn thế

giới về quyền con ngườikhẳngđịnh: Mọi người

đều bình đẳng trước pháp luậtvà được pháp luật

bảo vệ một cáchbình đẳng mà không cóbất kỳ

sựphân biệt nào Điều 8 Tuyên ngôn thế giới

về quyềnconngười cụ thể hóa quy định ở Điều

7 bằngghinhận: Mọi người đều có quyềnđược

các toàán quốc giacóthẩm quyềnbảo vệbằng

cácbiện pháp hữu hiệu để chống lạinhữnghành

vi viphạmcác quyền cơ bảncủahọ mà đãđược

hiếnpháp haypháp luật quy định

Điều26Côngước quốc tế vềcác quyền dân

sự, chính trị năm 1966 tái khẳng định hai quy

định kể trêncủa Tuyênngôn thếgiới về quyền

con người, đồng thời nêu rõ, về mặt này, pháp

luậtphải nghiêm cấm mọisựphân biệt đối xử và

bảo đảm cho mọi người sự bảo hộ bình đẳng và

có hiệuquà chổng lại nhữngphânbiệtđối xử về

chủngtộc,màuda, giới tính, ngôn ngữ, tôngiáo,

quanđiểmchính trị hoặc quanđiểm khác, nguồn

gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thànhphầnxuất

thân hoặc các địa vịkhác.Bêncạnh những khía

cạnh đã nêucụ thể trong các quyđịnhở,ủyban Nhân quyền (Human Rights Committee - cơ quan giám sát thực hiện Công ước quốc tế về các quyềndânsự,chínhtrịnăm 1966 của Liên hợp quốc), trong Bình luận chung số 18 thông qua tại phiên họp lần thứ 37 năm 1989 của ủy ban đã phân tích về ý nghĩa và nội hàm của quyền nàymột cáchkhá chitiết, ởđâyxin tóm tắt nhữngđiểm chính như sau9:

9 Các binh luận chung của ủy ban Nhân quyền HRC được trích ở đây là theo: http://www2 ohchr.org/english/bodies/hrc/comments.htm và theo cuốn Gudmundur Alfredsson và Asbjom Eide (Chủ biên): Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền 1948- Mục tiêu chung của nhân loại, Nxb Lao động- Xã hội, Hà Nội- 2011, tr 185- 189.

Thứ nhất, không phân biệt đối xử, bình đẳngtrước pháp luật vàđược phápluật bảo vệ một cách bình đẳng đóng vai trò là cơ sở và nguyên tắc chung trong việc bảo vệ tất cả các quyền con người Các quốc giathành viên có tráchnhiệm bảo đảm quyền nàycho mọi người

có mặt trên lãnhthổnước mình, bất kểngườiđó

là công dân nước mình, người không quốc tịch hayngườinước ngoài, bất kể cácyếu tốdân tộc, chủng tộc, quốc tịch, giới tính, ngôn ngừ, tôn giáo, quan điểm chính trị, thành phầnxã hội,tài sảnhay bất kỳ yểu tố nào khác (đoạn 1)

Thứ hai, Điều 26 Công ước quốc tế về các quyền dânsự, chính trị năm 1966, không chỉ cho phép tất cảmọi người có vị thếbình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng, mà còn nghiêm cấm các quốc gia thành viênban hành bất kỳ quyđịnh phápluật nào có tính chất phânbiệt đối xử (đoạn 1)

Thứ ba, quyền không bị phân biệt đối xử, bình đẳng trước pháp luậtvà được phápluật bảo

vệ mộtcáchbình đẳng phải được áp dụngtrong mọi tình huống, kể cảtrong tình trạng khẩn cấp của quốcgia được quy định ở Điều 4 Công ước quốctếvề các quyềndân sự, chínhtrị năm 1966 (đoạn2)

Thứ tư, quyềnkhông bị phân biệt đối xử, bình đẳng trước pháp luậtvà được pháp luật bảo

vệ mộtcáchbìnhđẳngmang tính chấtkhái quát, thểhiện trong nhiềubốicảnh,cómối liên hệ với việc thực hiệncác quyền con người khác, cụthể như vớiquyền được bình đẳng trước tòa án (các

©

Trang 6

HỌC VIỆN Tư PHÁP

Khoản 1 và3 Điều 14 Côhg ước quốc tế về các

quyền dân sự, chính trị năm 1966), quyềnđược

tham gia vào đời sống cùacộng đồng (Điều 25

Côngước quốc tể về cácquyền dân sự, chính trị

năml966) (đoạn 2)

Thứ năm,các quốc giathành viên cóquyền

tự quyết định các biện pháp thích hợp để thực

hiện quyền này, tuy nhiên, trong nhiều trường

hợp, cầnphải có những hành động chủ động(ví

dụ như: để bảo đảm sự bình đẳng về quyền và

trách nhiệm củavợ và chồng nêutrong Khoản 4

Điều24 Công ước quốc tế về các quyền dân sự,

chínhtrịnăm 1966 ) (đoạn5)

Thứ sáu,trên thực tế Côngước quốc tế về

các quyềndânsự, chínhtrị năm 1966, không

đưa rađịnh nghĩa về sự phân biệt đối xử, tuy

nhiên, theoủy ban Nhân quyền, thuật ngữ này

được hiểu làbất kỳ sự phân biệt, loại bỏ, hạn

chế hay thiên vị nào thực hiện dựa trênbất kỳ

yếu tố nào như: chủng tộc, màu da, giới tính,

ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay

quan điểm khác, quốc tịch hay thành phần xã

hội, tài sản, nguồn gốc hay các vị thế khác, mà

có mục đíchhoặc cótácđộng làmvô hiệu hóa

hay làm suy giảm sự thừa nhận, thụ hưởng hay

thực hiện các quyền và tự do của tất cả mọi

người trên cơ sở bình đẳng (đoạn7) Cũngtheo

ủy ban, trong các bối cảnh có liên quan, các

định nghĩavềsự phân biệt đối xử về chủngtộc

nêuở Điều 1 Công ước quốc tế về xóabỏ mọi

hình thứcphân biệt đối xử về chủngtộc, và về

phân biệt đổi xử chống lại phụ nữnêu ở Điều 1

Công ước về xóa bò tất cả các hình thức phân

biệt đối xử chống lại phụ nữ sẽ được ápdụng

(đoạn 6)

Thứ bảy,quyền bình đẳng không có nghĩa là

áp dụng một kiểu đối xử cho mọi đối tượng

trong cùng một tình huống (tức cào bằng), và

không phải mọi sự khác biệtvề đối xử đều tạo

nênsự phân biệt đối xử Nếu sự đốixử khác biệt

được xác định dựa trên các điều kiện hợp lý,

khách quan và nhằm mục đích để đạt được sự

bìnhđẳng thì không bị coi là trái với Công ước

quốctếvềcác quyềndânsự, chínhtrị năm 1966

(các đoạn 10 và 13)

3 Nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử trong pháp luật Việt Nam

Hiến pháp đầu tiên năm 1946 cho đến Hiến pháp năm 2013 đều long trọng ghinhậnnguyên tắcbình đẳng, không phân biệtđối xử

Điều 6 Hiến phápnăm 1946 khẳngđịnh: Tất

cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá Theo Điều thứ 18 Hiến pháp năm 1946, tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, đều có quyền bầu cừ, trừ những người mất trí và những người mất công quyền Điều22 Hiến pháp năm 1959 ghi nhận công dân nước ViệtNam Dân chủCộnghoàđều bình đẳng trước pháp luật Tronglình vực bầu cử, công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, không phân biệt dân tộc, nòi giống, nam nữ, thành phần xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng, tình trạng tài sản, trình độvãn hoá,nghề nghiệp, thời hạn cư trú, từ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử, từ hai mốt tuổi trở lên đều có quyềnứng cử, trừnhững người mất trí và những người bị Toàán hoặc pháp luậttước quyền bầu

cử và ứng cừ (Điều 23 Hiến pháp năm 1959) Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình Cùng việc làm như nhau, phụ nữ được hưởng lương ngangvới namgiới Nhà nước bảo đảm cho phụ nữ công nhân vàphụnữviênchức được nghỉ trước và sau khi đẻ màvẫn hưởng nguyên lương (Điều 24Hiến phápnăm 1959) Hiến pháp năm 1980tiếp tục khẳng định tại Điều 55: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật Công dân khôngphân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡngtôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp,thời hạn cư trú,

từ mười tám tuổi trởlênđều cóquyền bầucử và

từ hai mươi mốt tuổi trởlênđều có thể được bầu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, trừ những người mất trí và những người bị pháp luật hoặc Toà án nhân dân tước các quyền đó (Điều 56Hiến pháp năm 1980)

Hiến phápnăm2013 đã ghinhậntrongĐiều

16 nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối

©

Trang 7

9ỉní|ề Vuật

xừ với hai khoản: 1 Mọi người đều bình đẳng

trướcpháp luật 2 Không ai bị phân biệt đốixử

trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn

hóa, xã hội Như vậy quyền bình đẳng trước

pháp luật được thừanhậnchotất cả mọi người

đang có mặt trên lãnh thổnướcViệt Nam, không

phânbiệtcó quốc tịch hay không có quốctịch

Hiếnphápnăm 2013 khẳng định: Côngdân

nam, nữ bình đẳng về mọi mặt Nhà nước có

chính sách bảođảm quyền và cơ hội bình đẳng

giới (Khoản 1 Điều 26) và nghiêm cấm phân

biệt đối xử về giới (Khoản 3 Điều 26) Nam,

nữ có quyền kết hôn, ly hôn; hôn nhân theo

nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một

chồng, vợchồng binhđẳng, tôn trọng lẫn nhau

(Khoản 1 Điều 36)

Điều 35 Hiến pháp năm 2013 nghiêm cấm

phânbiệt đối xử, cưỡng bức lao động, sừ dụng

nhâncông dướiđộ tuổi lao động tốithiểu

Nguyên tắc không chi được khẳng định

trong Hiến pháp mà còn được cụ thể hóa văn

bản pháp luật chuyên ngành Trong tư pháphình

sự, nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật được

quy định tạiđiểmb Khoản1 Điều 3Bộluật hình

sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm2017; Điều

9 Bộluật tố tụng hìnhsự năm2015 Trong quan

hệ dân sự, tốtụngdân sự, nguyên tắc này được

thể hiệntrong Điều 8 Bộ luật dân sự năm 2015,

Điều 8 Bộ luật tố tụng dân sự và một số điều

luật khác có liên quan

Trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội,

nguyên tắc này được quy địnhtại các Điều 2

Luật bầu cừ Đại biểu Quốchội và Đại biểu Hội

đồng nhân dân năm 2015, theo đó, mọicông dân

đều bình đẳng về các quyền bầu cử, ứng cửvà

quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã

hội Trongquan hệ giađình, Luật hôn nhân và

gia đình năm 2014 quy định về quyền bình đẳng

giữavợvà chồngtrong mọi vấn đề trong quan

hệ gia đìnhcũng như quyền bình đẳng giữa con

trai, con gái Trong quan hệ kinh doanh

thương mại, Điều 5 củaLuật doanh nghiệp năm

2014, Điều 10 Luật thương mại năm 2005 đều

khẳng định địa vịpháp lývà nguyên tấc đốixử

binh đẳng giữacác doanhnghiệp vàcác thương

nhân thuộc mọi thành phần kinh tế Đặc biệt, về vấn đề giới, Quốc hội đã ban hành Luật bình đẳng giớinăm2006

Việt Nam khôngnhữngtuyênbố nguyên tắc bình đăng, không phânbiệt đốixừ mà còn luôn quan tâm tạocác điềukiện cần thiếtđểcông dân được hưởng quyền bìnhđẳng và khôngbị phân biệt đối xử Cóthể minh chứngtừ lĩnhvựcbình đẳng giới vàbảo đảm quyền của phụnữ; quyền của người khuyếttật vàcácđốitượng dễ bị tổn thương khác trong xã hội

Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng xây dựng và phát triên các chính sách, chương trình nhăm thúc đây bình đẳng giới, tạo điều kiệnđê đảm bảo quyền của phụ nữ Trong thời gian vừa qua, Việt Nam đã đạt được một số thành tựu quan trọng trong việc thúc đẩy quyênphụ nữ như: xây dựngvà banhành các văn bản pháp quy thể hiện nguyên tắc về bình đẳng giới và không phânbiệt đối xử theo quy định của Luật bình đẳng giới năm 2006 và Công ước CEDAW; lồngghép binh đẳng giới trong việcxâydựng và thực thi pháp luật; ban hành Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giaiđoạn 2011-2020 và Chương trìnhquốc gia

vê bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015 với mụctiêu nâng cao nhận thức, thu hẹp khoảng cách về giới và nâng cao vị thế của phụ nữ; tích cực thựchiện các sáng kiến quốc tếvà khu vực nhằmthúc đẩy việc bảo vệ quyền của phụ

nữvà chống phân biệt đối xử đối với phụnữ

Bộ luật lao động sửa đổi được Quốc hội thông qua tháng 6/2012 quy định tăng thời gian nghỉ thai sản cùa lao độngnữ từ 4 tháng lên thành

6 tháng Chiến lượcquốc giavề bình đẳng giới

và tiến bộ của phụ nữ được tập trung triển khai

ởnhững vùng vàkhu vực có sựbất bình đẳng

và nguy cơ bất bình đẳng cao, góp phầnngăn chặn, đẩy lùi tình trạng buôn bán phụ nữ và bạolực trong gia đình, tạo điều kiện để phụ nữ tham gia học tập,bồi dưỡngnâng caotrình độ, đáp ứng yêu cầu công việc, nhiệm vụ Chính phủ cũng triển khai các giải pháp trong việc thực thi pháp luật cũng như hợp tác quốc tế nhăm vượt qua những thách thức chủyếuliên

©

Trang 8

HỌC VIỆN Tư PHÁP

quan tới nhận thức về bình đẳng giới; xoá bỏ

bạo lực giới và bạo lực gia đình; khoảngcách

giữa pháp luật và thực tiễn (việc làm, thu

nhập, địa vị xãhội ).Tỷ lệnữ tham gia Quốc

hội khóaxin (2011-2016) đạt 24,4%,đua Việt

Namnằm trongnhóm nước cótỉlệ nữ đạibiếu

Quốc hội cao ờkhu vực và thế giới (đứngthứ

43/143 nước trên thế giới và thứ 2 trong

ASEAN) Phụ nữ đảmnhiệm nhiều vị trí lãnh

đạo chủ chốt của đấtnước như Chủ tịch Quốc

hội, Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc

hội, Bộ trưởng;Thứ trưởng Tì lệ lao động có

việc làm là nữ giới chiếm49% Tính đến hết

năm 2011, ti lệ phụnữbiết chữ là 92%; 80%

trẻ em gái ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc

thiểu số được đi học đúng tuổi Ti lệ nữ sinh

viên chiếm trên 50%; 30,53% Thạc sỹ và

17,1% Tiếnsỹ là nữgiới Nỗ lực bảo đảm bình

đàng giới của Việt Nam đã được quốc tế ghi

nhận: theo xếp hạng năm 2012 của Liên hợp

quốc về chỉ số bất bình đẳng giới (G1I), Việt

Nam xếp thứ 47/187 quốc gia, so với vị trí

58/136 quốc gia năm 2010 Việt Nam nghiêm

túc triểnkhai thực hiện Công ước quốc tế về

xoábỏ mọi hình thức phân biệt đốixử với phụ

nữ (CEDAW) trên cả phương diện thúc đẩy

hoàn thiện luậtpháp và tổ chức triểnkhai thực

hiệntrongthực tiễn

Đối với người khuyết tật, chính sách

chung của Nhànướclàkhuyến khích, tạođiều

kiện thuậnlợi cho người khuyếttậtthực hiện

bình đẳng về các quyền về chính trị, kinh tế,

văn hoá, xã hội và phát huykhả năng của họ

để ổn định đời sống, hoà nhập cộng đồng,

tham gia cáchoạt động xã hội Người khuyết

tật được Nhà nước và xã hội trợ giúp chăm

sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng, tạo việc

làm phù hợp và được hưởng các quyền khác

theo quy định của pháp luật

ViệtNam đã ký Công ước về quyền của

người khuyếttật năm 2008 và hoàn thành thủ

tục phêchuẩn trong năm 2014, cũng như đang

nỗlực xâydựng vàhoàn thiện luật pháp, chính

sách nhằm thúc đẩy quyền của người khuyết

tật Thủ tướng Chínhphủ đã phê duyệt Đồ án Trợ giúp người khuyết tật giai đoạn từ năm

2012 đến nãm 2020 nhằmđẩy mạnh thựchiện các chính sách trợ giúpngười khuyết tật theo quyđịnh của Luậtngườikhuyếttật, đồng thời thực hiện cam kếtcủa Chính phủ Việt Nam về

7 lĩnh vực ưu tiên trong Thập kỷ thứ II Thiên niên kỷ Biwako về người khuyết tật khu vực châuÁ - Thái Bình Dương Đề án chia làm 2 giai đoạn với những chi tiêucụ thể nhằm thúc đẩy sự hòa nhập của người khuyết tật trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, lao động, xây dựng, giao thông, công nghệ thông tin, văn hóa, thể thao, pháp lý Bên cạnh đó, Chính phủ cũng triển khai một loạt các chínhsách trợ giúp người khuyếttậtnhư đề ántrợgiúp phục hồi chức năng cho người tâm thần; tham gia

và thực hiện các sángkiến của quốc tế vàkhu vực; tăng cường sự thamgiacủa người khuyết tật và bảo vệ quyền của người khuyết tật; hồ trợ thành lập các tổ chức tự lực của người khuyết tật; trợ giúp đào tạo nghề và tạo việc làm; cải thiện khả năng tiếp cận và sử dụng cáccông trình vănhoá, côngcộng và các dịch

vụ xã hội cơ bản khác của người khuyết tật

Sự kiệnTuyên ngônthế giới về quyền con ngườiđược Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua tháng 12 năm 1948, trong đó có khẳng định mạnh mẽ nguyên tấc bình đẳng, không phân biệt đối xử đã thể hiện sự thắng lợi của cuộc đấu tranh kiêntrì, bềnbỉ của cả nhân loại

vì những giá trị cao cả củatự do, nhân phẩm

và quyền con người

Hiếnphápcủacácquốc gia trên thế giớiđều long trọng tuyên bố nguyên tắc này Sau việc tuyên bố trong đạo luật cơbản, công việc còn khó khănhơnnhiều đó là thực hiện nguyên tắc bình đẳng, quyền bình đẳng trước pháp luật, không bị phânbiệt đối xử trong thực tiễn cuộc sống.Việt Namđã và đang thực hiện tốt các cam kết quốc tế, trongđó cócam kết bảo đảmquyền bình đẳng của tấtcả mọingườitrước pháp luật, không bịphân biệt đối xử trongđời sống chính trị, dân sự,kinh tế, văn hóa, xã hội./

e

Ngày đăng: 29/10/2022, 21:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w