TÍNH DỀ BỊ TỔN THƯƠNG CỦA NỮLAO ĐỘNG DI TRÚ TỪ NÔNG THÔN ĐẾN THÀNH THỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY: THựC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ • DƯƠNG THỊ HẢI YÊN TÓM TẮT: Nữ laođộng di trú từ nông thôn đến
Trang 1TÍNH DỀ BỊ TỔN THƯƠNG CỦA NỮ
LAO ĐỘNG DI TRÚ TỪ NÔNG THÔN ĐẾN THÀNH THỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY:
THựC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
• DƯƠNG THỊ HẢI YÊN
TÓM TẮT:
Nữ laođộng di trú từ nông thôn đến thànhthịở Việt Namhiện nay làmộtxu hướng tất
yếu của sự phát triển Đâylà nhómxã hội dễ bị tổn thươngcầnsự quantâmđặcbiệttừxã hội
Tính dễbịtổn thương của nữlao động di trútừnôngthônđến thành thị thể hiện rõ nét ở các
khía cạnh: Tính dễ bịtổnthương trong công việc, tínhdễ bị tổn thương trong tiếp cận an sinh
xã hội và tínhdễbị tổn thương trong đờisống sinh hoạt.Bài viết bàn về thựctrạngtínhdễbị
tổn thương củanữlaođộng di trú từ nông thôn đến thành thị ở Việt Nam, từ đó có cơ sở đưa
ra mộtsố kiến nghịđể giảm tính dễ bị tổn thương vàbảo đảm quyền của nhóm xã hội này
Từ khóa: Nữlao động, di trú,tínhdễbịtổnthương,nông thôn, thành thị
1 Đặt vấn đề
Xu hướng rời khỏi nơi cư trú vì mục đích làm
việc đang diễn ra phổ biến ở Việt Nam Tốc độ
gia tăng tỷ lệ lao động di trú từ nông thôn đén
thành thị hàngnăm từ năm 2010 đến năm 2020 là
9,2% Với số lượng năm 2010 là 855.943 người,
đến năm 2020 là 2.062.171 ngườivà dự báo tới
năm 2030 đạt 5 triệu người Trongđó, tỷ lệ là lao
động nữ luôn chiếm trên 50%' Với sự gia tăng
mạnh mẽlượngnữ lao động nôngthôn đến thành
thị đó đặt ra mộttất yếu phải nghiên cứu để có
cách nhìn nhận thấu đáo hơn đến nhómxã này
2 Thực trạng tính dễ bị tổn thương của
nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị
Việt Nam hiện nay
2.1 Thực trạng tính dễ bị tổn thương trong
công việc
Tính dễ bị tổn thương trong công việc liên quan đến hợp đồng laođộng,điều kiện làm việc, chế độ đãingộ
1) Nữ lao động di trú phải đối mặt với khó
khăn liên quan đến hợp đồng lao động
Theo công bố kết quả “Tình hình di chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, trong số 7.800 lao động lao động nông thôndi cư tại 15 tỉnh, thành phố lớn, có 46,2% tổng số lao động không ký bất cứ họp đồng lao động nào Đối với nữ lao động di trú, tình trạng không ký hợp
104SỐ 12-Tháng 5/2021
Trang 2long cũng xảy ra Gần65% lao động nữ di trú ký
iiợp đồng lao động, 23% thỉnh thoảng hoặc đôi
khiký, còn lại 12% chưa bao giờ ký hợp đồng
Việc chưa bao giờ được ký hợp đồng hay đôi
khiđược ký rõ ràng khiến người lao động rơi vào
tìnhthế dễ bịtổn thương cao như: mất việc không
được báo trước, không có bồi thường khi tai nạn
lao động Chế độ làm việc theo hợp đồng lao
động quy địnhtại Bộ luật Laođộng không được
áp dụng đối với lao động di trú tự do, nên đối
tượng nữ lao động làm việc tự do sẽ không nhận
được sự bảo đảm về điều kiện làm việc hay một
số chếđộ khác như nữ công nhân
2) Điều kiện làm việc của nữ lao động di trú từ
nông thôn đen thành thị ít được đảm bào
Nữlao độngdi trú từ nông thôn đến thành thị
thường bị phân biệt đối xử trong quá trình tìm
kiếm việc làm và cảtrong quá trình làm việc Đối
với nữ lao động là công nhân, trong quá trình
tuyển dụng vẫn còn bị phân biệt về giới Người
sử dụng lao động có xu hướng ưu tiên sử dụng
lao động là nam giới hơn là nữ giới Theo khảo
sát của Tổ chức Actionaid, có tới 16,5% nữ lao
động di trú bị phân biệt đối xửvề giới trong quá
trìnhtuyểndụng Lý do nhà tuyển dụng đưa ra là
quá trình làm việc của phụ nữ sẽ bị ngắtquãng vì
mang thai, sinh con, nuôi con Trong vấn đề về
thu nhập cũng xảy ra tình trạng phân biệtđối xử
theo độ thu nhập của nam giới đượctrả cao hơn
so với nữgiới (thu nhập thực tế của nữ công nhân
chỉ chiếm 74,5% thu nhập của nam giới trong
cùng một ngành nghề tại một số doanhnghiệp)2
2.2 Thực trạng tính dễ bị tổn thương trong
tiếp cận an sinh xã hội
Tínhdễ bị tônthương trong tiếp cận an sinh xã
hội liên quan đến bảo hiểm ytế, bảo hiểm xã hội
Nữlao động di trú từ nông thôn đến thành thị
gặp nhiều trở ngại trong việctham gia bảo hiểm
ytế và hưởng chếđộ bảo hiểm y tế tại nơi đến
Có gần 1/2 nữ lao động di trú không có bảo
hiểm y té Điều đó có nghĩa là ít nhất 1/2 nữ lao
độngdi trú phải chi tiền túikhi cần phải sửdụng
các dịch vụ y tế mà không có bất kỳ sự hỗ trợ nào3 Đâylà một rủiro lớn với phụnừ, nhất là với nhữngtrường hợp chiphí chăm sóc y tếcao Bên cạnh đó, vì không có bảo hiểm y tế nên muốn chăm sóc sức khỏe thì nữ lao động di trú làmviệc tự do sẽ phải sửdụng các dịchvụ chăm sócytế tư nhânđắt đỏ4
Việc tham gia các loại hình bảo hiểm xã hội cùanữlao động di trútừ nông thônđến thànhthị còngặprất nhiềukhó khăn
Người lao động vàngười sử dụng lao động có trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội Việc có thực hiện nghĩa vụ này hay không là một yểu tố rất quan trọng đối với mứcđộ dễ bị tổn thương của phụnữ di trú Tuy nhiên, cóđến hơn 37% phụ nữ
di trúkhông có bảo hiêm xã hội, nói cách khác, họ
sẽ không được bảo hiểmxã hội chi trảtiền lương hưu saukhi hết tuổi lao động Đây là một rủi ro lớn đối với người lao động, cần nhấn mạnh sự khác biệt rất lớn vềtỷlệcó bảo hiểm xãhội giữa
tỷ lệ phụ nữditrú làm công nhân và tỷ lệphụ nữ lao động tựdo Trong khi hơn67%nữ côngnhân
có bảo hiểm xã hội thì chỉ có chưa đến 29% nữ
di cư lao động tự do có hình thứcbảo hiểm này Đốivới nữlao độngdi cư làm việctựdo, việc tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện cũng rất xa vời Trong số thanh niên di cư làm việc tại khu vực phi chínhthức tại Hà Nội, tỷ lệtham gia bào hiêm xà hội chỉ chiếm 3%5 Theo nghiên cứucủa Viện Phát triển sức khỏe cộng đồng Ánh sáng, trong số nữlao độngdi trú làm việc tự do tại Hà Nội, có91,45% nữlao động tự do không biếtđến Luật Bảo hiểmxã hội Đây là con sốrất lớn phản ánh sự hạn chế cùa nừ lao động di trú tựdo trong việc tham gia bảo hiểmxãhội
2.3 Thực trạng tính dễ bị tổn thương trong
đời sắng sinh hoạt
Tính dễ bịtổnthươngtrongđờisốngsinh hoạt của nữ lao động di trú từnôngthôn đến thành thị liên quan đến điều kiệnđời sống sinh hoạt (như: nhà ở, sữ dụng điện, sử dụng nước) và việc hòa nhậpcộng đồng
SỐ 12-Tháng 5/2021 105
Trang 3- về khó khăn liên quan đến đời sống sinh hoại
Tỷlệ nữlao động di trútừnông thônđến thành
thị có hộ khẩu thường trú là rất ít, chiếm khoảng
3,3%, chủ yếu hình thứcđăng ký làtạm trú hoặc
không đăng ký hộ khẩu6 Thực trạng này sẽ dẫn
đến việc nữlao động di trútừ nông thônđếnthành
thị phải đối mặt với sự khỏ khăn trong việc tiếp
cận các dịch vụ khác nhưgiáo dục, y tê, vayvốn
tín dụng, những dịch vụ được đáp ứng có liên
quan đên hộ khâu
Một trong những khó khănđầu tiên mà phụ nữ
nhập cư gặpphải chính là khó khănvề nhà ở Hầu
hếtphụnữ nhập cư đềusống trong nhà cấp 4 (gần
71%); khoảng 8% phải sống trong các nhà tạm
bợ Chu yếu họ sống trongcáccăn phòng có diện
tích trêndưới 10m2, với từ 2 -4 phụ nữ nhập cư
cùng sinh sống Các phòng trọ đềukhông có nhà
tắm, nhàvệ sinhriêngmà sử dụng chung với chù
nhà trọ hoặc với các phòng trọ khác Tình trạng
nhà ở của laođộng di trú từ nông thôn đến thành
thị cũng đáng lo ngại, bởi có đến 79% phải sống
trong tìnhtrạng nhà bán kiên cố Bên cạnh đó, có
đến 68% phụ nừ di trú thuê nhà nhưng không có
hợp đồng thuênhà nênrấtrủi ro, có thể bị người
cho thuê lấy lại nhà vì bất kỳlý do gì mà không
báo trước;những quyền hợppháp khác của người
thuê nhàcũngkhông được đảm bảo7
Đi kèm vớiđiều kiệnvề chỗ ởlà sử dụngđiện
vànước sinhhoạt Laođộngnhập cư thườngphải
trả chiphí cao hơn cho sử dụngnước sinh hoạtvà
sử dụng điện Lý do chính là vì hầu hết lao động
nhập cư đều thuê phòng trọ của người cho thuê
là các chủ hộ tư nhân, không có đồng hồ nước
và công-tơ điện riêng nên phải chịu mức chi phí
trả cho nước sinh hoạt và điện cao hơn nhiều so
với mức quy định Ngoài ra, chất lượng nước sinh
hoạt cũng rất kém, khôngđảmbảovệ sinh
vềđiệnsinhhoạt, lao động di trú thường phải
trả giá điện cao hơn so với mức quy định Giá
điện thường dao động từ 2.500 đồng đến 3.500
đồng mộtsố điện Trong thựctế, giásử dụng điện
caovì các chủ nhà trọ tính giá điện vào khung giá
có mức sử dụng điện lớn Vì chỉ có một công-tơ
điện, nên chủ nhà trọ phải trả tiền điện ở khung giá cao, dẫn đến giá điện mà họ yêu cầu người lao động nhậpcưtrảcũng cao Bên cạnh đó, một
số chu nhàtrọ còncố tinh nâng mức giáđiện lên cao như là một khoản phụ trội Cùng với tiền thuê nhà, tiền điện hàng tháng mà các nữ lao động di trúphải tra cũng chiếm một khoảnđáng kể trong các khoảnchi tiêu cùa họ
- về hạn chế trong việc hòa nhập cộng đồng
Mức độ hòa nhập với sinh hoạt chính trị, xã hội và văn hóa tại nơi đến là một yếu tố quyết định đối với đảm bào quyền dân sự và chính trị, quyền văn hóa và xãhộicủaphụnữ nhập cư được đảm bào ớ khíacạnhnày, phụ nữ di trú vì mục đích lao động trong diện được khảo sát có tính
dễ bị tổn thương rất cao về khía cạnh hòa nhập
xã hội Xét về khía cạnhtham gia các hoạt động cộng đồng, kết quả khảo sát cho thấy phụ nữ di trú ít tham gia vào các sinh hoạt cộng đồng nơi
họ đăng ký tạm trú Có đến 64% số người được hỏi nói họ “chưa bao giờtham gia sinh hoạtcộng đồng” tại nơi cư trú, 68% chưa bao giờ tham gia sinh hoạt tổ dânphố Sinh hoạt Hội Phụ nữ cũng rất hạn chế đối với lao động nữ di cư Kết quả kháo sát chothấy,có đến 66% phụ nữdi trú chưa bao giờ tham gia vào sinh hoạt của các Chi hội phụnữ tại nơi đến Cáchoạt động sinh hoạtcộng đồng tự nguyện khác như sinh hoạt câu lạc bộ, sinh hoạthội đồng hươngcũng còn rất hạn chế 8 Ngoài ra, nữ lao độngdi trú vẫn có khả năng cao bị lạm dụng tinh dục cũng như bị dụ dồ, ép buộc vào cáctệ nạn xã hội tại nơi đến Hay việc nhiều phụ nữ di trú còn phải chịu áp lực và tổn thương về tinh thần do không bảo đảm được hôn nhân tại quênhà Vi ít được đoàn tụ gia đình, vất
vả kiếm sống mưu sinh, người chồng vẫn tồn tại
tư tưởng gia trưởng, không hiểu hoàn cảnh của
nữ lao động di trú nên việc ly hôn là điều khó tránh khỏi
Như vậy, có thể khẳng định nữ lao động di trú
là nhóm xãhội đang phải chịunhững tổn thương trên nhiều góc độ Đẻ giảm bớt tính dề bị tổn thương đó nhất thiết phải đưa ra các giải pháp
106SỐ 12 -Tháng 5/2021
Trang 4đế đảm bảo đượccác quyền đặc thù, có liên quan
trựctiếp tới nhóm xãhội này
3 Một số kiến nghị nhằm giảm tính dễ bị
tổn thương của nữ lao động di trú từ nông thôn
đến thành thị ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, cần nâng cao nhận thức của Đảng,
Nhànước và xãhội về bảo đảm quyền của nữlao
động di trú từ nông thôn đến thành thị, phải coi
đây là nhóm xã hội dễ bị tổn thương cần được
quan tâm, hỗ trợ Đồng thời, phải xem nhóm xã
hội này là mộtvấn đề pháttriến chứ không được
phiêndiện dưới góc độlà cần hạn chế bời tạo sự
quá tải cho đô thị hiệnnay
Thứ hai, tăng cường hoànthiện chính sách và
khungpháp lý về bảo đảm quyền của nữ laođộng
di trú từnôngthônđến thành thị Người lao động
ditrú, đặc biệt là nữlao độngdi trú cầnđược đưa
vào các chính sách quan trọngcủa đất nước như
các Chiến lược phát triến kinhtế- xã hội, Chiến
lược chăm sóc sức khỏe, Chính sách hồ trợ giảm
nghèo, Chính sách tạo việc làm ổn định, Chính
sách hỗ trợ sử dụng các dịch vụ xã hội, cần
xem xétđể đưa đối tượng này vào đối tượng bảo
trợ xã hội Phải xây dựng khung pháp lý chặt chẽ,
đầy đủvà có tính đặc thùriêng cho đối tượng lao
động di cư Đặc biệt, phải xem đối tượng laođộng
di trú làm việc không có hợp đồng cũng phải là
người lao động được báo dam bằng cácquy định
đặc thù cho nhóm lao động này Việc xây dựng
chê định riêng về nhómngười lao động làmviệc
tự do tương tự như việc bảo đảm các nhóm lao
động đặc thùtrongBộ luật Lao động hiện nay như
lao động chưa thành niên hay nhóm lao động là
người cao tuổi
Thứ ba, hoàn thiện bộ máy nhà nước để bảo
đàm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn
đến thành thị Giao trách nhiệm quản lý và hỗ trợ
nhómxã hội này cho Bộ Lao động -Thương binh
và Xã hội,khôngthànhlập thêm Cụcmớimàgiao
thêm trách nhiệm này cho Cục Quản lý lao động
ngoài nước Đổi tên Cục Quảnlý lao động ngoài
nước thành Cục Quản lý lao động di trú Nhiệm
vụ của Cục bao gồm quản lý và bảo đảm quyền của cảlao động di trútrong nước, lao động di trú Việt Nam ở nước ngoài và lao động nước ngoài
ởViệt Nam
Thứ tư, cân tăng cường hoạt động bảo đàm, thúc đẩy và băo vệ nữ lao động di trú từ nông thônđếnthành thịcủa các tồ chức đoàn thểtrong
xãhội
Cáctổ chức đoànthể xã hội có vai trò rất lớn
để gópphần bảo đảm, thúc đẩy và bảo vệ nữ lao động di trútừ nông thônđếnthành thị ở Việt Nam Trong nhiệm vụ và các chương trình hoạt động cua các đoàn thể xã hội phài hướng tới nhóm xã hộinày.Đặc biệttại nơi đến, cần tránh quan điểm chú trọng vàodân cưđã cư trú thường xuyêntrên địa bàn màbởquađốitượng là nữlao động di cư Hoạtđộng của các đoànthể nếu hướng đếnnữlao động dicư sẽ tạo được những điều kiện thuận lợi giúp nhóm xã hội này không còn bị rơi vào trạng thái bịtáchrời khỏi xã hội nơi đến, cóthể tiếp cận
và hòa nhập với cộng đồng nơi đến Đồng thời, các đoàn thể xãhội sẽ có các phương án hỗ trợ hoặc kiến nghị các cấp chính quyền có các chính sách bảo đảm các quyền củanhóm xã hội này
Thứ năm, cần tăng cường công tác tuyên truyền, phốbiến pháp luật,trong đóđặc biệt nhấn mạnh giáo dục quyền con người một cách rộng rãi
Các cơ quan nhà nước cùng với các đoàn thể
xã hội phải xây dựng các chuương trinh tuyên truyền và phổ biến pháp luật rộng rãi cho các doanh nghiệp và cho chính nừ lao động di cư về các quy địnhpháp luậtliên quan chặtchẽđến đối tượng nữ lao động di cư như: Pháp luật về lao động, chính sáchbảohiểm y tế, bảo hiểm xãhội, bào hiếm thấtnghiệp, Từ đó, người sử dụnglao động sẽ có ý thức tuân thù các quy định của pháp luật trongviệc bảo đảm các quyền của người lao động Đồng thời, chính nữ lao động di cư cũng nhận thức được sự cần thiết của việctham gia các chế độ trên
Giáo dục quyền con người cụ thể giáo dục
Trang 5quyền của nữ lao động di cư cho chính nữ lao
động di cư góp phần tăng cường nhận thức cho
nữ lao động di trú về các quyền tự nhiên cũng
như các quyền đặc trưng của nhóm xã hội, làm
cơ sởđể nhóm xã hội này thực hiện và thụ hưởng
quyền
Ngoài ra, ViệtNam cần tích cực học tập kinh
nghiệm của các nước trên thế giớivề vấn đề bảo
đảm,thúc đẩy và bảo vệ người di cư trong nước
nói chung vànữ lao độngdi cư nóiriêng Ví dụ:
Vận dụng chính sách của Nhật Bản đối với người
di cư cụ thể là sự tiếp cận phổ biến và miễn phí
đếncác dịch vụchăm sóccho dândi cư
Nhưvậy, những đánhgiá trên cho thấy nữlao động di trú từ nông thônđếnthành thị ởViệt Nam hiện nay lànhómxãhội dễ bị tổn thương, dễ bị tổn hại về tinh thần cũng như thể chất Từ thực trạng đó, đòi hỏi phải nghiên cứu những nguyên nhân, tim ra những giảipháp thích hợp để nhóm
xã hội này được bảo đảm các quyền con người nói chung và các quyền đặctrưng dễbị xâm hại Những giải pháp cần phải được đồng bộ hóa từ thể chế vàthiết chế Có như vậy, nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị ở Việt Nam hiện nay mới có thể được bảo đảm quyền của mình trên thực tế«
TÀI LIỆU TRÍCH DÃN:
1 Tổng cục Thống kê, (2010), Di cư và đô thị hóa ờ Việt Nam: thực trạng, xu hướng và những khác biệt
2 Hoàng Thị Minh, (2012), Phòng chống vi phạm pháp luật đối với lao động nữ, Tạp chí Luật học, số 5
3 Tổ chức Actionaid (2011), Phụ nữ di cư hành trình gian nan tìm kiếm cơ hội
4 Viện Khoa học lao động xã hội (2013), Thực ưạng di cư trong nước và những vấn đề cần ưu tiên trong chăm sóc sức khỏe, kỷ yếu hội thảo: Chăm sóc sức khỏe người di cư ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp, Tổ chức di cư thế giới IOM
5 Bùi Thị Hạnh - Nguyễn Thị Thiềng, Chất lượng cuộc sống của thanh niên di cư đến Hà Nội làm việc frong khu vực phi chính thức, Việt Nam học - Kỷ yếu hội thảo quốc tế lần thứ tư
6 Tổ chức Actionaid, (2014), Tóm tắt chính sách tiếp cận an sinh xã hội của người lao động nhập cư Báo cáo
7 Tổng cục Thống kê, (2010), Di cư và đô thị hóa ờ Việt Nam: Thực trạng, xu hướng và những khác biệt
8 Tổ chức Actionaid (2011), Phụ nữ di cư hành trình gian nan tim kiếm cơ hội Báo cáo
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1 Phạm Bảo Dương, Nguyễn Thị Tình (2012), Việc làm và đời sống của lao động nữ nông thôn làm việc tự do tại
Hà Nội, Tạp chi Khoa học và Phát triển, Tập 10, 20-28
2 Bùi Thị Hạnh, Nguyễn Thị Thiềng (2016) Chất lượng cuộc sống của thanh niên di cư đến Hà Nội làm việc trong
khu vực phi chính thức Việt Nam học - Kỷ yếu hội thảo quốc tế lần thứ tư 36 - 45.
3 Bùi Thị Hường (2016) Thực trạng bảo vệ quyền của lao động nữ Việt Nam di cư trong nước, Đe tài nghiên cứu khoa học, Viện Lý luận nhà nước và pháp luật
4 Hoàng Thị Minh (2012), Phòng chống vi phạm pháp luật đối với lao động nữ, Tạp chi Luật học, sổ 5,34- 42
5 Trần Thị Tuyết Nhung (2016), Quyền có việc làm của người lao động theo pháp luật lao động Việt Nam, Luận
án tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội Việt Nam
6 Đặng Thị Thơm (2016), Quyền của lao động nữ theo pháp luật Việt Nam Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện
Khoa học xã hội Việt Nam
7 Tổ chức Actionaid (2011), Phụ nữ di cư hành trình gian nan tìm kiếm cơ hội Báo cáo
108SỐ 12 -Tháng 5/2021
Trang 68 Tổ chức Actionaid (2014), Tóm tắt chính sách tiếp cận an sinh xã hội của người lao động nhập cư Báo cáo.
9 Tổ chức UN Việt Nam (2010), Di cư trong nước cơ hội và thách thức đối với sự phát triển kinh te -xã hội ở Việt Nam.
10 Tổng cục Thống kê (2010), Di cư và đô thị hóa ở Việt Nam: thực trạng, xu hướng và những khác biệt.
11 Viện khoa học lao động xã hội (2013), Thực trạng di cư trong nước và những vấn để cần ưu tiên trong chăm sóc sức khỏe, kỳ yếu hội thào: Chăm sóc sức khỏe người di cư ở Việt Nam thực trạng và giải pháp, Tố chức di cư
thế giới IOM
12 Võ Khánh Vinh (2010), Báo cáo tong hợp kết quả nghiên cứu đề tài cấp Bộ: Quyền con người ở Việt Nam từ nhận thức lý luận đến hành động thực tiễn.
Ngày nhận bài: 5/4/2021
Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 22/4/2021
Ngày chấp nhận đăng bài: 6/5/2021
Thông tin tác giả:
DƯƠNG THỊ HẢI YÉN
NCS Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Kinh tế Nghệ An
TO URBAN AREAS IN VIETNAM:
• Ph.D's student, Master DUONG THI KAI YEN
Nghe An University of Economics
ABSTRACT:
The migration of female workersfrom rural to urban areas is now an inevitabledevelopment trend inVietnam Femalemigrant workers are considered a vulnerable social group and they need special attention The vulnerabilityof female migrant workers including thevulnerabilityin workplace, the vulnerability in accessing socialsecurity andthe vulnerability indaily life This paper presentsthe vulnerability of female migrant workers in Vietnam, thereby proposingsome recommendationstoreduce their vulnerabilityand ensure therightsof femalemigrantworkers
Keywords: female migrant workers, vulnerability,ruralarea,urbanarea
SỐ12-Tháng 5/2021 109