1. Trang chủ
  2. » Biểu Mẫu - Văn Bản

Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đôi, bổ sung năm 2017) một số vấn đề về phân hóa trách nhiệm hình sự và cấu trúc của hệ thống hình phạt

10 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân hóa trách nhiệm hình sự và sự thay đỗi logic nguyên nhân - hậu quả của tội phạm Phân hóa trách nhiệm hình sự thể hiện thái độ của Nhà nước và xã hội đối với các mức độ biểu hiện k

Trang 1

Bộ LUẬT HÌNH Sự NĂM 2015 (SỬA ĐÔI, BỐ SUNG NĂM

Đào Trí úc *

* GS.TSKH., Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Tóm tắt: Bài viết phân tích, bình luận một so vấn đề về phân hóa trách nhiệm hình

sự và cấu trúc của hệ thong hình phạt theo Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành, qua đó tác giả đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật.

Abstract: The article analyzes and discusses the classification of criminal responsibility and structure of the penalty system as provided in the existing Criminal Code, thereby, the author makes proposals for legal improvement.

1 Phân hóa trách nhiệm hình sự và

sự thay đỗi logic nguyên nhân - hậu quả

của tội phạm

Phân hóa trách nhiệm hình sự thể hiện

thái độ của Nhà nước và xã hội đối với các

mức độ biểu hiện khác nhau trong hành vi

bị coi là vi phạm pháp luật Nội dung phân

hóa trách nhiệm hình sự bao gồm việc đánh

giáhành vi và từ đó xác định cấu thành tội

phạm sát hon với bản chất khách quan và

chủ quan của hành vi đó Vì thế, phân hóa

trách nhiệm hình sự là cơ sở để cá thể hóa

hình phạt, bao gồm cá thể hóaở mức độ lập

pháp (tức là xác định hình phạt tương ứng

trong chế tài) và ở mức độ áp dụng pháp

luật (tức là trong quá trình quyết định hình

phạt) Với tất cả các nội hàm này, phân hóa

trách nhiệmhình sựlà phươngthức để thực

hiệnnguyên tắc công bằng trong Luật Hình

sự, bởi côngbằng trong Luật Hình sự được

hiểu là: i) Chế tài hình sự phải phù hợp,

tương xứng với tính chất và mức độ nguy

hiểm cùa hành vi; ii) Chế tài hình sự phải

phù hợp với các tình tiếtliên quan đến hành

vi và nhân thân người phạmtội

Phân hóa trách nhiệm hình sự còn gắn

liền vớimộtnguyên tắc quan trọng khác của

Luật Hình sựlà nguyêntắc hợp lýđược xác định trên cơ sở nguyêntấc hiến định về hạn chế quyền, một nguyên tắc nổi tiếng của Tuyên ngôn phổ quát về quyền con người

năm 1948 và được ghi nhận tại Công ước

quốc tế về các quyền dân sự và chính trị

năm 1966 Theo đó, khithựchiện các quyền

và tự do của mình, mọi người chỉ phải chịu những hạn chế do luật định (khoản 2 Điều 29) Hiến pháp năm2013 quy định: “Quyền conngười, quyền côngdân chỉ cóthể bị hạn chếtheo quyđịnh của luật trong trường hợp cầnthiết vì lýdo quốcphòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội,

sức khỏe cộng đồng” (khoản 2 Điều 14)

Nội hàm của nguyên tắc về hạn chế quyền

có ba yếu tố hợp thành: Chính đáng và cần

thiết (legitimate objective and necessary),

hợp lý (reasonable), phù hợp (proportion)

Trong Luật Hình sự, phân hóa trách nhiệm

hình sự là sự điều chỉnh phù hợp

(proportion) giữa hành vi và biện pháp xừ lý; phải bảo đảm rằng, các biện pháp đó

không được nghiêm khắc hơn mức độ cần thiết để đạt được mục đích

3

Trang 2

Phân hóa trách nhiệm hình sự được

thực hiện trước hết trong Phần chung của

Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bố sung

năm 2017) - sau đây gọi tắt là BLHS năm

2015 Theo đó, tội phạm được phân chia

thành 4 loại: Tội phạm ít nghiêm trọng, với

khung hình phạt là phạt tù đến 3 năm hoặc

các hình phạt khác là phạt tiền, cải tạo

không giam giữ; tội phạm nghiêm trọng với

khunghìnhphạt là phạt tù từ trên 3 nămđến

7 năm; tội phạm rất nghiêm trọng là tội

phạm mà mức cao nhất củakhung hình phạt

là phạt tù từ 7 năm đến 15 năm; tội phạm

đặc biệt nghiêm trọng có khung hình phạt

cao nhất là từ trên 15 năm tù đến 20năm tù,

tù chung thânhoặc tử hình

Như vậy, việc phân loại tội phạm của

Bộ luật Hình sự (BLHS) Việt Nam nhất

quán từ khi Luật Hình sự được pháp điển

hóa (1985) đến nay , theo một trong những

xu hướng chungvà phổ biến trên thế giới là

phân chia theo mức độ nguy hiểm của tội

phạm trong khuônkhổ một khái niệmchung

về tội phạm Chẳng hạn, ở nhiều bang của

Mỳ, cách phân loại khá thống nhất theo sơ

đồ phân biệttội phạm nghiêmtrọng{felony)

{misdemeanor)' 1 Tuy nhiên, nhà lập pháp

hình sự Việt Nam không đi sâu hơn trong

việc phân loại tội phạm như cách mà ở Mỹ

đã làm là có tội phạm nghiêm trọng ở các

mức độ A, B, c, D Mặc dù vậy, việc phân

loại tội phạm trong BLHS Việt Nam cũng

giống như xu hướng mà nhiều quốc gia

đangthực hiện là trước hết phục vụ cho việc

phân hóa các hình thứcvà mức độ xử lý tội

phạm Theo đó, mức độ nguy hiểm cho xã

hội sẽ ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự

1 Joseph.F.Sheley, Criminology A Contemporary

Handbook (3th Ed.), Wadsworth, Thomson

Learning, 2000, p.80-81.

2 Rassat M.L, Droit pénal, Presses Universitaires de France, 1987, p.506-508.

trongchếđịnh về tuổi chịu trách nhiệm hình

sự (khoản 2 Điều 12 BLHS), điều nàycũng

liên quan đến các quy định về chuẩn bị

phạm tội (Điều 14 BLHS), khôngtố giác tội

phạm (Điều 390 BLHS) Không những thế, việc phân loại tội phạm theo mức độ nguy hiêm còn phục vụ choviệc sử dụng có phân

biệt các hình thức tố tụng Điều 456 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) quy định việc áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn trong trường hợp tội

phạm thuộc loại ít nghiêm trọng Điều tương tự có thể thấy trong tố tụng hình sự

của Pháp Theo đó, việc phân loại vi phạm các điều cấm của luật hình {infraction)

thành tội phạm {crime), vi cảnh {délit) và các vi phạm nhỏ {contravention) (Điều 111.1 và 111.2 BLHS Pháp) là cơ sở để phân biệt và áp dụng ba hình thức tố tụng

khác nhau là: Đối với những hành vi được

coi là tội phạm thì giai đoạn điều tra là bắt

buộc; đối với các hành vi vi cảnh thi giai đoạn điều tra không bắt buộcvà đối vói các

vi phạm nhỏ thì việc điều tra hay không là

do công tố viênquyết định Các vụ án về tội

phạm do Tòa án có Bồi thẩm đoàn xét xử, các vụ về vi cảnh do Tòa tiểu hình

{Tribunal Correctỉonneỉ) xử lý và các vụ việc vi phạm nhỏ do Tòa vi cảnh {Tribunal

de Police) giải quyết12

Theo xu hướng phân hóa trách nhiệm hình sự, BLHS Việt Nam năm 2015 tiếptục quy định về loại hành vi có mức độ nguy hiểm không đáng kể nhằm phân định rõ ranh giới của tội phạm và không phải tội phạm Khoản 2 Điều của Bộ luật này xác

định “những hành vi tuy có dấu hiệu của tội

phạmnhưng tính chất nguyhiểm cho xãhội không đáng kể thì không phải là tội phạm

Trang 3

Bộ LUẬT HÌNH Sự

và được xử lý bằng các biện pháp khác” Ở

đây, ranhgiớiđó không phải là dấu hiệu của

một cấu thành hành vi bị pháp luật hình sự

cấm, mà là mức độ nguy hiểm cho xã hội

của hành vi đó Đây là cách tiếp cận phổ

biến trong Luật Hình sự các nước xã hội

chủ nghĩa trước đây như Liên Xô và các

nước Đông Âu Chẳng hạn, Điều 1 BLHS

Ba Lan quy định: “Hành vi bị cấm mà tác

hại xã hội không đáng kể thì không phải là

tội phạm” Đối với nhiều nướcphương Tây,

việc xác định mức độ nguy hiểm không

đáng kể là thuộc thẩm quyền của Tòa án,

nhưng trên thựctế thì Tòa án cũng lấy mức

độ không đáng kể của hành vi bị cấm làm

tiêu chí Điều 9a BLHS Hà Lan quy định:

“Thẩm phán có thể quyết định không áp

dụng hình phạt hay một hình thức xử lý

hình sự nào đó nếu thấy đó là họp lý do

mức độ không đáng kể của hành vi vi phạm

pháp luật, xuất phát từ nhân thân người vi

phạm và các tình tiết liên quan đến hành vi

này cũng như hậu quả của nó” Điều 2.12

trong BLHS mẫu của Mỹ cũng quy định:

“Tòa án sẽ đình chỉ vụ án nếu, xuất phát từ

tính chất của hành vi vì các tình tiết khác,

thấy rằng: i) Hành vi không vượt ra khỏi

khuôn khổ của sự tự do hành động và cho

phép người bị hại cóthể chấp nhận;ii) Thực

tế không gây ra hoặc không có khả năng

gây ra tác hại như pháp luật đã tiên định”3

Ngay cả trong Thông luật của Anh, tính

chất không phải là tội phạm của các vi

phạm nhỏ và không đáng kể cũng tồn tại

trong phương châm tiếp cận “ứte minimis

non curat lex" (luật pháp không liên quan

đến những điều nhỏ nhặt) và phương châm

3 Blumstein A.J Cohen, s Das and s Moitra

(1988), Specialization and Seriousness During Adult

Criminal Careers, Journal of Quantitative

Criminology 4:303-345.

đó được cụ thể hóa trong pháp luật của nhiều nước trước đây làthuộc địa của Anh Chẳng hạn, Điều 95 BLHSẤn Độquy định:

“Hành vi không bị coi là tội phạm, khi nó

đã xảy ra, đã gây hậu quả cho người khác, nhưng hậu quả không đáng kể ở mức màbất

kỳ người nào có suy nghĩ bình thường sẽ

không phàn nàn về điềuđó”

Xu hưởng của Luật Hình sự Việt Nam về phân hỏa trách nhiệm hình sự được thể hiện

rõ nét nhất trong Phần các tội phạm của BLHS năm 2015. Có thể lấy ví dụ trong quy

định về các tội phạmkinh tế và tội phạm về

môi trường Nếu BLHS năm 1985 (lần pháp

điển hóa đầu tiên của Luật Hình sự Việt Nam) có 20 cấu thànhtội phạm về kinh tế thì

đến BLHS năm 1999 (lần phápđiển hóathứ

hai) có 28 cấu thành và đến năm 2015, con

số đó là 46 Đối với các tội phạm về môi trường, từ chỗ chỉ có 1 điều duy nhất quy

định về “Tộivi phạm các quy định về bảovệ

môi trường” trong BLHS năm 1985 (Điều

195) và 3 cấu thành gián tiếp liên quan đến các khía cạnh môi trường là cấu thành “Tội

vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm

dò,khai thác và bảo vệ tài nguyên trong lòng đất, trong các vùng biển và thềm lục địa (Điều 179), “Tội vi phạm các quy định về quản lý đấtđai và bảo vệ đấtđai (Điều 180);

“Tội vi phạm các quy định về bảo vệ rừng” (Điều 181), đến BLHS năm 1999 đã có một

chương riêng với 9 cấu thành các tội phạm

về môi trường; BLHS năm 2015 có 11 cấu

thành tội phạm về môi trường

Phân hóa trách nhiệm hình sự còn được thực hiện trong cách mô tả các dấu hiệu của mặt khách quan của tội phạm. Chang

hạn, Điều 324 BLHS năm 2015 đã mô tả 4

phiên bản thuộc mặt khách quan của Tội rửa tiền Theo đó, gồm có: 1) Hành vi tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào giao dịch tài

Trang 4

chính, ngânhàng hoặc giao dịch khác nhằm

che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của tiền,

tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết

haycó cơ sở để biết là dongười khác phạm

tội mà có; 2) Hành vi sử dụng tiền, tài sản

do mìnhphạmtội màcóhoặc biết hay có cơ

sở để biết là do người khác thực hiện hành

vi phạm tội mà có vào việc tiến hành các

hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động khác;

3) Hành vi che giấu thông tin về nguồn gốc,

bản chấtthực sự, vị trí, quá trinh di chuyển

hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản do

mìnhphạmtội màcó hoặc biết hay có cơ sở

để biết là do người khác phạm tội mà có

hoặc cản trở việc xácminh các thôngtin đó;

4) Thực hiệnmộttrong các hành vi nêu trên

đối với tiền, tài sản biết là có được từ việc

chuyển dịch, chuyển nhượng, chuyển đổi

tiền,tài sản do ngườikhác thực hiện hành vi

phạm tộimàcó

Đe đạt được sự phân hóa trách nhiệm

hình sự ở mức tối đa, BLHS năm 2015 đã

có những bước đi mangtính kỳ thuật trong

việc xây dựng các cấu trúc của những hành

vi có cùng khách thể Ví dụ, ở Điều 134 về

Tội cổ ý gây thương tích hoặc gây tổn hại

cho sức khỏe của người khác đã liệt kê các

hành vi thuộc khoản 1 như là những cấu

thành cơ bản; các hành vi mô tả trong các

khoản 2-6 tạo nên các cấu thành tăng nặng;

tiếp đó, Bộ luậtđã dành 5 điều riêng biệt (từ

Điều 135-139) để quy định các cấu thành

giảm nhẹ của cùng loại tội

Xu hướng phân hóa trách nhiệm hình

sự cũng được thực hiện trong các quy định

về chế tài đối với các tội phạm Biểu hiện

này có tính lô gíc với nguyên tắc của chính

sách hình sự đã được xác định tại Phần

chung của BLHS: “ Nghiêm trị người phạm

tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có

tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả

đặc biệt nghiêm trọng; khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo,

tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn

nàn hổi cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi

thường thiệt hại gây ra” (điểm d khoản 1

Điều 3)

Quy định tại khoản 4 Điều 110 BLHS năm 2015 về Tội gián điệp: Người đã nhận làm gián điệp, nhưngkhông thựchiện nhiệm

vụ đượcgiao và tựthú, thành khẩn khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì

được miễn trách nhiệm hình sự về tội này” Những quy định tương tự có thể tìm thấy ở khoản 4 Điều 247 BLHS 2015 về Tội trồng cây thuốc phiện, cây côca hoặc các loại cây

khác có chứa chấtmatúy: “Người nào phạm tội thuộc khoản 1 Điều này, nhưng đã tự nguyện phá bỏ, giao nộp cho cơ quan chức

năng có thẩmquyền trước khi thu hoạch, thì

có thể được miễn trách nhiệmhìnhsự”; hoặc tại khoản 7 Điều 364 BLHS năm 2015 - Tội đưa hối lộ: “Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì

có thê được miễn trách nhiệm hình sự và

được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã

dùng để đưahối lộ” Cách tiếp cận rất nhất quán này của pháp luật hình sự Việt Nam được tiếp nối bởi chế định “các biện pháp tư pháp”, bắt

đầu hình thành ngay từ lúc pháp điển hóa pháp luật hình sự vào năm 1985 và tồn tại chođến nay

Từ nhữngphân tích nêu trên, tác giảcó

cơ sở để đề xuất một công thức mới có tác

dụng phá vỡ phạm vi truyềnthốngcủacông

thức kinh điển trong Luật Hình sự là tội

phạm - nguyên nhân; hình phạt - hệ quả Công thức mới ờ đây sẽ là: i) Tội phạm

(nguyên nhân), ii) Hình phạt, iii) Biện pháp

khôi phục (quyền và lợi ích bị xâm phạm), iv) Biện pháp khuyến khích (hành vi tích

Trang 5

Bộ LUẬT HÌNH Sự

cực) và v) Biện pháp bảo đảm an ninh, an

tồnxãhội Trong sốđĩ, 3 yếu tố iii),iv) và

v) cĩ thể được đặttrong một nhĩm dưới tên

I gọi chung là các biện pháp tác động hình sự

phi hình phạt.

2 Phân hĩa trách * nhiệm hình sự:

Vấn đề phân loại tội phạm và về chế định

đồng phạm

4 Bonfils p., Droit pẻnaỉ des affaires, Nxb

Montchrestien, Paris, 2009.

về phân loại tội phạm

BLHS Việt Nam được xây dựng theo

quan điểmchỉ cĩ một khái niệm duy nhất về

tội phạm và trong khuơn khổ đĩ, tiến hành

phân loại tộiphạm thành 4loại theo mức độ

nặng- nhẹ khác nhau Tình hình đĩ khơng

thể tạo ra thuận lợi cho việc phân hĩatrách

nhiệmhình sự và cá thể hĩa hình phạt trong

thực tiễn Đến lượt nĩ, tình trạng này cũng

là nguyên nhân của việc quá tải trong hoạt

động điều tra, truy tố và xét xử Hon thế

nữa, việc để tất cả các mức độ vi phạmpháp

luật hình sự vào chung một khái niệm tội

phạm cũng liên quan đến mơ hình tổ chức

Tịa án hiện nay, bởi Tịa án nào cũng đều

cĩ thẩm quyền xét xử tất cả các vụ án liên

quan đến mọi loại tội phạm Do đĩ, vấn đề

này sẽ liên quan đến việc thực hiện nguyên

tắc về bảo đảm quyền tiếp cận cơng lý và

tiếp cận Tịa án của cơng dân, một yêu cầu

cầnđượcđặtlên hàng đầu

Trên thế giới rất phổ biến mơ hình tổ

chức songsong hai hệthống Tịấn: Tịa án

quốc gia (ví dụ ở Mỹvà ở Nga là các Tịa

án Liên bang) với tính cách là một hệthống

từ trung ương đến cấp quận, huyện; Tịa án

địa phương (ở Nga: Tịa hịa giải - Mupoeó

Cyị; ở Anh, Mỹ: Tịa án địa phương

-Magistrate Courts', ở Pháp: Tịa tiểu hình

-Tribunal Correctỉonneỉ và Tịa vi cảnh —

Tribunal de Police) với đặc điểm chung là

cĩ thẩm quyền giải quyết các vụ việc hình

sự nhỏ và các vụ việc dân sự ít liên quan

đến các quyền và tự do cơ bản của cơng

dân Đi liền với đĩ là việc kiên trì, nhất

quán phân chiahaikhái niệm riêngbiệt: Tội

phạm và các vi phạm khác.

Từ kinh nghiệm lâu dài và được kiểm nghiệm này cũng như xuất pháttừ thực tiễn

cải cách tư pháp hiện nay ở Việt Nam, tác

giả đề xuất một cách phân chia mới trong quy định tại Điều 8 của BLHS năm 2015 Theo đĩ, các tội phạm mà hiện nay BLHS quy định phạt tù khơng quả năm và các hình phạt khác khơng phải tù sẽ được coi là các vi phạm nhỏ, khơng nằm trong khái niệm tội phạm. Bước đi này sẽ làm “giảm

tải”BLHS, nhưng sẽlàm tăng độ “hình sự” của nĩ

Lý thuyết cũng như thực tiễn tư pháp hình sự đều cho thấy sự khác nhau căn bản

về tính chất của các tội phạm tronglĩnh vực

kinh tế với các tội phạm trong các lĩnh vực

khác Từ đĩ,khơng thể áp dụng một“số đo”

chung giữa hai loại tội phạm đĩ khi xác định trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt; chẳng hạn, giữa tội giết người, hiếp

dâm với tộiphạm về tài chính, ngân hàng

Pháp luậthình sự của nhiều nước như Pháp,

Đức đều cĩ khuynh hướng chia thành hai

mảng lớn: Các tội phạm chung và các tội phạm kinh tế4

về chế định đồng phạm

Nếu xuất phát từ yêu cầu về tội phạm

hố và về phân hố trách nhiệmhình sựtại

Phầnchung của BLHS, chếđịnh đồng phạm

trong Bộ luật rất đáng được xem là một trong những chế định cần được tiếp tục đổi mới trong bối cảnh hiện nay

Đồng phạm được pháp luật của tất cả các quốc gia trên thế giới xem là một trong

Trang 6

những chế định quan trọng nhất của Luật

Hình sự Tuy nhiên, quan niệm và cách điều

chỉnh pháp luật đã cho thấy sự khác nhau

rất lớn Việt Namnằmtrongsố các quốc gia

mà pháp luật hìnhsựngay từ đầu đãđưa ra

khái niệm chung về đồng phạm, trong khi

pháp luật hình sự của đại đasố các quốc gia

chì có khái niệm ấy trong học thuật hoặc

thực tiễn xét xử, hoặc được tìm thấy trong

các quyđịnh về tộiphạmvàhình phạt

Tại khoản 1 Điều 17 BLHS Việt Nam

năm 2015, đồngphạm được hiểu “làtrường

hợp cóhai người trở lêncố ý cùng thựchiện

một tội phạm” Khái niệm này đặtrahai vấn

đề Một là, về mặt khách quan nhất thiết

phải có mối liên hệ nhân quả giữa hành vi

của những người cùng thực hiện tội phạm

với hậu quả do tội phạm gây ra Hai là,

trách nhiệm hình sự được đặt ra đối với

những trường hợp phạm tội cố ý và trường

hợp phạm tội vô ý, tuy nhiên, điều luật chỉ

nói đến yếu tố cố ý cùngthực hiện hành vi

phạmtội

Điều này chắc chắn sẽ gây khó khăn

cho quá trình áp dụng pháp luật Nhìn rộng

ra, pháp luật hình sự cũng như học thuyết

pháp lý của tuyệt đạiđasố các nước trên thế

giới chỉ xác định trách nhiệm hình sự đối

vớiviệcđồng phạm các tộicố ý

Chế định đồng phạm trong BLHS Việt

Nam cũngđi theocách phổ biếntrênthế giới

là phân loại vai trò trong đồng phạm thành:

Người tổ chức, người thực hành, người xúi

giục,ngườigiúp sức (khoản3 Điều 17) Tuy

nhiên, các vấn đề về mổi liên hệ giữa hậu

quả pháp lý đối với hành vi của người thực

hành tội phạmđã không được đặt ra và giải

quyết theo quy định pháp luật, mà do cách

giải thích của các cơ quan xét xử Theo đó,

nếu người thực hành tội phạm vì lý do nào

đó đã không thựchiện tộiphạm đếncùng thì

người tổ chức, xúi giục, giúp sức đều không phải chịutráchnhiệmhình sự

Nói khác đi, ở đây có hai hệ quả: i)

Hành vi của người thực hành tội phạm và những người tham gia đều có chung một tội

danh, ii) Neu hành vi của người thực hành không có giá trị pháp lý hình sự (không bị

coi là tội phạm) thì những người tham gia

khác cũng không bị coi là đồng phạm Đây cũng là quan niệm của hầu hết các quốc gia theo hệ thống Dân luật (Civil law)

Trong khi đó, Luật Hình sự các quốc

gia Thông luật lại đi theo hướng thừa nhận

tính chất tội phạm của mọi sự tham gia, bất

kể hành vi của người thực hành được đánh

giáthế nào, cho dù hành vi đó có xảy ra hay

không Nói khác đi, tráchnhiệmhình sự của những người tham gia (tổ chức, cầm đầu, xúi giục) không phụ thuộc vào kết quả của

hành vi ngườithực hành

Trong chế định đồng phạm của BLHS Việt Nam có quy định về phạm tội có tổ

chức với tính chất là một hình thức đồng phạm khi “có sự cẩu kết chặt chẽ' giữa

những người cùng thực hiện tội phạm

(khoản 2 Điều 17) Theo BLHS này, yếu tố phạm tội có tổ chức đóng hai vai trò: i) Là

tình tiết tăng nặng (được xếp hàng đầu) trách nhiệm hình sự (khoản 1 Điều 52), ii)

Là yếu tố định khung tăng nặng của cấu thành tội phạm tương ứng trong Phần các tội phạm Quy định phạm tội có tổ chức

trong Phần chung của BLHS, mặc dù vậy, cũng chỉ mới dừng lại ở việc nêu lên bản chất chung của yếu tố đó, cụ thể là “cớ sự cấu kết chặt chẽ' giữa những người cùng thực hiện tội phạm, mà chưa cho thấy rõ hơn các đặc trưng của sự cấukếtchặt chẽ ấy

là như thế nào Sự cấu kết ấy nói lên tính chất nguy hiểm cao hơn của hành vi phạm

tội có tổ chức so với trường hợp đồng phạm

Trang 7

Bộ LUẬT HÌNH Sự

khác Tuy nhiên, ngay cả mức nguy hiểm

cao hon cũng có những cấp độ khác nhau

Do đó, việc phân hoá trách nhiệm hình sự

đối với hành vi phạm tội có tổ chức nhất

thiết phải được tiếp tục đặt ra, trong đó có

thể không gắn vai trò người thực hành như

là “nhân vậtchính” Trong Thông luật, khái

niệm “thông mưu phạm tội” được coi là một

cấu thành tội phạm độc lập và là tội phạm

hoàn thành kể từ thời điểmđạtđược sự thỏa

thuận giữa hai người trở lên để tiến hành

việc phạm tội

Ở một mức độ khác là vấn đề trách

nhiệm hình sự đối với việc thành lập, cẩm

đầu, tham gia tổ chức tội phạm, về phương

diệntội phạm học, các thông số và đánh giá

về sự tồn tại, hoạt động và tính chất nguy

hiểmcủacác tổ chức tội phạm ở nước ta đã

khá đầy đủ Hon nữa, kiểu cấu thành như đã

nêu ở đây đã và đang hiện hữu trong các

văn bản pháp luật trước đây với các tên gọi

“phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”,

“tham gia băng đảng tội phạm”, “phạm tội

kiểu xã hội đen” BLHS năm 2015 quy

định các cấu thành mà ở đó dấu hiệu chính

là “tham gia tổ chức tội phạm” như: Tội

tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền

nhân dân (Điều 109); Tội thành lập, tham

gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng

bố (Điều 113 và Điều 299)

Từ những điều nêu trên có thểnói rằng,

cả về lý thuyết, cả về phương diệntội phạm

học và tình hình thực tế đấu tranh phòng,

chống tội phạm, chúng ta có đủ cơ sở để

tiến hành tội phạm hoá không chỉ ở Phần

các tội phạm, mà cả trong Phần chung của

BLHS cáchành vithành lập, cầmđầu, tham

gia tổ chức tộiphạm mà không chỉ dừnglại

ởquyđịnh về phạm tộicó tổ chức

Theo đó, Điều 17 BLHS 2015 cầnđược

bổ sung theo 4 hướng mới:

1) Làm rõ nội hàm các hình thức đồng

phạm khác nhau trong khuôn khổ phạm trù

đồng phạm là: Đồng thực hành hành vi

phạm tội - đồng phạm với vai trò tham gia nhưtổ chức, xúi giục, giúp sức

2) Phân biệt đồng thực hành tội phạm không có thông mưu vàcóthôngmưu 3) Phân biệt phạm tội có tổ chức theo

hai mức độ: Có cấukết chặt chẽ nhưng chỉ

để thực hiện một hành vi phạm tội và cấu kết chặt chẽ, ổn định để thực hiện nhiều hành vi phạm tộivàcác hoạt động phi pháp

khác theokiểuxãhộiđen

4) Xác định tại Phần chung của BLHS

thêm một yếu tố của chính sách hình sự về

mức độcao hơn của trách nhiệm hìnhsự và

hình phạt đối với những hành vi phạm tội có

tổ chức, đối với những hành vi tổ chức, cầm đầu, tham gia tổ chức tội phạm Cùng với

đó là bổ sung quy định về tổ chức tội phạm

về hình thức loi trong chế định đồng phạm: Khoản 1 Điều 17 BLHS năm 2015

có cấu trúc văn phạm như sau: “Đồng phạm

là trườnghợp có haingười trởlêncố ý cùng thựchiện một tội phạm” Cách diễn đạt này

chưa cho phép khẳng định về hình thức lỗi

trong đồng phạm Câu hỏi có thể được đặt

ra ở đây là: cố ý cùng thực hiện một tội

phạm là cố ý liên kết với nhau đểthực hiện tội phạm hay để thực hiệnhànhvi tội phạm

cố ý? Neu là trường hợp đầu thì vấn đề đã

đủ rõ nhưng chỉ là nói vềbản chất của đồng phạm là hành động cùng một hướng Tuy

nhiên, nếu là trường hợp thứ hai thì đây là

vấn đề về phạm vi trách nhiệm hình sự đối với đồng phạm, nói khác đi, là giới hạn tội phạm hoá mà người làm luậtcần xác định

3 Cấu trúc của hệ thống hình phạt

Chiến lược Cải cách tư pháp đã đề ra yêu cầu giảm hình phạt tù Tuynhiên, khái

Trang 8

niệm được sử dụng trong Chiến lược cần

được hiểu trên ba mức độ Thứ nhất, đó là

sự hiện diện ngày càng nhiều hon trong hệ

thống hình phạt các loại hình phạt nhẹ hon

hình phạt tù để có thể thay thế hình phạt

này Thứ hai, đó là sự hiện diện ngày càng

nhiều hon các hình phạt này trong chế tài

của các điều luật tại Phần Các tội phạm,

nhất là sự hiệndiện của loại chế tài lựa chọn

cạnh tranh giữa hình phạt tù và hình phạt

nhẹ hon Thứ ba, đó là việc áp dụng các

hình phạt thay thế này trongviệc quyết định

hình phạt của Tòa án Nói khác đi, chủ

trương nhân đạo này phải được cụ thể hóa

trên cả hai bình diện lập pháp và áp dụng

pháp luật và phải trở thành nhận thức của

cáccơ quan lập pháp vàtư pháp

Neu nhìn nhận từ ba bình diện nêu trên,

có thể thấy mộtđiều rằng, so với trước đây,

BLHS năm2015 chưa tạo ra sự biến chuyển

nào trong hệ thống hình phạt, bởi trong hệ

thống hình phạt mà Bộ luật đưa ra (Điều

32), các hình phạt chínhnhẹ hơn hình phạt

tù vẫn chỉ là 4 loại: Cảnh cáo, phạt tiền, cải

tạo không giam giữ, trục xuất; nếu không kể

trục xuất là hình phạt liên quan đến người

nước ngoài phạm tội thì các hình phạt này

chỉ là 3 loại Những hình phạt nàyđã được

quy định kể từ năm 1985 đến nay, trải qua

lần sửa đổi căn bản vào năm 1999 và 6 lần

sửa đổikhác

Neu nhìn toàn bộ Phần Các tội phạm,

có thể thấy một sự dè dặt nhất địnhđối với

các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù Bởi, còn

nhiều cấu thành tội phạm đang chỉ có một

hệ quả duy nhất là tù có thời hạn, thậm chí

tất cả các cấu thành tội phạm được quy định

tại chương XIII: “Cáctội xâm phạm anninh

quốc gia” đều ở trongtình trạng này Trong

khi đó, tại các điều luật tương ứng đều dự

liệuhìnhphạt tù dướibanămđốivớitrường

hợp chuẩn bị phạm các tội xâm phạm an

ninh quốc gia Rõ ràng, đối với những đối

tượng này thì việc sử dụng các hình phạt như cảnh cáo, phạt tiền, cải tạokhông giam giữ là điều hoàntoàn có thể theo nguyên tắc

cá thể hóatrách nhiệm hình sự và phânhóa

hình phạt - một nguyên tắc có ý nghĩa hết sức quan trọng của Luật Hình sự trongviệc

đấu tranh phòngchống tội phạm

Thực tiễn xét xử trong nhiều năm qua

đã cho thấy một xu hướngthiên vềáp dụng hìnhphạttù, kểcả ở mức thấp nhấtvới hình

phạt đó Rất hãn hữu hoặc hầu như không

thấy những trường hợp áp dụng các chế tài

lựa chọn cạnh tranh theo hướng áp dụng

cảnh cáo, phạt tiền hoặc cải tạokhông giam

giữthay cho việc áp dụng hình phạt tù, hay

áp dụngrộng rãi quy định tại khoản 3 Điều

54 của BLHS năm 2015 (hoặc tại điều luật

tương ứng của các BLHS trước đây) về

thẩm quyền của Tòa án quyết định chuyển sang mức hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn Đây là vấn đề thuộcvề nhận thứctrong

tư duy pháp lý thực tiễn cần được xem xét

lại một cách đầyđủ Tư duy đó có thể cảm nhận được ngay trong khuynh hướng quy đổi hình phạt cho nhau trong quy tắc quyết

định hình phạt trongtrường hợp phạm nhiều

tội được quy định tại điểm b khoản 1 Điều

55 BLHS năm 2015 Theo đó, quy tắc

chuyển đổi chỉ đặt ra khả năng “gom” ba

ngày cải tạo không giam giữ thành một

ngày tù, mà không đặt ra khả năng ngược

lại là chuyển phạt tù thành cải tạo không

giam giữ hoặc phạt tiền Tác giả cho rằng, quy tắc ngược lại, nếu có, không nhất thiết

áp dụng trong việc quyết định hình phạt

trong những trường hợp phạm nhiều tội mà

cần vàcó thể là mộtquy tắc tổngquát đểáp

dụng trong nhiều chế định khác của Luật Hìnhsự

Trang 9

Bộ LUẬT HÌNH sự

Trong mối tương quan hình phạt và các

biện pháp xử lý hình sự khác Nhìn vào quy

định của BLHS Việt Nam năm 2015 sẽ thấy

một sự tương quan về số lượng của chúng

như sau: Hình phạtcó 14 loại,trong đó có 7

hìnhphạt chính (cảnh cáo, phạttiền, cải tạo

không giam giữ,trục xuất, tù có thời hạn, tù

chung thân, tửhình) và 7 hình phạt bổ sung

(cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề

hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú;

quản chế; tước một số quyền công dân; tịch

thu tài sản; phạt tiền, khi không áp dụng là

hình phạt chính; trục xuất, khi không áp

dụng là hìnhphạt chính) Các biện pháp xử

lý khác với tên gọi “các biệnpháp tư pháp”

gồm 6 biện pháp: Tịch thu tang vật, tiền

trực tiếp liên quan đến tội phạm, trả lại tài

sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại;

buộc côngkhai xin lỗi; bắt buộc chữa bệnh;

khôi phục lại tình trạng ban đầu (đối với

pháp nhân thương mại phạmtội); thựchiện

một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn

ngừa hiệu quả tiếp tục xảy ra (đối với pháp

nhân thương mại phạm tội)

Chỉ mới nhìn vào tương quan theo số

lượng nêu trên cũng có thể thấy sự nổi trội

của các hình phạt so với các biện pháp tư

pháp: 14 và 6 Trong khi đó, chẳng hạn ở

Đức, tương quan này là 3 (phạt tù, phạt tiền,

cấm lái xe) và 6 (đưa vào bệnh viện tâm

thần, đưa vào cơ sở cai nghiện rượu và ma

túy; đưa vào cơ sở giám sát; giám sát tại

gia, tước bằng lái xe, cấm hành nghề nhất

định) Tương quan nghiêng về các biện

pháp ngoài hình phạt này là phổ biến ở

nhiều hệ thống tư pháp khác và rất đáng để

chúngta nghiên cứu trongquá trình đổi mới

pháp luật hình sự và cải cách tư pháp

Điều tương tự cũng có thểnói về những

quyđịnh củaBLHS năm 2015 trong trường

hợp xử lý người dưới 18 tuổi (người chưa

thành niên) phạm tội, đặc biệt là với sự thành lập hệthốngcác tòa án giađình và trẻ

em ở nước ta Neu so sánh với mô hình tư pháp phục hồi cho người chưa thành niên,

những quy định này còn ở mức khiêm tốn bởi nỏ vẫn mang nặng tính tố tụng; chưa

thấyrõ hình bóng củacác tổchức, giađình,

hệ thống các dịch vụ và tư vấn về kỹ năng

sống, về nghề nghiệp, về học tập cũng như

các nguồn lực cho việc thay thế và chuyển

hướng một cách có hiệu quả các biện pháp

cải tạo, giáo dục bằng trách nhiệm hình sự đối với những người chưa thành niên phạm

tội Thêm vào đó, kể cả trong những trường

hợp xử lý người chưa thành niên phạm tội,

tưduy pháp lýcủa các cơ quantư pháphiện nay vẫn đang ở tình trạng thiên về mục đích

trừng trị Điều này thể hiện rất rõ qua những

con số sau đây: Khi theo dõi việc áp dụng

khoản Điều 69 BLHS năm 1999 về việc miễn trách nhiệm hình sự cho người chưa

thành niên phạm tội trong trường hợp phạm

tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng,

gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹvàđược gia đình, hoặc cơquan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục, các cơ quan tư

pháp đã thu được một kết quả ít ỏi về việc

vận dụng quy định này và con số đó lại

giảm dần theo giai đoạn tố tụng: Cơ quan

điều tra: 2,7%, Viện kiểm sát: 1,4%và Tòa

án: 0,05% Việc áp dụng hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tộivẫncòn

làthực tiễn phổbiến Chẳng hạn, trong năm

2007 số bị cáo chưa thành niên bị phạt tù chiếm 53,7%trên tống số bị cáo chưa thành niên; con số đó trong năm 2008 là 51%, năm2009 là 56,7%5

5 Bộ Tư pháp, Báo cáo đánh giá tác động Dự án Bộ

luật Hình sự (sửa đôi), Hà Nội, 2015, tr.29.

(Xem tiếp trang 70)

Trang 10

“Điều 133 Bảo vệ quyền lọi của

người thử ba ngay tình khi giao dịch dân

sự vô hiệu

1

2 Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu

nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan

nhà nước có thẩm quyền, sau đó được

chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác

cho người thứ ba ngay tình và người này

căn cứvàoviệc đăng ký đó mà xác lập, thực

hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô

hiệu Quy định này chỉ áp dụng đoi với

trường hợp giao dịch được đăng ký là giao

dịch thứ hai hoặc tiếp theo sau khi giao

dịch dân sự vô hiệu được thực hiện.

99

Thứ sáu, cần đẩy nhanh tiến độ số hóa

các thông tin về đất đai nhằm thực hiện

cung cấp các dịch vụ về thủ tục hành chính

về đất đai thông qua internet như khai thác

thông tin đấtđai, nộp hồ sơ đăng ký đấtđai,

để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân

trong các giao dịchvề quyền sử dụng đất

Tóm lại, hoàn thiện pháp luật không

phải là để thuận tiện cho cơ quan quản lý nhà nướcmà cầnđánh giá trên cơ sở lợi ích của xã hội Pháp luật cần đặt lợi ích của xã

hội lên trên hết, phục vụ vì nhu cầu của xã

hội mà không phải là ưu tiên nhu cầu quản

lý nhà nước Nhà nước ban hành quy định

pháp luật để quản lý những quan hệ xã hội

đã được phát sinh, thay đổi nhằm mục đích

ổn định và phát triển chứ không phải và

không nên ban hành ra những quy định để

ép các quan hệ xã hội phải phát sinh, thay đổi để thuận tiện cho công tác quản lý Những quy định nêu trên nếu được sửa đổi

và áp dụng sẽ giúpminh bạch thị trường bất động sản, giúp công khai hóa thông tin và

bảo đảm an toàn cho các giao dịch về quyền

sửdụng đất, đáp ứng nhu cầu và xu thếphát

triển của xã hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

(Tiêp theo trang 11 — Bộ luật Hình sự năm 2015 )

Cũng trong mối liên hệ tội phạm- hình

phạt, LuậtHình sự củanhiềuquốc giađãmở

ra một cách tiếp cận mới làm thay đổi quan

niệm, truyền thống cho rằng, hình phạt hay

các biện pháp xừlýhình sự khác là xuất phát

từ tính chất và mứcđộ của hành vi tội phạm,

tức là những gì đã xảy ra trước thời điếm bị

xử lý Nội dung của cách tiếp cận mới bổ

sung choquan điểmtruyền thống này hướng

vàosự tác động đến hành vỉ hậu phạm tội

được gọi là các biện pháp hoãn chấp hành

hình phạt (caesura) BLHS Việt Nam có hai

quy định liên quan đến các biện pháp này:

Hoãn chấp hành hình phạt tù (Điều 67) và

tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù (Điều

68) Tuy nhiên, như tên gọi của những quy

định này cho thấy, các trường hợp được

“hoãn” hoặc “tạm đình chỉ” chỉ liên quan đến phạt tù, không liên quan đến các hình phạt khác Mặt khác, đáng chú ý hơn, những

điều kiện được quyđịnh tại các điều luật này chỉ xuất phát từ các yếu tố có tính tới hoàn cành cá nhân người bị kết án như: Bị bệnh

nặng; phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; là người lao động duy nhất trong gia đình; do nhu cầu công vụ

Những yếu tố đó chưa nhằm vào việc khuyếnkhích sự thay đổi của người phạm tội

kê cả sau khi đã bị xử lý cũng như chưa có hướng tác động vào việc khuyến khích chấp

hànhnghiêm hình phạt hoặc biện pháp xừ lý

đã được Tòa án quyết định

Ngày đăng: 29/10/2022, 18:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w