1. Trang chủ
  2. » Biểu Mẫu - Văn Bản

2 bàn về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ‘ người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”

9 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀN VÈ TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH sựHỐI CẢI ” Thải Chí Bình* Tóm tắt: Bài viết phân tích về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hỉnh sự “ người phạm tội thành khân khai bảo, ăn nản h

Trang 1

BÀN VÈ TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH sự

HỐI CẢI ”

Thải Chí Bình*

Tóm tắt: Bài viết phân tích về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hỉnh sự “ người phạm tội thành khân khai bảo, ăn nản hổi cải’ ’ tại điếm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự

năm 2015, được sửa đôi, bô sung năm 2017 trên cơ sở đánh giả quy định của pháp luật hình sự, hướng dân của Tòa án nhản dán tối cao, Viện kiêm sát nhân dãn toi cao, các

công trình nghiên cứu có liên quan đến tình tiết giảm nhẹ này; một so vấn đề cần nhận

thức thống nhất khi áp dụng tình tiết giảm nhẹ “ người phạm tội thành khẩn khai bảo, ăn năn hối cải ” (điều kiện áp dụng, mức độ giảm nhẹ); qua đó, kiến nghị hoàn thiện quy

định pháp luật hình sự và đề xuất giải pháp nhăm áp dụng thong nhất tại các cơ quan

tiên hành tổ tụng trong thực tiễn đối với tình tiết giảm nhẹ này.

Abstract: The article analyzes the extenuating circumstances for criminal responsibility of “offenders with cooperative attitudes, contrition ” under point s, clause

1, Article 51 of the 2015 Criminal Code, as amended and supplemented in 2017, on the basis of assessing the provisions of the criminal law, the guidance of the Supreme

People's Court, the Supreme People's Procuracy, and research works related to extenuating circumstances; number of issues need to be uniformly recognized when

applying the extenuating circumstances to “offenders with cooperative attitudes,

contrition ” (applicable conditions, mitigating extent) Thereby, it makes proposals to

improve the criminal laws and solutions for a uniform application by the proceeding ­

conducting agencies in practice with regard to extenuating circumstances.

Tình nhiệmtiết hình sự giảm nhẹlà tình(TTGN) tiết của vụtrách án

hình sự có nghĩa làm giảm mức độ nguy

hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, phản

ánh khả năngcải tạo tốthoặc hoàn cành đặc

biệt cùa người phạm tội đáng được khoan

hồng và giá trị của chúng chưa được ghi

trong chế tài của từng tội phạmcụ thể Theo

quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự năm

2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017

(BLHS năm 2015),TTGN trách nhiệm hình

sự là một trong những cãn cứ mà Tòa án

phải xem xét khi quyết định hình phạt Các

ThS., Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An

Giang.

TTGN trách nhiệm hình sự được quy định chi tiết, cụthể tại Điều 51 BLHS năm2015 Một số tình tiết được các văn bản dưới luật

hướng dẫn Tuy nhiên, đối với các tình tiết chưa có sự hướng dần cụ thể thì trong thực

tiễn còn có nhiều cách hiểu, vận dụng khác nhau, trong đó có TTGN người phạm tội

thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”1 tại

điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015

1 Sau đây được gọi tắt là TTGN “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cài”.

Đây là TTGN được áp dụngnhiều trong thực tiền, hầu hết các bản án hình sự đều áp

dụng TTGN này, với tần suất xuất hiện

trong các bản án nhiều hơn các TTGN 1

Trang 2

BÀN VÊ TÌNH TIÉT

khác2 Thậm chí, do được áp dụng phổ biến

nên có quan điểm đề nghị loại TTGN

“thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” khỏi

các TTGN tại khoản 1 Điều 51 BLHS năm

20153 Mặc dù được áp dụng nhiều, nhưng

cách hiểu, sự vận dụng TTGN này trong

thực tiễn vẫn chưa có sự thống nhất Từđó,

đòi hỏi có sự nghiên cứu, đánh giá quyđịnh

pháp luật, cách hiểu về TTGN “thành khẩn

khai báo, ăn năn hốicải”, thực tiễn áp dụng,

qua đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện

2 Theo thống kê trong số 125 bản án hình sự sơ thẩm,

phúc thẩm được khảo sát, TTGN này được áp dụng

trong 117 bản án, chiếm tỷ lệ 93,6%, trong khi đó,

TTGN được áp dụng nhiều xếp thứ hai chi đạt

12,8%; xem: Chu Thanh Hà, Các TTGN trách nhiệm

hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội, Luận

văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia

Hà Nội, Hà Nội, năm 2015, tr.72-73.

' 3 Xem: Nguyễn Ngọc Kiện, Các TTGN trách nhiệm

hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự năm

2015, tại địa chi: http://nguoibaovequyenloi.com

/User/ThongT in_ChiTiet.aspx?MaTT= 10420176104

5610428&MaMT=23, truy cập ngày 10/4/2017.

4 Xem: Điểm h khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự

Ị năm 1985, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự

năm 1999 và điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm

2015.

1 về số lượng tình tiết giảm nhẹ

trách nhiệm hình sự thuộc tình tiết

“ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”

Từ khi Bộ luật Hình sự đầu tiên được

ban hành cho đến nay, “người phạm tội

thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” đều

được quy định là một trong những TTGN

trách nhiệm hình sự4 Đồng thời, Tòa án

nhân dân tối cao, Việnkiểm sát nhân dântối

cao ban hành nhiều vănbản hướng dẫn liên

quan đến TTGN này vào cácthời điểm khác

nhau Tuy nhiên, việc hướng dẫn TTGN

“người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn

năn hối cải” là một hay hai TTGN chưa có

sự thống nhất, mặc dù quy định trong các

Bộ luật Hình sự không có sự thay đổi

Theo mục 23 Phần I Công văn số 16/1999/KHXX ngày 01/02/1999 của Toà

án nhân dântối cao về việc giải đáp một số vấn đềvề hình sự, dân sự,kinhtế, lao động, hành chính và tố tụng (sau đây được viết tắt

là Công văn số 16/1999), đối với trường hợp người phạm tội thật thà khai báo về những hành vi mà họ đã thực hiện, nhưng

do không hiểu biết pháp luật nên cho rằng

hành vi của mình là hợp pháp, không thừa nhận là đã phạm tội, nhưng sau khi được cơ quan tiến hành tố tụng phân tích giải thích,

họbiết được tội lồi và ăn năn hối cải,thì khi xét xử, Toà án cần cho họ được hưởng TTGN “thật thà khai báo, ăn năn hối cải” Đối với những trường hợp tuy khai nhận đầy đủ những hành vi mà họ đã thực hiện, nhưng quanh co không nhận tội và mặc dù

đã được cơ quan tiến hànhtốtụng phân tích giải thíchnhưng vẫn tỏ ra ngoan cố, không

chịu ăn năn hối cải, thì khi xét xừ, Toà án không áp dụng TTGN này với họ Với

hướng dẫn này, không có sựphân biệt giữa

hai tình tiết “thành khẩn khai báo” và “ăn

năn hối cải”

Tuy nhiên,theo mục 5 Phan ICông văn

số 81/2002/TANDTC ngày 10/6/2002 của Tòa án nhân dân tốicao về việc giải đáp các

vấn đề nghiệp vụ (sau đây được gọi tắt là Công văn số 81/2002), TTGN “thành khẩn

khai báo, ăn năn hối cải” lại được hiểu là

hai TTGN với việc tập trung hướng dẫn áp

dụng TTGN “thành khẩn khai báo” Theo

đó, sau khi cơ quan tiến hành tố tụng đã chứng minh được đầy đủ hành vi phạm tội

bị bắt quả tangmà người phạm tội mớithừa nhận sự việc phạm tội của họ đúng như cơ quan tiến hành tố tụng đã chứng minh thì không được áp dụng TTGN “thành khẩn khai báo” Đồng thời, theo tiểu mục

6.2.1.15 Sổ tay Thẩm phán, các TTGN

Trang 3

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT SÔ 1/2022

“thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được

hướng dẫn là hai TTGN với cách xác định

riêng biệt

Tương tự, trong các văn bản hướng dẫn

của Viện kiểm sát nhân dân tối cao vào các

thời điểm khác nhau, việc xác định TTGN

“thành khẩn khai báo, ănnănhối cải” là một

hay hai TTGN cũngkhông thống nhất Theo

Công văn số 994/VKSTC-V3 ngày

09/4/2012, Viện kiểm sát nhân dân tối cao

hướng dẫn, tình tiết “thành khẩn khai báo,

ăn năn hối cải” là hai TTGN, chứ không

phải là một TTGN Tuy nhiên, theo Công

văn số 1394/VKSTC-V7 ngày 10/4/2018,

Viện kiểm sát nhân dân tối cao lại hướng

dẫn, cần hiểu người phạm tội chỉ cần thỏa

mãn một trong hai điều kiện “thành khẩn

khai báo” hoặc “ăn năn hối cải” hoặc có cả

hai điều kiện này thì cũng chỉ được áp dụng

một TTGN trách nhiệmhình sự

Bên cạnh hướng dần chưa có sự thống

nhất của Tòa án nhân dân tối cao, Viện

kiểm sát nhân dân tối cao, cách hiểu về

TTGN “thành khẩn khai báo, ăn năn hối

cải” tại các giáo trình luật, công trình

nghiên cứu về pháp luật hình sự cũng chưa

có sự thống nhất Có tác giả cho rằng,

TTGN “thành khẩn khai báo, ăn năn hối

cải” là một TTGN5, nhưng cũng có tác giả

cho rằng, TTGN “thành khẩn khai báo, ăn

năn hối cải” gồm hai TTGN là“thành khẩn

khai báo” và TTGN “ăn năn hối cải”6 *

5 Xem: Nguyễn Ngọc Hòa, Bình luận khoa học Bộ

luật Hình sự năm 2015, được sửa đối, bổ sung năm

2017 (Phần chung), Hà Nội, 2017, Nxb Tư pháp,

tr.261; Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình Luật

Hình sự Việt Nam — Phần chung, Hà Nội, 2019, Nxb

Công an nhân dân, tr.329.

6 Xem: Đinh Văn Quế, Bình luận Bộ luật Hình sự

năm 2015, Phần thứ nhất - Những quy định chung

(bình luận chuyên sâu), Hà Nội, 2017, Nxb Thông

tin và Truyền thông, tr.261-264; Viện Khoa học pháp

lý, Bộ Tư pháp, Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự

Việt Nam năm 1999, tập I, Phần chung (từ Điều 1 đến Điều 77), Hà Nội, 2004, Nxb Chính trị quốc gia; Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, Giáo trình

Luật Hình sự Việt Nam - Phần chung, Tp Hồ Chí

Minh, 2015, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr.329; Trường Đại học cần Thơ, Giáo trình

Luật Hình sự Việt Nam (Phần chung), cần Thơ,

2008, tr.251-252.

7 Xem: Nhan Nam, Thành khản khai báo và ăn năn

hối cài là hai hay một?, tại địa chỉ: https://plo.vn/

phap-luat/thanh-khan-khai-bao-va-an-nan-hoi-cai-la- hai-hay-mot-703777.html, truy cập ngày 23/5/2017.

8 Xem: Phát biêu của đại diện Viện kiêm sát nhân dân giữ quyền công tố tại phiên tòa trong Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2020/HS-ST ngày 17/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2019/HS-ST ngày 26/3/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tinh An Giang; Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2017/HS-ST ngày 14/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

9 Xem: Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2020/HS-ST ngày 07/9/2020 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nằng; Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2020/HS-ST ngày 29/9/2020 cùa Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương; Bản án hình sự sơ thẩm số 136/2020/HS-ST ngày 15/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Hội.

Chính vì lẽ đó, trong thựctiễn, chưa có

sự áp dụng thống nhất giữa Tòa án với

Viện kiểm sát7 Hơn nữa, tại các phiên tòa,

khi người phạm tộichỉ thành khẩn khaibáo

hành vi phạm tội của mình, kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề xuất Tòa án áp dụng

TTGN “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”8 Đồng thời, trong nhiều bản án hình

sự sơ thẩm, khi người phạm tội chỉ thành

khấn khai báo thì Hội đồng xét xử sơ thẩm

áp dụng TTGN “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” là một TTGN khi quyết định hình phạt9

Tuy nhiên, qua nghiên cứu các hướng

dẫn của Tòaán nhân dân tối cao, Viện kiểm

sát nhân dân tối cao và quan điểm của các học giả pháp lý hiện nay thì hướng dẫn,

quan điểm xác định TTGN “thành khẩn

Trang 4

BÀN VÈ TÌNH TỈÉT

Ị khai báo, ăn năn hối cải” là hai TTGN được

xem là phù họp với các lý do sau:

I Một là, về ngữ nghĩa, theo Từ điển

ị tiếng Việt, “thành khẩn” là hết sức thành

I thậttrong tự phê bình và tiếp thu phêbình10 11

10 Xem: Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt,

ÍNxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2010, tr.l 171.

11 Xem: Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt,

Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2010, tr.633.

12 Xem: Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt,

'ịNxb Từ điến Bách khoa, Hà Nội, 2010, tr.32.

13 Xem: Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt,

ịNxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2010 tr 595.

Khaibáo là khai với cơ quan có thẩmquyền

những việc có liên quan đến mình hay

I những việc mình biết" Ăn năn là cảm thấy

đau xót, day dứt trong lòng về lồi lầm của

mình12 Hối cải là hối hận về tội lồi của

mình và tỏ ra muốn sửa chữa13 Như vậy,

thành khẩn khai báo được hiểu là thành thật

khai với cơ quan có thẩm quyền những việc

có liên quan đến mình hay những việc mình

biết với sự cầu thị; ăn năn hối cải là cảm

thấyđau xót, day dứt, hối hận tronglòng về

tội lỗi, sai trái của bản thân và tỏ ra muốn

sữa chừa

Hai là, nghiên cứu quy định của BLHS

năm 2015, tình tiết “thành khẩn khai báo, ăn

năn hối cải” không chỉ được quy định tại

Điều 51 với vai trò là một trong các TTGN

Ị trách nhiệm hình sự, mà còn được quyđịnh

tại một số chế định khác với sự tồn tại biệt

lập Theo khoản 4 Điều 110 BLHS năm

2015, “người đã nhận làm gián điệp, nhưng

1 không thực hiện nhiệm vụ được giao và tự

I thú, thành khẩn khai báo với cơ quan nhà

nước có thẩm quyền, thì được miễn trách

nhiệm hình sự về tội này” Đồng thời, điểm

ị d khoản 1 Điều 3 BLHS năm 2015 quy định

về nguyên tắc xử lý của Bộ luật Hình sự có

tách tình tiết này với nội dung, “khoanhồng

I

đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công

chuộc tội, tích cực họp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm

hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn

năn hối cải, tự nguyện sửa chừa hoặc bồi

thường thiệt hại gây ra” Cho nên, thiết nghĩ

“thành khẩn khai báo”, “ăn năn hối cải” là hai tình tiết khácnhau

Ba là, một số TTGN khác được quy

định tại khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015

có cấu trúc quy định tương tự tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 được hướngdẫn và hiểu là nhiều TTGN đượcquy

định trong cùng một điểm như TTGN

“người phạm tội tự nguyện sửa chừa, bồi

thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”,

“người phạm tội là người có thành tích xuất

sắc trong sân xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác”

Vì vậy, cần phải hiếu điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 quy định hai

TTGN khác nhau trong cùng một điểm,

nhưngvới mức độ, phạm vi khác nhau

2 Một số vấn đề cần nhận thức thống nhất khi áp dụng tình tiết giảm nhẹ

“thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải ”

Hiện nay, chưa có quy định cụ thể về điều kiện áp dụng TTGN “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” mà thông thường, việc

áp dụng chù yếu dựa vào nội hàm của các

cụm từ “thànhkhẩn khai báo”, “ăn năn hối cải” rồi đối chiếu vào nội dung vụ án để áp dụng Nhìn chung, theo cách hiểu thống

nhất hiện nay, “thành khẩn khai báo” được hiểu là trường họp người phạm tội đã khai đầy đủ và đúng sự thật tất cả những gì liên

quan đến hành vi phạm tội mà họ đã thực

hiện trong quá trình điều tra, truytố, xét xử

“Ăn năn hối cải” được hiểu là trường họp người phạm tội thể hiện sựcắn rứt, dày vò

Trang 5

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT SÔ 1/2022

lương tâm về tội lỗi cùa mình không chỉ

bằng lời nói, mà còn phái bằng những hành

động, việc làm cụ thể đê chứng minh cho

việc mình muốn sửa chữa, cải tạo thành

người tốt; bù đắp những tổn thất, thiệt hại

do hành vi phạm tội của mình gây ra14 Với

cách hiểu này, việc áp dụng TTGN thành

khẩn khai báo, ăn năn hối cải” cần có sự

thống nhất về cách hiểu, áp dụng liên quan

đến cáckhía cạnh sau:

14 Xem: Tiểu mục 6.2.1.15 sổ tay Thẩm phán; Đinh

Văn Quế, tlđd; Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp,

Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự Việt Nam năm

1999, lập I, Phần chung (từ Điều 1 đến Điều 77), Hà

Nội, 2004, Nxb Chính trị quốc gia; Trường Đại học

Luật Tp Hồ Chí Minh, Giáo trình Luật Hình sự Việt

Nam - Phần chung, Tp Hồ Chí Minh, 2015, Nxb

Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr.329; Trường

Đại học Cần Thơ, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam

(Phần chung), cần Thơ, 2008, tr.251-252.

15 Xem: Mục 5 Phần I Công văn số 81/2002; tiểu

mục 6.2.1.15 sổ tay Thẩm phán.

16 Xem: Đinh Văn Quế, tlđd; mục 23 Phần I Công

vãn số 16/1999.

17 Xem: Trần Thị Quang Vinh, Các TTGN trách

nhiệm hình sự trong Luật Hình sự Việt Nam Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.129-132.

18 Theo đó, khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình

sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chứng minh: (1) Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; (2) Ai là người thực hiện hành

vi phạm tội; có lồi hay không có lồi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội; (3) Những TTGN, tăng nặng trách nhiệm hình sự cùa bị can, bị cáo và đặc diêm

vê nhân thân của bị can, bị cáo; (4) Tính chất và mức

độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; (5) Nguyên nhân và điêu kiện phạm tội; (6) Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.

2.1 Đoi với tình tiết giảm nhẹ “thành

khẩn khai báo ”

- về điều kiện áp dụng: Hiện nay, việc

xem xét có áp dụngTTGN “thành khân khai

báo” cho người phạm tội hay không được

dựa vào: (1) Nội dung được khai báo và (2)

Nhận thức về tội phạm, thời điểm nhận tội

củangười phạm tội

về nội dung được khai báo, hiện nay,

tồn tại 03 nhóm quan điểm khác nhau về

nội dung khai báo cùa người phạm tội

Nhóm quan điêm thứ nhất cho răng, đê

được hưởng TTGN “thành khẩn khai báo”,

người phạm tội phải khai báo đầy đủ và

đúng sự thật diễn biến việc phạm tội15

Nhóm quan điểm thứ hai cho răng, người

phạm tội phảikhông khai báo gian dổi một

điều gì có liên quan đến tội phạm, người

phạm tội16 Nhóm quan điếm thứ ba cho

rằng, chỉ cần người phạm tội tự nguyện

khai báo và thấy được lồi của mình là có

thể được áp dụng TTGN này17

Tác giả thống nhất với quan điểm thứ

ba Bởi lẽ, trên thực tế, khi người phạm tội thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác thì thông thường Tòaán áp dụng TTGN “thành khẩn khai báo” đối với họ mà không nhất

thiết họ phải khai báo đầy đủ và đúng sự

thật diễn biếnviệc phạm tội” hay phải “khai báo không gian dối một điều gì có liên quan

đến tội phạm, người phạm tội” Bên cạnh

đó, theo Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự có phạm vi rất rộng,

nhưng đây là trách nhiệm của cơ quan,

người có thẩm quyền tiến hành tố tụng18

Hơn nữa, người phạm tội có trình độ không giống nhau Có thế do nhận thức hạn chế

mà họ không thể biết hành vi mà mình đã khai báo trên thực tế có phạm tội hay

không Vì vậy, không thể đặt ra việc người

phạm tội phải khai báo đầy đủ cácthông tin

về nhữngvấn đề cầnphải chứng minh trong

vụ án thì người phạm tội mới được hưởng TTGN này

Trang 6

BÀN VÈ TÌNH TIẾT

Đối với nhận thức về tội phạm và thời

điêm nhận tội của người phạm tội, hiện nay

cũng có nhiều quan điểm khác nhau. Quan

I diêm thứ nhât cho răng, ngườiphạmtội thật

' thà khai báo về những hành vi mà họ đã

I

thực hiện, không thừa nhận phạm tội, nhưng

sau khi được giải thích, người phạm tội biết

I lỗi thì vần được áp dụng TTGN này; còn

I trường hợp họ vân tỏ ra ngoan cố thì không

áp dụngx<). Riêng đối với trường hợp phạm

tội quả tang, sau khi bị bắt, người phạm tội

Ị quanh co, chối tội hoặc khai báo không

đúng sự thật của vụ án và chì sau khi cơ

quan tiếnhành tố tụngđã chứngminh được

đầy đủ hành vi phạm tội, họ mới nhận sự

I việc phạm tội thì không áp dụng TTGN

I này*20 Với quan điểm này, sau khi cơ quan

tiến hành tố tụng đã chứng minh được đầy

Ị đủ hành vi phạm tội thì người phạm tội mới

thừa nhận việc phạm tội thì không được áp

dụng TTGN “thànhkhẩn khai báo”

I Xem: Mục 23 Phần I Công văn số 16/1999; Đinh

Văn Quế, tlđd.

20 Xem: Mục 5 Phần I Công văn số 81/2002; tiểu

mục 6.2.1.15 sổ tay Thẩm phán.

21 Xem: Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Còng

trinh nghiên cừu khoa học cấp bộ đề tài “Bình luận

khoa học Bộ luật Hình sự 1999 (Phần chung), Hà

Nội, 2001, tr.114.

22 Chẳng hạn, ở giai đoạn điều tra, người phạm tội thừa nhận hành vi phạm tội, nhưng đến giai đoạn xét

xử sơ thẩm họ không thừa nhận hành vi phạm tội của mình Tuy nhiên, việc thừa nhận hành vi phạm tội của họ phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác có trong

hồ sơ vụ án, được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa vẫn có giá trị để buộc tội đối với người phạm tội.

23 Xem: Tiểu mục 6.2.1.15 sổ tay Thẩm phán; Đinh Văn Quế, tlđd, tr.262.

Quan điểm thứ hai cho rằng, việc xác

định giá trị giảm nhẹ của TTGN “thành

khẩn khai báo” chỉ ở một giai đoạn tố tụng

nhất định và người phạm tội phải và thấy

I được lồi của mình Do sự thành khẩn khai

báo ở giai đoạn tố tụng nào cũng có tác

dụng tích cực nhất định cho quá trình điều

tra, truy tố, xét xử nên không nhất thiết

người phạm tội phải thừa nhận hành vi

phạm tội trong suốt quá trình giải quyết vụ

án thì mới được hưởng TTGN “thành khẩn

khai báo”21

i

về vấn đề này, tác giả thống nhất với quan điểm thứ hai Bởi lẽ, sự thành khẩn khaibáo ở bất kỳ giai đoạn tốtụngnào cũng

có ý nghĩa nhất định, gắnvới việc cơ quan,

người có thẩm quyền tiến hành tố tụng làm

rõ các vấn đề cần phải chứngminhtrongvụ

án Hơn nữa, diễn biến tâm lý của người phạm tội thường có sự dao động vào các

thời điểm khác nhau và trong suốt quá trình

điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội

cũng chịu sự tác động của nhiều yếu tố bên

ngoài nên lời khai của họ có sự khác biệt

Do đó,khôngcần ràng buộc người phạm tội phải thừa nhận hành vi phạm tội của mình

trong suốt quá trình giải quyết vụán mà chỉ cần sự thừa nhận của họ có ý nghĩa đối với

việc giải quyết vụ án thì có thể áp dụng TTGN “thành khẩn khaibáo”đối với họ22

- về mức độ giảm nhẹ, nhìn chung, các quan điểm hiện nay và thực tiễn áp dụng chỉ

ra rằng,mức độ giảm nhẹ củaTTGN “thành khẩn khai báo” phụ thuộc vào: (1) Thời

điểm thành khẩn khai báo, (2) Ý nghĩa thiết thực của sự thành khan đối với việc làm rõ

các vấn đề cần phải chứngminh trong vụán

hình sự và ảnhhưởng của nội dung khaibáo

đến quá trình thực hiện các hoạt động tố

tụng Theo đó, người phạm tội khai nhận

hành vi phạm tội ngay từ đầu (khi tội phạm

bị phát hiệnhoặc bị bắt giữ), khai báo càng

sớm thì mức độ giảm nhẹ sẽ cao hơn so với trường hợp sau khi đã bị cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng chứng minh

23

Trang 7

NHÀ NƯỚC VÀ PHẢPLUẬTSÓ ỉ /2022

đầy đủ hành vi phạm tội thì người phạm tội

mới khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội

Đồng thời, lời khai báo của người phạm tội

có ý nghĩa làm rõ càng nhiều vấn đề cần

chứng minh trong vụ án hình sự giúp rút

ngắn thời gian giải quyết vụ án thì mức độ

giảmnhẹ càng cao

2.2 Đối với tình tiết giảm nhẹ “ăn năn

hối cải”

- vềđiều kiện áp dụng: Do chưa có quy

định về điều kiện áp dụng TTGN ăn năn

hối cải" nên trongthựctiền, cơ quan, người

có thẩm quyền tiến hành tốtụngthường dựa

vào những biểu hiện của người phạm tội

(yếu tổ chủ quan, yếu tố khách quan) để

quyết định có áp dụng TTGN này hay

không Hiện nay, tồn tại một số quan điểm

khác nhau về điều kiện áp dụng TTGN “ăn

nănhối cải”

Quan điểm thứ nhất cho rằng, ăn năn

hối cải” bao gồm các biểu hiện về nội tâm

và hành động cụthể: (1) Người phạmtội thể

hiện sự cắn rứt, dày vò lương tâm về tội lỗi

của mình; (2) Những hành động, việc làm

cụ thê đê chứng minh cho việc mình muôn

sửa chữa, cải tạo thành người tốt; bù đắp

những tôn thất,thiệt hạido hành vi phạm tội

của mình gây ra24 Quan điểm thứ hai cho

rằng, “ăn năn hối cải” gồm các biểu hiện

của người phạm tội: (1) Cảm thấy bị cắn

rứt, giày vò lương tâm về những việc làm

của mình; hối hận và muốn sửa chừa lỗi

lầm; (2) Các hành động tích cực: (i) Chấp

hành pháp luật, (ii) Gương mẫu trong mọi

lĩnh vực sinh hoạt của đời sống xãhội, (iii)

Tích cực khắc phục hậu quả, sửa chữa

những sai lam do mình gây ra25. Quan điểm

thứ ba cho rằng,“ăn năn hối cải” được biểu

24 Xem: Tiểu mục 6.2.1.15 sổ tay Thẩm phán.

25 Xem: Đinh Văn Quế, tlđd, tr.262.

26 Xem: Trần Thị Quang Vinh, tlđd.

27 Theo Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2010/HS-ST ngày 14/10/2020 của Tòa án nhân dân thị xã c (nay

là thành phô C), tỉnh A, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã mạnh dạn áp dụng TTGN “ăn năn hối cài” bên cạnh TTGN “thành khân khai báo” với tư cách là 02 TTGN độc lập thuộc điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (nay là TTGN tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015).

hiện qua thái độ hối hận về việc đã thực hiện tội phạm; thái độ tự nguyện nhìn nhận tội lồi, sẵn sàng chấp nhận sự trừng phạt của

pháp luậtvà thể hiện mong muốn được sửa chừalồi lầm thông qua quyết tâm chấp hành nghiêm chinh pháp luật, trở thành người

lương thiện26

Như vậy, các quan điểm về biểu hiện của TTGN “ăn năn hối cải” chưa có sự thống nhất, có quan điểm chỉ tập trung vào biểu hiện cùa yếu tố chủ quan (thái độ, nội tâm của người phạm tội), có quan điểm kết họp giữa biểu hiện của yếu tố chủ quan và

yếu tố khách quan (biểu hiện bằng hoạt động cụ thể bên ngoài), đồng thời, chưa có

sựthống nhất về biểuhiện của yếu tố khách

quan Chính vì chưa có quy định về biểu

hiện của TTGN “ăn năn hối cải”nên TTGN này hiếm khi được áp dụng trên thực tế27 * hoặc nếu có áp dụng thì ghép vào TTGN

“thành khẩn khai báo” để được áp dụng chung một TTGN “thành khẩn khai báo, ăn

năn hối cải”

về vấn đề này, tác giả cho rằng, ăn năn

hối cải là cảm thấy đau xót, day dứt, hối hận

trong lòng về tội lồi, sai trái của bản thân và

tỏ ra muốn sửa chữa Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào biêu hiện của yếu tố chủ quan để

đánh giá xem người phạm tội có được

hưởng TTGN“ăn năn hối cải” hay không sẽ

dề rơi vào tình trạng giả vờ ăn năn hối cải

của người phạm tội hoặc giả vờ, đánh lừa

dư luận, sự quan tâm, đánh giá cùa cơ quan,

Trang 8

BÀN VÈ TÌNH TIẾT

người có thẩm quyền tiến hành tố tụng để

tiếp tục phạm tội28 Cho nên, cùng với đánh

29 Xem: Tiểu mục 6.2.1.15 sổ tay Thẩm phán; Đinh Văn Quế, tlđd, tr.262.

1 giá biểu hiện về thái độ, nội tâm của người

Ị phạm tội, cơ quan, người có thẩm quyền

tiến hànhtốtụng cầnđánh giá các biểuhiện

Ị của yếu tổ khách quan (biểu hiện bên ngoài

của sự đauxót,day dứt, hối hận trong lòng)

Đồng thời, biểu hiện của yếu tố khách

quan có phạm vi rất rộng, có thể là những

hành vi thuộcTTGNkhác đượcquy địnhtại

khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 như:

I Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm

giảm bớt tác hại của tội phạm (điểm a);

người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi

thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả

(điểm b); người phạm tội tự thủ (điểm r);

người phạm tội tích cực hợptác với cơ quan

có trách nhiệm trong việc phát hiện tội

phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án

I (điểm t); người phạm tội đã lập công chuộc

tội (điểm u) và thậm chí là TTGN “thành

khẩn khai báo” Đồng thời, có cả một sổ

TTGN thuộc khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình

sự như: (i) BỊ hại (hoặc người đại diện hợp

pháp của bị hại) xin giảm nhẹ hình phạt,

miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm

tội; (ii) Người phạm tội đầu thú; (iii) Cộng

I đồng dân cư, chính quyền địa phương xin

giảm nhẹcho ngườiphạm tội Cho nên, để

tránh áp dụng tùy nghi, cần có sự quy định

giới hạn tối thiểu số lượng biểu hiện của

yếu tố khách quan khi áp dụng TTGN “ăn

năn hối cải” cho ngườiphạm tội Đồngthời,

cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố

tụng phảiđánh giátổng hợp giữa yếu tố chủ

I quan(nội tâm của người phạm tội) và yếutố

khách quan (hành động cụ thể của người

phạm tội) Trong đó, việc làm rõ yếu tố

khách quan có tính quyết định đê kiếm

1 28 Xem: Đinh Văn Quế, tlđd, tr.262.

chứng về sự “ăn năn hối cải” của người

phạm tội

- về mức độ giảm nhẹ, để xác minh

mức độ giảm nhẹ của TTGN “ăn năn hổi

cải” cần dựavào số lượng, mức độ, phạm vi

biểu hiện của sự “ăn năn hối cải”29 Theo

đó, biểuhiện của yếu tố khách quan, yếu tố chủ quan càng nhiều, mức độ biểu hiện của từng yếu tố càng sâu sắc, rõ ràng, phạm vi ảnh hưởng, vai trò cùa từng biểu hiện càng rộng, tác động lớnđếnviệc pháthiện, xử lý tội phạm, khắc phục nhanh chóng hậu quả

do tội phạm gây ra, làm xoa dịu sự bức xúc của dư luận sẽ được xem xét giảm nhẹ

mức độ cao

3 Một số giải pháp hoàn thiện

Với phân tích, đánh giá về quy định, quan điểm áp dụng TTGN “thành khẩn khai báo, ăn nănhối cải” hiện nay, để khắc phục

việc tồn tại nhiều cáchhiêu khác nhau về số lượng TTGN tại điểm s khoản 1 Điều 51

BLHS năm 2015 và có cáchhiểuthốngnhất

về nội dung và cách thức áp dụng TTGN

này trên thực tiễn, phát huy giá trị của TTGN “thành khẩn khai báo, ăn năn hối

cải”, nhất là TTGN “ăn năn hối cải” trong

việc giảm nhẹ hìnhphạt cho ngườiphạmtội

trong quá trình quyết định hình phạt, kiến

nghị Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểmsát

nhân dân tối cao cần ban hành văn bản liên tịch hướng dẫn các nội dung:

Một là, hướng dần thống nhất tình tiết

“thành khẩn khai báo, ăn năn hổi cải” bao

gồm hai TTGN “thành khẩn khai báo” và

“ăn năn hốicải”

Hai là, cần hướng dẫn điều kiện áp dụng và mức độ giảm nhẹ đối với TTGN

“thành khẩn khai báo” và TTGN “ăn năn hốicải”

Trang 9

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT SÔ 1/2022

- Theo đó, TTGN “thành khẩn khai

báo” được áp dụng khi người phạm tội tự

nguyện khai báo về sựviệc phạm tội, hành

vi phạm tội hoặc cả hai ở bất cứ giai đoạn

tố tụng nào; có thể trước hoặc saukhi hành

vi phạm tội, tội phạm đã được cơ quan,

người có thâm quyền tiến hành tố tụng

chứng minh

về mức độ giảm nhẹ của TTGN “thành

khẩn khai báo” phụ thuộc thời điểm thành

khẩn khai báo, ý nghĩa thiết thực cua sự

thành khẩn đối với việc làm rõ các vấn đề

cần phải chứng minh trong vụ án hình sự và

tầm ảnh hưởng đến quá trình, kết quà thực

hiện các hoạt động tố tụng

- TTGN “ăn năn hối cải” được áp dụng

khingười phạm tội có các biểu hiện cua yếu

tố chủ quan và các biểu hiện của yếu tố

khách quan Theođó, các biểu hiện của yếu

tố chủ quan là thái độ, nội tâm của người

phạm tội như: Sựcắn rứt, giày vòlương tâm

về tội lồi của mình; hối hận về hành vi mà

mình đã thực hiện; tự nguyện nhìn nhận tội

lồi, sẵn sàng chấp nhận sự trừng phạt của

pháp luật; thể hiện mong muốn trở thành

người lương thiện Các biểu hiện của yếu

tố khách quan là hoạt động cụ thể bên

ngoài, phản chiếu của yếutố chủ quan và là

cơ sở đánh giá yếu tố chù quan như: Chấp

hành pháp luật; các TTGN khác mà Bộ luật

Hình sự quyđịnh (người phạm tội đã ngăn

chặn hoặc làm giảm bớt tác hại cùa tội

phạm; người phạm tội tự nguyện sửa chữa,

bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu

quả; người phạm tội tự thú, đầu thú; người

phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có

trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm

hoặc trong quá trình giải quyết vụ án; người

phạm tội đã lập công chuộc tội;người phạm

tội thành khẩn khai báo; bị hại hoặc người

đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội; cộng đồng dân cư, chính quyền địa phương xin giảm nhẹ cho người phạm tội ) Đồng thời, người phạm tội

phải có ít nhất bốn biểu hiện của yếu tố

khách quan phản ánh sự àn năn hối cải của

người phạm tội

Mức độ giảm nhẹ của TTGN “ăn năn hối cải” phụ thuộc vào số lượng biêu hiện cùa yếu tố khách quan, yếu tố chù quan, mức độ biểu hiện của từng yếu tố (sự sâu sắc, rõ ràng, phạm vi ảnh hưởng, vai trò và

sựtác độngcủa từng yếu tố) đối với sự phát hiện, xử lý tội phạm, khắc phục nhanh

chóng hậu quả do tội phạm gây ra

Ba là, cầnhướng dần cách thức áp dụng

thống nhất tại các cơ quan tiến hành tố tụng

trong thực tiễn

Đối với Viện kiểm sát, khi ban hành cáo trạng và khi luận tội, cần có sự phân biệt

rạch ròi gữa hai TTGN này Theo đó, nếu người phạm tội chỉ có đủ điều kiện áp dụng

TTGN “thành khẩn khai báo” thì chỉ đề

nghị áp dụng TTGN “thành khẩn khai báo”,

tránh đề xuất áp dụng chung chung “thành

khấn khai báo, ăn nănhối cải” Trường hợp người phạm tội có đủ điều kiện áp dụng cả hai TTGN thì cần nêu rõ đề nghị áp dụng

TTGN “thành khẩn khai báo” vàTTGN“ăn

năn hối cải” Tương tự, đối với Tòa án, khi ban

hành bản án, hội đồng xét xừ cần nêu việc

áp dụng từng TTGN Nếu người phạm tội chỉ đủ điều kiện áp dụng TTGN nào thì

nhận định và áp dụng TTGN đó chongười phạm tội Trong trường hợp áp dụng hai TTGN thì phần quyết định phải thể hiện

“điểm s (02 TTGN) khoản 1 Điều 51 BLHS năm2015”

Ngày đăng: 29/10/2022, 18:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w