1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự ảnh hưởng của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, nhãn hiệu xanh, bao bì xanh đến ý định mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng hà nội

7 2 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 6,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SU ANH HUONG CUA TRACH NHIEM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP, NHAN HIEU XANH, BAO BI XANH DEN Y DINH MUA SAN PHAM XANH CUA NGUOI TIEU DUNG HÀ NỘI @ NGUYEN THI THU HUONG TOM TAT: Hiện nay, n

Trang 1

SU ANH HUONG CUA TRACH NHIEM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP,

NHAN HIEU XANH, BAO BI XANH DEN Y DINH MUA SAN PHAM XANH

CUA NGUOI TIEU DUNG HÀ NỘI

@ NGUYEN THI THU HUONG

TOM TAT:

Hiện nay, nhiều người tiêu dùng đã có nhận thức về việc tiêu dùng xanh, hiểu về

những hậu quả của những hành vi gây ô nhiễm môi trường, trong đó có hành vi tiêu

dùng sản phẩm không thân thiện với môi trường Nghiên cứu này sử dụng phương pháp

định tính và định lượng, với mẫu nghiên cứu là 207 người tiêu dùng tại Hà Nội Kết quả

nghiên cứu cho thấy, có 3 nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua của người tiêu dùng Hà Nội,

là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhãn hiệu xanh, bao bì xanh Từ kết quả này,

một số giải pháp và khuyến nghị được đưa ra cho doanh nghiệp, nhằm thúc đẩy hành vi

mua sắm sản phẩm xanh của người tiêu dùng Hà Nội

Từ khóa: trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, ý định mua sản phẩm xanh, người tiêu

dùng, sản phẩm xanh

1 Đặt van dé

Thực trạng ô nhiễm môi trường đang là vấn để

nhức nhối hiện nay Thời gian qua, nhiều ngày Hà

Nội ở mức ô nhiễm không khí nghiêm trọng Tác

nhân gây ô nhiễm môi trường có rất nhiều, trong

đó có việc gia tăng dân số trên địa bàn thành phố

trong khi cơ sở hạ tầng không đáp ứng kịp thời kéo

theo các vấn để về nước thải và rác thải, cùng với

các nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp mọc lên

nhanh chóng, lượng nước thải, khí thải của nhiều

doanh nghiệp chưa được xử lý triệt để trước khi

188 Số 1 - Tháng 1/2021

đưa ra ngoài môi trường Trong khi đó nhiều doanh nghiệp chưa chú trọng sản xuất những sản

phẩm thân thiện môi trường Bên cạnh đó người

tiêu dùng cũng chưa có nhận thức đầy đủ, chưa

thực sự quyết liệt trong thay đổi hành vi mua sắm

sản phẩm thân thiện môi trường

2 Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu

đề xuất

Sản phẩm xanh là một sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng mà không gây hại cho môi

trường và góp phần hướng tới một thế giới bển

Trang 2

QUAN TRI - QUAN LY

vững hơn (Shamdasami, Chon-Lin và Richmont,

1993) Các sản phẩm xanh sử dụng vật liệu an toàn

hơn với môi trường, có thể tái chế và yêu cầu đóng

gói ít hơn (Chan và Chai, 2010) Một số ví dụ về

các sản phẩm xanh là: sản phẩm thực phẩm hữu

cơ, thiết bị điện tử tiết kiệm năng lượng, sản phẩm

tái chế

Ý định mua sẵn phẩm xanh của người tiêu dùng

Ý định được giả định để kiểm soát các yếu tố

động cơ ảnh hưởng đến hành vi Chúng là những

dấu hiệu cho thấy mọi người sẵn sàng cố gắng nỗ

lực như thế nào hoặc họ dự định sẽ nỗ lực như thế

nào để thực hiện hành vi Ý định tham gia vào một

hành vi nào đó càng mạnh thì hành vi thực tế càng

có nhiều kha năng được thực hiện (AJzen, 1991)

Ý định mua sản phẩm xanh được định nghĩa là

việc một cá nhân có quan tâm và có thiện cảm với

sản phẩm xanh hơn là sản phẩm thông thường

trong quá trình ra quyết định mua sắm (Aman và

cộng sự, 2012) Theo Chan (2001), ý định mua sản

phẩm xanh có khả năng ảnh hưởng lớn đến quá

trình mua sản phẩm xanh và ý định mua xanh là

yếu tố dự báo hành vi mua xanh Hơn nữa, ý định

mua san phẩm xanh có thể được chuyển thành

hành vi mua thực tế khi người tiêu dùng tin rằng,

việc tiêu thụ các san phẩm xanh của họ mang lại

hiệu quả tích cực cho bản thân, gia đình họ và cho

xã hội (Follows & Jobbers, 2000)

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR)

Carroll (1991) chỉ ra rằng khái niệm CSR nên

bao gồm bốn trụ cột: kinh tế, pháp luật, đạo đức

và từ thiện “Kinh doanh có trách nhiệm xã hội” là

cam kết của doanh nghiệp nhằm đóng góp vào sự

phát triển kinh tế bền vững, đó là trách nhiệm của

doanh nghiệp trong việc cải thiện chất lượng cuộc

sống của nhân viên, cộng đồng địa phương và xã

hội nói chung (Kinh doanh vì Trách nhiệm xã hội,

2012) Ủy ban Cộng đồng châu Âu năm 2001 đã

đưa ra định nghĩa “Trách nhiệm xã hội của doanh

nghiệp là việc các công ty tích hợp các mối quan

tâm của họ về xã hội và môi trường trong hoạt

động kinh doanh và tương tác của họ với các bên

liên quan trên cơ sở tự nguyện”

Nhãn hiệu xanh

Rotherham (1999) đã định nghĩa nhãn hiệu

xanh là tập hợp các ký hiệu mô tả những tác động

tích cực của sản phẩm đến môi trường liên quan

đến việc sản xuất hoặc sử dụng sản phẩm Các

nhãn hiệu xanh ngày càng được các nhà marketing

sử dụng để thúc đẩy nhận dạng các sản phẩm xanh

(D’ Souza va cộng sự, 2006) Nhiều nghiên cứu về

nhãn hiệu xanh muốn tìm hiểu cách thức thiết kế nhãn hiệu như thế nào để thu hút sự chú ý của

người tiêu dùng khi họ muốn mua một sản phẩm an toàn với môi trường Nghiên cứu của Nik Abdul Rashid (2009) cho thấy, nhận thức về nhãn hiệu xanh có tác động tích cực với ý định mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng

Bao bì xanh

Draskovic và cộng sự (2009) đề xuất rằng, bao

bì là một công cụ giao tiếp giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng, và nó có khả năng thu hút sự chú

ý của người tiêu dùng Nhận thức của người tiêu

dùng về bao bì gồm: hình dạng, kích thước, màu sắc, chất liệu và thông tin được ghi trên bao bì Để hiểu sâu hơn về vai trò truyền thông của bao bì và ảnh hưởng của bao bì đến người tiêu dùng, phải

điều tra xem người tiêu dùng cảm nhận bao bì như thế nào Trong nghiên cứu của Van Dam và Van Trijp (1994), người tiêu dùng ưa thích mua và sử dụng những sản phẩm có bao bì thân thiện với môi trường, thể hiện qua chất liệu không gây hại môi

trường, hình thức, cách đóng gói đơn giản, có khả năng tái chế hay tái sử dụng của bao bì

Từ tổng quan các nghiên cứu, giả thuyết được đặt ra trong nghiên cứu này là: Niễm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm xanh, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, nhãn hiệu xanh, bao bì xanh

là các nhân tố tác động đến ý định mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng Hà Nội (Hình 1)

Các giả thuyết nghiên cứu được đặt ra là:

HI: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có

mối quan hệ thuận chiêu với ý định mua sản phẩm

xanh của người tiêu dùng

Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Y dinh mua sản phẩm xơnh của người tiêu

dùng Nhãn hiệu xanh

Số 1 - Tháng 1/2021 189

Trang 3

H2: Nhãn hiệu xanh có mối quan hệ thuận

chiều với ý định mua sản phẩm xanh của người

tiêu dùng

H3: Bao bì xanh có mối quan hệ thuận

chiều với ý định mua sản phẩm xanh của người

tiêu dùng,

3 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu định tính và định lượng được sử

dụng để đạt được mục tiêu nghiên cứu Phương

pháp nghiên cứu định tính nhằm lược khảo tài

liệu có liên quan nhằm tìm ra được các nhân tố

ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm xanh

Phương pháp nghiên cứu định lượng được tiến

hành nhằm xác định mức độ tác động của các yếu

tố ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm xanh trên

địa bàn Hà Nội Nghiên cứu định tính được thực

hiện với phương pháp thảo luận nhóm và lấy ý

kiến chuyên gia nhằm hiệu chỉnh bảng hỏi cuối

với l5 biến và dùng thang đo 5 cấp độ Likert

nhằm thu thập số liệu cho nghiên cứu định lượng

Bảng hỏi chính thức được gửi tới 250 người tiêu

dùng trên địa bàn Hà Nội vào tháng 8/2020 bằng

hai hình thức, phỏng vấn trực tiếp và gửi bảng

khảo sát trực tuyến qua zalo, mail Việc lấy phiếu

này đảm bảo số phiếu bao quát về số lượng người

tiêu dùng với các đặc điểm về giới tính, tuổi, trình

độ học vấn, tổng thu nhập hộ gia đình, nghề

nghiệp Từ 250 phiếu khảo sát được phát ra và

thu về, sau khi loại đi những phiếu không đạt yêu

cầu, còn lại 207 phiếu khảo sát hợp lệ (đạt

82,8%) được sử dụng phân tích

Việc xây dựng các thang đo dựa trên thang đo

của các nghiên cứu trong và ngoài nước, cụ thể ở

Bang |

Dữ liệu thu thập được xử lý bằng phân mềm

SPSS 20.0, gồm các bước: Thống kê mô tả, đánh giá độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố

khám phá EFA, phân tích hệ số tương quan, phân

tích hồi quy tuyến tính

4 Kết quả nghiên cứu Kết quả đánh giá độ tin cậy của yếu tố cấu

thành đo lường các biến nghiên cứu: Các biến

quan sát đều có hệ số Cronbach alpha nếu loại biến nhỏ hơn hệ số Cronbach alpha chung, các hệ

số tương quan biến - tổng thỏa điều kiện hệ số

tương quan biến - tổng > 0.3 Kết quả cho thấy

các yếu tố cấu thành đo lường các biến đều đảm

bảo độ tin cậy và có thể sử dụng trong các phân

tích tiếp theo

Kết quả phân tích nhân tố EFA cho thấy, KMO =0.876 thỏa mãn điều kiện KMO >0.5, kết

quả kiểm định Barlett cho thấy p = 0.000 < 5%

các hệ số tải đều lớn hơn 0.5, có nghĩa là các biến

có quan hệ với nhau và có đủ điều kiện để phân tích nhân tố bằng kiểm định EEA

Kết quả phân tích tương quan, các giá trị hệ

số tương quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc đều có ý nghĩa ở mức 99% Hệ số tương

quan giữa biến phụ thuộc là “Y định mua sản

phẩm xanh” và các biến độc lập là tương đối cao, các biến độc lập có nhìn thấy có nhìn thấy ít

tương quan với nhau Như vậy, ta có thể kết luận

sơ bộ là các biến độc lập phù hợp để đưa vào mô hình giải thích cho biến phụ thuộc và các biến độc lập có mối tương quan thuận chiều với biến

phụ thuộc “Ý định mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng”

Bỏng 1 Nguồn thang đo

| STT | Thang do Nguồn

4 _ Ý định mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng : Vaishali Sethi (2018) |

2 'T _ Maen mhifmn xa Gt eile idoanih ghigp h | Rini Suryati Sulong, Jaratin Lily (2014) |

| 3 ¡ Nhãn hiệu xanh | Li Saichao (2016) |

Du si

190 Số 1 - Tháng 1/2021

L

Jaratin Lily (2014)

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Trang 4

QUAN TRI - QUAN LY

Kết quả kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến cho

thấy, hệ số phóng đại phương sai VIF của các

biến độc lập được đưa vào phân tích đều có giá trị

<2 Như vậy, tính đa cộng tuyến của các biến độc

lập không đáng kể và các biến trong mô hình

được chấp nhận Kết quả kiểm định E được thể

hiện trong Bảng | cho thay, gid tri F = 72.674, giá

tri sig = 0.000, đo vậy, mối quan hệ này đảm bảo

độ tin cậy với mức độ cho phép là 5%, nên có thể

kết luận các biến độc lập có tác động đến ý định

mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng và mô

hình hổi quy đa biến phù hợp với tập dữ liệu và

có thể sử dụng được; Phân tích ANOVA cho kết

quả sig = 0.000 rất nhỏ, chứng tổ mô hình hồi quy

là phù hợp; Hệ số R2 điều chỉnh = 0.568 chứng tỏ

các bốn biến độc lập có thể giải thích 56.8% sự

biến động của biến phụ thuộc (Bảng 2)

trên, khi 1 don vi “Y định mua sản phẩm xanh của

người tiêu dùng” tăng lên thì theo đó phải có sự

cộng hưởng dương của 0.5 lần “trách nhiệm xã hội

của doanh nghiệp”, 0.184 lần “nhãn hiệu xanh”, 0.162 lần “bao bì xanh”

5 Thảo luận kết quả và hàm ý quản trị

5.1 Thảo luận Kết quả kiểm định cho thấy tương quan thuận

giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và ý

định mua thực phẩm xanh của người tiêu dùng ở giả thuyết HI Người tiêu dùng Hà Nội sẽ tăng ý định mua sản phẩm xanh khi các công ty đặt ưu tiên cao hơn vào việc giảm ô nhiễm hơn là tăng lợi nhuận của chính họ Người tiêu dùng sẽ ủng hộ các hoạt động thể hiện trách nhiệm xã hội của DN đối với sản phẩm xanh vì họ nghĩ rằng một phần tiền của họ sẽ góp phần giúp đỡ những người khác

Bảng 2 Trọng số hồi quy đa biến với biến phụ thuộc “Ý định mua sản phẩm xanh”

HH | Tosti | basin

, Nhãn hiệu xanh 184, 056 200 3276, 001 | 698 | 1432

- Bao bì xanh | 162 053 —- 184 3.085 | 002 | 731 | 1.369

_R? điều chỉnh=0.568 Giá tr) F=72.674 Mức ý nghĩa của Sig = 0,000

Từ Bảng 2, mô hình mối tương quan hồi quy

tuyến tính bội các nhân tố được biểu thị như sau:

YDMX = 0.631 + 0.5* TNDN

+ 0.184 * NHX + 0.162 * BBX

Từ phương trình hồi quy trên, ý định mua sản

phẩm xanh của người tiêu dùng chịu tác động bởi

3 nhân tố từ mô hình nghiên cứu Ba nhân tố này

đều tác động cùng chiều đến ý định mua sản phẩm

xanh của người tiêu dùng Với điều kiện các yếu tố

khác không đổi, nhân tố “Trách nhiệm xã hội của

doanh nghiệp” tác động mạnh nhất với hệ số beta

là 0.531; nhân tố “Bao bì xanh” tác động yếu nhất

với hệ số beta 0.184 đến ý định mua sản phẩm

xanh của người tiêu dùng Cũng theo phương trình

Nguồn: Kết quả điều tra phân tích của tác giả

thông qua việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Kết quả kiểm định cho thấy tương quan thuận giữa nhãn hiệu xanh và ý định mua thực phẩm xanh của người tiêu dùng ở giả thuyết H2 Người

tiêu dùng cũng có ý định mua sắn phẩm xanh khi

họ coi những gì được in trên nhãn sản phẩm xanh

là chính xác, nghĩa là họ tin tưởng những chứng nhận của các cơ quan chức năng trong việc chứng nhận sản phẩm là xanh cho doanh nghiệp, họ cũng

dễ dàng nhận biết, hiểu được ý nghĩa, có thiện cảm

và tin tưởng sản phẩm của doanh nghiệp thông qua

hình ảnh về logo, tên gọi nhãn hiệu xanh của doanh nghiệp

$6 1 - Thang 1/2021 19]

Trang 5

Kết quả kiểm định cho thấy tương quan thuận

giữa bao bì xanh và ý định mua thực phẩm xanh

của người tiêu dùng ở giả thuyết H3 Người tiêu

dùng có ý định mua sản phẩm xanh khi sản phẩm

đó có là bao bì có thể tái chế, có thể tái sử dụng và

có bao bì đơn giản

5.2 Ham ý quản trị

Để người tiêu dùng gia tăng ý định và đi đến

quyết định mua sản phẩm xanh, các doanh nghiệp

cần phải có sự đầu tư thích đáng trong việc nghiên

cứu và triển khai các vấn để về nhãn hiệu xanh,

bao bì xanh, và thực hiện tốt các trách nhiệm xã

hội của doanh nghiệp trong việc bảo vệ môi

trường, các hoạt động vì cộng đồng khác

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Doanh nghiệp có nhiều cách thức thể hiện trách

nhiệm xã hội của mình trong việc thúc đẩy ý định

mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng, trong đó

trách nhiệm bảo vệ môi trường là một nhiệm vụ

rất quan trọng, cấp thiết Trước hết, các doanh

nghiệp cần thay đổi nhận thức về bảo vệ môi

trường, từ đó doanh nghiệp sẽ thay đổi hành vi của

mình trong quá trình sản xuất, kinh doanh Việc

bảo vệ môi trường phải bắt đầu từ nguyên liệu sản

xuất, doanh nghiệp cần nghiên cứu, kiểm soát chặt

chẽ nguyên liệu, đảm bảo không gây độc hại cho

người lao động trong quá trình sẵn xuất, không gây

hại sức khỏe cho người sử dụng và ảnh hưởng lâu

đài cho môi trường khi bị loại bỏ Doanh nghiệp

cũng cần quan tâm đến quy trình sản xuất an toàn,

chất thải được tạo ra trong quá trình này cần phải

được xử lý triệt để, không gây ô nhiễm ra môi

trường sống của cư dân

Các hoạt động vì cộng đồng khác: doanh

nghiệp có thể phát động hay cùng cộng đồng tham

gia các chương trình chung bảo vệ môi trường như

tuyên truyền, vận động người dân không sử dụng

túi nylon khi đi chợ; cùng hưởng ứng và tham gia

tài trợ cho các cá nhân và hộ gia đình nghèo trong

để án bỏ xe máy/ ô tô cũ nát vẫn còn lưu thông và

bếp than tổ ong ở các thành phố lớn Hoặc doanh

nghiệp có thể xây dựng văn hóa không sử dụng

hay hạn chế sử dụng túi nylon và đổ nhựa trong

văn phòng làm việc của mình

Nhãn hiệu xanh

Tiêu chí nhãn xanh Việt Nam bao gồm, tuân

thủ pháp luật về bảo vệ môi trường và gây hại ít

192 Số 1 - Thóng 1/2021

hơn cho môi trường so với sản phẩm cùng loại

Thông qua nhãn hiệu xanh, khách hàng sẽ có

thiện cảm, tin cậy đối với sản phẩm của doanh nghiệp Do vậy, khi thiết kế nhãn hiệu xanh,

doanh nghiệp cần lưu ý về logo, tên gọi, việc đăng

ký Ví dụ, logo phải thể hiện được đặc trưng của

ngành, phải đơn giản, dễ ghi nhớ, với bố cục hài hòa, đường nét rõ ràng, màu sắc nổi bật gắn với đặc trưng ngành nghề như màu xanh lá cây, màu xanh nước biển, màu sắc tự nhiên của rau củ quả, màu của đất Tên gọi, phải dễ đọc, dé nhớ,

không bị khách hàng liên tưởng đến ý nghĩa tiêu cực, có thể liên quan đến ngành nghề/sản phẩm doanh nghiệp kinh doanh, không trùng lặp với các

nhãn hiệu sản phẩm cùng loại của các doanh

nghiệp khác, phải phù hợp với đối tượng khách

hàng mục tiêu Sau khi đã thiết kế nhãn hiệu

xanh, doanh nghiệp cần sớm đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại Cục Sở hữu trí tuệ và lầm các thủ tục chứng nhận nhãn hiệu xanh cho sản phẩm Doanh

nghiệp có thể tìm hiểu “Thông tư số 41/2013/TT-

BTNMT” do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành ngày 2/12/2013 quy định trình tự, thú tục, chứng nhận và gắn nhãn sinh thái cho sản phẩm thân thiện với môi trường

Bao bì xanh Bao bì là một trong lý do quan trọng trong việc khách hàng quyết định mua một sản phẩm, do vậy,

doanh nghiệp cần quan tâm đến chất liệu bao bì, việc tái sử dụng, tái chế và sự đơn giản của bao bì

Doanh nghiệp có thể sử dụng bao bì nilon tự hủy sinh học được làm từ nguồn nguyên liệu hữu cơ, không gây ô nhiễm môi trường Doanh nghiệp có

thể tổ chức thu gom, khuyến khích người sử dụng đổi trả lại bao bì đã qua sử dụng hoặc hỗ trợ bao bì

cho các trung gian bán lẻ như siêu thị trong việc cung cấp túi đựng hàng sử dụng nhiều lần Ngoài

ra, doanh nghiệp có thể kết hợp với các cơ quan

chức năng có liên quan trong việc tổ chức những

chương trình tuyên truyền, vận động người dân sử

dụng túi có chất liệu thân thiện môi trường, túi được sử dụng nhiều lần khi đi mua sắm

6 Kết luận

Nghiên cứu đánh giá quan hệ giữa 3 nhân tố:

trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, nhãn hiệu xanh, bao bì xanh và ý định mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng Hà Nội Nghiên cứu sơ bộ và

Trang 6

QUAN TRI - QUAN LY

nghiên cứu định lượng đã được đề xuất với bảng

hỏi gồm 3 nhân tố và 15 biến Có 207 bảng hỏi hợp

lệ trong tổng số 250 bảng hỏi và kết quả kiểm định

đã xác thực tất cả các giả thuyết nghiên cứu ở

khoảng tin cậy 99%

Đóng góp về mặt lý thuyết

Nghiên cứu củng cố lý thuyết về mối tương

quan giữa các nhân tố: trách nhiệm xã hội của

doanh nghiệp, nhãn hiệu xanh, bao bì xanh và ý

định mua sản phẩm xanh Trong đó, trách nhiệm

xã hội của doanh nghiệp có ảnh hưởng nhiều nhất

đến ý định mua sản phẩm xanh, tiếp đến là nhãn

hiệu xanh, bao bì xanh

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Đóng góp về mặt thực tiễn Nghiên cứu đưa ra một số để xuất đối với

doanh nghiệp trong việc nâng cao nhận thức bảo

vệ môi trường, thay đổi hành vi sản xuất, kinh

doanh để cung cấp ra thị trường sản phẩm có chất lượng, an toàn sức khóe cho người sử dụng, không

gây hại cho môi trường sinh thái Doanh nghiệp

cũng có trách nhiệm khác với cộng đồng như chủ

động, tích cực tham gia các chương trình bảo vệ môi trường Doanh nghiệp cũng cần chú trọng

đến việc thiết kế, đăng ký bảo hộ nhãn hiệu xanh,

sử dụng bao bì thân thiện môi trường, có thể tái chế, tái sử dụng, M

1 Ajzen, I (1991) The theory of planned behavior Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50 (2), 179-211

2 Aman, A H L., Harun A & Hussein, Z (2012) The influence of environmental knowledge and concern on

green purchase intention the role of attitude as a mediating variable British Journal of Art and Social Sciences,

7 (2), 145-167

3 Chan, R.Y (2001) Determinants of Chinese consumers’ green purchase behavior Psychology & Marketing,

18 (4), 389-413

4, Carroll, A.B (1991) The pyramid of corporate social responsibility: Toward the moral management of

organizational stakeholders Business horizons, 34(4),39-48

5 Chen, T B., & Chai, L T (2010) Attitude towards the environment and green products: Consumers’

perspective Management science and engineering, 4(2), 27-39

6 DSouza C., Taghian, M., & Lamb, P (2006) An empirical study on the influence of environmental labels on

consumers Corporate Communications: An International Journal, 11(2), 162-173

7 Draskovic N J Temperley and J Pavicic (2009) Comparative perception(S) of consumer goods packaging: Croatian consumers perspective(S) International Journal of Management Cases, 11(2), 154-163 DOL 10.5848/APBJ.2009.00028

8 Follows, S B., & Jobber, D (2000) Environmentally responsible purchase behaviour: A test of a consumer model European Journal of Marketing, 34(5), 723-746

9 Hair J.J.F., W.C Black, B.J Babin and R.E Anderson (2010) Multivariate data analysis, 7th Edn London: Pearson Prentice Hall

10 Li Saichao (2016), A study on factors affecting customer’s attitude toword intention to purchase green products

in Bangkok, Thailand, The Graduate School of Bangkok University in Partial Fulfillment of the Requirements for the Degree Master of Business Administration

11 Nhu, N.T My, D.V., & Thu, N.T.K (2019) Determinants affecting green purchase intention: a case of Vietnamese consumers Journal of Management Information and Decision Sciences, 22(2), 136-147

12 Nik Abdul Rashid N R (2009) Awareness of Eco-label in Malaysia's Green Marketing Initiative International Journal of Business and Management, 4(8), 132-141

$6 1 - Thang 1/2021 193

Trang 7

13 Shamdasani P., Chon-Lin G., Richmond D (1993) Exploring Green Consumers in An Oriental Culture: Role

of Personal and Marketing Mix Advances in Consumer Research, 20(1), 488-493

14 Van Dam, Y.K and C.M Van Trijp (1994) Consumer perceptions of, and preferences for beverage

containers Food Quality and Preference, 5(4), 253-261 DOI: http: 10.1016/0950-3293(94)90050-7

15 Wilson Kong, Amran Harun, Rini Suryati Sulong, Jaratin Lily (2014) The influence of consumers’ perception

of green products on green purchase intention, Jnternational Journal of Asian Social Science, 4(8), 924-939

Ngày nhận bai: 7/12/2020

Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 17/12/2020

Ngày chấp nhận đăng bài: 28/12/2020

Thông tin tác giả:

TS NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG

Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Lao động - Xã hội

THE IMPACTS OF THE CORPORATE SOCIAL RESPONSIBILITTY, GREEN LABEL AND GREEN PACKAGING

ON THE GREEN PRODUCT PURCHASING INTENTION

OF HANOIAN CONSUMERS

@ PhD NGUYEN THI THU HUONG

Faculty of Business Administration,

University of Labour and Social Affairs

ABSTRACT:

Currently, consumers have become more aware of green consumption and the impacts of

their purchases on environment This study was conducted by using qualitative and quantitative

methods with the study sample of 207 consumers living in Hanoi The study’s results indicate

that there are three factors affecting the green product purchasing intention of Hanoian

consumers These factors are the corporate social responsibility, green label, and green

packaging Based on the study’s findings, some solutions and recommendations are proposed to

help businesses promote the green consumption in Hanoi

Keywords: social responsibility, green product purchasing intention, consumers, green

products

194 Số 1 - Thóng 1/2021

Ngày đăng: 29/10/2022, 17:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w