1. Trang chủ
  2. » Biểu Mẫu - Văn Bản

Quan hệ giữa luật sư với khách hàng và vấn đề thực hiện quy tắc bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp cùa khách hàng, tôn trọng khách hàng

6 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 863,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số vấn đề chung về quan hệ giữa luật sư và khách hàng Lịch sử hình thành và phát triển nghề luật sự trên thế giới cũng như ở Việt Nam, sứ mệnh nghề nghiệp, mục đích và kỹ năng hành

Trang 1

NGHIÊN CỨU TRAO ĐÓI C(C NgheLuạt

QUAN HỆ GIỮA LUẬT SƯyớl KHÁCH HÀNG VÀ VAN ĐE THựC hiện QUY TẮC BẢO VỆ TỐT NHAT QUYEN và LỢl ích hợp pháp

CỦA KHÁCH HÀNG, TÔN TRỌNG KHÁCH HANG

Ngô Thị Ngọc Vân1 1 Nguyễn Thị Thu Minh2

1 Một số vấn đề chung về quan hệ giữa

luật sư và khách hàng

Lịch sử hình thành và phát triển nghề luật sự

trên thế giới cũng như ở Việt Nam, sứ mệnh nghề

nghiệp, mục đích và kỹ năng hành nghê đêu khởi

nguồn từ nhụ cầu của khách hàng - những người

yeu thế để đấu tranh, bảo vệ quyen và lợi ích hợp

pháp bị xâm phạm từ các chủ thể quyền lực, tố

tụng và người khác Do đó, nói tới vai trò của

Luạt sư trong bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp

cho khách hàng là nói tới những tác động, ảnh

hưởng của Luật sư trong tiến trình tố tụng và

trong đời sông xã hội thông qua chức năng cao

quý của nghề nghiệp, góp phần vào quá trình dân

chu hóa hoạt đọng tư pháp, tạo Ịập công bằng xã

hội Thông qua hoạt động nghê nghiệp, luật sư

không chỉ thiết thực bảo vệ quyền và lợi ích hợp

pháp của khách hàng mà còn bảo vệ pháp luật,

công lý như là các đại lượng phản ánh niêm tin

của người dân vào những quyên cơ bản, nhân

phẩm và giá trị của con người

1 Tiến sỹ, Giảng viên, Phó Trưởng Khoa Đào tạo chung nguồn Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư, Học viện Tư pháp.

2 Thạc sỹ, Giảng viên, Khoa Đào tạo Luật sư, Học viện Tư pháp.

Tóm tắt: Hoạt động hành nghề cùa Luật sư luôn gan với khách hàng và là quan hệ thường xuyên, phô biên nhât trong các quan hệ liên quan đên nghê nghiệp Luật sư Do đó, quan hệ giữa Luật

sư với khách hàng là quan hệ cơ bản nhát trong hoạt động nghê nghiệp Luật sư Trong quả trình hành nghê, nêu Luật sư thiêu đi sự cân trọng, cân nhác đền các khía cạnh phát sinh trong quan hệ với khách hàng, luật sư sẽ tự đánh mât lòng tin của khách hàng đôi với chức phận nghê nghiệp cùa luật

sư Trong bài viết, tác giả phân tích vai trò, trách nhiệm cùa Luật sư trong việc thực hiện quy tắc bào vệ tot nhất quyển và lợi ích hợp pháp của khách hàng, tôn trọng khách hàng.

Từ khoá: Luật sư, khách hàng, bào vệ tot nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, tôn trọng khách hàng, nghê luật sư, quy tăc hành nghê luật sư, quan hệ giữa luật sư với khách hàng Nhận bài: 11/3/2022; Hoàn thanh biên tập: 15/3/2022; Duyệt đăng: 23/3/2022.

Abstract: Lawyers ’practice is in close relation with clients, and it is the most popular and frequent relations Therefore, relation between lawyers and their clients is the most basic relation

in lawyers ’practice If lawyers, in their practice, lack of caution and do not take into account aspects arising in relation with clients, they will lose clients ’trust In this article, the author analyzes roles, responsibilities of lawyers in carrying out principle of defending clients ’ legal rights and interests

in the best way, respecting clients.

Keywords: Lawyers, clients, defending clients' legal rights and interests in the best way, respecting clients, lawyer, lawyer’s code of conduct, relation between lawyers and clients.

Date of receipt: 11/3/2022; Date of revision: 15/3/2022; Date of Approval: 23/3/2022.

Xác định ranh giới điều chỉnh pháp luật đối với các loại quan hệ xã hội nào tuỳ thuộc vào mức độ điên hình, phô biên của quan hệ xã hội cân điêu chỉnh và bản thân đôi tượng điêu chỉnh Nói tới phạm vi điều chỉnh pháp luật đổi với hoạt động nghê nghiệp của luật sư là nói tới ranh giới của việc Nhà nước sử dụng pháp luật nhằm can thiệp công khai và tác động đên các quan hệ nảy sinh trong quá trình hoạt động hành nghê của luật

sư Xác định ranh giới này là một công việc khó khăn vì phụ thuộc vào nhu cậu điêu chỉnh và tính cấp thiết của phương thức điều chỉnh Vì vậy, cần xem xét đến phạm vi và đối tượng điều chỉnh của pháp luật về luật sư là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trinh hoạt động của luật sư Hiện nay, vê mặt lý luận, các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý chưa có được sự thống nhất trong việc phân loại các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hoạt động của luật sư Trong hoạt động xây dựng pháp luật, hệ thông hóa pháp luật

và áp dụng pháp luật, các cơ quan lập pháp và

o

Trang 2

HỌC VIỆN Tư PHÁP

hành pháp cũng chưa có sự nhất quán về quan

niệm và phạm vi điều chỉnh của pháp luật về luật

sư, chưa định hình rõ nét địa vị pháp lý của luật

sư là một chủ thê tư pháp độc lập hoạt động nghê

nghiệp trong lĩnh vực tư vân, tranh tụng và cung

câp các dịch vụ pháp lý khác nhăm bảo vê quyên

và lợi ích hợp pháp của công dân và tô chức

Nguyên nhân của tình trạng trên là quá trình xây

dựng và hoàn thiện pháp luật vê luật sư phụ

thuộc rât nhiêu vào sự tham gia của các chủ thê

tư pháp trong các quan hệ xã hội và mức độ quan

tâm của Đảng và Nhà nước vê xây dựng pháp

luật liên quan đến hoạt động của luật sư Đoi

tượng điêu chỉnh của pháp luật vê luật sư gôm

các nhóm quan hệ như sau:

- Nhóm quan hệ phát sinh giữa các luật sư

với nhau tạo thành tô chức xã hội nghê nghiệp

và 'tô chức hành nghê, trong đó bao gôm các quy

phạm pháp luật điêu chỉnh vê tiêu chuân, điêu

kiện, phạm vi hành nghê, quyên và nghĩa vụ của

luật sư, tô chức hành nghê và tô chức xã hội nghê

nghiệp, thù lao và xử lý vi phạm

- Nhóm quan hệ phát sinh giữa luật sư với

khách hàng, bao gôm các quy phạm pháp luật

điêu chỉnh vê cách thức tiêp cận và thỏa thuận

giữa luật sư và khách hàng, thù lao, các điêu câm

và quy tăc đạo đức và ứng xử nghê nghiệp ưong

quan hệ với khách hàng được pháp lý hóa

- Nhóm qụan hệ phát sinh giữa luật sư với

các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan có thẩm

quyên khác trong hoạt động nghê nghiệp, bao

gôm các quy phạm pháp luật của nhiêu ngành

luật khác nhau điều chỉnh các quạn hệ liên quan

quyền và nghĩa vụ luật sư trong tố tụng (hình sự,

dân sự, kinh tê, hành chính, lao động ); các quy

phạm xác định quyên và nghĩa vụ của bị can, bị

cáo, đương sự liên quan quá trình tô tụng với luật

sư và với các cơ quan tiên hành tô tụng

- Nhóm quan hệ phát sinh vê mặt quản lý nhà

nước và sự tự quản của tổ chức xã hội nghề

nghiệp luật sư, bao gôm các quy phạm pháp luật

điêu chỉnh các quan hệ pháp luật phát sinh từ môi

quan hệ giữa các cơ quan quản lý nhà nước với

các tổ chức xã hội nghề nghiệp và tổ chức hành

nghê luật sư

Thực tiên cho thây, môi quan hệ giữa Luật sư

và khách hàng có thê nhận diện trên ba phạm vi

sau đây:

Thứ nhất, quan hệ trong phạm vi tham gia

tư van, hô trợ về pháp lý, tham gia tố tụng và

cung cấp các dịch vụ pháp lý khác Đây là mối

quan hệ cơ bản, phát sinh trách nhiệm pháp lý của Luật sư trước pháp luật và trước khách hàng Luật sư sau khi đã nhận trách nhiệm cung câp dịch vụ pháp lý cho khách hàng, tùy theo tính chât của vụ việc, phải có kê hoạch và bước đi cân thiêt đê tiên hành các công việc phục vụ cho việc

tư vấn, hồ trợ về pháp lý cho khách hàng Họp đông dịch vụ pháp lý giữa luật sư với khách hàng

sẽ quy định về quyền, nghĩa vụ của mỗi bên và các quy định pháp luật điêu chỉnh vân đê này

Thứ hai, quan hệ với tư cách con người với

nhau trong đời sông xã hội Nhận biết mối quan

hệ này một cách đúng đăn có ý nghĩa quan trọng trong việc điêu chỉnh ứng xử hành vi của Luật sư vội khách hàng Trong giao tiếp công việc, dần dần đã hình thành moi quan hệ tình cảm chân chính nảy sinh một cách tư nhiên giữa Luật sư

và khách hàng, frong đó thê hiện sự tin cậy, tôn trọng lân nhaụ và cùng chung ước vọng làm tât

cả những gì tôt nhât cho khách hàng trên cơ sở pháp luật và quy tăc đạo đức nghê nghiệp Trong thực tiễn, nhiễu khách hàng muốn Luật sư chia sẻ

sự quan tâm đên sô phận của họ “mọi lúc, mọi nơi” băng cách mời Luật sư cùng dự sự kiện, cùng tham gia một sô hoạt động thê thao Trên thực tế, có trường họp từ mối quan hệ thâm giao nói ưên, Luật sư có quan hệ tình cảm hoặc đi đến hôn nhân với khách hàng Điều đó cho thấy, xử

lý môi quan hệ với khách hàng ngoài phạm vi công việc là một vấn đề hết sức nhạy cảm, cần có giới hạn nhât định, đê người Luật sư vừa giữ được những chuẩn mực nghề nghiệp, vừa có thể chia sẻ những bức xúc, quan tâm của khách hàng một cách tận tâm và chu đáo

Thứ ba, quan hệ về tài sản giữa Luật sư và

khách hàng, ơ đây, cân phân biệt môi quan hệ này với thỏa thuận vê thù lao với khách hàng Trong thực tế, đã có nhiều trường họp, xuất phát

từ nhũng lý do và nguyên nhân khác nhau, đã có việc Luật sư có quan hệ tài sản với khách hàng (như vay mượn tiên, hùn vôn làm ăn, được tặng

cô phiêu sáng lập, ưu đãi trong công ty ) Đạo đức nghề nghiệp luật sư không cho phép Luật sư chạy theo lợi ích vật chât, coi đó là mục tiêu duy nhât của hành nghê luật sư và không được tham gia các hoạt động kinh doanh mà có thê ảnh hưởng đên uy tín và danh dự của nghê luật sư Luật sư cũng không được sử dụng tiên, tài sản của khách hàng frong khi hành nghê; không được

Trang 3

soạn thảo họp đồng tặng cho tài sản của khách

hàng cho chính Luật sư hoặc cho những người

thân thích của Luật sư; không được nhận tiên

hoặc bất kỳ lợi ích vật chất nào khác từ người

khác đê thực hiện hoặc không thực hiện vụ việc,

nêu việc đó có thê gây thiệt hại đên lợi ích của

khách hàng

về mặt pháp lý, thực chất quan hệ cung cấp

dịch vụ pháp lý giữa Luật sự với khách hàng

trong đời sông và trong tư vân, tranh tụng, đại

diện hay dịch vụ pháp lý khác là quan hệ mang

tính dịch vụ Tuy nhiên, Luật sư hành nghê

không chỉ quan tâm đên tính “dịch vụ” hay thù

lao của khách hàng và những lợi ích vật chât;

tinh thần, mà còn phải quan tâm đến yếu tố

“phục vụ”, không đe yếu tố dịch vụ lấn án tính

chất phục vụ của nghễ nghiệp luật sư Đó chính

là gia trị cốt lõi tạo ra vị thế và hình ảnh “hiệp

sĩ’ frong trái tim công chúng Những yêu tô phi

vật chất, phi dịch vụ còn thể hiện trong hoạt

động trợ giúp pháp lý miên phí cho người

nghèo, các đối tượng thuộc diện chính sách, bào

chừa theo chỉ định của Tòa án hoặc tham gia với

tư cách là Luật sư của tô chức, cơ quan, chính

quyền, từng bước phủ kín nhu cầu cung cấp

dịch vụ pháp lý cho đông đảo các tâng lóp nhân

dân Y nghĩa, tính chât trong việc phục vụ cho

lợi ích cộng đông, giúp lành mạnh hóa các quan

hệ xã hội, hòa giải các xung đột vê lợi ích giữa

các cá nhân và chủ thê xã hội khác, nâng cao ỵị

thế của người luật sư như một cầu nối chuyển

tải pháp luật là những vấn đề thuộc về quan

niệm, nhận thức liên quan chức năng xã hội cùa

Luật sư

Liên quan mối quan hệ với khách hàng,

pháp luật đã minh định tính tự nguyện trong

giao dịch, thỏa thuận, quy định rõ ràng quyên

và nghĩa vụ của khách hàng; cũng như của Luật

sư, ke cả vấn đề thù lao tư vấn, bào chừa, bảo vệ quyền lợi Từ chồ quan niệm về nhận thức bản chât môi quan hệ với khách hàng, pháp luật vê luật sư đã điêu chình vê mặt pháp lý môi quan

hệ này tại Luật Luật sư năm 2006 (sửa đôi, bô sung năm 20 Í2)3

3 Điều 24 Nhận và thực hiện vụ, việc của khách hàng: 1 Luật sư tôn trọng sự lựa chọn luật sư cùa khách hàng; chi nhận vụ, việc theo khả năng cùa mình và thực hiện vụ, việc trong phạm vi yêu cầu của khách hàng; 2 Khi nhận

vụ, việc, luật sư thông báo cho khách hàng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm nghề nghiệp cùa luật sư trong việc thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng; 3 Luật sư không chuyển giao vụ, việc mà mình đã đảm nhận cho luật

sư khác làm thay, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý hoặc trường hợp bất khả kháng.

Điều 25 Bí mật thông tin: ỉ Luật sư không được tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được

trong khi hành nghề, trừ trường họp được khách hàng đồng ỷ bằng văn bàn hoặc pháp luật có quy định khác.

2 Luật sư không được sử dụng thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biêt được trong khi hành nghê vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyển, lợi ích hợp pháp cùa cơ quan, tổ chức, cá nhãn;

3 Tổ chức hành nghề luật sư có trách nhiệm bảo đảm các nhân viên trong tổ chức hành nghề không tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng của mình.

Các quy định nói trên của Luật Luật sư đã điêu chỉnh tông quát các nguyên tăc và hành vi ứng xử chung của Luật sư khi nhận và thực hiện vụ, việc của khách hàng trên cơ sở tôn trọng sự lựa chọn luật sư của khách hàng; chỉ nhận vụ, việc theo khả năng của mình và thực hiện vụ, việc trong phạm vi yêu câu của khách hàng Khuôn khô pháp lý này là nên tảng đê Luật sư biêt được những giới hạn mà pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa Luật sự với khách hàng, trong đó có một nghĩa vụ đông thời là một bôn phận đạo đức rât quan trọng là phải thông báo cho khách hàng vê quyên, nghĩa vụ

và trách nhiệm nghê nghiệp của luật sư trong việc thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng; không chuyên giao vụ, việc mà mình đã đảm nhận cho luật sư khác làm thay, trừ trường họp được khách hàng đông ý hoặc trường họp bât khả kháng

Vậy câu hỏi đặt rạ là vì sao pháp luật về luật

sư đã quy định vê môi quan hệ với khách hàng

mà vẫn cần xây dựng các quy tắc đạo đức và ứng xừ nghề nghiệp luật sư trong mối quan hệ với khách hàng? Khi đê cập vân đê này, cân quan niệm nói tới phạm vi của các quy tăc đạo đức là nói đèn những chuân mực ứng xử mang tính định hướng và phản ánh tính mục đích trong hoạt động nghê nghiệp luật sư, tạo ra khoảng không gian rộng rãi cho việc lựa chọn ứng xử của từng hành vi của Luật sư áp dụng

o

Trang 4

HỌC VIỆN Tư PHÁP

cho một tình huống cụ thệ

Ỏ đây, cần đề cập mổi quan hệ giữa pháp

luật và quy tăc đạo đức nghê nghiệp luật sư xuât

phát từ nhu câu điêu chỉnh băng pháp luật với

nhu cầu điều chỉnh hoạt đông luật sư bằng các

tiêu chuân chung, tiêu chuân đạo đức và úng xử

nghê nghiệp Nhu câu này có môi liên hệ mật

thiêt với việc xử lý quan hệ giữa yêu câu tăng

cường quản lý nhà nước với phát huy tính tự

quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư

Biêu hiện của tính tự quản không chỉ là tạo ra tư

thê độc lập và phương thức hành nghê tự do, mà

còn là tính “tự điêu tiêt” hoạt động nghê nghiệp

và đạo đức nghê nghiệp của Luật sư Có ý kiên

lo ngại việc phát huy tính tự quản của tô chức xã

hội nghê nghiệp luật sư và đê cao vai trò của

Quy tăc đạo đức và ứng xừ nghê nghiệp sẽ làm

cho hoạt động luật sư xa rời việc quản lý của

Nhà nước hoặc thiêu tin tưởng vào khả năng tự

quản của đội ngũ luật sư Y kiên này không

phản ánh đặc diem của nghề luật sư là một nghe

luật, trong đó băt buộc phải có những tiêu

chuẩn, quy tẳc làm khuôn mẫu cho việc ứng xừ

trong hoạt động nghê nghiệp và trong cuộc

sông Sức mạnh nội tại cùa đội ngũ luật sư chỉ

cộ thê phát huy trong điêu kiện tăng cường tính

kêt dính và tự làm trong sạch đội ngũ của mình

thông qua các việc xây dựng và duy trì các tiêu

chuàn cao vê mặt đạo đức và kỷ luật Mặt khác,

hiện nay cùng với chiên lược cải cách tư pháp

và yêu câu phát triên nhanh chóng đội ngũ luật

sư, nếu không chặt chẽ về tiêu chuan “đầu vào”,

trau dồi phẩm chất cá nhân, uy tín và đạo đức

nghê nghiệp, kỷ luật, xử lý nghiêm các hành vi

vi phạm pháp luật và quy tăc đạo đức thì chăc

chăn hoạt động luật sư sẽ gặp rât nhiêu khó

khăn và trở ngại Từ ý nghĩa đó, Bộ quy tăc đạo

đức đã dành ra một Chương (Chương II) được

thiết kế thành 04 mục với 12 quy tắc (từ quy tẳc

05 đên quy tăc 16), quy định những chuân mực

đạo đức nghê nghiệp trong quan hệ giữa Luât

sư với khách hàng, làm khuôn mẫu cho mỗi

Luật sư ứng xữ, rèn luyện, tu dưỡng để giữ gìn

uy tín đội ngũ Luật sư và tôn vinh nghê nghiệp

Luật su4

Như vậy, hoạt động của Luật sư là hoạt động

nghê nghiệp, cung câp dịch vụ pháp lý cho

khách hàng trên các lĩnh vực tố tụng, tư vấn, đại diện ngoài tô tụng, thực hiện các dịch vụ pháp

lý khác Công việc hành nghê của Luật sư luôn găn với khách hàng và là quan hệ thường xuyên, phô biên nhât trong các quan hệ liên quan đên nghê nghiệp Luật sư Do đó, quan hệ giữa Luật

sư với khách hàng là quan hệ cơ bản nhât trong hoạt động nghê nghiệp Luật sư

2 Thực hiện quy tắc bảo vệ tốt nhất quyền và lọi ích hợp pháp của khách hàng

Trên thực tế, một vấn đề tưởng chừng như đợn giản nhưng chưa nhiều Luật sư quan tâm đến, đó là tình trạng khách hàng không thể nhận biết một cách trung thực về khả năng của Luật

sư, bao gôm trình độ chuyên mồn và kinh nghiệm nghề nghiệp Trong đa số trường họp, khách hàng tự tìm đến Luật sư (qua giới thiệu của bạn bè, qua tìm hiêu trên các phương tiện thông tin đại chúng ) và hêt sức tin tưởng vào Luật sư Trong khi đó, yêu câu của khách hàng không giông nhau chọ tât cả các vụ việc, chưa

kê tư cách tham gia tô tụng của họ cũng rât đa dạng, họ có thể là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hay nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyên lợi và nghĩa vụ liên quan Một Luật sư liêm chính luôn phải chia sẻ cho khách hàng biêt mức độ khả năng chuyên môn của mình chứ không phải bất cứ việc gì đều nhận tư vân, bào chừa hoặc bảo vệ quyên lợi Lí dụ, có những Luật sư có khả năng chuyên môn và kinh nghiệm trong các vụ án đặc thù nhất định (tội phạm kinh tê, về tham nhũng, xâm phạm sở hữu) nhung có thể lại rất ít kinh nghiẹm trong các vụ án liên quan đến người chưa đủ 18 tuôi phạm tội, về án ma túy, về sở hữu công nghiệp Trong lĩnh vực tư vân, có nhiêu Luật

sư có hiểu biết và khả năng hành nghề chuyên sâu các lĩnh vực thương mại, kinh tế, dân sự, nhưng các lĩnh vực bảo hộ sở hữu trí tuệ, thương mại có yêu tô nước ngoài, không phải Luật sư nào cũng đủ khả năng để cung cấp dịch

vụ cho khách hàng Nói cách khác, Luật sư phải biêt từ chôi những vụ việc vượt quá khả năng

và kinh nghiệm của mình Điều này không phải lúc nào cũng dề dàng đối với các Luật sư, nhất

là những luật sư trẻ mới bước vào nghề Trong một tổ chức hành nghề luật sư, ngươi đứng đầu

4 Bộ Quy tắc Đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư, ban hành kèm theo Quyết định số 201 /QĐ-HĐLSTQ

ngày 13/12/2019 cùa Hội đồng luật sư toàn quốc.

o

Trang 5

cũng nên phân loại vụ việc cho phù hợp với

những Luật sư có kiên thức và kỹ năng hành

nghề khác nhau, điều đó sẽ giúp các Luật sư tích

lũy kinh nghiệm và có thê đáp ứng được nhu

câu chính đáng của khách hàng Vê phương

diện đạo đức nghê nghiệp, Luật sư không nên

tạo ra ảo tưởng cho khách hàng là mình có thê

giải quyêt vụ việc một cách tôt hơn các Luật sư

khác, hoặc gián tiêp thông báo cho khách hàng

mình có mội liên hệ nào đó với những người

tiến hành tố tụng, đặt khách hàng vào tình thế

phải nhờ mình làm Luật sư chứ không phải nhờ

người khác có khả năng thật sự Trong thực tê,

có một sô trường hợp khách hàng lân lộn tư

cách, quyên và nghĩa vụ của Luật sư trong đời

sống hay trong quá trình tham gia tố tụng là do

nhận thức và cách hiểu không đúng về thực hiện

chức năng xã hội và vai trò, vị thê của Luật sư

Bởi vậy, họ đã đòi hỏi, yêu câu luật sư tiên hành

những công việc không đúng, không phù hợp

với quy định của pháp lụật

Bảo vệ tốt nhát quyền và lợi ích hợp pháp

của khách hàng được quy định tại quy tăc 5

Bộ Quy tắc Đạo đức và Ung xử nghề nghiệp

luật sư5 Để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích

hợp pháp của khách hàng, Luật sư có nghĩa

vụ tận tâm với công việc, phát huy năng lực;

sử dụng kiên thức chuyên môn, kỳ năng nghê

nghiệp và các biện pháp hợp pháp đê bảo vệ

tot nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách

hàng theo quy định của pháp luật và Bộ Quy

tắc Đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư

Việt Nam Quy tăc này có thê coi là một

thông điệp chuyên tải một trong những trách

nhiệm pháp lý và đạo đức của nghê luật sư là

phải bảo vệ tôt nhât quyên và lợi ích hợp pháp

của khách hàng *

5 Quy tắc 5 Bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng:

Luật sư có nghĩa vụ tận tâm VỚI công việc, phát huy năng lực, sử dụng kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp

và các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng theo quy định của pháp luật và Bộ Quy tắc Đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam.

6 Quy tăc 6 Tôn trọng khách hàng:

Luật sư thực hiện việc cung cấp dịch vụ pháp lý trên cơ sở yêu cầu họp pháp của khách hàng, tôn trọng quyền, lợi ích họp pháp và sự lựa chọn của khách hàng.

Tuy nhiên, về quan niệm lẫn thực chất, “bảo

vệ tốt nhất” có nội hàm khác hoàn toàn với “bảo

vệ bằng mọi giá” Hiện nay, nhu cầu của bị can,

bị cáo và các đương sự cân đên sự giúp đỡ của

Luật sư trong vụ án hình sự hoặc tư vân, cung

câp các dịch vụ pháp lý khác là rât lớn, đó là

chưa kể đến việc Tòa án các cấp phải chỉ định Luật sư cho các bị cáo trong trường hợp pháp luật quy định Tuy nhiên, nhu câu này bao hàm rất nhiễu yếu tố khác nhau và có những nhu cầu đích thực bị che lấp do xuất phát từ nhận thức khác nhau của khách hàng Vi dụ, có khách

hàng đến nhờ Luật sư với mong muốn quyền và lợi ích hợp pháp của họ được pháp luật bảo vệ

và Luật sư là người giúp chuyên tải cho họ tâm

tư, nguyện vọng trước các cơ quan tiến hành tố tụng Có khách hàng, do nhận thức hạn chê, muôn nhờ Luật sư “lo từ A tới Z”, châp nhận các biện pháp trái pháp luật, miễn là đạt yêu cầu của họ

Nhìn chung, Luật sư thông qua việc tiêp xúc ban đâu với khách hàng, cân tìm hiêu tâm tư, nguyện vọng của họ một cách thấu đáo, bằng cách lắng nghe họ trình bày, xem xét những tài liệu ban đâu (đơn từ, các tài liệụ liên quan vụ việc, các giây tờ cá nhân ); đông thời cũng phải chỉ rõ cho khách hàng biêt được giới hạn trách nhiệm của Luật sư trước pháp luật và trước khách hàng, không đê khách hàng lôi kéo mình theo những yêu câu trái pháp luật và trái đạo đức nghệ nghiệp Nội dung quy tắc bảo vệ tôt nhât quyên lợi của khách hàng không chỉ được nhận thức một cách sâu sắc và toàn diện nêu trên, mà còn phải thê hiện băng điêu khọản

cụ thê vê nghĩa vụ của Luật sư trong hợp đông dịch vụ pháp lý ký với khách hàng Trong hợp đông không được thỏa thuận, cam kêt “bao kêt quả” vói khách hàng đê nhăm tạo sự tin tưởng hoặc đê được trả thù lao cao

3 Thực hiện quy tắc tôn trọng khách hàng

Quy tắc “Tôn trọng khách hàng” được quy định tại quy tắc 6 Bộ Quy tắc Đạo đức và ứng

xử nghê nghiệp luật sư6 Quy tăc này đòi hỏi Luật sư thực hiện việc cung cấp dịch vụ pháp

lý trên cơ sở ỵêu câu họp pháp của khách hàng, tôn trọng quyên, lợi ích họp pháp và sự lựa chọn của khách hàng Đê nhận diện thê nào là “yêu cầu hợp pháp của khách hàng”, Luật sư cần tìm hiểu vễ vụ việc và yêu cầu của khách hàng trên

o

Trang 6

HỌC VIỆN Tư PHÁP

tinh thần chia sẻ, hiểu biết thấu đáo bản chất vụ

việc Thông thường, với những thông tin, tài

liệu, hồ sơ ban đầu, khách hàng không nắm

hoặc chưa đưa ra hết những tình tiết, diễn biến

sự việc nên có thê luật sư chưa đánh giá hêt

được những cơ sở, đường dần hướng đến kế

họạch, bước đi sau này, thậm chí ngộ nhận yêu

câu của khách hàng là có căn cứ, việc buộc tội

là oan ức Cách khách hàng “dần dắt” luật sư

theo những mong muốn của mình vẫn thường

xảy ra, có đôi khi luật sư bị đặt trong tình trạng

“theo đuôi” khách hàng, phục vụ cho những yêu

câu không chính đáng hoặc không hợp pháp

Yêu cau họp pháp là những yêu cầu gắn liền

với quyền và lợi ích của khách hàng, được xác

định dựa trên những căn cứ được pháp luật quy

định hoặc hợp với đạo lý, lẽ công băng Tuy nhiên,

trong suy nghĩ của khách hàng, yêu câu khi tìm

đên nhờ luật sư thường rât rộng, đa dạng, không

chì là bảo vệ quyên lợi họp pháp mà còn cả các

vân đê, tình tiêt bên lê vụ án Ví dụ, có trường họp,

khi tìm hiêu hoặc được giới thiệu, khách hàng

mong muôn Văn phòng luật sư cử luật sư A là

người có kinh nghiệm tư van hoặc franh tụng để

bảo vệ cho mình nhưng luật sư A bận nhiêu việc

nện lại cử luật sư B là luật sư trẻ, mới vào nghê

tiêp và gợi ý cho khách hàng nhờ luật sư B Khách

hàng không hài lòng vệ việc đê cử luật sư như vậy,

kiên quyết mong muốn được nhờ luật sư A trực

tiêp tư vân, bào chữa cho mình Khi gặp trường

họp này, luật sư A có thể trao đổi, thào luận với

khách hàng vê tình hình công việc thực tê của Vãn

phòng, luật sự A sẽ trực tiêp nhận trách nhiệm,

nhưng sẽ có thêm luật sư B đê phụ giúp trong quá

trình chuẩn bị hồ sơ, làm thủ tục, tham dự buổi

làm việc hoặc hỏi cung nếu luật sư A bận công tác

đột xuât Khách hàng thây phương án luật sư A

đưa ra như vậy là phù hợp với tình hình thực tê,

nên đã đông ý cho luật sư B cùng tham gia tư vân,

bảo vệ quyên lợi cho mình

Tôn trọng khách hàng còn được hiểu là sự

tôn trọng của chính luật sư đôi với bản thân cá

nhân con người của khách hàng, hiêu thâu đáo

hoàn cảnh xuất thân, nguyên nhân, bối cảnh nảy

sinh vụ việc dẫn đến nhu cầu phải nhờ luật sư

Trong một chừng mực nhât định, luật sư với tư

cách là người có kiên thức, kỳ năng ỵà trải

nghiệm đời sổng thực tiễn, biết khơi gợi, nắm bắt

tâm tư, tình cảm của khách hàng, săn sàng chia sẻ

những khó khăn Khách hàng tin cậy, gửi găm

lòng tin vào luật sư không chỉ về kiến thức, uy tín, kinh nghiệm nghê nghiệp mà còn thông qua cách ứng xử của luật sư mà tăng thêm sự đông cảm, thúc đây cho công việc cung câp dịch vụ pháp lý đi vào thực chât và chiêu sâu Khách hàng là pháp nhân hay cá nhân đêu có một quá trình hình thành, tích lũy và phát triên, khi gặp khó khăn hoặc rủi ro trong cuộc sông, trong kinh doanh mới nhờ cậy đến luật sư Vì thế, luật sư không phải là người và có quyên phán định, đánh giá, nhận xét về khách hàng một cách không phù họp Có những trường họp, khách hàng là bị can,

bị cáo trong những vụ án vê trật tự xã hội, có hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, gây bức xúc trong xã hội, nhưng khi nhận trách nhiệm bào chữa, với trái tim và tâm lòng trăc ân, luật

sư nhận ra được những góc khuât của thân phận con người, nguyên nhân, hoàn cảnh, các yểu tố tác động đên việc xác định sự thật khách quan của vụ án Lời bào chừa của luật sư tại phiên tòa không chỉ đưa ra các lập luận, ý kiên pháp lý mà còn thấm đẫm tinh người, mang tính nhân văn

Sự tôn trọng đôi với khách hàng trong việc nhờ luật sư còn bao hàm cả sự tôn trọng đôi với

sự lựa chọn của khách hàng Trên thực tê, sự lựa chọn của khách hàng thường thê hiện trên các mặt, bao gồm về sự lựa chọn luật sư tư vấn, trợ giúp pháp lý; sự phù hợp vê định hướng giải quyết vụ việc, sự thống nhất về cách thức, phương pháp, tiên độ giải quyêt và trao đôi thống nhất về mức thù lao luật sư cần hiểu nhu câu và sự lựa chọn của khách hàng rât đa dạng, có thời điểm lại thay đổi, khiến cho luật

sư làm thê nào đáp ứng được nhu câu đó rât khó khăn, thậm chí có thê dẫn đến mâu thuẫn về nhận thức và cách thức phối họp tiến hành công việc Neu thiếu đi sự cẩn trọng, cân nhắc đến các khía cạnh phát sinh trong quan hệ với khách hàng, lụật sư sẽ tự đánh mât lòng tin của khách hành đối với chức phận nghề nghiệp của luật sư

Đó cũng là nguôn gôc phát sinh những mâu thuẫn, dan đến tranh chấp hoặc khiếu nại, tố cáo đối với luật sư

Như vậy, nhận thức và hiểu thấu đáp quan

hệ giữa luật sư với khách hàng chính là nền tảng thực hiện tốt quy tắc chung về bảo vệ tốt nhat quyên và lợi ích hợp pháp của khách hàng, tôn trọng khách hàng, tạo rạ sự đồng thuận, dấn thân của luật sư trong tiên trình bảo vệ quyên lợi của khách hàng./

Ngày đăng: 29/10/2022, 17:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w