1. Trang chủ
  2. » Biểu Mẫu - Văn Bản

Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần qua thiết chế quản lý nội bộ công ty

5 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 648,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc khác, quản lý nội bộ công ty còn là cơ chế điều chỉnh các mối quan hệ của các chủ thể tham gia trong công ty như các cổ đông, thành viên góp vốn, Hội đồng quàn trị HĐQT, Giám đốc và

Trang 1

QUA THIẾT CHÍ QUẢN LÝ NỘI BỘ CÔNG TY

HUỲNH THỊ TRÚC LINH Trường Đại học Trà Vinh

Nhận bài ngày 07/02/2022 Sửa chữa xong 10/02/2022 Duyệt đăng 12/02/2022.

Abstract

In this article, the author introduces the protection of minority shareholders in joint-stock companies through internal management institutions in accordance with the provisions of the 2020 Enterprise Law and analyzes related inadequacies, thereby proposing some recommendations to improve these regulations to better protect minority shareholders.

Keywords: Protect, minority shareholders, company, internal institutions.

1 Đặt vấn đề

Quản lý nội bộ trong công ty rổ phẩn (CTCP) thường được hiểu là cách thức cơ cấu bộ máy quản lý công ty, việc phân chia quyền lực trong công ty với mục đích bảo đảm quyền lợi của các nhóm người tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm cả chính sách đối với người lao động thông qua Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) và thông qua người đại diện (thường là Giám đốc còng ty) Mặc khác, quản lý nội bộ công ty còn là cơ chế điều chỉnh các mối quan hệ của các chủ thể tham gia trong công

ty như các cổ đông, thành viên góp vốn, Hội đồng quàn trị (HĐQT), Giám đốc và những người có liên quan khác cùng với các biện pháp để những người này thực hiện lợi ích cùa họ Dưới góc độ pháp lý, quản lý nội bộ công ty là một hệ thống các thiết chế, chính sách, luật lệ nhằm định hướng, vận hành và kiểm soát công ty Các thiết chế nội bộ trong CTCP bao gồm: ĐHĐCĐ, HĐQT, Giám đốc/Tổng Giám đốc (GĐ/TGĐ), Ban kiểm soát hoặc kiểm toán viên (nêu có) Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 hiện hành đã góp phần rất lớn trong việc bảo vệ quyền cổ đông hơn so với Luật Doanh nghiệp 2014, tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề cắn quan tâm hơn mà tác giả sẽ phân tích ở phần nội dung

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Đại hội đồng cổ đông

ĐHĐCĐ là cơ quan quyết định cao nhất trong CTCP và tổ chức cuộc họp mỗi năm 1 lẩn thông qua những vấn đề hệ trọng của công ty ĐHĐCĐ gổm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất trong CTCP (Điều 138 Luật Doanh nghiệp 2020), họp thường niên mỗi năm một lần hoặc bất thường Kể từ ngày kết thúc năm tài chính, trong thời hạn 04 tháng CTCP phải tiến hành họp ĐHĐCĐ thường niên HĐQT có thể gửi đề nghị yêu cẩu gia hạn tới cơ quan đăng ký kinh doanh nhưng không quá 06 tháng, kể từ ngày kết thúc năm tài chính ĐHĐCĐ được tiến hành thông qua các giai đoạn: chuẩn bị cuộc họp, triệu tập cuộc họp, tiến hành họp và thông qua quyết định ĐHĐCĐ ĐHĐCĐ bất thường khi HĐQT vi phạm nghiêm trọng quyển của cổ đông, nghĩa vụ của người quản lý hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyển được giao Nhưng thế nào là vi phạm nghiêm trọng thì Luật Doanh nghiệp không chỉ rõ, không có văn bản nào hướng dẫn cụ thể vấn để này, các cổ đông thiểu số có điểu kiện để biết được mức độ vi phạm của HĐQT không? Khi mà vấn

đề minh bạch, thông tin hiện nay vẫn còn ở mức độ mập mờ dẫn đến hai khả năng có thể xảy ra: cổ đông không dám thực hiện quyền của mình hoặc cổ đông triệu tập một cách tùy tiện nên cần làm

rõ quy định này để dẻ áp dụng Do đó:

Email: httrlinh@gmail.com

160 Tháng 02/2022

©XÃ HỘI •

Trang 2

NGHICN CỨU TAAO ĐỔI J

Thứ nhất, phải có văn bản hướng dẫn thi hành cẩn quy định rõ thế nào là vi phạm nghiêm trọng trong những trường hợp nào thì HĐQT đã vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông tại khoản 3 Điều 115 Luạt Doanh nghiệp 2020

Thứ hai, quy định rõ trách nhiệm trả lời chất vấn của lãnh đạo công ty trước ĐHĐCĐ

Trước thực tiễn nhiều CTCP để cho cổ đông thiểu số chất vấn nhưng lại hạn chế thời gian trả lời, hoặc ghi vào giấy để trả lời sau bằng văn bản dẫn đến cổ đông thiểu số không có được câu trả lời từ Ban điểu hành về vần đề đặt ra Chất lượng trả lời chất vấn cũng không được làm rõ Do vậy, Luật Doanh nghiệp cần quy định rõ trách nhiệm phải trả lời chất vấn của Ban lãnh đạo tại ĐHĐCĐ Những vấn đề chất vấn không được Ban lãnh đạo trả lời rõ ràng thì cổ đông thiểu số có thể yêu cầu Ban kiểm soát điều tra làm rõ trong một thời hạn nhất định sau đó thông báo bằng văn bản cho tất

cả các cổ đông được biết

2.2 Hội đồng quản trị

Theo luật Việt Nam, Thái Lan, Philippines và theo Điều lệ công ty ở Singapore và Malaysia thì HĐQT có quyển hạn và những trách nhiệm quản lý và điều hành những công việc kinh doanh theo đúng luật cũng như theo đúng mục tiêu hoạt động đã đề ra Ở cả 5 nước đểu quy định tiêu chuẩn thành viên HĐQT tương đối giống nhau (Nghị định 71/2017 về quản trị công ty áp dụng cho công

ty đại chúng) Tuy nhiên ở Philippines (phẩn 23 Luật công ty), Malaysia và Thái Lan thành viên HĐQT phải là cổ đông (phải mua ít nhất 1 cổ phẩn)1 Còn ở Singapore và Malaysia thì không có quy định thành viên HĐQT là cổ đông Tất cả năm khu vực pháp lý đều quy định sự độc lập của HĐQT và tiêu chuẩn đối xử bình đẳng như một phẩn của chiến lược khuyến khích để bảo vệ quyền của các cổ đông thiểu số

Theo bảng đánh giá về tình hình quản trị công ty ở Việt Nam do WB thực hiện, các cổ đông lớn thường chiếm ưu thế trong HĐQT, thường đại diện bởi chủ tịch HĐQT hoặc giám đốc điều hành Mặc dù các công ty niêm yết được yêu cẩu phải có thành viên HĐQT không điểu hành, song luật không định nghĩa rõ ràng vị trí này Vai trò của thành viên HĐQT độc lập không rõ ràng, dẫn đến nguy cơ lạm dụng quyển lực của HĐQT nói chung và của Chủ tịch HĐQT nói riêng là rất lớn, họ có thể sử dụng các hình thức: kiến nghị phát hành cổ phiếu ưu đãi cho thành viên HĐQT, kiến nghị ưu đãi riêng cho người lao động trong đó HĐQT được hưởng phẩn nhiều hơn so với người lao động, thực hiện giao dịch nội gián và giao dịch có lợi với các bên liên quan của chính họ

Những giao dịch bên liên quan có trục lợi thường là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của nhiều doanh nghiệp lớn, phá hủy giá trị cổ đông và làm mất lòng tin của nhà đẩu tư vào tính liêm chính của thị trường Trên thực tế, các giao dịch bên liên quan có trục lợi đã trở thành một trong những thách thức lớn nhất đối với môi trường kinh doanh tại Việt Nam trong những năm gẩn đây Một môi trường giao dịch bên liên quan lành mạnh với sự chỉ đạo chặt chẽ từ cấp cao nhất là rất quan trọng

và tạo điều kiện cho nhân viên trong nội bộ công ty giám sát hiệu quả hơn Quản trị doanh nghiệp vững mạnh được thể hiện qua ý chí và cam kết của lãnh đạo doanh nghiệp, hệ thống xác định trách nhiệm giải trình, thông qua sự công bằng, tính minh bạch cùng với trách nhiệm đối với chính doanh nghiệp và các bên liên quan

Các giao dịch tư lợi thường thể hiện rất tinh vi, khó phát hiện do đó việc kiểm soát chúng không phải vấn đề đơn giản Có hai giải pháp có thể giải quyết vấn đề này:

Cách thứ nhất: mang tính cấm đoán, tức là triệt tiêu mọi giao dịch có khả năng làm phát sinh

tư lợi Theo đó pháp luật cấm những người có liên quan của công ty thiết lập giao dịch với công ty đổng thời cấm những giao dịch của công ty với những công ty khác mà ở đó người quản lý hoặc cổ đông công ty có lợi trực tiếp hoặc gián tiếp Theo luật công ty của Pháp, một số khế ước giữa công

ty và người quản lý hay các hội viên công ty liên quan đến việc vay mượn, ký khống, bảo lãnh đều bị

1) Viện nghiên cứu quản lý trung ương (1999), Bảo cảo nghiên cứu so sánh luật công ty ở bon quốc gia Đông Nam ả: Thải Lan, Singapore, Malaysia và Philippines, Dự án UNDP VIE/97/016, tr 68.

GIAOWC

Tháng 02/2022 0XAHOI 161

Trang 3

NGHlêNCỨU TRAO oổl

nghiêm cấm Luật công ty của Thụy Điển cũng quy định hội đồng giám đốc và các đại diện của công ty không được phép tiến hành các giao dịch pháp lý hoặc các biện pháp khác có thể tạo ra lợi thế không chính đáng cho một cổ đông hoặc đương sự thứ ba làm tổn hại đến công ty hoặc cổ đông khác2 Cách thứ hai: vẫn cho phép thiết lập và thực hiện các giao dịch có khả năng tư lợi nhưng phải tuân thủ các quy định chặt chẽ hơn các giao dịch thông thường Các giao dịch thực hiện theo cách thứ hai này khi thực hiện phải công khai, minh bạch và phải có sự giám sát chặt chẽ Pháp luật Việt Nam cũng đang tiếp cận theo hướng này

Tại Khoản 2 Điều 167 Luật Luật Doanh nghiệp 2020 quy định những trường hợp cụ thể cần có sự chấp thuận của HĐQT công ty, bao gồm các hợp đồng và giao dịch được quy định tại Khoản 1 và "có giá trị nhỏ hơn 35% tổng giá trị tài sản doanh nghiệp ghi trong báo cáo tài chính, gần nhất hoặc một

tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty".Trong trường hợp này, người đại diện công ty ký hợp đồng phải thông báo các thành viên HĐQT, Kiểm soát viên về các đối tượng có liên quan đối với hợp đồng, giao dịch đó; đổng thời kèm theo dựthảo hợp đóng hoặc nội dung chủ yếu của giao dịch HĐQT quyết định việc chấp thuận hợp đồng hoặc giao dịch trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định một thời hạn khác; thành viên có lợi ích liên quan không có quyển biểu quyết Khoản 3 quy định vể các hợp đổng giao dịch phải được sự chấp thuận của ĐHĐCĐ bao gổm các hợp đổng và giao dịch "khác ngoài các giao dịch quy định tại Khoản 2 Điều này" Như vậy, có thể hiểu các hợp đồng và giao dịch thuộc Khoản 1 và có giá trị lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản doanh nghiệp ghi trong báo cáo tài chính, gẩn nhất hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều

lệ công ty Trong trường hợp này, người đại diện công ty ký hợp đồng phải thông báo HĐQT và Kiểm soát viên về các đối tượng có liên quan đối với hợp đồng, giao dịch đó; đổng thời kèm theo dự thảo hợp đồng hoặc thông báo nội dung chủ yếu của giao dịch HĐQT trình dự thảo hợp đổng hoặc giải trình về nội dung chủ yếu của giao dịch tại cuộc họp ĐHĐCĐ hoặc lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản Điều này đồng nghĩa với việc cổ đông thiểu số càng có cơ hội thông qua các giao dịch lớn của công ty Mặc dù pháp luật Việt Nam nói chung và Luật Doanh nghiệp nói riêng đã chú ý nhiều tới kiểm soát những giao dịch có khả năng tư lợi và đã đạt dược những điểm tích cực nhất định, song về hiệu quả của những vấn để này còn những vấn đề cần phải xem xét: về căn cứ xác định giao dịch có khả năng

tư lợi và việc xác định các giao dịch là đối tượng cần kiểm soát Pháp luật Việt Nam dường như bỏ quên những giao dịch đơn phương của công ty có khả năng tư lợi như: từ bỏ quyền đòi nợ, xóa nợ, Chẳng hạn, GĐ/TGĐ sửdụng tài sản của công ty để cho tặng khách hàng, đối tác để phục vụ hoặc mang lại lợi ích cho GĐ/TGĐ và yêu cẩu hạch toán vào "chi phí ngoại giao" Hoặc người có thẩm quyển trong công

ty thực hiện giao dịch nhằm xóa nợ, giảm nợ cho bên thứ 3, đổi lại họ nhận được lợi ích từ giao dịch này, mà việc phát hiện những giao dịch trên là vô cùng khó khăn khi người quản lý lợi dụng quyền lực

và vị trí của mình để đưa những khoản nợ và khoản nợ xấu khó đòi3

Một bất cập khác cho thấy trong giao dịch giữa công ty với những người liên quan Theo Khoản

23 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định về người có thẩm quyển bổ nhiệm hiện nay vẫn chưa được quy định rõ ràng, hơn nữa trong cơ chế tập thể lãnh đạo thì người có thẩm quyền bổ nhiệm rất khó xác định đó là người trực tiếp ký quyết định bổ nhiệm hay bao gổm tất cả những người trong tập thể đó Do đó, Đối với khái niệm "người có thẩm quyền bổ nhiệm" cần phải được làm rõ theo hướng đó là những ai cần được liệt kê tương ứng trong mối quan hệ trong công ty và trong mối quan hệ mang tính chất quản lý với người quản lý của công ty cổ phần

2.3 Giám đốc độc lập

Các giám đốc độc lập được cho là đóng vai trò giám sát và hành động vì lợi ích của toàn công ty trong đó có cả cổ đông thiểu số GĐ/TGĐ là người điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của

2) Nguyễn Thị Thu Hương (2015), Pháp luật về bào vệ cổ đông thiểu so trong công ty co phần ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật

học, Học Viện Khoa học Xã hội, Hà Nội, trang 85.

3) Nguyễn Thanh Lý (2014), Kiếm soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần theo pháp luật việt Nam, Luận văn thạc sĩ

luật học, Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, trang 93

Trang 4

NGHICN CỨU TRAO DỔI

công ty Theo pháp luật Việt Nam, GĐ/TGĐ là người điểu hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty, chịu sự giám sát của HĐQT và chịu trách nhiệm trước HĐQT và trước pháp luật về thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao (Điều 162 Luật Doanh nghiệp 2020) HĐQT bổ nhiệm một người trong số họ hoặc thuê người khác làm GĐ/TGĐ Trách nhiệm của GĐ/TGĐ) được đại hội thường niên của ĐHĐCĐ xem xét trên báo cáo đánh giá công tác quản lý, điều hành công ty Ban điều hành (bao gồm GĐ/TGĐ) và các cán bộ điều hành) chịu trách nhiệm trước HĐQT về hoạt động của mình

và cung cấp thông tin và giải trình cho Ban Kiểm soát Quá trình quản lý trong CTCP thường phức tạp, đan xen giữa lợi ích của các cổ đông, người chủ sở hữu và người điểu hành các hoạt động hàng ngày của công tỵ Đối với các CTCP lớn, nhiều công ty có thể thuê giám đốc và trả lương theo một mức nhất định, ủy ban Chứng khoán Nhà nước Việt Nam đã báo cáo khó khăn trong việc tìm kiếm giám đốc độc lập4 Giám đốc độc lập thường sẽ không mâu thuẫn với những người đang trả lương cho họ và hiện nay cũng có nhiều tranh cãi liệu các giám đốc độc lập có bị phạt vì vi phạm nghĩa vụ hay không

4) Susanne Olberg (2014), The Protection of Minority Shareholders in Vietnam, Thailand and Malaysia, Berlin, tr 124.

5) International Finance Corporation et al (2011), Corporate Governance Scorecard, Asian Development Bank.

Hiện nay giám đốc độc lập vẫn là một khái niệm mới ở Việt Nam Báo cáo của IFC (International Finance Corporation) cho thấy chỉ có bốn phẩn trăm của tất cả các giám đốc độc lập được xác định

rõ ràng là độc lập và cẩn phải làm rõ vế khái niệm GĐ độc lập5 Do đó, trong trường hợp này Luật Doanh nghiệp cũng cần quy định cụ thể nguyên tắc xác định hợp lý tiền lương và các lợi ích khác

mà những người quản lý được hưởng, đây sẽ là động lực mạnh mẽ cho họ phát huy hết tài năng, sáng kiến, hết lòng và tận tâm quản lý công ty Điều này kết hợp với việc công khai hóa tiền lương

và thu nhập hàng năm sẽ là công cụ giám sát hiệu quả hoạt động của họ, ngăn ngừa được họ lạm dụng quyền lực thu vén cho lợi ích cá nhân Chính sự tách bạch giữa chủ sở hữu và người quản lý điều hành dẫn đến sự cần thiết phải phân quyền và kiểm soát quyển lực của GĐ/TGĐ) để bảo vệ cổ đông trong đó có cổ đông thiểu số

2.4. Ban kiểm soát - kiểm soát viên độc lập

Luật công ty Thái Lan (Điểu 121), Singapore (Điểu 2015), Malaysia (Điểu 271) quy định mỗi công

ty phải bổ nhiệm kiểm toán viên Riêng Philippines thì không quy định kiểm toán viên cho công ty mặc dù sổ sách và báo cáo tài chính phải được kiểm toán và công ty được thuê bất cứ kiểm viên độc lập nào trên cơ sở vụ việc Luật 4 nước này quy định kiểm toán viên không phải là nhân viên quản lý của công ty nhưng phải hành nghé độc lập và kiểm toán viên cũng không phải là nhân viên công ty Pháp luật Việt Nam quy định, cơ cấu tổ chức CTCP ngoài ĐHĐCĐ, HĐQT, GĐ/TGĐ) còn có Ban Kiểm soát (tuy nhiên nếu CTCP có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phẩn của công ty thì không bắt buộc phải có Ban Kiểm soát) (Điểu 137 Luật Doanh nghiệp 2020) Ban Kiểm soát trong CTCP được thiết kế như một cơ quan riêng trong cơ cấu quản trị nội bộ, cơ quan này có trách nhiệm chuyên trách giám sát và đánh giá HĐQT và những người quản lý điều hành nhân danh cổ đông, vì lợi ích của cổ đông và của CTCP nhằm ngăn chặn, phát hiện những trường hợp sai phạm, thiếu sót, xung đột lợi ích của cổ đông và công ty; rà soát, kiểm tra, đánh giá hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ, quản lý rủi ro và cảnh báo sớm của công ty Đồng thời đề xuất các biện pháp khắc phục, cải tiến để hoạt động quản lý, điểu hành công ty đạt hiệu quả cao nhất (Điều 168 Luật Doanh nghiệp 2020)

Theo quy định, Ban Kiểm soát có vị thế tương đối độc lập về mô hình, Ban Kiểm soát có thể ngang cấp với HĐQT và trên cả Ban giám đốc Song trên thực tế, Ban Kiểm soát còn rất nhiều khó khăn để đạt được vị trí chỉ ngang bằng so với cả Ban giám đốc Mặc dù Ban Kiểm soát trên danh nghĩa do ĐHĐCĐ bầu ra nhưng thực chất là do các cổ đông lớn chỉ định; mặt khác, thành viên Ban Kiểm soát cũng chỉ

là một người lao động bình thường trong công ty, chịu sự quản lý và nhận lương do các cổ đông lớn quyết định Do vậy, tính độc lập trong hoạt động của Ban Kiểm soát là vấn đề cẩn xem xét

Báo cáo của Ban Kiểm soát thường được trình cho ĐHĐCĐ vào mỗi kỳ họp Thời gian giữa các kỳ

Tháng O2/2O22

©XÃHỘI 163

Trang 5

NGHIÊN CỨU TRAO DỔI

họp lại quá xa và như vậy, báo cáo của Ban Kiểm soát không còn tính thời sự Bên cạnh đó, các quy định hiện hành vể chế độ kế toán, các báo cáo hàng năm của CTCP phải nộp cho cơ quan thuế chỉ gồm bản cân đối kế toán; báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bản thuyết minh báo cáo tài chính.Trong quy định vể công bố thông tin của công ty đại chúng, nội dung công bố thông tin về báo cáo tài chính năm cũng chỉ bao gổm các tài liệu trên Như vậy, báo cáo của Ban Kiểm soát không phải là tài liệu bắt buộc phải nộp cho cơ quan quản lý hoặc công bố thông tin theo quỵ định Như đã nêu ở trên, báo cáo của Ban Kiểm soát là một tài liệu quan trọng, giúp nhà đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước có được cái nhìn toàn diện về doanh nghiệp từ góc độ mà các bản báo cáo tài chính không để cập đến Thông tin trong báo cáo của Ban Kiểm soát có tẩm quan trọng không kém các báo cáo tài chính Do đó, cần phải xem xét việc yêu cẩu CTCP, nhất là công ty đại chúng, phải công bố báo cáo của Ban Kiểm soát cùng với báo cáo tài chính

Vì vậy để đảm bảo vị trí độc lập của Ban Kiểm soát, cẩn:

Thứ nhất, cẩn đặt ra tiêu chuẩn cụ thể và giám sát chặt chẽ việc áp dụng tiêu chuẩn, điểu kiện của thành viên Ban Kiểm soát từ khi ứng cử đến hết nhiệm kỳ nhằm đảm bảo vị trí độc lập của thành viên Ban Kiểm soát trong thực hiện thẩm quyền và nhiệm vụ được giao

Thứ hai, bổ sung thẩm quyền của Ban Kiểm soát làm đại diện khởi kiện yêu cầu tòa án xác định trách nhiệm liên quan đến các vi phạm của người quản lý, điều hành vì so với cổ đông, thành viên Ban Kiểm soát có lợi thế trong phát hiện vi phạm và kiểm tra, xác thực thông tin liên quan đến vi phạm Điều đương nhiên, khi chưa có qui định của pháp luật vể quyển đại diện khởi kiện của thành viên Ban Kiểm soát thì khó có thể có cơ chế bảo đảm thực thi quyển này Bởi vậy, việc bổ sung quyền đại diện khởi kiện là cẩn thiết nhằm nâng cao vị trí, và phát huy vai trò của Ban Kiểm soát trong quản trị nội bộ CTCP

Thứ ba, quy định bộ máy giúp việc của Ban Kiểm soát Hiện tại, ngoại trừ lĩnh vực ngân hàng, Ban Kiểm soát ở các CTCP đều không có bộ máy giúp việc Phẩn lớn Ban Kiểm soát chỉ làm việc bán thời gian nên khó

có thể hoàn thành tốt chức năng của mình Vì vậy để hoạt động có hiệu quả, cẩn đề ra thể chế Ban Kiểm soát một cách rõ ràng và đưa vào các chế tài vể việc thực hiện chức năng quyền hạn của Ban Kiểm soát Thứ tư, nâng cao nhận thức của cổ đông về vị trí quan trọng của Ban Kiểm soát trong giám sát công ty, cổ đông khi tham gia góp vốn vào CTCP cẩn thiết phải nhận thức được quyền của mình, đồng thời thông qua thẩm quyền ban hành Qui chế tổ chức và hoạt động của HĐQT và Ban Kiểm soát để hoàn chỉnh cơ chế giám sát nội bộ theo hướng củng cố vị trí độc lập của Ban Kiếm soát, qui định nghĩa vụ phối hợp hoạt động của HĐQT với Ban Kiểm soát nhằm hạn chế tình trạng lạm dụng quyền hạn của người quản lý, điểu hành Cụ thể hơn là cẩn quy định các chế tài vể việc thực hiện hoặc không thực hiện các chức năng quyển hạn của Ban Kiểm soát để đảm bảo Ban Kiểm soát thực hiện đúng và hoạt động hiệu quả hơn nhiệm vụ, công việc của mình

3 Kết luận

Qua thực tiễn thi hành cho thấy, cổ đông thiểu số sẽ không được bảo vệ tốt nếu nhưthiếu một hệ thống pháp luật đầy đù, thống nhất, đồng bộ và minh bạch cũng như một cơ chế pháp lý hữu hiệu để triển khai

Do vậy, việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo vệ cổ đông thiểu số trong CTCP hiện nay là một tất yếu khách quan Xu hướng ngày một xích lại gẩn nhau hơn giữa các hệ thống pháp luật cũng làm gia tăng giá trị thực tiễn của những nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp các quốc gia trên thế giới

Tài liệu tham khảo

[1] Luật Doanh nghiệp 2020.

[2 Malaysia, Companies Act 1965.

[3] Singapore Companies Act 2006.

[4] Singapore, Paprtnership Act 1890.

[5] Thailand Public Limited Companies Act (B.E.2535 (1992)).

[6] OEDC Investment Policy Reviews: Malaisia 2013.

[7] Philipines, Companies 1989.

[8] Philipines, Securities Regulation Code RA 8799.

ôíâôBUC-, eSSSTháng 02/2022

164

Ngày đăng: 29/10/2022, 17:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w