Theo đó, những doanh nghiệp được xem là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điểu lệ hoặc tổng số cổ phẩn có quyển biểu quyết trong trường hợp này bao gồm: Công ty trách nhiệm h
Trang 1NGHiiN CỨU TRAO DỔI J MỘT SỐ VẨN DÉ PHÁP LÝ VÊ DOANH NGHIỆP NHÀ NUttC
THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2020
PHẠM THỊ HỔNG TÂM Khoa Luật Kinh tế, Trường Đại học Phan Thiết
TRẦN LINH HUÂN Khoa Luật Thưưng mại, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh
Nhận bài ngày 17/01/2022 Sửa chữa xong 24/01/2022 Duyệt đăng 26/01/2022.
Abstract
The 2020 Business Law has officially been adopted by the Congress with 10 chapters, 218 articles and enforceable from 01/01/2021 With the aim of creating favorable business environment, the sustainable development of enterprises, the 2020 Enterprise Law has focused on radical investment concerns with many progressive regulations, including the problem of improving state-owned enterprises From that fact, the article focuses on analyzing, evaluating and clarifying some new points of the 2020 Enterprise Law in regulations on state-owned enterprises on the basis of comparison with the 2014 Enterprise Law.
Keywords: State enterprises, new points, business law.
1 Đặt vấn đề
Cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là chủ trương lớn của Đảng và Chính phủ.Tại Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị Trung ương 5 khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN đã chỉ rõ các quan điểm chỉ đạo: "DNNN hoạt động theo cơ chế thị trường, lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí đánh giá chủ yếu, tựchủ, tự chịu trách nhiệm, cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh
tế khác theo quy định của pháp luật; bảo đảm công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của DNNN"1 Đồng thời, Nghị quyết số 97/NQ-CP ngày 02/10/2017 của Chính phủ cũng đã giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu để quy định tại Luật Doanh nghiệp về nội dung này Xuất phát từ yêu cẩu đó, Luật Doanh nghiệp 2020 đã đưa ra nhiều quy định mới và tiến bộ điểu chỉnh về loại hình DNNN trên cơ sở thể chế hóa đẩy đủ quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết số 12-NQ/TW Đây được xem
là bước tiến quan trọng trong việc đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN trên cơ sở khắc phục được những hạn chế, bất cập đã tổn tại trong Luật Doanh nghiệp 2014 Do đó, việc xác định được những điểm mới trong quy định pháp luật điều chỉnh về DNNN là điều rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay bởi đây là cơ sở nền tảng quan trọng để các chủ thể hiểu và áp dụng được các quy định này trên thực tế một cách hiệu quả
1) Tờ trình số 533/TT-CP ngày 18/10/2019 cùa Chính phù về Luật Doanh nghiệp sửa đồi, tr.5-6.
2) Khoản 8 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014.
3) Khoản 11 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020.
Email: tlhuan@hcmulaw.edu.vn
2 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước
Trong Luật Doanh nghiệp 2020 đã có sự thay đổi vể khái niệm DNNN so với Luật Doanh nghiệp
2014 Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014: "DNNN là doanh nghiệp do Nhờ nước nâm giữ 100% vốn điều lệ"2, tuy nhiên theo quy định trong Luật Doanh nghiệp 2020 thì “DNNN bao gồm các doanh nghiệp do Nhà nước nám giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyển biểu quyết theo quy định tại Điều 88 của Luật này’’3 Như vậy, theo cách định nghĩa của Luật Doanh nghiệp 2014 thì
Trang 2NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI
DNNN được hiểu là doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ nhưng trong Luật Doanh nghiệp 2020 thì khái niệm DNNN đã được sửa đổi theo nguyên tắc phân chia các loại doanh nghiệp
có sở hữu nhà nước theo mức độ sở hữu khác nhau Cụ thể, Luật Doanh nghiệp 2020 đã xác định rõ DNNN gồm:
(i) Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điểu lệ Theo đó, những doanh nghiệp được xem là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ trong trường hợp này là bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điểu lệ là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công
ty mẹ - công ty con; công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là công ty độc lập do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ 4
(ii) Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phẩn có quyền biểu quyết Theo đó, những doanh nghiệp được xem là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điểu lệ hoặc tổng số cổ phẩn có quyển biểu quyết trong trường hợp này bao gồm: Công
ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phẩn có quyền biểu quyết là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con; công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần là công ty độc lập do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phẩn có quyển biểu quyết 5
4) Khoản 2 Điều 88 Luật Doanh nghiệp 2020.
5) Khoản 2 Điều 88 Luật Doanh nghiệp 2020.
6) Nguyễn Diệp, “Sở hũu 50% vốn điều lệ, nhà nước sẽ mất quyết chi phối trong doanh nghiệp”, https://taichinhdoanhnghiep.net.vn/so- huu-50-von-dieu-le-nha-nuoc-se-mat-quyen-chi-phoi-trong-dnnn-dl3226.html, truy cập ngày 10/01/2022.
7) Điều 89 Luật Doanh nghiệp 2020.
8) Xem thêm tại khoán 2 Điều 90 Luật Doanh nghiệp 2014.
9) Khoản 5 Điều 93 Luật Doanh nghiệp 2020.
Như vậy, với cách định nghĩa của Luật Doanh nghiệp 2020, để được xem là DNNN thì doanh nghiệp này phải do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc do nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết và được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phẩn, công
ty trách nhiệm hữu hạn Sự thay đổi trong cách quy định về khái niệm DNNN này vừa phù hợp, bám sát với tinh thần chỉ đạo của Nghị quyếtTrung ương 5 về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN6, vừa đa dạng hóa các loại hình DNNN để thu hút các nhà đẩu tư chiến lược với nguồn vốn dổi dào cũng như góp phẩn quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu kiểm soát chặt chẽ, hiệu quả hơn việc sử dụng vốn Nhà nước trong các DNNN Bởi khi nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều
lệ sẽ cho phép DNNN hoạt động dưới các loại hình đa dạng hơn bao gổm Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và Công ty cổ phần7 Điểu này sẽ giúp DNNN có cơ hội thực hiện các kênh huy động vốn đa dạng, tiếp cận nhanh chóng các nguồn lực từ khu vực tư nhân để thực hiện và phát triển các mục tiêu của doanh nghiệp Đồng thời, việc giữ tỷ lệ sở hữu trên 50% vốn điểu lệ cũng đã đủ bảo đảm quyền chi phối trực tiếp việc ra các quyết định thông thường (chỉ yêu cẩu tỷ lệ trên 50%) và chi phối gián tiếp việc ra một số các quyết định khằc (yêu cau tỷ lệ 65%) của DNNN
3 Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên
So với Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Doanh nghiệp 2020 đã bỏ đi quy định thành viên Hội đồng thành viên phải làm việc theo chế độ chuyên trách8 Đổng thời, thay vào đó "trừ Chủ tịch Hội đồng
thành viên, thành viên khác của Hội đồng thành viên có thể kiêm Giám đốc, Tổng giám đốc công ty đó hoặc công ty khác không phải là doanh nghiệp thành viên theo quyết định của cơ quan đại diện chủ sở hữu"9 Việc Luật Doanh nghiệp 2020 bỏ đi quy định thành viên Hội đồng thành viên tại các DNNN phải làm việc theo chế độ chuyên trách là cần thiết bởi quy định này không rõ ràng, khó áp dụng
GIÁODUC _
©XÃHỘI
Trang 3NGHIÌN CỨU TRAO ĐỔI
thống nhất trên thực tế10 Ngoài ra, theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020, về nguyên tắc một
cá nhân sẽ được bổ nhiệm làm chủ tịch Hội đổng thành viên hoặc thành viên Hội đồng thành viên tại các DNNN với thời hạn không quá 05 năm và không quá 02 nhiệm kỳ tại một công ty nhưng nếu
cá nhân này đã có trên 15 năm làm việc liên tục tại công ty đó trước khi được bổ nhiệm lần đẩu thì sẽ không bị ràng buộc bởi quy định giới hạn 02 nhiệm kỳ Đây là điểm mới và tiến bộ của Luật Doanh nghiệp 2020 so với Luật Doanh nghiệp 2014, quy định này giúp tận dụng, phát huy được năng lực của những nhân sự có nhiều gắn bó, cống hiến tại doanh nghiệp
10) Bộ Kế hoạch và Đầu tư, “Bàn thuyết minh chi tiết về dự án Luật Doanh nghiệp sửa đổi ban hành kèm theo Báo cáo so 7900/BC- -BKUĐT ngày 25 tháng 10 năm 2019”, tr.28.
11) Điểm b khoản 2 Điều 94 Luật Doanh nghiệp 2020.
12) Điểm b khoản 2 Điều 93 Luật Doanh nghiệp 2014.
13) Trường Đại học LuậtTP Hồ Chi Minh (2016), “Giáo trình Pháp luật về chù thể kinh doanh” ,NXB Hồng Đức -Hội luật gia Việt Nam, tf.224 14) Khoản 1 Điều 99 Luật Doanh nghiệp 2020.
vể tiêu chuẩn và điều kiện đối với thành viên Hội đồng thành viên tại DNNN, Luật Doanh nghiệp
2020 đã quy định bổ sung thêm các đối tượng không được xem xét bổ nhiệm vào Hội đồng thành viên Theo đó, ngoài các trường hợp được quy định tại Điểu 92 Luật Doanh nghiệp 2014 thì những đối tượng thuộc các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020 cũng
sẽ không được bổ nhiệm vào vị trí thành viên Hội đồng thành viên tại các DNNN Việc Luật Doanh nghiệp 2020 mở rộng thêm các đối tượng không được xem xét bổ nhiệm vào vị trí thành viên Hội đồng thành viên tại các DNNN nêu trên là cần thiết, bởi điều này giúp loại bỏ được những trường hợp không đáp ứng được các tiêu chuẩn, năng lực, sức khỏe hoặc có khả năng mang lại những nguy
cơ rủi ro cho DNNN nếu để họ tham gia vào việc quản lý, điều hành các doanh nghiệp này Ngoài ra,
vể vấn để cách chức Chủ tịch và thành viên khác của Hội đổng thành viên, Luật Doanh nghiệp 2020 cũng quy định rõ đối với trường hợp Chủ tịch hoặc thành viên khác của Hội đồng thành viên bị truy
tố và bị buộc tội thì người này chỉ bị cách chức khi bị Tòa án kết án và bân án, quyết định của Tòa án
đã có hiệu lực pháp luật11 Cách quy định này cụ thể, rõ ràng, hợp lý và thuyết phục hơn so với cách quy định của Luật Doanh nghiệp 201412 bởi một người chỉ được xem là có tội khi có quyết định hoặc bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
4 Chủ tịch công ty
Chế định Chủ tịch công ty được ghi nhận trong mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nếu DNNN không có Hội đồng thành viên thì phải có Chủ tịch công ty Chủ tịch công ty là chức danh có quyển lực, có chức năng và nhiệm vụ khác hoàn toàn với Chủ tịch Hội đồng thành viên của DNNN có Hội đồng thành viên13 Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020, Chủ tịch công ty tại các DNNN do cơ quan đại diện chủ sở hữu bổ nhiệm theo quy định của pháp luật, có nhiệm kỳ không quá 05 năm và có thể được bổ nhiệm lại Mỗi cá nhân chỉ được bổ nhiệm vào vị trí Chủ tịch công ty không quá 02 nhiệm kỳ, tuy nhiên điều này không áp dụng đối với trường hợp người được
bổ nhiệm đã có trên 15 năm làm việc liên tục tại công ty đó trước khi được bổ nhiệm lần đầu14 Việc Luật Doanh nghiệp 2020 quy định không giới hạn 02 nhiệm kỳ đối với người được bổ nhiệm đã có trên 15 năm làm việc liên tục tại công ty đó trước khi được bổ nhiệm lần đẩu là một quy định mới
và tiến bộ so với LDN 2014 Bởi quy định này cho phép DNNN tận dụng và phát huy năng lực của những nhân sự có nhiều gắn bó, cống hiến tại doanh nghiệp Hơn nữa, con số 15 năm là khoảng thời gian đủ lâu để một người tích lũy kinh nghiệm, kỹ năng trong công việc cũng như chứng minh sự tận tụy, trung thành vì lợi ích của doanh nghiệp và có thể giao nhiệm vụ quản lý doanh nghiệp trong nhiều nhiệm kỳ nếu họ vẫn tiếp tục được tín nhiệm Ngoài ra, khi thị trường lao động của khối tư nhân mang lại nhiều cơ hội hấp dẫn về mức lương, cơ hội thăng tiến thì đây được xem là một điểm cộng của Luật Doanh nghiệp 2020 khi mở ra cái nhìn mới về tính ổn định đặc biệt là đối với cấp lãnh đạo, điểu hành tại các DNNN
Bên cạnh đó, theo Luật Doanh nghiệp 2020, Chủ tịch công ty do Nhà nước nắm giữ 100% vốn
Trang 4k NGHlêN CỨU TRAO ĐỔI
điều lệ ngoài thực hiện các trách nhiệm được quy định tại Điểu 83 Luật Doanh nghiệp 2014 thì còn phải có trách nhiệm thông báo kịp thời, đẩy đủ, chính xác cho chủ sở hữu công ty về doanh nghiệp
mà mình làm chủ hoặc có cổ phẩn, phẩn vốn góp chi phối và doanh nghiệp mà người có liên quan của mình làm chủ, cùng sở hữu hoặc sở hữu riêng cổ phẩn, phần vốn góp chi phối15 Điều này khác
so với Luật Doanh nghiệp 2014, bởi tại khoản 4 Điều 83 Luật Doanh nghiệp 2014 chỉ quy định Chủ tịch công ty có trách nhiệm: "Thông báo kịp thời, đầy đủ và chính xác cho công ty về doanh nghiệp
mà họ và người có liên quan của họ làm chủ sở hữu hoặc có cổ phẩn, phần vốn góp chi phối" Việc Luật Doanh nghiệp 2020 quy định bắt buộc Chủ tịch công ty phải có trách nhiệm thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho chủ sở hữu công ty theo như quy định tại khoản 4 Điểu 83 Luật Doanh nghiệp 2020 là một quy định mới so với Luật Doanh nghiệp 2014 Quy định này đảm bảo sự quản
lý, giám sát kịp thời, hiệu quả của chủ sở hữu đối với DNNN cũng như bản thân Chủ tịch công ty để
từ đó giúp xác định, kiểm soát và hạn chế được các vấn đề rủi ro, thất thoát có khả năng xảy ra tại DNNN trước các nguy cơ bị chi phối từ những mối quan hệ có liên quan
15) Khoản 4 Điều 83 Luật Doanh nghiệp 2014.
16) Xem thêm tại khoản 3 Điều 64 Luật Doanh nghiệp 2020 và khoản 5 Điều 162 Luật Doanh nghiệp 2020.
17) Điều 100 Luật Doanh nghiệp 2014.
5 Giám đốc, Tổng giám đốc
Giám đốc, Tổng giám đốc có vị trí quan trọng trong việc điểu hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của doanh nghiệp Để nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp 2014
đã có quy định về tiêu chuẩn và điểu kiện để một người được bổ nhiệm làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc DNNN
Đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phẩn có quyển biểu quyết và công ty con của DNNN hoạt động dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phẩn thì đòi hỏi Giám đốc hoặc Tổng giám đốc không chỉ đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh của công ty; không thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 17 của Luật Doanh nghiệp 2020 mà còn không được là người có quan hệ gia đình của người quản lý công ty, Kiểm soát viên của công ty và công
ty mẹ; người đại phẩn vốn góp của doanh nghiệp, người đại diện phẩn vốn nhà nước tại công ty và công ty mẹ16
Đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ tồn tại dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, để được bổ nhiệm vào vị trí Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, ngoài việc đáp ứng các điều kiện được ghi nhận trong Luật Doanh nghiệp 2014 thì đòi hỏi còn phải đáp ứng thêm các điều kiện được quy định bổ sung thêm trong Luật Doanh nghiệp 2020 Theo đó, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải là người có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh hoặc trong lĩnh vực, ngành, nghề kinh doanh của công ty; không thuộc các đối tượng được quỵ định tại khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020; không phải là người có quan hệ gia đình của người đứng đẩu, cấp phó của người đứng đẩu cơ quan đại diện chủ sở hữu, thành viên Hội đổng thành viên, Chủ tịch công ty, Phó Tổng giám đốc, Phó giám đốc và Kế toán trưởng của công
ty, Kiểm soát viên công ty thì mới được xem xét bổ nhiệm Như vậy, có thể thấy rằng Luật Doanh nghiệp 2020 đã mở rộng đối tượng không được xem xét bổ nhiệm cũng như không bắt buộc ứng viên phải có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm "thực tế" trong quản trị kinh doanh hoặc trong lĩnh vực, ngành, nghề kinh doanh của công ty như Luật Doanh nghiệp 2014 mà chỉ cẩn có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh hoặc trong lĩnh vực, ngành, nghề kinh doanh của công ty là được
Như vậy, so với Luật Doanh nghiệp 2014, các tiêu chí và điểu kiện để xem xét bổ nhiệm một người vào vị trí Giám đốc hoặc Tổng giám đốc về cơ bản là giống với các tiêu chuẩn, điểu kiện được quy định cụ thể trong Luật Doanh nghiệp 201417 Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 2020 đã có sự quy định mở rộng hơn vể các đối tượng không được xem xét bổ nhiệm vào vị trí Giám đốc hoặc Tổng
, GIÁO DUC _ ,
@XÃ HỘI
Trang 5NGHIÊN CỨU TAAO ĐỔI
giám đốc Theo đó, ngoài các đối tượng được quỵ định tại Điểu 100 Luật Doanh nghiệp 2014; đối tượng là người có quan hệ gia đình của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Phó Tổng giám đốc, Phó giám đốc và Kế toán trưởng của công ty, Kiểm soát viên công ty; Luật Doanh nghiệp 2020 còn bổ sung thêm những đối tượng thuộc trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp
2020 cũng không được xem xét bổ nhiệm vào vị trí Giám đốc hoặc Tổng giám đốc tại các DNNN Việc Luật Doanh nghiệp 2020 mở rộng thêm các đối tượng không thuộc trường hợp được xem xét
bổ nhiệm vào vị trí Giám đốc hoặc Tổng giám đốc như trên là cần thiết, bởi điều này giúp sàng lọc, lựa chọn được những ứng cử viên đáp ứng được các tiêu chuẩn, năng lực, sức khỏe để đảm bảo việc điều hành doanh nghiệp hiệu quả trên cơ sở hạn chế được những rủi ro tiểm ẩn có khả năng xảy ra
6 Thành viên Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, để thực hiện chức năng này Hội đồng quản trị có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty, trừ những thẩm quyền của Đại hội đổng cổ đông Hội đổng quản trị có từ 3 đến 11 thành viên tùy vào điều lệ công ty quy định, thành viên Hội đổng quản trị phải đáp ứng đẩy đủ các điểu kiện do pháp luật quy định Theo quỵ định của Luật Doanh nghiệp 2020, đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điểu lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết và công ty con của DNNN tồn tại dưới hình thức công ty cổ phẩn ngoài những điều kiện được quy định tại khoản 1,2, 3 Điểu 155 thì còn đòi hỏi thành viên Hội đổng quản trị không được là người có quan hệ gia đình của Giám đốc, Tổng giám đốc và người quản lý khác của công ty; của người quản lý, người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty mẹ18 Như vậy, theo nội dung quy định này, để đáp ứng tiêu chuẩn và điểu kiện làm thành viên Hội đồng quản trị tại các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phẩn có quyển biểu quyết và công tỵ con của DNNN dưới hình thức công ty
cổ phần thì đòi hỏi ứng viên không phải là vợ, chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố nuôi, mẹ nuôi, bố chồng, mẹ chổng, bố vợ, mẹ vợ, con đẻ, con nuôi, con rể, con dâu, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu, anh ruột của vợ, anh ruột của chồng, chị ruột của vợ, chị ruột của chổng, em ruột của
vợ, em ruột của chồng của Giám đốc, Tổng giám đốc và người quản lý khác của công ty, hoặc của người quản lý, người có thẩm quyển bổ nhiệm người quản lý công ty mẹ Từ quy định trên có thể thấy rằng, so với Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Doanh nghiệp 2020 đã có sự quy định mở rộng hơn
về đối tượng được xem là người có quan hệ gia đình, theo đó đối tượng được xem là người có quan
hệ gia đình không chỉ là "vợ, chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu" mà còn bao gổm cả các đối tượng là "bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, con rể, con dâu, anh ruột của vợ, anh ruột của chồng, chị ruột của vợ, chị ruột của chổng, em ruột của vợ, em ruột cùa chổng" Thực tế, thời gian qua đã xảy ra trường hợp các đối tượng tận dụng kẽ hở của pháp luật trong việc chưa bao quát hết những người được xem là có quan
hệ gia đình để xác lập, thực hiện các hợp đồng, giao dịch gây thất thoát cho DNNN Vì vậy, việc mở rộng thêm các đối tượng được xem là người có quan hệ gia đình trong trường hợp này là cần thiết
và phù hợp bởi điều này sẽ giúp hạn chế được tình trạng thành viên Hội đồng quản trị nói riêng và người đóng vai trò quản lý nói chung có thể thông đổng với những người có quan hệ gia đình nêu trên để trục lợi hoặc gây ảnh hưởng tiêu cực đến DNNN
18) Điềm d khoán 1 Điều 155 Luật Doanh nghiệp 2020.
7 Ban kiểm soát, tiêu chuẩn điều kiện của Kiểm soát viên và Trưởng Ban kiểm soát
Ban kiểm soát đóng vai trò quan trọng và là một bộ phận không thể thiếu trong các DNNN với chức năng là giám sát công việc quản lý, điểu hành tại các doanh nghiệp này So với Luật Doanh nghiệp 2014, vấn đề thành lập Ban kiểm soát được quy định trong Chương IV vể DNNN của Luật Doanh nghiệp 2020 có nhiều thay đổi nhất định Theo quy định tại khoản 1 Điều 102 Luật Doanh nghiệp 2014 thì: "Cán cứ quy mô củơ công ty, cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định bổ nhiệm 01 Kiềm
_ GIÁODUC ,
Tháng 02/2022 rsyr,:?! 141
©XÃ HỘI
Trang 6L NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI
soát viên hoặc thành lập Ban kiểm soát gồm 03 đến 05 Kiểm soát viên Nhiệm kỳ Kiểm soát viên không quá 05 năm và được bổ nhiệm lợi nhưng mỗi cá nhân chỉ được bổ nhiệm làm Kiểm soát viên của một công ty không quá 02 nhiệm kỳ" Tuy nhiên, theo quỵ định tại khoản 1 Điểu 103 Luật Doanh nghiệp
2020 thì "Căn cứ quy mô của công ty, cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định thành lập Ban kiểm soát
có từ 01 đến 05 Kiểm soát viên, trong đó có Trưởng Ban kiểm soát Nhiệm kỳ Kiểm soát viên không quá
05 năm và có thể được bổ nhiệm lại nhưng không quá 02 nhiệm kỳ liên tục tại công ty đó Trường hợp Ban kiểm soát chỉ có 01 Kiểm soát viên thì Kiểm soát viên đó đồng thời là Trưởng Ban kiểm soát và phải đáp ứng tiêu chuẩn của Trưởng Ban kiểm soát." Như vậy, Luật Doanh nghiệp 2020 đã quy định bắt buộc phải thành lập Ban kiểm soát và Ban này có thể có từ 01 đến 05 Kiểm soát viên và không còn
áp dụng cơ chế như Luật Doanh nghiệp 2014 đưa ra đó là có thể bổ nhiệm 01 Kiểm soát viên hoặc thành lập Ban kiểm soát từ 03 đến 05 Kiểm soát viên
Đặc biệt, Luật Doanh nghiệp 2020 đã có sự quỵ định cụ thể, rõ ràng hơn vể vấn để thành lập Ban kiểm soát đối với các loại hình DNNN Cụ thể, theo quy định tại khoản 2 Điều 54 Luật Doanh nghiệp
2020, đối với DNNN tồn tại dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thì bắt buộc phải thành lập Ban kiểm soát19 Ban kiểm soát có từ 01 đến 05 Kiểm soát viên, nhiệm kỳ Kiểm soát viên không quá 05 năm và có thể được bổ nhiệm lại Trường hợp Ban kiểm soát chỉ có 01 Kiểm soát viên thì kiểm soát viên đó đồng thời là Trưởng Ban kiểm soát và phải đáp ứng tiêu chuẩn của Trưởng Ban kiểm soát Bên cạnh đó, đối với DNNN tồn tại dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cũng bắt buộc phải thành lập Ban kiểm soát Cơ cấu tổ chức, chế độ làm việc, tiêu chuẩn, điều kiện, miễn nhiệm, bãi nhiệm, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của Ban kiểm soát trong mô hình DNNN này sẽ được thực hiện tương ứng theo quy định tại Điều 65 Luật Doanh nghiệp 2O2O20 Đây là những quy định mới so với Luật Doanh nghiệp 2014 và phù hợp với yêu cẩu đổi mới tổ chức quản trị, kiểm soát DNNN Quy định này đã khẳng định vai trò của Ban kiểm soát trong quá trình kiểm tra, giám sát hoạt động của DNNN, từ đó góp phần đảm bảo yêu cẩu quản trị chặt chẽ nhằm kiểm soát được các vấn đề rủi ro có thể xảy ra tại các doanh nghiệp này Tương tự, đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điểu lệ hoặc tổng số cổ phấn có quyển biểu quyết và công ty con của DNNN tồn tại dưới hình thức công ty cổ phần cũng phải thành lập Ban kiểm soát theo như quy định tại Chương V Luật Doanh nghiệp 2020 Tuy nhiên, so với Luật Doanh nghiệp 2014, đối với Kiểm soát viên trong công ty cổ phẩn do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều
lệ hoặc tổng số cổ phẩn có quyển biểu quyết, Luật Doanh nghiệp 2020 không yêu cẩu bắt buộc phải
là kiểm toán viên hoặc kế toán viên Điều này là hoàn toàn phù hợp bởi lẽ nếu yêu cầu Kiểm soát viên trong công ty do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ phải là kiểm toán viên hoặc kế toán viên là chưa thật sự phù hợp bởi thực tế để tìm được đủ số lượng thành viên Ban kiểm soát là kiểm toán viên hoặc kế toán viên là điểu không hề dễ dàng đối với doanh nghiệp Bởi thực tế hiện nay hầu hết những người có trình độ chuyên môn về kế toán viên hoặc kiểm toán viên thường hướng đến việc lựa chọn hành nghề trong các đơn vị kiểm toán hơn là làm Kiểm soát viên Do đó, đã gây ra rất nhiều khó khăn cho doanh nghiệp trong việc thành lập Ban kiểm soát trên cơ sở đáp ứng được yêu cầu của Luật Doanh nghiệp 2014 Chính vì vậy, việc Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi lại điều kiện này theo hướng chỉ yêu cẩu về điểu kiện chuyên môn tương đương với kiểm toán viên hoặc kế toán viên, mà không đòi hỏi là người đã có chứng chỉ hành nghề là điểu cẩn thiết bởi điều này vừa giúp doanh nghiệp giải quyết khó khăn nêu trên nhưng cũng không làm giảm hiệu lực của quy định do vẫn phải đáp ứng yêu cầu về chuyên môn
19) Cụ thể, tại khoản 2 Điều 54 Luật Doanh nghiệp 2020 đã quy định: “Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trờ lên là DNNN theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 88 của Luật này và công ty con cùa DNNN theo quy định tại khoán 1 Điều 88 cùa Luật này phải thành lập Ban kiêm soát: các trường hợp khác do công ty quyết định."
20) Khoản 2 Điều 79 Luật Doanh nghiệp 2020.
142 02/2022
Bên cạnh đó, về vấn đề tiêu chuẩn và điều kiện đối với Ban kiểm soát và Trưởng Ban kiểm soát được quy định trong Luật Doanh nghiệp 2020 cũng được mở rộng hơn so với LDN 2014 Theo đó,
Trang 7NGHICN CỨU TRAO DỔI
vể trình độ chuyên môn và kinh nghiệm làm việc thì Luật Doanh nghiệp 2020 đòi hỏi thành viên Ban kiểm soát và Trưởng Ban kiểm soát phải "có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc một trong các chuyên ngành về kinh tế, tài chính, kế toán, kiểm toán, luật, quản trị kinh doanh hoặc chuyên ngành phù hợp với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và có ít nhất 03 năm kinh nghiệm làm việc; trưởng Ban kiểm soát phải có ít nhất 05 năm kinh nghiệm làm việc" Như vậy, vể trình độ chuyên môn, so với Luật Doanh nghiệp 2014 thì Luật Doanh nghiệp 2020 đòi hỏi thành viên Ban kiểm soát
và Trưởng Ban kiểm soát "phải có bằng tốt nghiệp đại học trở lên" thuộc một trong các chuyên ngành theo quy định chứ không chỉ dừng lại ở việc "được đào tạo" như trong Luật Doanh nghiệp
2014 Bên cạnh đó, về chuyên ngành đào tạo, ngoài các chuyên ngành về kinh tế, tài chính, kế toán, kiểm toán, luật, quản trị kinh doanh thì Luật Doanh nghiệp 2020 còn mở rộng cho phép thêm ở
"các chuyên ngành phù hợp với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp" chứ không nhất thiết phải bó hẹp trong phạm vi một trong các chuyên ngành nêu trên như quy định trong Luật Doanh nghiệp 2014 Về kinh nghiệm công tác, đối với Trưởng Ban kiểm soát, Luật Doanh nghiệp 2020 chỉ đòi hỏi có ít nhất 05 năm kinh nghiệm làm việc mà không đòi hỏi phải liên quan đến chuyên ngành tài chính, kế toán, kiểm toán, luật, quản trị kinh doanh được đào tạo như trong quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014 Ngoài ra, Kiểm soát viên và Trưởng Ban kiểm soát không được là người quản
lý của công ty và là người quản lý tại các doanh nghiệp khác Mặt khác, theo Luật Doanh nghiệp
2020, một cá nhân có thể đồng thời được bổ nhiệm làm Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên của không quá 04 DNNN mà không đòi hỏi phải được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan đại diện chủ
sở hữu như theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 Nhưvậy, so với Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Doanh nghiệp 2020 đã có sự quy định rõ ràng, phù hợp, cụ thể và chặt chẽ hơn, điểu này là cần thiết bởi cách quy định này sẽ giúp đáp ứng được các yêu cầu trong vấn đề kiểm soát DNNN trên cơ
sở khắc phục được những vấn để còn thiếu sót, hạn chế, bật cập như đã tổn tại trong Luật Doanh nghiệp 2014
8 Kết luận
Từ những nội dung phân tích nêu trên có thể thấy rằng Luật Doanh nghiệp 2020 bên cạnh sự kế thừa Luật Doanh nghiệp 2014 thì cũng đã đưa ra được nhiều quy định mới và tiến bộ điều chỉnh về DNNN Điểu này có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi thông qua các quy định này, Luật Doanh nghiệp
2020 không chì đáp ứng được yêu cầu thể chế hóa tinh thần Nghị quyếtTrung ương 5 vể nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN mà còn góp phẩn vào việc khắc phục kịp thời những vấn đề còn hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật hiện hành về DNNN.Tuy nhiên, để các quy định mới này được triển khai, áp dụng hiệu quả trên thực tế thì đòi hỏi Chính phủ và các Bộ ngành có liên quan cẩn phải tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung những quy định không còn phù hợp, đồng thời phải nhanh chóng xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể vể các điều luật điểu chỉnh vể DNNN trên cơ sở phù hợp với tinh thần tại Nghị quyết trung ương 5
Tài liệu tham khảo
[1] Luật Doanh nghiệp 2020.
[2] Chính phù, rờ trình sổ 533/TT-CP ngày ì8/10/2019 của Chinh phủ vê Luật doanh nghiệp sửa đổi.
[3] Bộ Kế hoạch và Đáu tư, Bản thuyết minh chi tiết về dự án Luật Doanh nghiệp sửa đổi ban hành kèm theo Báo cáo số 7900/BC-BKHĐT ngày 25 tháng 10 năm 2019.
[4] Nguyên Diệp, (21/5/2020), Sở hữu 50% vốn điều lệ, nhà nước sẽ mát quyết chi phối trong doanh nghiệp" Nguồn:
13226.html, truy cập ngày 10/01/2022.
https://taichin- hdoanhnghiep.net.vn/so-huu-50-von-dieu-le-nha-nuoc-se-mat-quyen-chi-phoi-trong-dnnn-d
[5] Trường Đại học Luật TP Hó chí Minh (2016), Giáo trình Pháp luật về chủ thề kinh doanh, NXB Hóng Đức - Hội Luật gia Việt Nam.